Danh sách Blog của Tôi

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2013

CHUYỆN RỪNG CÂY.





Vào một ngày đẹp trời, tôi đi dạo đồng quê và bị lạc vào một rừng cây. Tôi như bước vào một thế giới kỳ bí mà trước đây mình không để ý đến. Điều dễ nhận thấy là cây rừng rất đa dạng về chủng loại, mỗi loại cây phát triển theo một cách để tồn tại - có một sự cộng sinh cũng như che chở lẫn cho nhau. Tôi bỗng nhớ lời một bài hát: “và tôi vẫn nhớ hoài một loại cây – sống gần nhau thân mới thẳng”(Một đời người một rừng cây của NS.Trần Long Ẩn), và tôi rất thích bài học về ‘sinh tồn’ nầy.

Đúng vậy, khi một cây có thừa thãi ánh sáng và khoảng trống, nó thường trở nên dị dạng: nghiêng ngả theo dòng nước hoặc cong vẹo vì gió bão, to phình chỗ nầy nhưng nhỏ lại ở chỗ khác một cách thiếu cân đối. Và những cây có ‘thế’ đặc biệt nầy thường được các nhà chơi cây cảnh sưu tầm một cách say mê. Nhưng ở những nơi cây mọc với mật độ dày, vì thiếu ánh sáng, các ngọn cây chỉ có một hướng tiến về bầu trời, thì cây mọc thẳng đứng một cách trật tự, chúng vừa đẹp vì thẳng tắp và mang lại nhiều lợi ích khi khai thác gỗ.

Trở về với xã hội loài người, tôi bỗng nhớ lời sách khởi nguyên: “Con người ở một mình không tốt, ta phải tìm cho nó một người trợ giúp”(Khởi nguyên 2,18-22). Không phải chỉ có đàn ông – mà cả đàn bà đều không tốt khi sống một mình, vì họ rất dễ trở nên dị dạng . Bởi đó, người ta thường hòa mình vào một gia đình hay một cộng đoàn, vì chính kỷ luật chung sống đã giúp cho nhân cách con người trở nên quân bình hơn.
Khi Con người khi chỉ lo cho bản thân mình, chỉ tập chú vào mình và chỉ biết nghĩ đến mình thì quả đúng là một ốc đảo cằn cỗi và không thể phát triển một cách quân bình được. Vì con người là một con vật xã hội, nên nó chỉ tìm thấy hạnh phúc và ý nghĩa khi biết nghĩ đến người khác, vì tha nhân là hình ảnh và là phương tiện để ta tìm gặp được Thiên Chúa: “Hoa trái của Đức tin là cầu nguyện, hoa trái của cầu nguyện là sự phục vụ, và hoa trái của phục vụ là sự bình an” (Lời Mẹ Têrêxa). Chỉ khi sống gần nhau, con người học trao tặng và đón nhận, học hiến thân và chấp nhận những khuyết điểm của nhau, học khiêm tốn và từ bỏ những gai nhọn của cá tính, học làm chủ bản thân khi chung đụng với tha nhân và vượt lên chính mình - không đánh mất mình… mà ta được trưởng thành và khẳng định được nhân cách sống. Sống trong xã hội loài người, nếu không vì đồng tiền, nếu mỗi người có thể tự cung tự cấp để sinh tồn… thì có lẽ chẳng ai muốn làm việc và chẳng ai biết đến ai.

Tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá một loại cây cảnh nào đó là  ‘dáng’ hay ‘thế’ của nó. Bởi vậy, người có con mắt nghệ sỹ phải hình dung một thế nào đó và bắt đầu uốn để tạo dáng qua từng ngày – từng tháng và từng năm và cây đó mang dáng vẻ như ông ta muốn. Thiên Chúa, ma quỷ, xã hội và những khuynh hướng của xã hội cũng đều mong muốn uốn nắn con dân của mình theo những dáng vẻ mong muốn. Nhưng khác với cây cảnh, nơi con người còn có yếu tố ‘tự do’ can thiệp vào để định hướng cho dáng vẻ của tâm hồn, bởi đó dáng vẻ tâm hồn luôn nằm ở dạng ‘động’ chứ không ‘tĩnh’ như cây cối, và luôn cần một sự tỉnh thức – canh chừng – trở về với dánh vẻ đã được định hướng, coi chừng bị lệch hướng và trở nên dị dạng. Những cây cảnh có dáng vẻ ‘lạ thường’ lại được đánh giá cao, nhưng nơi xã hội loài người thì không phải thế: những người quá tự phụ kiêu căng và không đóng góp công sức giúp cho cộng đồng phát triển… thì thường bị loại trừ bởi xã hội và chính mình - họ không có bình an và kém hạnh phúc.


Trong một rừng cây, vì điều kiện thiếu ánh sáng, những cành lá phía dưới phải khô và rụng đi, dồn sức phát triển hướng lên cao… nên thân mới thẳng. Để là người công chính và sống ngay thẳng, con người luôn phải hướng về mặt trời công chính là Đức Kitô và phải chấp nhận rũ bớt những phần hạ đẳng để phát triển phần tâm linh – hướng về trời cao. Chính Chúa đã nói: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác lấy thập giá mình hằng ngày mà theo Ta”.Chính khi chung sống với tha nhân, ta biết gột rửa lòng ích kỷ để chung sống và chấp nhận người khác: tha nhân là cơ hội giúp ta nhận ra  mình là ai, những cọ xát khi chung sống sẽ giúp ta biết xếp những ‘lông nhím’ của mình lại, để sưởi ấm cho nhau mà không đả thương nhau. Mỗi ngày sống, cùng đồng hành với tha nhân, ta rũ bỏ lại những tham sân si; và khi giờ chết đến phải rũ bỏ lại thân xác cùng trần gian nầy, để đi gặp Thiên Chúa …đó luôn là những từ bỏ khó khăn nhưng lại cần thiết và cũng là điều tất nhiên phải chấp nhận trên cuộc đời nầy.


Chuyện rừng cây và chuyện đời người còn dài vì cây còn đang phát triển và dòng đời thì vẫn trôi nhanh, hãy làm một cái gì đó cho tha nhân để giúp nhau đứng thẳng giữa dòng đời nầy: cầu nguyện, thăm hỏi, trợ giúp, chia sẻ tâm tình sống niềm tin… để làm sao anh em mình sống dồi dào tình mến.

Về nhà




Đã khá lâu nay, mỗi dịp xuân về, Giáo phận Banmêthuột có những ‘ngày truyền thống’: các linh mục và các giáo chức trở về tụ họp bên vị cha chung là Đức Giám mục giáo phận để chúc tuổi, để trao đổi những vấn đề chung và dùng vơi nhau một bữa cơm thân mật, cuối cùng là chia tay, mỗi người một hướng trở về địa phương mình.
Ngày truyền thống năm 2013 diễn ra vào các ngày 20,21và 22 tết. Ngày đầu tiên dành cho các linh mục và các tu sĩ nam nữ, ngày thứ hai và thứ ba dành cho các cộng tác viên trực tiếp của Giám Mục là các thành viên HĐGX. Vì số lượng quá đông, nên ngày thứ hai thường dành cho các giáo xứ người kinh và ngày thứ ba dành riêng cho anh em sắc tộc. Có thể nói sự xum họp thân tình và ấm áp tình người của 3 ngày truyền thống đã đi vào ký ức của nhiều nguời và đã trở thành ngày hội cho những người sống trong hộ Tòa Giám Mục, là trung tâm của Giáo phận. Tôi đã nhiều lần tham dự những buổi chúc tết ở nơi đây, mỗi lần mang một cảm xúc riêng và xin ghi lại vài cảm xúc của lần tụ họp năm 2013:
Trở về nhà.
Tòa Giám Mục của một giáo phận thường được gọi là nhà chung, là nhà của mọi người – sẵn sàng tiếp đón mọi người và là nơi bàn những chuyện của cộng đồng hướng đến một viễn tượng tốt đẹp hơn.  Mỗi lần trở về lại khuôn viên Tòa Giám Mục, người giáo dân hưởng nếm sự ấm áp và thân tình vì được gặp lại vị cha chung và những anh em trong cánh đồng truyền giáo. Mỗi lần tụ họp bên vị Giám Mục là thành viên của Tông Đồ đoàn, được ngài thông tin những thành công, những hy vọng và các sinh hoạt của các cộng đoàn tín hữu trong toàn giáo phận, những cộng tác viên trở nên hiệp nhất và yêu mến Giáo hội hơn. Trong lần họp mặt lần nầy, Đức Cha Vinh Sơn đưa ra một so sánh giữa giáo phận Kontum và giáo phận Banmêthuột để giúp các giáo chức hiểu rõ tình hình cụ thể của giáo phận mình. Giáo phận Kontum rộng hơn giáo phận nhà một chút, nhưng số giáo dân chỉ bằng một nửa và sinh hoạt tôn giáo chỉ tập trung ở một số diện tích cụ thể; còn giáo phận nhà số giáo dân nhiều gấp đôi và rải đều trên mọi vùng đất, và số giáo dân không ngừng tăng lên hằng năm… đó là nhờ sự cộng tác của người giáo dân và cách riêng là các giáo chức. Các giáo chức là những người được Giám Mục trực tiếp bổ nhiệm qua sự đề bạt của bà con giáo dân và của cha xứ. Các giáo chức phải lo lắng cho đời sống đạo của bà con giáo dân mỗi ngày một sát với Tin Mừng hơn.
Hoạt động của quả Tim
Có người sánh ví Tòa Giám Mục như quả tim của giáo phận, vì nơi đó có sự hiện diện của vị Giám mục, ngài được Đức Giáo Hoàng cắt đặt làm mục tử chăn dắt đoàn chiên giáo phận, ngài lưu giữ kho tàng chân lý và kho tàng ơn thánh, ngài ủy quyền coi sóc các đoàn chiên nhỏ cho các linh mục với sự cộng tác của các thành viên HĐGX. Nói đến quả tim con người, mỗi nhịp đập của tim diễn ra sự trao đổi của hai dòng máu: thu hồi máu có nhiều khí carbonic và bơm đi dòng máu đỏ tươi chứa nhiều khí oxi và dưỡng chất nuôi cơ thể. Sự trở về của những người con nơi mái nhà chung cũng có ý nghĩa tương tự, họ trút bỏ được phần nào gánh nặng mục vụ và được tăng cường động lực hoạt động tông đồ.
Chạy tiếp sức
Những ngày truyền thống diễn ra liên tiếp nhau cũng gợi lên cho ta một cuộc chạy tiếp sức. Ngày thứ nhất, các linh mục là những cộng sự viên trực tiếp được Giám mục chỉ định qua ‘bài sai’, họ tụ họp với vị cha chung và họ thoải mái trở về giáo xứ. Vừa lúc họ trở về thì các thành viên HĐGX từ những nơi xa xôi lại lên đường để tỏ sự hiệp nhất nơi  mái nhà chung, và khi nhóm này về nhà thì các giáo phu từ những buôn làng lại lên đường về Tòa Giám Mục. Đúng là một cuộc chạy tiếp sức trên cánh đồng truyền giáo: mỗi người mỗi cách đều rán sức đóng góp phần của riêng mình để Danh Chúa được cả sáng và để chỉ có một đoàn chiên quanh vị Mục tử tối cao là Đức Kitô.
Ai cũng yêu mến mẹ mình và không ai nói xấu mẹ mình bao giờ. Giáo hội toàn cầu, mỗi giáo phận và mỗi giáo xứ là những khuôn mặt của Mẹ Giáo hội. Đừng đòi hỏi: Giáo hội làm gì cho tôi mà hãy tự hỏi mình phải làm gì để thể hiện lòng yêu mến Mẹ mình?

Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

NGUYỄN VIẾT CHUNG VÀ TIẾNG GỌI CỦA CHÂN THIỆN MỸ


 
Anh ra trường năm 1980 và được phân công đến Phân Viện Sốt Rét TPHCM. Quá chán nản với công tác này, anh bỏ nhiệm sở mà về gia đình hành nghề chui, với tư cách là một bác sĩ đến từng gia đình bệnh nhân để chữa trị. Ít ra, anh cũng thực hiện được một trong hai điều mình tự hứa trước kia. Tuy không có phòng mạch như bao nhiêu bác sĩ khác, nhưng được cái là anh dễ mến, mát tay và nhận thù lao tương đối hạ, nên thu nhập cũng tạm đủ để giúp gia đình thoát khỏi cảnh túng thiếu trường kỳ. Cha anh ngưng đạp xích lô. Các em anh có phương tiện học hành hay thực hiện những mong ước của mình. Thế nhưng tự đáy lòng, tiếng trách móc của lương tâm không ngừng dày xéo anh: "Mày là một tên thất trung thất tín!"   Một con người lặng lẽ.
Tháng 04 năm 2002, linh mục Nguyễn Ngọc Sơn phối hợp với Viện Y Học Dân Tộc Thành Phố Hồ Chí Minh tổ chức một khóa huấn luyện cho những người thiện chí xung phong chăm sóc người nghiện ma túy. Tôi để ý đến một người trung niên khắc khổ, lặng lẽ theo dõi chăm chú và cặm cụi ghi chép những bài học về lý thuyết và chữa trị theo phương pháp cổ truyền do các bác sĩ đông y của Viện Y Học giảng dạy. Tôi hỏi một nữ tu trong ban tổ chức xem người ấy là ai. Câu trả lời làm tôi ngỡ ngàng: Đó là bác sĩ tây y Nguyễn Viết Chung, một chuyên viên về ký sinh trùng và da liễu.
 
Hai tháng sau, cũng tại Viện Y Học Dân Tộc, cha Sơn tổ chức một khóa cai nghiện mang tên là Khóa Phục Sinh. Các bác sĩ của Viện phụ trách phần chữa trị thể lý. Các linh mục, tu sĩ và một vài giáo dân đến giúp phần củng cố tâm linh. Một hôm, tôi đến dự giờ cầu nguyện buổi tối do một nữ giáo dân hướng dẫn. Sau phần trình bày lý thuyết, vị ấy yêu cầu những ai thấy cần được đặt tay cầu nguyện thì hãy bước lên. Bác sĩ Chung cũng là một người theo giúp khóa ấy. Ông bước đến đầu tiên, quì xuống trước mặt người giáo dân kia, xin đặt tay cầu nguyện cho mình. Cử chỉ khiêm nhường này làm cho nữ tu phụ trách nhóm cai nghiện cảm động nói với tôi: Thầy Chung là phó tế sắp được thụ phong trong một ngày gần đây.
 
Cuối năm 2002, tôi được dòng Vinh Sơn mời đến dạy tiếng Pháp cho một số thầy chuẩn bị đi học thần học ở nước ngoài. Tại đây tôi gặp lại thầy phó tế bác sĩ Chung. Thế rồi qua những chia sẻ khiêm tốn nhưng đầy chân tình, tôi biết được chiều kích cao vời của một con người mờ nhạt, thậm chí điên rồ, nếu ta nhìn với cặp mắt của xã hội ngày nay. Sau đây là hành trình của một tâm hồn qua những chặng đường hiếm thấy.
 
Hoàn cảnh và ước mơ.
Khi nói về cuộc di cư năm 1954, người ta nghĩ đến gần một triệu tín hữu công giáo đành rời quê cha đất tổ để đi vào Nam với hai bàn tay trắng hầu tìm một nơi có thể tự do biểu lộ đức tin của mình. Thanh niên Nguyễn Viết Chương vào Nam không vì lý do ấy. Anh không phải là Kitô hữu, và tôn giáo không bao giờ là một vấn đề đối với anh. Như mọi người thuộc giai cấp nông dân thất học và nghèo xơ nghèo xác trong làng mình, anh Chương chỉ có một cái đạo duy nhất, ấy là ‘đạo làm người' theo truyền thống Việt Nam. Nếu ai hỏi anh theo đạo nào, anh bảo rằng anh theo đạo ông bà, mà không thắc mắc xem ‘đạo ông bà' có nghĩa là gì một cách cụ thể: đấy có thể là đạo mà ông bà đã theo và truyền lại, hoặc đấy cũng có thể là đạo thờ cúng ông bà tổ tiên. Năm 26 tuổi, nhân biến cố 1954, anh Chương rời thôn Ngô Xá, huyện Ý Yên, Tỉnh Nam Định, dẫn vợ con đi theo bà cô vào Nam với hy vọng tìm một con đường thoát ra cảnh nghèo túng, cái túng thiếu cơ cực khiến cho chị Chương phải mất đi đứa con thứ hai và thứ ba khi chúng mới chào đời. Anh cảm thấy hài lòng khi được nhận làm một bình nhì trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, dù bị chuyển lên vùng cao nguyên để đóng quân tại Trạm Hành, nơi vòng đai Dalat, cách trung tâm thị trấn 12 cây số. Năm 1955, người con thứ tư ra đời tại đây. Anh đặt cho con một cái tên gần giống như tên mình: Nguyễn Viết Chung.
 
Chung không còn nhớ gì về miền núi nơi mình sinh ra, vì năm 1960 cha cậu đã chuyển về Saigon để phục vụ trong một đơn vị không tác chiến. Khi vừa có trí khôn, cậu bé Chung phải đối diện ngay với thảm cảnh của một gia đình nghèo. Đồng lương của một quân nhân cấp hạ sĩ chỉ vừa đủ cho hai vợ chồng và bốn đứa con sống lây lất qua ngày chứ không thể nào có một cuộc sống cho ra sống. Bà Chương là một người phụ nữ bình dân mù chữ, hằng ngày chỉ biết thắp nhang lên bàn thờ van vái ơn trên phù hộ cho chồng cho con. Ông Chương là một người sống rất đúng với đạo đức truyền thống và tôn trọng các phẩm chất trung nghĩa lễ trí tín. Tuy nhiên cái nghèo đã khiến ông trở nên một người cộc cằn, vì thế không ít lần ông đã trút những trận lôi đình xuống vợ con mình. Hình ảnh về ‘mái ấm gia đình' còn lưu lại trong ký ức tuổi thơ của Chung là nỗi sợ đến khiếp đảm khi phải đứng trong xó nhà chứng kiến cảnh mẹ mình trở thành nạn nhân cho các cơn thịnh nộ của cha. Từ thuở còn là học sinh tiểu học, Chung mơ hồ nghĩ rằng mình sẽ không lập gia đình, vì gia đình đối với cậu là một cái gì khủng khiếp. Cậu sợ gia đình, sợ phải tạo thêm một gia đình bất hạnh.
 
Sống trong hoàn cảnh này, trí óc non nớt của cậu nảy sinh một ước mơ kèm theo một quyết tâm: phải học cho thật giỏi để cứu gia đình thoát khỏi cảnh nghèo. Thế là cậu cắm cúi học tập trong những trường công lập hạng 2 ở Saigon. Niên khóa 1970-1971, cậu là một học sinh xuất sắc lớp đệ tứ trường Trung Học Cộng Đồng Quận 6. Sau khi thi đậu trung học đệ nhất cấp, cậu quyết định học ngay lớp đệ nhị mà không theo học đệ tam. Cậu phải làm học bạ giả và ra trường tư mà học. Tuy nhảy lớp nhưng Chung vẫn học giỏi ở lớp đệ nhị và đệ nhất. Cậu đậu tú tài toàn phần năm 1973..
 
"Khi nhìn lại quá khứ, tôi thấy chương trình của Chúa thật huyền diệu. Nhờ học nhảy lớp đệ tam mà tôi không bị nhập ngũ theo lệnh tổng động viên 1973, sau ‘Mùa Hè Đỏ Lửa'. Nhờ những cơn thịnh nộ của cha mà đến năm 39 tuổi tôi vẫn còn độc thân để tự do đáp lại tiếng gọi triệt để của Thiên Chúa".
 
Tiếng gọi của cái Mỹ..
Với bằng tú tài trong tay, con đường tương lai bắt đầu hé mở cho cậu thanh niên 18 tuổi Nguyễn Viết Chung. Một ngày mùa hè năm 1973, cậu tình cờ đọc bản tin trên tờ Chính Luận: một giám mục người Pháp vừa qua đời tại trại cùi Di Linh. Vị giám mục ấy là Jean Cassaigne, mà người công giáo gọi với cái tên quen thuộc là Đức Cha Sanh. Ở trang trong, tờ Chính Luận thuật lại vắn gọn cuộc đời của vị giám mục tuyệt vời ấy. Từ thập niên 40, khi được gửi sang Việt Nam, linh mục trẻ Cassaigne chọn một vùng truyền giáo miền núi của dân tộc ít người, khu Djiring hẻo lánh (hiện nay là thị trấn Di Linh) cách xa trung tâm Dalat 80 cây số. Qua những lần viếng thăm mục vụ, cha nhận thấy rằng những ‘người cùi' thường bị loại ra khỏi làng để sống dở chết dở trong những cánh rừng lân cận, vì thế cha đã thành lập một ngôi làng cho họ và mời các Nữ Tử Bác Ái lên chăm sóc. Làng phung Kala ở Djiring suốt đời sẽ ở trong trái tim cha. Khi giáo phận Việt Nam tách khỏi Cao Miên, cha Cassaigne được tấn phong giám mục tiên khởi địa phận Sàigòn. Năm 1960, khi Hàng Giáo Phẩm Việt Nam được thành lập, ngài trao tòa giám mục Sàigòn lại cho Đức Cha Simon Hòa Hiền rồi trở về sống với anh em của mình là những người phung hủi ở làng Kala. Ngài yêu thương người phung đến độ chia sẻ mọi sự với họ, và để yêu thương đến cùng, ngài chia sẻ cả bệnh tật của họ để chết dần chết mòn trong thân thể đớn đau của một người đã nhiễm bệnh phung.
 
Đọc tiểu sử cố giám mục Cassaigne, Chung không để ý đến chức vị của ngài, mà chỉ thấy tấm lòng mênh mông của một mẫu người tuyệt đẹp. Tuổi 18 là tuổi say mê các thần tượng và gửi gắm vào đấy những ước mơ thầm kín chực chắp cánh bay cao. Cái Đẹp trong cuộc sống đức cha Sanh đã biến ngài thành thần tượng của anh. Những thanh niên khác mơ đến tiền tài danh vọng để tìm ra hạnh phúc, còn Chung thì mong tìm hạnh phúc bằng cách sống một cuộc sống có ý nghĩa và chết đi cho những người bất hạnh theo gương của thần tượng mình. Anh quyết định thi vào y khoa: đấy là một nghề có thu nhập cao giúp anh có thể đưa gia đình ra khỏi cảnh túng thiếu, nhưng đồng thời cũng là phương tiện để anh chăm sóc người cùi noi bước đức cha Sanh.
 
Tiếng gọi của cái Thiện.
Sau một năm SPCN (Sciences Physiques, Chimiques et Naturelles = Lý Hóa Vạn Vật), Chung thấy ước mơ của mình trở thành viển vông. Việc thi vào y khoa nằm ngoài tầm tay của những người thuộc giai cấp cùng đinh như anh. Anh thấy rõ điều này khi nạp đơn thi tuyển. Hầu hết các sinh viên thi vào y khoa đều là con cháu của các bậc có chức có quyền hay của các doanh nhân giàu sụ. Đa số đã tốt nghiệp từ một trường trung học Pháp hay một trường công lập nổi danh. Xuất thân từ một gia đình mà người cha là trung sĩ nhất, với kiến thức học được từ một trường tư thục vô danh, Chung thấy mình toan làm chuyện đội đá vá trời. Gia đình anh nghĩ rằng anh chạy theo một mục tiêu vượt quá sức mình nên khuyên anh bỏ ý định thi vào y khoa. Thế nhưng anh vẫn kiên trì học ngày học đêm mà trong lòng cứ lo sợ miên man. Nhìn thấy mẹ ngày ngày cầu khẩn những người đã khuất phù hộ cho gia đình, anh bỗng tin vào những điều huyền diệu. Anh lên Lăng Ông Bà Chiểu, thắp nhang khấn vái với cụ Lê Văn Duyệt. Anh thầm mặc cả với cụ: "Xin giúp con đậu vào y khoa. Để đáp lại, con hứa, sau khi trở thành bác sĩ, sẽ phục vụ cho người cùi". Thế rồi anh đậu vào y khoa ngay lần đầu tiên đi thi, năm 1974. Đối với nhiều người khác, thứ hạng 181/213 hẳn không có gì đáng nói, nhưng đối với bản thân anh và đối với gia đình, đấy là một ảo tưởng đã biến thành sự thật một cách thần kỳ.
 
Ngày 04-11-1974, Chung nhập học tại Đại Học Y Khoa, lúc bấy giờ còn mang tên là Trung Tâm Giáo Dục Y khoa Sàigon. Trong những ngày đầu ngỡ ngàng, anh bị thu hút ngay bởi một người Bỉ, giáo sư Marcel Lichtenberger, dạy môn Mô Phôi Học (histologie et embryologie). Ngoài kiến thức uyên bác, giáo sư Lichtenberger còn tỏa ra tư cách của một người thầy khiêm tốn và tận tụy, cứ như thể ông muốn dạy cho học trò mình một cái gì đó vượt lên hẳn những kiến thức y khoa. Chung tìm được lời giải đáp cho những thắc mắc của mình khi tất cả sinh viên năm thứ nhất, dù công giáo hay không, đều được mời dự một thánh lễ gọi là Maccabée tại nhà thờ Jeanne d'Arc, để cầu nguyện hay tỏ lòng nhớ ơn những người hiến xác cho sinh viên thực tập giải phẫu. Chung hiểu được vì sao giáo sư Lichtenberger luôn toát ra một cái gì thanh thoát: linh mục cử hành thánh lễ ngày hôm ấy chính là vị giáo sư khả kính của mình. Mãi sau này Chung mới biết rằng vị giáo sư ấy là một linh mục từng phục vụ ở Trung Hoa rất nhiều năm và gần gũi với những người bệnh mà không ai cứu chữa. Mang con tim nhạy cảm trước các nỗi bất hạnh, linh mục Lichtenberger, với kiến thức y khoa của một y công, đã phải mổ hàng trăm ca mà không có một bằng cấp nào; để rồi năm 44 tuổi, ngài mới về Bỉ học cho hết chương trình bác sĩ trong vòng 4 năm, thay vì 8 năm như mọi sinh viên y khoa khác. Tấm lòng của vị linh mục đã buộc ngài trở thành một bác sĩ thực thụ năm 48 tuổi. Chung chưa hề biết đến điều đó khi ngồi trên ghế đại học y khoa, nhưng nhìn thấy cha Lichtenberger trong áo lễ màu tím xuất thần cầu nguyện trên bàn thờ, Chung cảm nhận rằng thần tượng thứ hai của mình cũng đã đặt nền móng cho cuộc đời ông trên cùng một cội nguồn như thần tượng thứ nhất. Từ cái Mỹ mà anh đọc qua cuộc đời Đức Cha Cassaigne, chàng sinh viên Chung đã nghe được tiếng gọi của cái Thiện xuất phát từ tâm hồn của vị thầy tốt lành này.
 
Cái Thiện ấy rất gần mà cũng rất xa đối với anh. Có lần giáo sư Lichtenberger yêu cầu sinh viên điền vào tờ khai báo lý lịch trong đó có một ô ghi: nguyện vọng tương lai của anh (chị). Chung điền vào mọi ô khác một cách nhanh chóng rồi ngồi mãi trước ô ‘nguyện vọng tương lai' mà không biết phải viết làm sao. Đối với các bạn khác thì không có gì phải suy nghĩ. Khi bước vào y khoa, họ đã có những hoài bão rõ ràng cho ngày mai rồi: trở thành một bác sĩ giỏi, theo học cao hơn ở nước ngoài, có một nơi làm việc xứng đáng, tìm cơ hội để thăng tiến trong nghiệp vụ và trong xã hội con người... Khi hết giờ, Chung nộp tờ khai mà ô nguyện vọng vẫn còn để trống. "Tôi xấu hổ không dám thổ lộ cho giáo sư Lichtenberger biết rằng nguyện vọng tương lai của mình là làm sao trở nên giống như giáo sư".
 
Những tháng ngày ray rứt.
Con đường học vấn tưởng chừng đã êm ả thì biến cố 1975 đến đảo lộn mọi sự. Trường Y Khoa là một trong những trường mở cửa lại sớm nhất sau ngày 30 tháng 04, tuy nhiên đối với Chung, điều kiện tài chính ít ỏi để học tập đã biến mất. Cha anh là một trung sĩ nhất trong chế độ cũ nên không phải đi học tập, nhưng người anh cả từng là trung úy thì đang ở trong trại tập trung cải tạo. Chung không thể nào đang tâm nhìn cha hằng ngày đạp chiếc xích lô vắng khách để nuôi nấng năm đứa con đang lớn như thổi ở nhà. Anh thấy mình vừa có bổn phận phải chia sẻ gánh nặng với cha vừa phải tiếp tục đi học. Hàng đêm, anh thay cha đạp xích lô từ 7 giờ đến 11 giờ khuya. Sau một thời gian, anh không còn sức lực để vừa đi học ban ngày vừa đạp xích lô ban đêm, nên đành phải chấp nhận để cha và em trai mình tìm kế sinh nhai cho cả nhà, còn anh thì theo học để mong tìm một lối ra cho gia đình vào những năm về sau. Ý thức sự thiếu hụt của mọi người, Chung không đòi hỏi một điều gì cả. Đêm đêm, anh xin vào trực bệnh viện mong có cơ hội thực tập qua các trường hợp cấp cứu. Có những đêm phải thức trắng rồi sáng hôm sau không có một đồng dính túi để điểm tâm, anh vào lớp học mà mắt cứ hoa lên vì buồn ngủ và vì đói.
 
"Phải trung thành với ý nguyện ban đầu, bằng bất cứ giá nào" ... Với quyết tâm ấy, chàng thanh niên Chung mỗi năm lên một lớp cho đến 1978. Bước vào năm thứ năm, mọi sinh viên phải theo một chuyên khoa. Các sinh viên trình lên một bản gồm 3 nguyện vọng. Nhớ ơn người mẹ đã cơ cực qua 9 lần sinh con, mà mỗi lần là một biến cố thập tử nhất sinh, Chung chọn ngành ‘sản khoa' ở nguyện vọng 1. Trong niên khóa ấy, giáo sư Đạt, một bác sĩ chuyên về nội thần kinh, đã làm cho anh thích thú môn học này, vì thế anh ghi ‘nội thần kinh' ở nguyện vọng 2. Còn nguyện vọng 3, anh đành ghi ‘da liễu' để có thể trả lời với cụ Lê Văn Duyệt rằng mình không thất hứa. Ngày nghe tuyên bố về chuyên khoa của mình, Chung hụt hẫng. Anh bị phân vào chuyên khoa ‘ký sinh trùng sốt rét'. Anh chẳng vào được khoa nào trong ba nguyện vọng anh ghi. Suốt hai năm còn lại tại trường Y Khoa, anh sống với tâm trạng đằn vặt của một người thất tín thất trung. Anh tự trách: "Vì mình không trung thành với lời hứa phục vụ người cùi, nên đấng bề trên chuyển mình sang khoa ký sinh trùng để xử phạt về tội bội tín!"
 
Trả món nợ lương tâm....
Anh ra trường năm 1980 và được phân công đến Phân Viện Sốt Rét TPHCM. Quá chán nản với công tác này, anh bỏ nhiệm sở mà về gia đình hành nghề chui, với tư cách là một bác sĩ đến từng gia đình bệnh nhân để chữa trị. Ít ra, anh cũng thực hiện được một trong hai điều mình tự hứa trước kia. Tuy không có phòng mạch như bao nhiêu bác sĩ khác, nhưng được cái là anh dễ mến, mát tay và nhận thù lao tương đối hạ, nên thu nhập cũng tạm đủ để giúp gia đình thoát khỏi cảnh túng thiếu trường kỳ. Cha anh ngưng đạp xích lô. Các em anh có phương tiện học hành hay thực hiện những mong ước của mình. Thế nhưng tự đáy lòng, tiếng trách móc của lương tâm không ngừng dày xéo anh: "Mày là một tên thất trung thất tín!"
 
Năm 1984, sau khi cưới vợ gả chồng cho các em, cũng như giúp họ ổn định cuộc sống, Chung quyết định trả cho xong món nợ lương tâm bằng cách bỏ lại mọi sự mà đi chăm sóc cho bệnh nhân cùi. Ý nghĩ đầu tiên là phải phục vụ tại Di Linh, nơi mà thần tượng thứ nhất của anh đã thành lập, đã sống, đã chết và hiện nay mộ phần ngài vẫn còn nằm tại đấy, trơ gan cùng tuế nguyệt như một chứng tích tình yêu. Anh lên trại phong Di Linh xin nữ tu phụ trách cho phép anh làm việc ở đấy. Các nữ tu rất trân trọng ý định của anh nhưng không thể đáp ứng yêu cầu, vì Trại Phong lúc bấy giờ đã trở thành một cơ sở của Nhà Nước mà các nữ tu không có quyền tuyển dụng nhân viên. Anh trở về Trường Y Khoa xin chuyển lên Di Linh. Về mặt hành chánh, nhà trường không thể bổ nhiệm anh vào trại phong mà chỉ có thể chuyển anh lên Sở Y Tế Lâm Đồng. Cầm giấy tờ trong tay, anh trình diện với vị trưởng phòng tổ chức Sở Y Tế và nói lên nguyện vọng được về Trại Phong Di Linh. Bà trưởng phòng ngạc nhiên hỏi:
 
Anh có điên không? Hay là anh bị cùi?
 
Nếu tôi cùi thì bà đã thấy rồi. Còn có điên hay không thì tôi không biết, nhưng điều tôi biết là tôi mong muốn phục vụ những người cùi.
 
Anh sẽ nhận việc tại trạm sốt rét, vì chuyên khoa của anh là ‘ký sinh trùng sốt rét' chứ không phải là ‘da liễu'.
 
Tôi lên đây vì muốn phục vụ tại trại phong Di Linh. Nếu bà không cho phép thì tôi về lại TP Hồ Chí Minh chứ không làm việc ở bất cứ nơi nào khác.
 
Về lại Saigon, anh tìm cách thực hiện lời hứa cho bằng được. Không thể nào phục vụ người phong nếu thiếu chuyên khoa da liễu, nên anh xin làm một nơi gần Saigon để có cơ hội bổ túc về chuyên khoa. Ngày 01-07-1986, anh bắt đầu nhận việc tại Trạm Sốt Rét Đồng Nai, trong khi chờ đợi cơ hội. Sau 3 năm làm việc tại đấy, cơ hội đã đưa anh đến Bệnh Viện Da Liễu TP Hồ Chí Minh. Tại đấy, anh vừa phục vụ vừa học chuyên khoa với điều kiện sau này phải chăm sóc người phong của Thành Phố, nghĩa là làm việc tại trại phong Bến Sắn.
 
Tiếng gọi của cái Chân.
Năm 1992, anh xuống Bến Sắn để nhận nhiệm sở mới. Thế là mãn nguyện. Ước mơ tuổi thanh niên đã trở thành hiện thực. Từ sáng thứ hai đến trưa thứ sáu, anh làm việc tại trại phong Bến Sắn để bước cùng nhịp với các thần tượng hầu trung thành với lời hứa của mình. Từ tối thứ sáu đến chiều chủ nhật, anh về Saigon làm bác sĩ tại gia để tìm một ít thu nhập cho cha mẹ sống qua tuần. Cuộc đời anh dường như đã tới đích, anh không còn ước mơ gì nữa.
 
Thế nhưng anh lại phải đối diện với những vấn đề mới của cuộc sống. Tại trại phong, anh thấy mình sống ở giữa hai nhóm người hoàn toàn trái ngược trong thái độ hành xử. Nhóm thứ nhất gồm những người thiện chí, mà đa số là các Nữ Tử Bác Ái, chỉ sống tất cả cho bệnh nhân; nhóm thứ hai gồm một số người nghĩ đến tư lợi của mình nhiều hơn là lợi ích người bệnh. Với tư cách là trưởng phòng y vụ, bác sĩ Chung được nhóm thứ hai săn đón để lôi kéo về phe mình, nhưng anh lại bị cuốn hút bởi nhóm thứ nhất, vì qua họ anh hầu như chạm được cái Chân tiềm tàng nơi những người mà anh từng đặt làm khuôn mẫu cho cuộc đời mình: Giám mục Cassaigne và linh mục Lichtenberger. Chính các nữ tu này đã khiến cuộc đời anh dứt khoát rẽ qua một bước ngoặt triệt để.
 
"Tôi còn nhớ sự kiện sau đây. Có lần hai anh em người Pháp đều là linh mục đưa một bác sĩ cũng quốc tịch Pháp đến cưa chân cho một số bệnh nhân tại trại phong Bến Sắn. Vết thương của một người bị nhiễm trùng, nên anh đã lớn tiếng với tôi: "Ông dùng tôi làm con vật thí nghiệm!". Tôi quá tức giận nên đã nặng lời với anh. Một xơ cao niên chứng kiến cảnh này mà không nói một lời nào. Vài ngày sau, khi mọi chuyện đã êm, xơ nhẹ nhàng bảo tôi:
 
Bác sĩ Chung à, bệnh nhân đau chứ bác sĩ có đau đâu! Anh ấy bị cưa chân chứ bác sĩ có bị cưa chân đâu! Những gì bác sĩ làm cho bệnh nhân, bác sĩ đừng cho là nhiều rồi. Những điều bác sĩ làm cho họ không đền bù được nỗi đau cả đời của họ đâu!
 
Tôi bỗng thấy nơi xơ cao niên ấy một sức mạnh tinh thần họa hiếm. Ai đã giúp cho xơ có được lòng quảng đại thanh thản như thế? Chắc là Chúa của xơ. Nếu Chúa của xơ có thể ban cho xơ một sức mạnh như thế, thì Ngài cũng phải là Chúa của tôi!"
 
Ý nghĩ rằng Chúa của các Nữ Tử Bác Ái cũng có thể là Chúa của mình vừa làm cho anh vui, vừa làm anh e ngại. Lời dặn dò của mẹ, từ thuở anh còn là một cậu bé tiểu học cư ngụ trong xóm đạo, cứ văng vẳng bên tai: "Chung không được đi đạo nhé. Người công giáo kỳ cục lắm, cứ dụ người ta theo đạo. Đạo ai nấy giữ chứ!".
 
Quả là những người công giáo ở đây thật kỳ cục. Nhất là nữ tu công giáo. Nhưng kỳ cục không phải vì họ dụ dỗ anh theo đạo, mà vì họ sống trên đời nhưng không bao giờ nghĩ đến bản thân mình. Một trong các nữ tu mà anh có cơ may cộng tác một thời gian ngắn là xơ Maria Phạm Thị Ngọc Loan, được mọi người trong trại gọi với cái tên thân thương là Dì Hai. Khi bác sĩ Chung về trại phong, Dì Hai đang ở đấy với hai tư cách: Phó Giám Đốc trại phong và Xơ Phục Vụ (soeur servante = dì bề trên) cộng đoàn Nữ Tử Bác Ái Bến Sắn. Anh nghe kể lại rằng Dì Hai về đây năm 1976, lúc mà chế độ chăm sóc các bệnh nhân phong hầu như không có gì, trong khi những nhân viên mới đổi tới lấy hết cái này đến cái nọ trong trại về làm của riêng. Dì đã phải đứng ra bảo vệ cho bệnh nhân và cỡi chiếc gắn máy tồi tàn chạy bằng xăng pha dầu lửa về thành phố Hồ Chí Minh mỗi tuần nhiều lần hầu tìm nguồn lương thực cho họ, đồng thời kêu gọi và đưa về Bến Sắn những bệnh nhân bỏ trại lên sống vất va vất vưởng trên vỉa hè Sàigòn. Tim của Dì đập theo từng nhịp của con tim bệnh nhân trong vòng 17 năm trường, để rồi ngưng lại khi người ta phát hiện quá muộn bệnh ung thư trong hình hài của Dì. Dì sợ rằng cho biết sớm thì nhà dòng sẽ cấm dì tiếp tục phục vụ bệnh nhân phong: Dì đã hy sinh mạng sống mình cho họ, theo nghĩa đen.
 
"Hôm ấy chúng tôi sắp đi công tác từ TP Hồ Chí Minh. Biết rằng Dì Hai đang ở vào những giờ phút cuối đời, tôi ghé lại 36 Tú Xương để chào từ biệt. Tôi nói:
 
Dì Hai à, chút xíu nữa đây, con với bác sĩ Quang và chị Bích Vân sẽ lên trại phong Di Linh mổ mắt cho bệnh nhân trên ấy.
 
Nghe tôi nói, đôi môi héo hắt của Dì Hai thoáng nở một nụ cười. Tôi bước ra ngoài chờ xe. Xe chậm đến. Nghĩ rằng đây có lẽ là lần cuối cùng còn gặp mặt Dì Hai, nên tôi luyến tiếc trở lại một vài phút cạnh Dì. Nghe tiếng chân tôi vào, Dì Hai hé mở mắt, nhìn thấy tôi, mấp máy đôi môi để nói lên một điều gì. Xơ chăm sóc ghé tai vào miệng Dì lắng nghe, rồi lặp lại cho tôi: "Chung - Dì Hai hỏi - tại sao chưa đi?" Thế đấy! Đến giây phút cuối cùng của cuộc đời, Dì Hai vẫn không nghĩ gì đến mình, mà chỉ nghĩ đến bệnh nhân. Không chỉ là bệnh nhân tại Bến Sắn mà còn cả bệnh nhân tại Di Linh nữa!"
 
Một bước ngoặt triệt để.
Chung! Tại sao chưa đi?
 
Vâng, đã đến lúc bác sĩ Chung quyết định đi đạo, đi theo con đường mà Dì Hai Loan đã từng đi. Sau đám tang của Dì Hai, anh đến gặp Dì Camille Hạnh, giám tỉnh dòng Nữ Tử Bác Ái, và trình lên ý nguyện đi tu để sống trọn vẹn cho bệnh nhân giống như các dì. Dì Hạnh thông cảm từ thâm sâu mong ước của anh, vì dì cũng từng là một người chịu phép rửa vào tuổi trưởng thành trước khi dâng hiến trọn đời mình cho Chúa với tư cách nữ tu.. Trong thời gian này, cha bề trên tổng quyền Tu Hội Truyền Giáo Thánh Vinh Sơn đang có mặt tại Saigon (Thánh Vinh Sơn Phaolô cũng là vị sáng lập dòng Nữ Tử Bác Ái), nên Dì Hạnh đã đứng ra bảo lãnh và xin ngài nhận anh vào dòng Truyền Giáo. Cha tổng quyền chấp thuận nhưng bảo rằng chỉ nhận vào dòng sau khi anh học đạo và chịu bí tích thánh tẩy. Lúc bấy giờ anh chưa có khái niệm gì rõ ràng về Thiên Chúa. Điều duy nhất anh biết: Ngài phải là cội nguổn của Chân Thiện Mỹ, bởi vì Ngài là Thiên Chúa của những con người sống cuộc đời chân thật, tốt lành và tuyệt đẹp. Vì thế, anh không do dự mảy may: Chúa của Đức Cha Cassaigne, của Cha Lichtenberger, của Dì Hai Loan, sẽ là Chúa của anh. Chỉ còn một vướng mắc nhỏ: cha mẹ anh nghĩ sao? Anh trình với song thân và hai vị bảo:
 
"Con đã lớn nên toàn quyền chọn con đường có ý nghĩa nhất cho đời mình; các em con cũng đã lớn, chúng có thể chăm sóc cha mẹ, con đừng lo."
 
Ngày 28-08-1993, hai mươi năm sau bài báo của Chính Luận, bác sĩ Chung đến dòng Tên tại Bình Dương gặp cha Hoàng Văn Đạt xin học giáo lý tân tòng. Cha vui mừng báo anh hay rằng ngày hôm ấy Giáo Hội mừng lễ thánh Âu Tinh, một người đã chịu phép rửa khi đang là một giáo sư lỗi lạc tại Rôma, để rồi trở thành một linh mục và một giám mục thánh thiện và uyên bác tại Hippone, một thành phố Châu Phi. Để đánh dấu cho bước ngoặt đáng ghi nhớ này, anh chọn thánh Âu Tinh làm quan thầy mình. Âu Tinh Nguyễn Viết Chung lãnh nhận bí tích thanh tẩy từ tay cha chính xứ Bến Sắn, linh mục Trần Thế Thuận, ngày 15-05-1994, tại nhà nguyện Trại Phong Bến Sắn.
 
Ngày 15-09-1994, anh trở lên Đalat, nhưng lần này không phải đến Sở Y Tế xin phục vụ người phong, mà đến 40 Trần Phú, trụ sở dòng Truyền Giáo Vinh Sơn, để khởi sự tập luyện cuộc sống quên mình trọn vẹn. Muốn thời gian tìm hiểu không gây trở ngại cho tương lai của bác sĩ Chung, nếu ơn gọi linh mục không phải là con đường Chúa dành cho anh, bề trên Tu Hội Truyền Giáo tại Việt Nam đề nghị anh làm quen với nếp sống tu trì tại Túc Trưng. Suốt một năm ròng, mỗi tháng bác sĩ Chung làm việc 3 tuần liên tục ở Bến Sắn, và dành trọn tuần thứ tư để sống tại nhà dòng Túc Trưng. Trong thời gian thử thách này, anh đã chu toàn đúng mức hai vai trò trái ngược của mình: Bác sĩ trưởng tại Trại Phong và em út trong cộng đoàn Vinh Sơn. Sau một năm, bề trên thấy rằng đã đến lúc anh bỏ vai trưởng để chỉ còn sống trong vai út. Anh xin nghỉ việc tại Trại Phong Bến Sắn và chính thức gia nhập Tu Hội Truyền Giáo ngày 01-06-1995.
 
Thời gian nhà tập hẳn không dễ dàng gì cho một người đã công thành danh toại rồi một sớm một chiều trở nên ‘lính mới' phải vâng phục mọi người, trong số đó có những thầy bằng nửa số tuổi của anh. Thế nhưng bác sĩ Chung biểu hiện tư cách của một con người đã thực sự tự hủy theo gương Chúa Kitô. Các thầy cùng thời với anh chân thành thổ lộ: "Anh Chung luôn là một mẫu gương khiêm nhường cho tất cả chúng em."
 
Nhà dòng cho phép tu sĩ Chung học dồn chương trình triết học trong vòng một năm, để rồi khởi sự 4 năm thần học kể từ năm 1997. Ngày 25-03-2003, Giáo Hội trao thừa tác vụ linh mục cho thầy Âu Tinh Nguyễn Viết Chung, qua lễ đặt tay của Đức Giám Mục Giuse Vũ Duy Thống, tại nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp TP Hồ Chí Minh.
 
Hành trình của một cuộc đời.
Hành trình của một cậu bé sợ hãi trong xó nhà đã kết thúc nơi bàn thánh. Một người khởi hành trong cái nghèo khó bị áp đặt, đi cả một vòng đời, rồi đến đích trong sự khó nghèo tự nguyện. Một người đi từ nỗi bất hạnh vì phải nghèo đến niềm hạnh phúc được sống nghèo. Một người suốt đời mang trong mình tiếng gọi: Phải trung thành! Và nhờ lòng trung thành ấy mà linh mục Nguyễn Viết Chung nhận được Tin Mừng Cứu Độ, không phải qua những lời rao giảng, mà qua hành động cụ thể của những con người, để rồi từng buớc nghe được cái Mỹ, thấy được cái Thiện, chạm được cái Chân xuất phát từ Chúa Kitô, Đấng Tình Yêu muôn đời tận hiến.
 
"Nếu tôi có một lời để nhắn nhủ với người trẻ hôm nay, thì tôi chỉ nói với họ điều này: Khi bạn phải sống trong hoàn cảnh của một người nghèo, bạn cần nỗ lực ban đầu để vượt qua, nhưng hãy nhớ rằng mình luôn có những vấp váp. Rồi một ngày nào đó bạn sẽ thấy rằng tiền không phải là trên hết. Điều làm cho cuộc đời mình có ý nghĩa, ấy là phải trung thành. Tôi đã từng bất trung. Và đã phải thông qua những kinh nghiệm chua chát."
 
"...Tôi còn nhớ hôm cha tổng quyền chấp thuận cho tôi nhập dòng Vinh Sơn là ngày thứ bảy. Qua hôm sau, ngày chúa nhật, các cha Dòng Camillo mở diễn đàn kêu gọi các thanh niên dâng hiến đời mình với tư cách là bác sĩ linh mục. Đây là đặc sủng của dòng ấy, và lời kêu gọi này rất phù hợp với tôi. Thế nhưng tôi đã trốn không tham dự, vì muốn trung thành với Tu Hội Vinh Sơn. Tôi đã biết thế nào là giá phải trả cho sự bất trung rồi."
 
Con đường của bác sĩ Chung tưởng chừng như kết thúc tại cung thánh khi lãnh nhận chức linh mục. Tuy nhiên, từ nơi ấy lại khởi đầu cho một hành trình mới. Bác sĩ Chung trở lại với những bệnh nhân Aids ở Mai Hòa, với những người nghiện ma túy ở nhiều tổ chức và trung tâm khác nhau... Nhưng lần này, qua việc chữa trị thân xác, linh mục Chung còn đem lại cho họ bình an tâm hồn, một niềm bình an xuất phát từ Thiên Chúa của những người mình ngưỡng mộ và cảm phục, mà giờ đây đã trở thành Thiên Chúa của chính mình. Với chức linh mục, bác sĩ Chung làm chứng cho Tình Yêu Thiên Chúa không chỉ bằng nghiệp vụ và tác vụ, mà còn bằng cả đời sống của bản thân mình.
 
Nhìn lại con đường đã qua, bác sĩ Chung thường xuyên lặp lại phương châm mình đã chọn cho ngày thụ phong:
 
"Tạ ơn Chúa, Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương."
 
Và nhìn vào ngày mai, linh mục Chung không ngừng trung thành cam kết:
 
"Điều khấn hứa cùng Ngài, con xin giữ trọn."
 
Con đường Chúa đã dẫn đi...
Thiên Chúa đã đến trong cuộc đời Nguyễn Viết Chung bằng những bước đi nhè nhẹ. Nhưng mỗi lần Ngài đến là Ngài để lại dấu ấn sâu sắc trong một tâm hồn biết lắng nghe. Giữa bao nhiêu thần tượng trên thế gian, Nguyễn Viết Chung biết chắt lọc một vài khuôn mẫu định hướng cho cuộc đời mình: Đức Cha Cassaigne, Cha Lichtenberger, Dì Hai Loan... đấy là chưa kể đến nhiều người khác, trong đó có thân mẫu của mình, một người mẹ đã suốt đời âm thầm chịu đựng cho đến khi mù lòa. Giữa các gương mặt ấy, có một nhân vật gần giống như Nguyễn Viết Chung: Linh Mục Bác Sĩ Marcel Lichtenberger. Thế nhưng con đường Chúa dẫn hai vị đi thì hoàn toàn trái ngược nhau. Năm 25 tuổi, cha Lichtenberger bị tình yêu Thiên Chúa thúc bách phải đến với những con người bất hạnh tại Trung Hoa; và trước những thương tích của Chúa Kitô thể hiện trên hình hài các bệnh nhân, cha đã trở về ngồi lại trên ghế nhà trường để rồi trở thành một bác sĩ năm 48 tuổi. Ngược lại, Nguyễn Viết Chung tốt nghiệp bác sĩ năm 25 tuổi, thế rồi vì muốn chia sẻ trọn vẹn sự khốn cùng của bệnh nhân nên rốt cục đã gặp Chúa Kitô chịu đóng đinh trong những con người bất hạnh, và điều này khiến cho vị bác sĩ tận tâm kia từ bỏ mọi sự để trở thành linh mục của Chúa vào tuổi 48. Một linh mục trở thành bác sĩ đã là đèn soi cho một bác sĩ trở thành linh mục. Hành trình trái ngược của hai linh mục bác sĩ này bộc lộ cho chúng ta một chân lý. Ai đến với Thiên Chúa một cách chân thật và trung thành thì rồi sẽ liên đới với những con người bất hạnh. Và ai liên đới với người cùng khổ một cách chân thật và trung thành thì rồi sẽ gặp được Thiên Chúa từ nơi thâm sâu của lòng mình.
 

Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

Nữ tu dòng Biển Đức: Mẹ Dolores được đề cử giải Oscar 2012













Trong số các ngôi sao Holywood tiến bước trên thảm đỏ trong buổi lễ trao giải Oscar năm nay vừa diễn ra hôm 26 tháng 2. 2012, đã có sự hiện diện của một nữ tu dòng Biển Đức năm nay đã 73 tuổi. Minh tinh 73 tuổi này nay được gọi là Mẹ Dolores thuộc tu viện Regina Laudis ở Bethlehem, Connecticut. Tuy nhiên, trước khi là nữ tu, Mẹ Dolores đã từng là minh tinh Dolores Hart, một nữ diễn viên trẻ đang lên.
Mẹ Dolores là chủ đề chính của một bộ phim tài liệu "Thiên Chúa quan trọng hơn là Elvis", một bộ phim được đề cử giải Oscar 2012. Bộ phim là câu chuyện về cuộc đời của chính Mẹ Dolores. Đang khi có một sự nghiệp diễn xuất lẫy lừng trong đó Mẹ Dolores đã đóng 11 bộ phim cùng với Elvis Presley, nhưng thật bất ngờ Mẹ đã bỏ ngang để long trọng sống đời viện tu.


Mẹ Dolores đã từng thủ vai chính trong hàng loạt các bộ phim như "Where the Boys Are" cùng với George Hamilton, và "Francis of Assisi" được chiếu năm 1961.
Phim tài liệu được đề cử giải không chỉ tập trung vào sự nghiệp Hollywood và cuộc sống của Mẹ như một nữ tu, mà còn chú ý đến các hoạt động hàng ngày của các nữ tu khác tại tu viện Regina Laudis.

Dolores Hart: tiếng gọi con tim - từ Hollywood đến dòng kín Biển Đức


Vào cuối thập niên 1950-đầu 1960, lúc ông vua nhạc Rock Elvis Presley đang ở trên đỉnh cao danh vọng, các khán giả ái mộ bỗng thấy một bóng hồng xuất hiện bên cạnh ông trong các bộ phim "Loving You" (1957), King Creole (1958), và từ đó làng phim Hollywood cũng nóng lên vì sự xuất hiện của ngôi sao sáng tài sắc vẹn toàn có tên là Dolores Hart (tên trong khai sinh là Dolores Hicks), người sau đó liên tiếp được mời ký hợp đồng đóng phim (có hợp đồng lên đến 1 triệu đô la thời đó) và người ta bắt đầu thấy cô thủ những vai chính bên cạnh các nam tài tử lừng danh khác ngoài Elvis Presley như George Hamilton, Robert Wagner, Stephen Boyd, Montgomery Clift v.v... Tài diễn xuất có hồn (từng được trao giải Threater World và được đề cử nhận giải Tony cho vai diễn viên chính xuất sắc trong phim The Pleasure of His Company và vẻ đẹp quý phái của cô được so sánh với Grace Kelly- người sau này đã bỏ phim trường để về làm bà hoàng của xứ Monaco.
 
Cũng như Grace Kelly, Dolores Hart cũng đột ngột rời bỏ Hollywood nhưng là để đáp lại một mối tình lớn nhất trong đời mình, lớn đến nỗi chính cô cũng không ngờ là cô có thể bỏ lại sau lưng danh vọng và tên tuổi đang chói ngời như sao của mình, bỏ lại những hợp đồng bạc triệu và hôn ước với một kiến trúc sư trẻ tuổi giàu có hết lòng yêu thương mình để đáp lại một tiếng gọi thiêng liêng của trái tim, cái mà người theo đạo Công giáo gọi là "ơn kêu gọi" để thề nguyện sống suốt đời còn lại của cô trong một dòng tu kín có tên là Đan viện Biển Đức Regina Laudis ở Bethlehem thuộc tiểu bang Connecticut.

Ơn thiên triệu đặc biệt dành cho Dolores

Một điều lạ ở Dolores Hart là trong lúc mọi người còn phân vân tự hỏi vì sao một cô gái đang ở độ tuổi thanh xuân, tài sắc vẹn toàn và đang chuẩn bị bước vào đời sống hôn nhân như cô lại có những quyết định lạ lùng và khó hiểu như vậy, kể cả những lời võ đoán rằng sự nghiệp tu trì của một ngôi sao điện ảnh như cô ắt sẽ không tồn tại được bao lâu, hay "Dolores đi tu vì mang bầu với Elvis", Dolores đã chứng tỏ những lời xét đoán phiến diện về sơ là hoàn toàn sai lạc. Người nữ tu ấy đã sống một đời tận hiến suốt hơn nửa thế kỷ qua trong dòng tu kín (tức là một môi trường sống chuyên biệt về cầu nguyện và làm việc trong sự yên lặng, không tiếp xúc với thế giới bên ngoài) với một tinh thần lạc quan và vâng phục tuyệt đối.
 
Lần lượt, theo thời gian và luật đào thải của tự nhiên, những ông vua điện ảnh bạn diễn của Dolores Hart như Elvis Presley, George Hamilton... rồi cũng lần lượt giã từ sân khấu điện ảnh để đi về cõi vĩnh hằng. Ít ai còn nhớ đến và nói về người nữ điện ảnh thần thoại Dolores Hart. Nhưng bỗng dưng có tin Dolores Hart sẽ tái xuất hiện trong dịp lễ trao giải Oscar lần thứ 84 để chứng kiến sự kiện cuốn phim tài liệu nói về cuộc đời tu trì như của bà có tựa đề là "Chúa chính là một Elvis lớn lao hơn" mà bà đã đồng ý cộng tác và giúp hoàn thành theo ý bề trên của mình là Đức Cố Tổng Giám Mục Pietro Sambi có thể được nhận giải thưởng nghệ thuật cao quý nhất này.

Lạy Chúa, con đây

Thật ra Dolores đã trở ra thế giới bên ngoài vài lần trước đây, khi vâng lệnh mẹ bề trên
 sáng lập viên cùa dòng Abbess Benedict Duss- vận dụng năng khiếu và kinh nghiệm diễn xuất của mình vào những việc có lợi cho công ích. Dolores kể lại khi mới gia nhập hội dòng, sơ đã hồn nhiên nói với mẹ bề trên rằng mình rất vui vì không còn phải lo lắng cho bất cứ vai diễn nào nữa vì đã dứt khoát lìa bỏ sự nghiệp làm phim lại sau lưng, nhưng không ngờ mẹ bề trên đã làm sơ ngạc nhiên pha chút tức giận khi nói rằng "Rất tiếc mà nói rằng sơ đã sai lầm hoàn toàn khi nghĩ như thế, Bây giờ mới là lúc sơ cần phải đóng một vai trò và chú tâm vào vai trò của mình". Khi thấy Dolores tỏ ý bực mình, Mẹ bề trên nói tiếp "Có nhiều điều mà sơ đã chối bỏ nhưng lại rất cần thiết phải sử dụng đến chúng ở đây".

Và cứ thế, đức vâng lời và ý muốn phục vụ tha nhân đã không còn làm cho vị nữ tu đặc biệt này ngần ngại khi trở ra ngoài đời, đứng trước ống kính của các ký giả để điều trần trước quốc hội vào năm 2006 về chứng rối loạn bệnh lý thần kinh ngoại vi tự phát, căn bệnh chưa có thuốc chữa mặc dù đã ảnh hưởng đến rất nhiều người ở Mỹ. Ngoài ra, Dolores còn dùng ảnh hưởng Hollywood của mình để giúp phát triển một dự án về nghệ thuật trình diễn cho cộng đoàn của mình, với sự tiếp tay tích cực của giới tài tử điện ảnh mà bà quen thân như Paul Newman, Patricia Neal, một dự án đã đem lại cho cộng đoàn ở Bethlehem nhiều thành quả tốt đẹp về nghệ thuật phục vụ nhân sinh.
Theo lời kể của chính Mẹ Dolores, khi được Đức TGM Sambi mời bà lên gặp ngài tại Washington DC hai năm trước đây và ngỏ ý muốn mời bà tham dự làm phim về cuộc đời các nữ tu dòng kín, Mẹ Dolores đã ngần ngại và tính từ chối với lý do bà đã không giữ liên lạc với giới làm phim ở Hollywood nữa, nhưng ĐGM Sambi vẫn kiên trì thuyết phục bà và nói "Chúa sẽ lo liệu tất cả" và khuyên bà nên cầu nguyện để ơn Chúa sẽ "làm điều gì đó, vì thế giới này cần biết về đời sống của những người tu kín như thế nào" Bà ra về và thuật lại những lời ĐGM Sambi đã nói với bà cho các chị trong đan viện nghe với nỗi phân vân và lo lắng. Bà kể rằng không hiểu sao, tự dưng 2 ngày sau HBO gọi vào tu viện và ngỏ lời mời mời bà cộng tác làm cuốn phim tài liệu "God is a bigger Elvis", một sự lạ mà cho đến nay bà vẫn cho là "Có bàn tay Chúa sắp đặt".

Cuốn phim tài liệu trên hiện đang được đề cử nhận giải Oscar năm nay, và Mẹ Dolores sẽ đến tham dự buổi trao giải thưởng cao quý này.

Một tình yêu để lại
Một trong những thắc mắc lớn nhất của cả những người ái mộ lẫn người theo dõi sự kiện về Mẹ Dolores là từ đâu và bắt đầu từ lúc nào bà đã chịu ảnh hưởng của "ơn kêu gọi" và làm sao bà lại có thể dứt bỏ đời thường của một người đang ở độ tuổi thanh xuân phơi phới một cách dễ dàng không vương vấn, không cả một dấu hiện báo trước? Ngay cả vị hôn phu của cô là Donald Robinson cũng không thể lý giải tại sao sau 5 năm hò hẹn, bỗng Dolores thổ lộ ngay sau khi họ vừa làm lễ đính hôn là cô thật sự chỉ muốn đi tu. Ông đã không tin ở tai mình, vì thấy Dolores vẫn tiếp tục đi đóng phim bình thường. Ông không hề ngờ rằng ơn kêu gọi dành cho Dolores đã bắt đầu từ trước khi cô quen biết ông, vào năm 21 tuổi và sự nghiệp điện ảnh đang ở vào thời kỳ rực rỡ nhất.
 Một người bạn của Dolores kể lại là khi nghe cô than thở rằng đóng phim căng thẳng quá, nhưng chỉ sau vài tuần lễ thì lại đường ai nấy đi, cô phải chia tay với những người bạn mới quen mà cô quý mến, điều này để lại nhiều trống rỗng trong lòng cô gái trẻ đơn sơ dễ mến.

Thấy thế, người bạn đề nghị Dolores đến nhà dòng Biển Đức để tĩnh tâm và học hỏi lối sống và làm việc của các nữ tu là những người mà cô này cho là rất ổn định và đáng phục. Ban đầu Dolores có vẻ ngại ngần nhưng sau đó vẫn cứ đi thử. Cô đến tu viện sống vài ngày và không muốn trở về. Nhưng nhà dòng cũng chưa muốn thu nhận cô với lý do cô là người của Hollywood, rất "đáng ngờ vực", vả lại nhà dòng cho rằng cô vẫn chưa là một phụ nữ chín chắn ở lứa tuổi 21.
 
Dolores trở về tiếp tục đóng phim và còn đính hôn với một trí thức đạo đức và thành công nữa, nhưng mọi người không thể ngờ rằng trong tâm hồn cô gái trẻ ấy, định mệnh đã dành sẵn cho Chúa một chỗ đứng bất khả xâm phạm, một tình yêu cao hơn hết mọi cám dỗ của vật chất xa hoa trên đời mà nhiều người mơ cũng chưa có được !
 
Dolores vẫn kín đáo có những chuyến đi tĩnh tâm ở nhà dòng Biển Đức, và sau 2 năm, khi hội đủ điều kiện nhà dòng đưa ra là cô đã lặng lẽ rời bỏ ánh sáng hào nhoáng của đêm dạ hội ra mắt cuốn phim Come Fly With Me để chính thức gia nhập dòng Biển Đức.
Ngôi sao đang lên của sân khấu điện ảnh Hollywood từ đó được biết đến qua cái tên sơ Judith, sau đó là sơ Dolores khi khấn trọn đời vào năm 1970.
 Mặc dù cuộc sống mới có đem lại rất nhiều thử thách, nhất là vào năm đầu, sơ Dolores đã tìm được nhiều sự yểm trợ tinh thần của các chị em nữ tu và của mẹ bề trên, người luôn đóng vai trò linh hướng sáng suốt và khôn ngoan khi phải bất ngờ thu nhận một đệ tử "không giống ai", để biến nhân vật nổi tiếng hơn bất cứ ai mà bà từng thu nhận trở thành một nữ tu sống trọn lời khấn "khó nghèo, trong sạch, và vâng lời".

Có thể nói, như một cuốn phim với nhiều tình tiết giả tưởng, cuộc đời của sơ Dolores đã đem lại rất nhiều bất ngờ không những cho riêng bà mà còn cho cả chính ngững người đã có ít nhiều liên hệ với bà, trong đó có ông Donald John Robinson. Những gì xảy ra trong đời ông từ khi quen biết và đính hôn với Dolores có thể được viết thành một câu chuyện ăn khách, nhưng ông đã chọn lối sống kín đáo và lặng lẽ để gìn giữ những kỷ niệm mà ông đã có với vị hôn thê mà ông trọn đời yêu quý, người đã bỏ rơi ông cho một ơn gọi thiêng liêng cao cả hơn mà chỉ có những người tín hữu với một ý thức đặc biệt như ông mới hiểu và vui lòng chấp nhận.

Chẳng thế mà tuy bị Dolores "bỏ rơi", Donald vẫn vui lòng chấp nhận và vẫn giữ mối quan hệ lành mạnh thủy chung với bà cho đến ngày ông nhắm mắt lìa đời vào tháng 11 năm 2011, ông vẫn không hề lập gia đình với ai, viện cớ "Chẳng ai thay thế được Dolores". Được biết, ông vẫn có thói quen đến thăm bà tại đan viện Biển Đức đều đặn hai lần một năm vào dịp Noel và Phục Sinh. Khi ông qua đời vài tháng trước đây, toàn bộ tài sản và của cải của ông đã được trao lại cho đan viện Biển Đức để các sơ có thêm tài lực mà làm việc phục vụ công ích.

Donald John Robinson (1933-2011), người đã đi bên lề cuộc đời của tài tử, nữ tu Dolores cho đến cuối đời mà vẫn không nguôi tình yêu dành cho bà.

Một đoạn trong phim "Francis of Assisi" mà Dolores thủ vai chính, nói về cuộc đời một vị công nương (Clare) đã từ bỏ cuộc sống nhung lụa vương giả để sống đời tu trì, ngày cha cô đến đòi con về cũng là ngày cô xuống tóc và khấn dòng. Cuốn phim cũng như một lời báo trước cuộc đời tu trì của tài tử Dolores Hart được bắt đầu 2 năm sau đó:

Dường như, sự trở lại Hollywood của Dolores lần này không ngoài mục đích chứng tỏ cho mọi người thấy rằng, trong thời đại điên đảo ngày nay khi các giá trị nhân bản và đạo đức đang đến hồi suy thoái và hỗn loạn nhất, khi giới trẻ tìm mãi vẫn không thấy được những mẫu gương cao quý để nói theo, vẫn có những điều tốt đẹp và lạ thường đang xảy ra một cách hết sức bình thường, như cuộc đời và mối tình đơn sơ thành thật của Dolores Hart, một nữ tu sinh ra với một sứ mạng đặc biệt không một lý giải trần gian nào có thể giải thích cặn kẽ, trừ khi chấp nhận gọi đó bằng hai chữ "ơn Chúa" với lòng xác tín. Như Mẹ Dolores, sau mấy chục năm tu trì vẫn chưa thể nào tự hiểu nổi.

Nguồn: Vietcatholic3/3/2012

Chuyện cuộc sống




Chỉ là những chuyện rất thường, nhưng chúng đã thực sự đã và đang xảy ra quanh ta. Xin ghi lại vài câu chuyện đơn giản, với hy vọng gợi lên một vài suy tư nào đó để giúp cho cuộc đời này tốt đẹp hơn.

Những giọt nước mắt tuôn rơi.
Buổi sáng hôm ấy, Nhật, một người phụ nữ thân quen với gia đình kể lại câu chuyện đau lòng đã xảy đến trong gia đình vào tối hôm trước: Lữ, một khách hàng đã gọi điện thoại trách móc vì đã không giao hàng đúng hẹn. Chuyện cũng thường thôi và cũng có lý do khách quan đưa đến việc chậm trể này. Qua câu chuyện trong điện thoại, đôi bên đã nói cho nhau những lời đủ để thông cảm và thực ra việc chậm trễ cũng không làm thiệt hại gì về kinh tế. Vậy mà chỉ một lát sau, Lữ đã đến nhà Nhật để rủa xả những lời không đứng đắn và nhất là còn đụng đến nỗi đau tâm linh của gia đình: con hư tại mẹ. Tôi tự hỏi: tại sao lại đụng đến nỗi đau của người khác như vậy, với một câu nói ‘không nên nói’ được lặp lại đến 3 lần; Lữ là một cô gái trẻ chưa sinh con, liệu con cái cô ta có trót lọt ngon lành không - hay có khi lại nhận lấy quả báo? Một con người tử tế phải biết tránh đụng chạm đến những nỗi đau thể lý (đui, què, mẻ, sứt) đã đành, sao lại nhẫn tâm hành hạ người khác bằng cách châm vào vết thương lòng của họ, khiến những giọt nước mắt tuôn rơi cả đêm trường và vẫn lã chã rơi khi nói chuyện với tôi. Tôi tự hỏi: người kia có ‘bình thường’ hay là ‘chạm mạch’ nhỉ? Vì có lý trí, sự nhẫn tâm đã khiến lòng độc ác của con người vượt xa con thú. Muốn được hưởng ân lộc của Chúa và để thành công trên đời, cần lắm một tấm lòng nhân hậu và biết chạnh lòng thương tha nhân. (Ghi chú: tên trong câu chuyện đã được thay đổi).
Những câu chào hỏi.
Tôi quen một gia đình, mỗi lần đến nhà anh ấy, vẫn thường thấy có hai đứa trẻ gái chơi với nhau. Khi tôi đến và khi tôi ra về, hai đứa trẻ đều chào hỏi rất lễ phép: “Cháu chào chú’ và đứa kia chào: “Con chào ông”(một đứa là con và một đứa là cháu ngoại của anh ấy). Chúng chào rất bình thường và chẳng có sự thúc giục của ai cả, như đã được lập trình sẵn từ trong lòng mẹ vậy. Chuyện chẳng là gì và chẳng đáng gì, nhưng hãy nghĩ xem tập cho trẻ một phản xạ tự nhiên như vậy không phải là chuyện dễ. Những người lớn trong gia đình phải có thói quen lịch sự một cách chân thành với mọi người thì mới nói được trẻ. Sự lễ phép của trẻ thật trong sáng khi so với óc tính toán vụ lợi của người lớn và đó là cơ sở để ta giáo dục sự tôn trọng nhân vị của người khác. Gia đình là nơi thích hợp để giáo dục đức tin cho trẻ và cũng là nơi đào luyện những nhân đức Kitô giáo. Cha mẹ là những nhà giáo dục đầu tiên cho trẻ và không ai có thể thay thế được. Đức Bênêdictô XVI vẫn lưu giữ mãi những kỷ niệm thời thơ ấu, nhất là những buổi tìm hiểu Lời Chúa của ngày Chúa nhật hằng tuần, xảy ra vào chiều thứ bảy và cả nhà cùng hân hoan sống tâm tình mà Lời Chúa mang lại.
Mẹ già như trái chín cây.
Một người mẹ tảo tần nuôi đàn con khôn lớn. Chúng lập gia đình và đều ở riêng. Có những đứa khá giàu và cũng có lắm đứa chỉ vừa đủ sống. Sau bao thăng trầm lịch sử của thời cuộc và của gia đình, bà hầu như trắng tay và tuổi già ập đến với trọn niềm phó thác vào Chúa quan phòng. Đây hầu như là hình ảnh rất quen thuộc và bình thường của những người mẹ trên đất nước Việt Nam. Chuyện vẫn thường xảy ra là con cái dễ quên rằng ‘có mẹ là một ân phúc’ của người con, dù mẹ chẳng còn minh mẫn và không có nhiều của cải. Mỗi đứa con đều có lý do để xa vắng, như một cách trừng phạt mẹ về một chuyện trái ý nào đó. Nhưng hãy nhớ lời sách huấn ca 3,3-4: “Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, ai kính mẹ thì tích trữ kho báu”… để biết dành thời giờ chuyện trò và chăm sóc cha mẹ già yếu.

Sau những thời gian mất tinh thần vì cơn bão thổi đến, con người phải bình tĩnh lượng định tình hình để tìm cách sống còn. Đất nước Việt Nam đã trải qua những cơn lốc hưởng thụ, cơn bão duy vật và những thử thách của toàn cầu hóa: nền tảng gia đình bị thử thách, đạo đức con người xuống cấp, hôn nhân đổ vỡ, nạn phá thai và lối sống buông thả của những người trẻ. Đã đến lúc từng gia đình và từng Kitô hữu phải xác định lại niềm tin vào Đức Kitô và dấn bước theo Ngài trong đời sống luân lý phù hợp với Tin Mừng.