Danh sách Blog của Tôi

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2026

 TÌM RA ƠN GỌI CỦA MÌNH

 Rev. Ron Rolheiser, OMI


Nhiều người trong chúng ta quen thuộc với một câu nói nổi tiếng của C.S. Lewis.  Khi viết về cuộc trở lại Kitô giáo của mình, ông chia sẻ rằng mình là “người trở lại miễn cưỡng nhất trong lịch sử Kitô giáo.”  Khi ông quỳ gối lần đầu tiên, đó không phải là trong sự sốt sắng hân hoan, nhưng với cảm giác rằng đây là điều ông buộc phải làm.  Điều gì đã cho ông cảm giác ấy?

 

Lời của ông: “[Tôi quỳ xuống dù lòng còn chống đối], bởi tôi đã nhận ra rằng sự thôi thúc của Thiên Chúa chính là sự giải thoát của chúng ta.”

 

“Sự thôi thúc của Thiên Chúa” là gì?  Đó là cảm thức luân lý sâu xa, không thể dập tắt, ở trong ta – điều cho ta biết mình phải làm gì hơn là mình muốn làm gì.  Và điều đó có thể rất hữu ích khi chúng ta tìm kiếm ơn gọi và vị trí của mình trong cuộc đời.

 

Ơn gọi là gì, và làm sao để tìm ra ơn gọi của mình?  Theo David Brooks, ơn gọi là một yếu tố có phần “phi lý trí,” khi bạn nghe một tiếng nói nội tâm mạnh đến mức không thể nghĩ đến chuyện quay lưng lại; khi bạn trực giác rằng mình không có lựa chọn nào khác, ngoài việc tự hỏi: trách nhiệm của tôi ở đây là gì?

 

Đó cũng là câu chuyện về ơn gọi linh mục và đời sống tu trì của tôi.  Tôi chia sẻ ở đây không phải vì câu chuyện ấy đặc biệt; thực ra, nó rất bình thường, chỉ là một trong hàng triệu câu chuyện khác.  Tôi chia sẻ với hy vọng rằng nó có thể giúp ai đó nhận ra ơn gọi của mình trong đời.  Đây là câu chuyện của tôi.

 

Tôi lớn lên trong một nền văn hóa Công giáo, nơi mà vào thời ấy, hầu như mọi thiếu niên nam nữ đều được mời gọi suy nghĩ xem mình có được kêu gọi sống đời thánh hiến và/hoặc làm linh mục hay không.  Tôi nghe điều đó cách minh nhiên từ cha mẹ và từ các nữ tu Ursuline dạy tôi ở trường; tôi cũng cảm nhận điều ấy trong bầu khí chung của văn hóa Công giáo thời bấy giờ.

 

Nhưng bên trong tôi luôn có một sự kháng cự mạnh mẽ.  Đó không phải là điều tôi muốn làm với đời mình!  Tôi không muốn trở thành linh mục Công giáo.  Tôi nuôi dưỡng sự chống đối ấy suốt những năm trung học và tốt nghiệp với dự định vào đại học, lý tưởng là để trở thành một nhà tâm lý học.  Thế nhưng, một tiếng nói trong tôi không chịu im lặng.

 

Tôi đã dành cả mùa hè sau khi tốt nghiệp trung học làm việc tại hai trang trại, trang trại của gia đình và một trang trại của người hàng xóm.  Hầu hết thời gian tôi làm việc ngoài trời, thường là một mình, lái máy kéo hàng giờ liền trên đồng ruộng.  Và trong những giờ làm việc dài ấy, sự thôi thúc của Chúa bắt đầu làm suy yếu sự kháng cự của tôi.  Ý nghĩ rằng tôi được kêu gọi trở thành linh mục đơn giản là không thể bị dập tắt, dù tôi đã cố gắng.  Tôi nhớ một buổi chiều nọ, khi đang làm việc một mình trên máy kéo, tôi đã cố gắng xua tan suy nghĩ đó bằng cách hát thật to, nhưng tiếng nói của Chúa không dễ dàng bị dập tắt như vậy.

 

Mọi sự lên đến cao điểm vào cuối mùa hè, chỉ hai tuần trước khi tôi dự định lên đường vào đại học.  Một buổi tối, sau một buổi chiều lại làm việc một mình trên máy cày, tôi về nhà.  Cha mẹ tôi không có ở đó, nên tôi cố tự làm mình xao lãng bằng cách chơi ném bóng với em trai.  Nhưng bình an vẫn chưa đến.  Bình an chỉ đến sau đó, khi tôi lên giường ngủ – sau khi tôi đã quyết định theo đuổi ơn gọi linh mục.  Sáng hôm sau, tôi chia sẻ quyết định ấy với cha mẹ.  Họ mỉm cười và đưa tôi đến gặp cha xứ địa phương, một linh mục thuộc Dòng Thừa Sai Đức Mẹ Vô Nhiễm.

 

Công bằng mà nói, vị linh mục ấy cho tôi biết rằng, dù ngài là một tu sĩ Thừa Sai, tôi vẫn có những lựa chọn khác, chẳng hạn như trở thành linh mục địa phận hoặc gia nhập Dòng Tên.  Tôi chọn Dòng Thừa Sai Đức Mẹ Vô Nhiễm vì đó là điều tôi quen thuộc, và vì tôi đã có một người anh trong dòng.  Hai tuần sau, tôi vào nhà tập của Dòng – như một trong những tập sinh miễn cưỡng nhất trong lịch sử của Dòng!

 

Nhưng ngay từ ngày đầu tiên, tôi biết đó là đúng.  Tôi biết đó là nơi tôi được gọi để thuộc về.  Điều ấy đã xảy ra cách đây sáu mươi năm.  Dù đã trải qua những khó khăn trong đời linh mục, tôi chưa bao giờ nghi ngờ rằng đây là ơn gọi của mình – đời linh mục và Dòng Thừa Sai Đức Mẹ Vô Nhiễm.

 

Và Thiên Chúa, cuộc sống, sứ vụ và Dòng đã ban cho tôi nhiều hơn những gì tôi xứng đáng.  Thừa tác vụ của tôi chan chứa ân sủng vượt quá mọi lường đo; Dòng đã cho tôi một đời sống cộng đoàn lành mạnh, những cơ hội học tập xuất sắc, nhiều sứ vụ tuyệt vời, và niềm tự hào về đặc sủng của hội dòng trong việc phục vụ người nghèo.

 

Sáu mươi năm sống ơn gọi này, tôi chỉ có thể nói: Lạy Chúa, con cảm tạ Ngài vì đã dẫn con đến nơi con không muốn đi.

 

Tôi đã đưa ra quyết định ấy khi mới mười bảy tuổi.  Ngày nay, văn hóa của chúng ta có thể nói rằng một quyết định như thế không thể được thực hiện với sự trưởng thành và sáng suốt đầy đủ ở tuổi còn quá trẻ như vậy.  Thế nhưng, tôi chưa bao giờ thực sự nghi ngờ lựa chọn của mình, và giờ đây nhìn lại, tôi xem đó là quyết định sáng tỏ nhất, vị tha nhất và ban sự sống nhất mà tôi từng thực hiện.

 

Đó là câu chuyện của tôi.  Nhưng còn có rất nhiều câu chuyện ban sự sống khác, khác với câu chuyện của tôi.  Sự thôi thúc của Thiên Chúa có vô vàn cách để biểu lộ.

 


Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2026

SỰ VẮNG MẶT BIẾT THỞ

 



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Thầy sẽ không để anh em mồ côi!”.

“Cô độc không đến từ việc không có ai ở quanh mình, nhưng từ việc không thể chia sẻ những điều mình cho là quan trọng và sâu xa!” - Carl Jung.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói rằng các môn đệ sẽ không mồ côi, chẳng phải vì Chúa Giêsu vẫn ở quanh họ, nhưng vì Ngài ở trong họ bằng hơi thở của Thánh Thần. Khởi đầu của một sự vắng mặt biết thở.

Thần học Gioan xem Thánh Thần không như “người thay thế”, nhưng là cách Chúa Giêsu tiếp tục ở lại sau Phục Sinh. Vì thế, sự ra đi của Ngài không tạo nên khoảng trống; nhưng mở ra một cách thức ở lại. Chính Thánh Thần làm cho Chúa Giêsu không còn chỉ ở trước mặt họ, nhưng trong họ. “Thầy về cùng Cha” không phải là rút lui khỏi thế gian, nhưng là sự chuyển đổi từ hữu hình sang nội tại  sâu hơn. Càng không thể bị chạm tới, Ngài càng đi vào chiều sâu con người“Ngài ở trong con còn sâu hơn phần sâu thẳm nhất của con, và cao hơn phần cao nhất nơi con!” - Augustinô.

Chúa Giêsu gọi Thánh Thần là “Thần Khí sự thật” Pneuma tēs alētheias. “Sự thật” không chỉ là điều đúng, nhưng là điều làm lộ con người thật. Vì thế, công việc của Thánh Thần không phải là thêm kiến thức, nhưng là kéo con người ra khỏi những phiên bản giả của chính mình. Có lẽ vì vậy mà thế gian không thể đón nhận Thánh Thần; bởi thế gian chỉ quen tin vào những gì có thể nắm giữ, đang khi Thánh Thần không như một vật thể. Còn người môn đệ, họ không sống như kẻ nhớ Chúa, nhưng như kẻ đang được Chúa cư ngụ. Ngài vắng mặt, một ‘sự vắng mặt biết thở.

Thánh Thần cũng không làm người môn đệ khép kín trong những cảm xúc thiêng liêng, nhưng mở họ ra cho thế giới. Nhờ “thở hơi Thánh Thần”, đức tin không còn là một ký ức về vị Thầy đã vắng bóng, nhưng trở thành một sự sống lan rộng và làm rung động lòng người. Tại Samaria, các tông đồ đặt tay để tín hữu lãnh nhận Thánh Thần - bài đọc một; Phêrô mời gọi các Kitô hữu “hãy luôn sẵn sàng trả lời cho ai chất vấn về niềm hy vọng” của mình - bài đọc hai. Từ đó, dân ngoại mừng, tín hữu vui - “Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa!” như Thánh Vịnh đáp ca cất lên.

Anh Chị em,

“Thầy sẽ không để anh em mồ côi!”. Điều đáng sợ không phải Thiên Chúa vô hình, nhưng là một thế giới không còn ai hiện diện với ai. Đức Giêsu Kitô không hề mồ côi, Ngài hằng ở với Cha, cùng Cha và trong Cha; ngay cả trên thập giá khi mọi tương quan tưởng như tan vỡ. Từ sự hiệp thông ấy, Ngài không để người môn đệ sống như kẻ bị bỏ rơi. Theo Yves Congar, Thánh Thần không bao giờ tách khỏi Đức Kitô; chính Ngài làm cho Đức Kitô tiếp tục hiện diện trong Giáo Hội và nơi người tín hữu. Chúa Thánh Thần là cách Ngài ở lại! Nhờ đó, nỗi cô độc sâu nhất nơi lòng người được chữa lành nhờ thở hơi Thánh Thần.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con sống giữa một thế giới đầy kết nối nhưng thiếu hiện diện; xin cho con biết ở lại trong Ngài và hiện diện cho tha nhân!”. Amen.

 Suy tư: 

Nhiều người rất dị ứng với hai chữ 'mầu nhiệm' trong đạo, họ cho rằng vì lười suy nghĩ và không nỗ lực tìm hiểu mọi sự bằng lý trí, nên cứ gán cho hai chữ đó là xong! Thực ra các linh mục - tu sĩ và các nhà thần học đều phải học 4 năm triết và 4 năm thần với các vị giáo sư bằng cấp hẳn hoi, nhưng đứng trước pho Kinh Thánh và muốn hiểu Đấng Vô Hình, trí óc con người chỉ hiểu biết có chừng. Phần không hiểu và không thể diễn tả còn lớn hơn phần đã hiểu, và phải chấp nhận 2 chữ mầu nhiệm. Người ta chỉ có thể diễn tả : Thiên Chúa không như, không phải là... thì dễ hơn là diễn tả Ngài như thế nào. Khi chấp nhận 'mầu nhiệm' là chấp nhận sự hữu hạn của phận người.

Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm lớn và khó hiểu bậc nhất trong đạo. Đừng mong hiểu thấu, và tốt hơn là nên sống mầu nhiệm đó. Chúa Giê su nói:  "Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em" (Ga 16,7). Chúng ta dễ tưởng Chúa Giê su và Chúa Thánh Thần hoạt động độc lập kiểu như lính thay ca và thường nói: Thời đại chúng ta đang sống là thời đại của Chúa Thánh Thần, kiểu như 'Chúa Cha và Chúa con xong việc và nghỉ ngơi'. Bài suy niệm của Cha Minh Anh làm ta phải suy nghĩ lại: Khi Chúa Giê su về trời, Ngài không rời bỏ trần gian, nhưng cách hiện diện của Ngài chuyển đổi từ hữu hình sang nội tại sâu hơn, với tác dộng của Chúa Thánh Thần. Đừng quên rằng Ba Ngôi Thiên Chúa luôn yêu thương nhau và hoạt động cùng nhau, không ganh tị - không bỏ mặc - không chia rẽ... 

Thiên Chúa là Tình Yêu, hãy học yêu mến Chúa hết lòng - luôn thực hành ý Ngài, cùng yêu thương anh em đến hy sinh mạng sống mình để anh em được hạnh phúc. Amen

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2026

BÌNH AN CHÚA BAN


 


(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

 Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian!”.

“Để có thể trải nghiệm niềm vui, chớ gì không một giây phút nào trong đời tôi nằm ngoài ánh sáng, tình yêu và sự hiện diện của Chúa! Như chiếc bình rỗng, tôi trao toàn thân cho Ngài, Đấng sẽ đổ đầy nó bằng tình yêu và Thánh Thần!” - Andrew Murray.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu tiết lộ một bí quyết để thôi xao xuyến, tìm lại tự do. Không chỉ nên như chiếc bình rỗng để được đổ đầy, nhưng chúng ta phải đắm mình trong nguồn ấy; không chỉ nhận lãnh, nhưng ở lại.

“Anh em đừng xao xuyến!”Xao xuyến không hẳn đến từ những gì xảy ra bên ngoài; nó phát sinh từ việc chúng ta đứng trước mọi sự. Có người ở trong thử thách mà vẫn bình an; có người không thiếu gì mà lòng vẫn bất ổn. “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa, và lòng con khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Chúa!” - Augustinô. Vấn đề không nằm ở hoàn cảnh thuận hay nghịch, nhưng ở chỗ bạn và tôi đang bám vào đâu, hy vọng điều gì - và sâu xa hơn, sống với ai.

Xao xuyến không chỉ là một trạng thái tâm lý; nó là dấu của một đời sống chưa ở lại, chưa ở trong. Chúa Giêsu không mời gọi chúng ta làm điều gì thêm, nhưng ở lại - menein - trong Ngài. “Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” không phải là trao một cảm giác để xoa dịu, nhưng là bình an kéo chúng ta vào sự sống của Ngài; ở đó, con người không còn giữ lấy mình, không còn chao đảo giữa sợ hãi và bám víu, nhưng bắt đầu sống từ một sự sống khác - một hiệp thông bản thể. Bình an thế gian cần hoàn cảnh thuận; bình an của Chúa vẫn còn đó giữa những đổ vỡ.

Chính trong sự ở lại ấy, bình an không còn mơ hồ, nhưng trở thành một cách hiện hữu. Phaolô là một chứng từ. Bị ném đá, tưởng đã chết; nhưng ông vẫn đứng dậy và trở lạiHoàn cảnh không đổi; ông không còn bám vào sự sống mình giữ, nhưng sống từ Đấng nâng ông dậy và giữ ông ở lại. Vì thế, Phaolô không trốn chạy, nhưng tiếp tục loan báo: “Triều đại Ngài vinh hiển!” - Thánh Vịnh đáp ca. Ở lại như Phaolô không phải là một nỗ lực căng, nhưng là một sự buông mình. Khi không còn phải giữ lấy bản thân, lòng người dần lắng xuống, vì đã có một nơi để ở. Và trong sự ở lại ấy, bình an không còn là điều phải tìm, nhưng tự nhiên hiện diện.

Anh Chị em,

Đức Giêsu Kitô là Đấng đã sống trọn vẹn sự ở lại ấy. Giữa xao xuyến của Vườn Dầu, giữa sợ hãi và cái chết, Ngài không giữ lấy mình, nhưng hoàn toàn phó thác trong tay Cha. Vì thế, bình an Ngài ban không phải là vắng bóng thử thách, nhưng là một sự sống không tách lìa Cha, cùng nhịp với Cha. Cũng thế, chỉ khi ở lại trong Chúa Kitô, trong Cha, con người không chỉ thôi xao xuyến, được an ủi hay vững vàng hơn, nhưng được sống chính sự sống thần linh của Ngài - một ‘hiệp thông bản thể’. “Thiên Chúa đã làm người để con người được tham dự vào sự sống của Ngài!” - Athanasiô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con biết ở lại trong Ngài, để không còn xao xuyến, nhưng sống trong bình an của Ngài, bình an không ai lấy mất!”, Amen.

Suy tư:

Ngày sống của đa số nhân loại trôi qua trong sự khắc khoải – mong chờ - mong ước… kết quả là nặng nề, thở dài và oán trách nhau, kể cả oán trách Chúa. Chúng ta mong trời mưa, mong gia đình hòa thuận, mong con cái kết hôn với người ta đánh giá cao… Lời cầu nguyện tha thiết, ngày qua ngày mà chẳng có gì tiến triển. Và cuộc sống trôi qua trong sự nặng nề.

Có một người đi tham quan viện tâm thần, một bệnh nhân miệng tru lên ‘Lu Lu, hỡi Lu Lu’. Bác sỹ cho biết ‘Lu Lu là tên một cô ả mà anh này yêu mà không lấy được, nên phát bệnh’. Đi tiếp một quãng, lại có một bệnh nhân khác, đập đầu vào tường và đang tru tréo ‘Lu Lu, Lu Lu’, bác sỹ cho biết: ‘anh chàng nầy lấy được cô ả, nhưng thất vọng đến phát điên’. Trên đời này, người ta thường phát điên vì hai lý do: thứ nhất là mong ước điều gì đó mà không được, thứ nhì là đạt được điều mong ước nhưng lại vỡ mộng.

Chúng ta thường phát điên khi con cái cư xử vô ơn, khi chúng không nghe theo sự hướng dẫn của mình. Cha mẹ tự tin vào sự khôn ngoan của mình, dựa vào quyền làm cha mẹ, muốn truyền lệnh cho con cái phải nghe theo ý mình. Hãy coi chừng, sự khôn ngoan – sự quan phòng của Thiên Chúa vẫn đang ẩn mình. Một bên là sự khôn ngoan và trách nhiệm của người làm cha mẹ, một bên là sự tự do của con cái và mầu nhiệm quan phòng của Thiên Chúa, đâu là ranh giới? Đừng nóng nảy kẻo mất hết người thân, và  đừng quá bám vào mình mà mất cả đức tin!

Xin trích lại câu mở đầu của cha Minh Anh: “Để có thể trải nghiệm niềm vui, chớ gì không một giây phút nào trong đời tôi nằm ngoài ánh sáng, tình yêu và sự hiện diện của Chúa! Như chiếc bình rỗng, tôi trao toàn thân cho Ngài, Đấng sẽ đổ đầy nó bằng tình yêu và Thánh Thần!” - Andrew Murray. 

Lạy Chúa Giê su con tín thác vào Chúa, cả hiện tại và tương lai, chuyện cuộc sống và cả phần rỗi linh hồn. Amen

 

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2026

BÌNH THƯỜNG - NƠI CHÚA ẨN



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ông này không phải là con bác thợ sao?”.

“Thiên Chúa tỏ mình bằng cách ẩn mình!” - Hans Urs von Balthasar.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa lễ Thánh Giuse đặt chúng ta trước một nghịch lý: Thiên Chúa tỏ mình bằng cách ẩn mình; không ở nơi xa lạ, nhưng ngay trong điều bình thường. Và chính nơi đó, ‘bình thường - nơi Chúa ẩn’.

Khi gọi Chúa Giêsu là “con bác thợ”, họ không sai về gốc gác; nhưng chính cái đúng ấy lại che khuất điều ẩn giấu. Đó là skandalon - cớ vấp phạm: ánh sáng không thiếu, nhưng ánh sáng xuất hiện dưới một hình thức quá thân quen. Điều họ thấy là đúng, nhưng không đủ; và chính khi tưởng đã nắm bắt, họ lại không còn nhận ra. Không phải vì không thấy, nhưng vì đã thấy theo cách quen nhìn của mình. “Thiên Chúa đặt những dấu chỉ để người ta nhận ra Ngài; nhưng Ngài cũng che phủ chúng, để chỉ ai tìm kiếm mới nhận ra!” - Blaise Pascal.

“Con bác thợ”, một danh xưng của đời sống lao động tầm thường. Nhưng chính ở đó, Con Thiên Chúa ẩn mình, mang lấy tất cả những lam lũ của Ngài. Ngay từ thuở đầu, Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài và trao cho họ cộng tác vào công trình ấy; Ngài làm việc, nghỉ ngơi, và đặt con người vào nhịp điệu đó - bài đọc một. Lao động vì thế mang dấu ấn của Đấng Tạo Hoá; continuatio creationis - sự tiếp tục của hành động sáng tạo. Và điều chúng ta vẫn lặp lại mỗi ngày lại không trôi qua vô nghĩa: “Lạy Chúa, việc tay chúng con làm, xin Ngài củng cố!” - Thánh Vịnh đáp ca. Chính ở đó, điều tưởng chừng bình thường lại trở thành nơi mầu nhiệm ẩn giấu: ‘bình thường - nơi Chúa ẩn’.

Thánh Giuse ở trong mầu nhiệm ấy. Không một lời, không xuất hiện, không được nhận ra; nhưng chính trong đời sống lao động bình thường, ngài gìn giữ và cộng tác với công trình của Thiên Chúa. Giuse không làm những điều phi thường; nhưng ở lại trong điều bình thường, và chính ở đó, mầu nhiệm được bảo toàn. Nơi ngài, điều ẩn giấu không còn là thiếu vắng, nhưng là một cách hiện diện; một hiện diện không phô bày, nhưng mang lấy và gìn giữ điều Thiên Chúa đang thực hiện: dưỡng dục Chúa Con. Giuse không chỉ là mẫu gương; nơi ngài, người ta học cách Thiên Chúa hành động. “Giây phút hiện tại luôn chứa đựng một kho tàng vô hạn!” - Jean-Pierre de Caussade.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, cách Thiên Chúa hành động đạt đến cùng tận: Bêlem nghèo hèn, ba mươi năm ẩn dật; và cuối cùng, thập giá. Đó không phải là những biến cố tách biệt, nhưng là cả một cuộc đời được chọn để tỏ mình trong ẩn giấu; không ở ngoài, nhưng đi vào tận bên trong đời sống con người. Chính khi không được nhận ra, Con Thiên Chúa lại ở gần nhất; không chỉ sống ẩn, Ngài biến sự ẩn giấu thành mặc khải. Đó cũng là nơi đời sống chúng ta chạm tới: không trong những gì phi thường, nhưng ngay trong những điều lặp lại mỗi ngày. “Có một điều thánh thiêng, một điều thần linh, ẩn giấu trong những hoàn cảnh bình thường nhất!” - Josemaría Escrivá.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con vì quá quen mà không còn nhận ra Ngài; cho con gặp Ngài ngay trong những điều con vẫn coi là tầm thường!”, Amen.

Suy tư:

Thiên Chúa tự hủy, Thiên Chúa ẩn mình và Thiên Chúa cải trang trong tha nhân ... là một mầu nhiệm mà con người phải dùng cặp mắt đức tin để nhìn thấy Ngài. Con người dễ nhìn thấy Thiên Chúa khi Ngài biểu dương sức mạnh, nhưng khó chấp nhận một sự im lặng và bất lực trước sự dữ ngập tràn trên thế giới. Hãy chiêm ngắm Con Thiên Chúa bị chết treo trên Thập giá vì yêu nhân loại, để hiểu được cách Ngài hành động trên thế giới và trong cuộc sống.

Con người thời đại và nhất là người trẻ đòi hỏi 'điều gì cũng phải nhanh, hiệu quả, được nổi tiếng ... họ khó chấp nhận một Thiên Chúa hành động trong âm thầm, nhẫn nại, thương xót. Cách hành động đó đồng nghĩa với bất lực, và thậm chí là 'không có Ngài'.

Ki tô giáo nói với chúng ta rằng:

- Sa tan đang sàng sảy và như sư tử rình mồi cắn xé các tâm hồn... ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu thoát.

- Trừ một số rất ít người nổi tiếng và có đặc sủng cải tạo thế giới, đa số chúng ta sẽ sống một cuộc đời bình dị, làm những công việc bình thường của một con người như kiếm sống- giáo dục con cái- yêu thương các thành viên trong gia đình... Điều quan trọng là chính tình yêu Chúa và tha nhân làm nên giá trị cuộc đời, làm cho đức tin nở hoa: dù sống dù chết, chúng ta vẫn thuộc trọn về Chúa.

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

CỬA CHUỒNG Ở ÐÂU?

 


Lm. Mark Link, S.J.

 

“Hình ảnh mục tử nhân lành làm nổi bật mối tương giao và sự hiến thân của Chúa Giêsu cho mỗi người chúng ta.”

 

Vào thời Chúa Giêsu, khi màn đêm buông xuống, các mục tử lùa đàn chiên của họ vào chuồng.  Nếu ở gần làng, họ sẽ lùa chúng vào cái chuồng công cộng, còn nếu ở xa làng, thì họ sẽ lùa chúng vào một cái chuồng ở ngoài đồng hoặc đôi khi trong một cái hang.  Các mục tử làm thế là để che chở bầy chiên khỏi sương đêm lạnh lẽo và khỏi lũ thú rừng.  Trong bài Phúc âm Chúa Nhật IV PS năm A, Chúa Giêsu ám chỉ đến cả hai loại chuồng trên.

 

Phần đầu bài Phúc âm, Người ám chỉ đến loại chuồng làng công cộng, đặc biệt nhắc đến lúc sáng sớm, khi người mục tử đến chuồng làng công cộng nhận bầy của mình để dẫn chúng đi ăn cỏ suốt ngày, Chúa Giêsu nói: “Người giữ cửa sẽ mở cửa cho anh ta; chiên anh sẽ nghe tiếng anh khi anh gọi tên từng con một và dẫn chúng ra.  Khi mang chúng ra rồi, anh đi phía trước, lũ chiên đi theo anh vì chúng nhận biết giọng nói của anh”

 

Phần sau của bài Phúc âm, Chúa Giêsu ám chỉ đến loại chuồng ở ngoài đồng đặc biệt Người nói đến lối vào chật hẹp trong chuồng mà bầy chiên phải đi qua.  Chúa Giêsu nói: “Ta là cửa chuồng chiên... Ai bước qua Ta mà vào thì sẽ được cứu: người ấy sẽ vào, và ra, rồi tìm được đồng cỏ.”  Trong cuốn sách nhan đề The Holy Land (đất thánh).  John Kellman mô tả một cái chuồng chiên ngoài đồng như sau: nó có một bức tường bằng đá chung quanh cao khoảng bốn bộ (cỡ 1m4) và một lối vào.  Kellman kể rằng ngày nọ một du khách Thánh Ðịa đã trông thấy một cái chuồng chiên ngoài đồng gần Hebron.  Anh du khách hỏi người mục tử đang ngồi cạnh đó: “Cửa chuồng của anh ở đâu?  Người mục tử liền đáp: “Tôi chính là cửa chuồng.”  Ðoạn người mục tử kể cho du khách nghe anh ta nằm chặn ngang lối vào chật hẹp đó.  Không có chú chiên nào có thể bỏ chuồng đi ra, và cũng chẳng có con thú rừng nào có thể đi vào mà không bước qua mình anh ta.

 

Có hai điều nổi bật trong câu chuyện dễ thương này.  Thứ nhất là tính cách duy nhất ngày càng tăng lên giữa người mục tử và bầy súc vật của anh.  Phần lớn đàn chiên được nuôi để lấy len.  Một mục tử phải hiện diện với bầy chiên của mình 365 ngày một năm, và thường là đủ 24 giờ một ngày.  Người mục tử phải biết rõ chiên mình đến mức phải biết con nào có móng mềm, con nào đau vì ăn bậy, con nào hay bỏ bầy chạy rông...  Thứ hai là sự hiến thân sâu sắc của người mục tử cho bầy chiên, thậm chí liều mạng sống cho chúng.

 

Chính trong bối cảnh này, chúng ta có thể hiểu rõ hơn điều Chúa Giêsu mường tượng trong tâm trí khi Người nói: “Ta là mục tử nhân lành” (Ga 10: 11).  Chúa Giêsu muốn nói rằng, mối tương giao và sự hiến thân của Người cho chúng ta tương tự như mối tương giao và sự hiến thân của người mục tử cho bầy chiên mình.  Giống như người mục tử, Chúa Giêsu luôn hiện diện với chúng ta 365 ngày mỗi năm, 24 giờ mỗi ngày.  Người đã từng nói với các môn đệ: “Ta sẽ luôn ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28: 20).

 

Giống như người mục tử, Chúa Giêsu cũng biết rõ mỗi người chúng ta một cách thân mật sâu xa.  Người biết ai trong chúng ta yếu kém về đức tin, ai trong chúng ta thường dễ ngã lòng, ai trong chúng ta thường hay bỏ bầy đi rông.  Chúa Giêsu không bao giờ bỏ rơi chúng ta.  Người luôn luôn ở đó để giúp đỡ chúng ta.  Và nếu lỡ chúng ta bỏ bầy đi rông thì Người sẽ bỏ lại 99 con chiên để đi kiếm chúng ta.  Ðiều Thiên Chúa nói với dân riêng Người qua miệng tiên tri Isaia, cũng chính là điều Chúa Giêsu đích thân nói với mỗi người chúng ta : “Ðừng sợ, Ta gọi ngươi bằng tên...  Ngươi rất quí báu đối với Ta...  Ðừng sợ!  Này đây Ta ở với ngươi” (Isaia 43: 1, 4-5).

 

Bài Phúc âm hôm nay đặc biệt thích hợp cho ngày các bà mẹ.  Giống như người mục tử, giống như Chúa Giêsu, một bà mẹ luôn có mối tương giao gần gũi sâu sắc với bầy con hoặc gia đình mình.  

 

Không có gì mà bà mẹ không làm để bảo vệ cho bầy con khỏi cơn nguy hiểm.  Và bà sẵn sàng đi đến bất cứ nơi nào để tìm kiếm đứa con lầm đường lạc lối.  Tình yêu của một bà mẹ dành cho gia đình vẫn hoạt động ngay cả khi tự thân bà không thể bảo vệ cho bầy con của bà nữa.

 

Có câu chuyện thật dễ thương trong cuốn tự thuật của Jimmy Cagney, nam diễn viên nổi tiếng ở HollyWood.  Câu chuyện xảy ra vào thời tuổi trẻ của Cagney khi mẹ ông đang nằm trên giường chờ chết.  Chung quanh giường có bốn cậu con trai đều mang tên Cagney và cô em gái duy nhất của họ là Jeannie.  Vì bị nhồi máu cơ tim, bà Cagney không nói được nữa.  Sau khi lần lượt bá cổ cả năm đứa con, bà liền giơ cánh tay phải, cánh tay duy nhất còn hoạt động đựơc lên.  Jimmy mô tả những gì xảy ra sau đó:

 

“Mẹ tôi dùng ngón tay chỉ Harry rồi chỉ vào ngón trỏ của bàn tay vô dụng của bà, sau đó chỉ tôi rồi chỉ vào ngón giữa, rồi chỉ Eddie rồi chỉ vào ngón áp út, chỉ Bill rồi chỉ vào ngón út, chỉ Jeannien rồi chỉ vào ngón cái.  Ðoạn bà cầm ngón cái để vào giữa lòng bàn tay, rồi áp chặt ngón cái dưới bốn ngón kia tụm lại. Sau đó bà dùng bàn tay còn khỏe vỗ nhẹ lên nắm đấm bàn tay trái” (James Cagney).

 

Jimmy nói rằng cử chỉ của mẹ ông thật tuyệt vời.  Mọi người đều biết ý nghĩa của cử chỉ ấy, tức bốn anh em có bổn phận che chở cho bé Jeannie sau khi mẹ họ qua đời.   Đó là một cử chỉ đẹp và đầy ý nghĩa mà không lời nào có thể diễn tả hay hơn.

 

Tôi vui mừng vì chúng ta có ngày dành riêng cho các bà mẹ để nhắc nhở chúng ta về bản chất của người mẹ và để nhắc nhở các bà mẹ về sứ vụ mà Chúa kêu gọi họ.

 

Tôi vui mừng vì ngày các bà mẹ trùng hợp với Chúa nhật hôm nay với những lời Chúa Giêsu nói về người mục tử.  Bởi vì sự thân mật và sự hiến thân trọn vẹn của một bà mẹ cho gia đình mình là một phản ảnh hoàn hảo sự thân mật và hiến thân trọn vẹn của người mục tử cho bầy súc vật của anh.  Và hơn tất cả, tình thân và sự hiến thân cho gia đình của một bà mẹ phản ảnh hoàn hảo tình thân mà Chúa Giêsu dành cho chúng ta.

 

Vì thế, chúng ta hãy hân hoan vui mừng và cầu xin cho ngày hôm nay sẽ kéo các thành viên trong gia đình gần lại với nhau hơn, đồng thời quí chuộng lẫn nhau hơn, đặc biệt đối với bà mẹ của họ.

 

Suy tư:

Trong tuần lễ này, chúng ta suy niệm về đề tài: CHÚA GIÊ SU LÀ MỤC TỬ NHÂN LÀNH, HY SINH MẠNG SỐNG ĐỂ MỖI TÂM HỒN ĐƯỢC SỐNG DỒI DÀO.

Chúng ta thường nhớ dai những bất mãn, bất công người khác gây cho mình và không nhận ra những ân phúc Chúa ban mỗi ngày: không khí, nước, thức ăn, những người tử tế và những anh em đồng đạo... và cả hồng ân đức tin nữa... bởi chúng rất đỗi tự nhiên và tự có.

Các nhà tu đức khuyên ta: Mỗi ngày dành ra ít phút để đọc kỹ đoạn Lời Chúa hằng ngày, dành 5-10' suy niệm về sự hy sinh của Chúa Giê su, năng suy niệm về sự chết để sống có ý nghĩa hơn.

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2026

XIN CHÚA Ở LẠI VỚI CHÚNG CON

 



(Bình MInh. Đài Chân lý Á châu)

Kính thưa quý vị, các bạn thân mến!

Một giám đốc nọ đang có một buổi họp quan trọng với hội đồng quản trị của công ty, bỗng một cô thư ký bước vào báo tin rằng con trai của ông gây tai nạn xe hơi cho người khác và đang chờ ông đến để xử lý.

Sau khi tiếp điện thoại với con trai xong, vị giám đốc gọi điện cho cô thư ký và nói rằng nếu con trai ông mà gọi điện đến lần nữa thì nói rằng ông đã đi vắng rồi và ông tiếp tục cuộc họp trước sự ngạc nhiên của cô thư ký và tất cả mọi người trong công ty.

Sau khi họp xong ông bình thản trở về nhà. Vừa nhìn thấy ông, cậu quý tử đã nói như trút tất cả tâm trạng bực bội của mình rằng: “Con chờ ba suốt cả ngày hôm nay, sao ba không đến? Chẳng lẽ ba có công việc gì quan trọng hơn con à? Con không còn ý nghĩa gì với ba sao?”

Ông ôn tồn đáp: “Con ạ, chắc chắn là việc ở công ty không quan trọng bằng con. Nhưng thực sự là ba đang gặp một vấn đề hóc búa, ba không biết giải quyết thế nào nên ba phải ngồi cả một ngày để chờ người đến giúp và người ba chờ chính là ông nội của con”

Lúc bấy giờ, cậu con trai thốt lên: “Nhưng ông nội con đã mất cách đây hơn 10 năm rồi mà?”

Quý vị và các bạn thân mến!

Như vậy là cậu con trai đã hiểu lý do tại sao Ba cậu lại không đến giúp đỡ cậu trong vụ tai nạn vừa rồi khi ông ta bảo rằng người mà ông chờ đến giúp đỡ mình để giải quyết công việc chính là người cha đã mất cách đây 10 năm. Khi trả lời như thế vị giám đốc muốn nhắn nhủ với con trai rằng trước những khó khăn thử thách bất ngờ của cuộc sống, thái độ đầu tiên cần phải có đó là hãy biết cố gắng tự thân giải quyết hơn là luôn trông chờ vào sự giúp đỡ của người khác. Đồng thời vị giám đốc cũng giúp con trai hiểu rằng cho dù ông không trực tiếp có mặt bên cậu con trai khi cậu gặp rắc rối bây giờ và có thể cả về sau nữa nhưng điều đó không có nghĩa là ông ta đã không rất yêu thương cậu, rằng điều quan trọng nhất đối với ông không là cậu ta, cũng như việc giúp cậu thoát khỏi những tình huống khó khăn trong cuộc sống là điều không nằm trong khả năng của ông. Điều ông muốn là sự trưởng thành, tinh thần tự lập của cậu con trai trước những khó khăn trong cuộc sống. Riêng ông, ông vẫn bên cạnh cậu con trai yêu quý nhưng không theo cái cách của cậu con trai muốn.

Trong đời sống người Kitô hữu, như cậu con trai đã bất bình với thái độ không đến giúp của cha mình, nhiều khi chúng ta cũng có tâm trạng bực bội than trách Chúa khi cảm thấy dường như Chúa để một mình ta với muôn đắng cay nghiệt ngã của cuộc đời. Tuy nhiên, sự thực là Ngài vẫn hoạt động với và trong cuộc đời mỗi một người trong chúng ta. Ngày xưa khi Chúa Sống Lại, Ngài vẫn hằng theo dõi, vẫn nhiều lần hiện ra khi các ông gặp khó khăn trong cuộc sống. Và sau này khi đã về Trời, Ngài vẫn tiếp tục sống và làm việc với các tông đồ.Thánh Phêrô đã mạnh dạn tuyên xưng với những người trong Thượng Hội Đồng rằng: Chúng tôi nhân danh Chúa Giêsu Nazareth, Người đã bị các ông đóng đinh vào Thập Giá. Ngài vẫn đang sống và họat động trong chúng tôi; và không ai có thể được cứu độ nếu không tin vào Danh Ngài.

Ngày nay, Chúa Giêsu vẫn sống và đang hoạt động trong thế giới, trong Giáo Hội, trong gia đình, và trong mỗi người chúng ta. Vấn đề là chúng ta có cảm nhận được sự hiện diện của Ngài hay không vì đôi khi Ngài sẽ không diện diện theo như suy nghĩ của chúng ta hay như cái cách chúng ta muốn. Hãy cảm nhận tình yêu của Ngài hiện diện trong cuộc đời mình cho dù chúng ta đang thành công hay thất bại, hạnh phúc hay đau khổ, an vui hay bão tố đó mới là điều Chúa mong muốn nơi thái độ sống của chúng ta.

Lạy Chúa Kitô Khổ Nạn và Phục Sinh, chúng con tin rằng Chúa Phục Sinh luôn hiện diện trong cuộc đời chúng con. Chúng con xin ca ngợi tình thương vô bờ bến của Chúa và xin giúp chúng con luôn cảm nhận được tình yêu này trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời mình và tình yêu Chúa sẽ là nguồn sinh lực giúp chúng con sống yêu thương mọi người, và luôn chu toàn bổn phận hằng ngày của mình trong tình yêu với Chúa và tha nhân. Amen.

Bình Minh   

 

ĐỪNG KEO KIỆT VỚI LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA

 



 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Chẳng bao lâu sau khi chịu chức linh mục, trong lúc đi làm mục vụ thay tại một giáo xứ, tôi có dịp ở cùng một vị linh mục già đức độ.  Ngài đã ngoài tám mươi, mắt gần như mù lòa, nhưng lại là người được rất nhiều người tìm đến xin lời khuyên và kính trọng.  Một tối nọ, khi chỉ có hai người, tôi đã hỏi ngài một câu: “Nếu được sống lại đời linh mục một lần nữa, cha có thay đổi điều gì không?”

 

Từ một con người đầy chính trực như ngài, tôi vốn đinh ninh rằng ngài sẽ chẳng có gì phải hối tiếc.  Vì vậy, câu trả lời của ngài làm tôi vô cùng ngạc nhiên.  Ngài bảo có, ngài có một nỗi hối tiếc rất lớn: “Nếu được làm lại đời linh mục, lần tới tôi sẽ bao dung với mọi người hơn.  Tôi sẽ không quá bủn xỉn với lòng thương xót của Chúa, với các bí tích và sự tha thứ.  Anh thấy đó, điều được nhồi nhét vào đầu tôi hồi ở chủng viện là câu: Sự thật sẽ giải phóng anh em.  Thế nên, tôi tin rằng trách nhiệm của mình là luôn đưa ra những thách đố khó khăn, và điều đó cũng có cái tốt.  Nhưng tôi e rằng mình đã quá khắt khe với mọi người.  Họ đã đủ đau khổ rồi, không cần tôi và Giáo hội phải chất thêm gánh nặng lên vai họ nữa.  Lẽ ra tôi nên dám mạo hiểm vào lòng thương xót của Chúa hơn nữa!”

 

Điều này làm tôi sững sờ, vì chỉ chưa đầy một năm trước đó, khi tôi thi vấn đáp cuối kỳ ở chủng viện, một trong những linh mục giám khảo đã cảnh báo tôi thế này: “Hãy cẩn thận, đừng bao giờ để cảm xúc xen vào.  Đừng có mềm yếu, như vậy là sai.  Hãy nhớ rằng, dù có khắc nghiệt đến đâu, chính sự thật mới giải phóng con người!”  Đó dường như là một lời khuyên chí lý cho một linh mục trẻ.

 

Thế nhưng, sau năm mươi năm thi hành tác vụ, tôi lại nghiêng về lời khuyên của vị linh mục già kia hơn: Chúng ta cần dám mạo hiểm hơn với lòng thương xót của Thiên Chúa.  Vị trí của công lý và sự thật không bao giờ được phép phớt lờ, nhưng chúng ta phải dám để cho lòng thương xót vô biên, không bờ bến, không điều kiện và không đòi hỏi công trạng của Chúa được tuôn trào tự do hơn.  Lòng thương xót của Chúa luôn sẵn có như một vòi nước gần nhất, và vì thế, giống như ngôn sứ Isaiah, chúng ta phải loan báo một lòng thương xót không hề dán nhãn giá: Đến đây, hãy đến mà không cần tiền bạc, không cần đức hạnh, hãy đến uống thỏa thuê lòng thương xót của Chúa! (Isaiah 55:1)

 

Điều gì đang kìm hãm chúng ta?  Tại sao chúng ta lại ngần ngại khi loan báo lòng thương xót vô tận, hào phóng và không phân biệt của Ngài?

 

Một phần động cơ của chúng ta là tốt, thậm chí là cao quý.  Sự quan tâm đến sự thật, công lý, tính chính thống, đạo đức chuẩn mực, hình thức công khai hay việc chuẩn bị bí tích kỹ lưỡng không phải là không quan trọng.  Tình yêu cần được định hướng bởi sự thật, cũng như sự thật phải được điều hòa bởi tình yêu.

 

Nhưng đôi khi động cơ của chúng ta lại kém cao quý hơn, và sự ngần ngại đó nảy sinh từ sự rụt rè, sợ hãi, chủ nghĩa lề luật, sự tự mãn kiểu những người biệt phái, và một hiểu biết nghèo nàn về Thiên Chúa.  Thế là, chúng ta quyết không để bất kỳ một “ân sủng rẻ tiền” nào được ban phát dưới sự canh chừng của mình!

 

Khi làm như vậy, tôi e rằng chúng ta đang đi lạc đường, chưa làm tròn vai trò của người mục tử nhân lành, và không cùng nhịp đập với Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã nhập thể để bày tỏ.  Lòng thương xót của Thiên Chúa, như Đức Giêsu mặc khải, ôm ấp tất cả không phân biệt ai, giống như ánh mặt trời chiếu soi đồng đều trên người tốt cũng như kẻ xấu, người xứng đáng cũng như kẻ không xứng đáng, người trong đạo cũng như kẻ ngoài đời.

 

Một trong những thấu thị thực sự gây chấn động mà Đức Giêsu mang lại cho chúng ta là: lòng thương xót của Thiên Chúa không thể không đến với tất cả mọi người.  Nó luôn miễn phí, không do công trạng, không điều kiện, mang tính phổ quát, vượt lên trên mọi tôn giáo, phong tục, luật lệ, đảng phái chính trị, các chương trình bắt buộc, ý thức hệ, và thậm chí vượt lên trên cả chính tội lỗi.

 

Về phần mình, đặc biệt là những người làm cha mẹ, những người làm mục vụ, thầy cô giáo, giáo lý viên và những người đi trước, chúng ta phải dám loan báo đặc tính hào phóng của lòng thương xót Chúa.  Chúng ta không được ban phát lòng thương xót của Chúa như thể nó là của riêng mình để ban ơn; không được phân phát sự tha thứ của Chúa như thể đó là một món hàng có hạn; không được đặt điều kiện cho tình yêu của Chúa như thể Chúa cần được bảo vệ; hay ngăn chặn con đường đến với Chúa như thể chúng ta là người giữ cổng thiên đàng.  Chúng ta không phải là người giữ cổng.  Nếu chúng ta trói buộc lòng thương xót của Chúa vào sự rụt rè và sợ hãi của chính mình, chúng ta đang giới hạn nó trong tầm vóc nhỏ bé của tâm trí mình.  Đó là một sai lầm.

 

Thật thú vị khi để ý trong các sách Tin Mừng rằng các tông đồ - dĩ nhiên là với ý tốt - thường cố gắng ngăn cản một số người đến gần Đức Giêsu vì cho rằng họ không xứng đáng, hoặc họ là sự xúc phạm đến sự thánh thiện của Ngài, hay bằng cách nào đó sẽ làm vấy bẩn sự thanh sạch của Ngài.  Thế là họ cố đuổi trẻ em, những người hành nghề mại dâm, những người thu thuế, những tội nhân khét tiếng và đủ mọi thành phần chưa được khai tâm.  Nhưng lần nào Đức Giêsu cũng bác bỏ những nỗ lực đó bằng những lời đại ý rằng: “Cứ để họ đến với Ta.  Ta muốn họ đến.”

 

Mọi chuyện vẫn không thay đổi.  Theo năm tháng, chúng ta - những người đầy thiện chí - vì những lý do y hệt như các tông đồ, vẫn tiếp tục cố gắng giữ một số cá nhân và nhóm người tránh xa lòng thương xót của Chúa vốn luôn sẵn có trong Lời Chúa, Bí tích và Cộng đoàn.  Ngày xưa Đức Giêsu đã dàn xếp được mọi chuyện; tôi tin rằng ngày nay Ngài cũng làm được.  Thiên Chúa không cần chúng ta làm người gác cổng.

 

Điều Thiên Chúa muốn là tất cả mọi người, bất kể tuổi tác, tôn giáo, văn hóa, sự yếu đuối cá nhân hay việc thiếu thực hành đạo đức, hãy đến với nguồn nước vô tận của lòng thương xót thần linh.

 

Nhà tự nhiên học nổi tiếng John Muir từng thách thức các Kitô hữu bằng những lời này: Tại sao các Kitô hữu lại ngần ngại để các loài vật bước chân vào cái thiên đàng bủn xỉn của họ đến thế?

 

Tôi e rằng, chúng ta cũng đang bủn xỉn với lòng thương xót hào phóng của Thiên Chúa như vậy.