Danh sách Blog của Tôi

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2026

XIN CHÚA Ở LẠI VỚI CHÚNG CON

 



(Bình MInh. Đài Chân lý Á châu)

Kính thưa quý vị, các bạn thân mến!

Một giám đốc nọ đang có một buổi họp quan trọng với hội đồng quản trị của công ty, bỗng một cô thư ký bước vào báo tin rằng con trai của ông gây tai nạn xe hơi cho người khác và đang chờ ông đến để xử lý.

Sau khi tiếp điện thoại với con trai xong, vị giám đốc gọi điện cho cô thư ký và nói rằng nếu con trai ông mà gọi điện đến lần nữa thì nói rằng ông đã đi vắng rồi và ông tiếp tục cuộc họp trước sự ngạc nhiên của cô thư ký và tất cả mọi người trong công ty.

Sau khi họp xong ông bình thản trở về nhà. Vừa nhìn thấy ông, cậu quý tử đã nói như trút tất cả tâm trạng bực bội của mình rằng: “Con chờ ba suốt cả ngày hôm nay, sao ba không đến? Chẳng lẽ ba có công việc gì quan trọng hơn con à? Con không còn ý nghĩa gì với ba sao?”

Ông ôn tồn đáp: “Con ạ, chắc chắn là việc ở công ty không quan trọng bằng con. Nhưng thực sự là ba đang gặp một vấn đề hóc búa, ba không biết giải quyết thế nào nên ba phải ngồi cả một ngày để chờ người đến giúp và người ba chờ chính là ông nội của con”

Lúc bấy giờ, cậu con trai thốt lên: “Nhưng ông nội con đã mất cách đây hơn 10 năm rồi mà?”

Quý vị và các bạn thân mến!

Như vậy là cậu con trai đã hiểu lý do tại sao Ba cậu lại không đến giúp đỡ cậu trong vụ tai nạn vừa rồi khi ông ta bảo rằng người mà ông chờ đến giúp đỡ mình để giải quyết công việc chính là người cha đã mất cách đây 10 năm. Khi trả lời như thế vị giám đốc muốn nhắn nhủ với con trai rằng trước những khó khăn thử thách bất ngờ của cuộc sống, thái độ đầu tiên cần phải có đó là hãy biết cố gắng tự thân giải quyết hơn là luôn trông chờ vào sự giúp đỡ của người khác. Đồng thời vị giám đốc cũng giúp con trai hiểu rằng cho dù ông không trực tiếp có mặt bên cậu con trai khi cậu gặp rắc rối bây giờ và có thể cả về sau nữa nhưng điều đó không có nghĩa là ông ta đã không rất yêu thương cậu, rằng điều quan trọng nhất đối với ông không là cậu ta, cũng như việc giúp cậu thoát khỏi những tình huống khó khăn trong cuộc sống là điều không nằm trong khả năng của ông. Điều ông muốn là sự trưởng thành, tinh thần tự lập của cậu con trai trước những khó khăn trong cuộc sống. Riêng ông, ông vẫn bên cạnh cậu con trai yêu quý nhưng không theo cái cách của cậu con trai muốn.

Trong đời sống người Kitô hữu, như cậu con trai đã bất bình với thái độ không đến giúp của cha mình, nhiều khi chúng ta cũng có tâm trạng bực bội than trách Chúa khi cảm thấy dường như Chúa để một mình ta với muôn đắng cay nghiệt ngã của cuộc đời. Tuy nhiên, sự thực là Ngài vẫn hoạt động với và trong cuộc đời mỗi một người trong chúng ta. Ngày xưa khi Chúa Sống Lại, Ngài vẫn hằng theo dõi, vẫn nhiều lần hiện ra khi các ông gặp khó khăn trong cuộc sống. Và sau này khi đã về Trời, Ngài vẫn tiếp tục sống và làm việc với các tông đồ.Thánh Phêrô đã mạnh dạn tuyên xưng với những người trong Thượng Hội Đồng rằng: Chúng tôi nhân danh Chúa Giêsu Nazareth, Người đã bị các ông đóng đinh vào Thập Giá. Ngài vẫn đang sống và họat động trong chúng tôi; và không ai có thể được cứu độ nếu không tin vào Danh Ngài.

Ngày nay, Chúa Giêsu vẫn sống và đang hoạt động trong thế giới, trong Giáo Hội, trong gia đình, và trong mỗi người chúng ta. Vấn đề là chúng ta có cảm nhận được sự hiện diện của Ngài hay không vì đôi khi Ngài sẽ không diện diện theo như suy nghĩ của chúng ta hay như cái cách chúng ta muốn. Hãy cảm nhận tình yêu của Ngài hiện diện trong cuộc đời mình cho dù chúng ta đang thành công hay thất bại, hạnh phúc hay đau khổ, an vui hay bão tố đó mới là điều Chúa mong muốn nơi thái độ sống của chúng ta.

Lạy Chúa Kitô Khổ Nạn và Phục Sinh, chúng con tin rằng Chúa Phục Sinh luôn hiện diện trong cuộc đời chúng con. Chúng con xin ca ngợi tình thương vô bờ bến của Chúa và xin giúp chúng con luôn cảm nhận được tình yêu này trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời mình và tình yêu Chúa sẽ là nguồn sinh lực giúp chúng con sống yêu thương mọi người, và luôn chu toàn bổn phận hằng ngày của mình trong tình yêu với Chúa và tha nhân. Amen.

Bình Minh   

 

ĐỪNG KEO KIỆT VỚI LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA

 



 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Chẳng bao lâu sau khi chịu chức linh mục, trong lúc đi làm mục vụ thay tại một giáo xứ, tôi có dịp ở cùng một vị linh mục già đức độ.  Ngài đã ngoài tám mươi, mắt gần như mù lòa, nhưng lại là người được rất nhiều người tìm đến xin lời khuyên và kính trọng.  Một tối nọ, khi chỉ có hai người, tôi đã hỏi ngài một câu: “Nếu được sống lại đời linh mục một lần nữa, cha có thay đổi điều gì không?”

 

Từ một con người đầy chính trực như ngài, tôi vốn đinh ninh rằng ngài sẽ chẳng có gì phải hối tiếc.  Vì vậy, câu trả lời của ngài làm tôi vô cùng ngạc nhiên.  Ngài bảo có, ngài có một nỗi hối tiếc rất lớn: “Nếu được làm lại đời linh mục, lần tới tôi sẽ bao dung với mọi người hơn.  Tôi sẽ không quá bủn xỉn với lòng thương xót của Chúa, với các bí tích và sự tha thứ.  Anh thấy đó, điều được nhồi nhét vào đầu tôi hồi ở chủng viện là câu: Sự thật sẽ giải phóng anh em.  Thế nên, tôi tin rằng trách nhiệm của mình là luôn đưa ra những thách đố khó khăn, và điều đó cũng có cái tốt.  Nhưng tôi e rằng mình đã quá khắt khe với mọi người.  Họ đã đủ đau khổ rồi, không cần tôi và Giáo hội phải chất thêm gánh nặng lên vai họ nữa.  Lẽ ra tôi nên dám mạo hiểm vào lòng thương xót của Chúa hơn nữa!”

 

Điều này làm tôi sững sờ, vì chỉ chưa đầy một năm trước đó, khi tôi thi vấn đáp cuối kỳ ở chủng viện, một trong những linh mục giám khảo đã cảnh báo tôi thế này: “Hãy cẩn thận, đừng bao giờ để cảm xúc xen vào.  Đừng có mềm yếu, như vậy là sai.  Hãy nhớ rằng, dù có khắc nghiệt đến đâu, chính sự thật mới giải phóng con người!”  Đó dường như là một lời khuyên chí lý cho một linh mục trẻ.

 

Thế nhưng, sau năm mươi năm thi hành tác vụ, tôi lại nghiêng về lời khuyên của vị linh mục già kia hơn: Chúng ta cần dám mạo hiểm hơn với lòng thương xót của Thiên Chúa.  Vị trí của công lý và sự thật không bao giờ được phép phớt lờ, nhưng chúng ta phải dám để cho lòng thương xót vô biên, không bờ bến, không điều kiện và không đòi hỏi công trạng của Chúa được tuôn trào tự do hơn.  Lòng thương xót của Chúa luôn sẵn có như một vòi nước gần nhất, và vì thế, giống như ngôn sứ Isaiah, chúng ta phải loan báo một lòng thương xót không hề dán nhãn giá: Đến đây, hãy đến mà không cần tiền bạc, không cần đức hạnh, hãy đến uống thỏa thuê lòng thương xót của Chúa! (Isaiah 55:1)

 

Điều gì đang kìm hãm chúng ta?  Tại sao chúng ta lại ngần ngại khi loan báo lòng thương xót vô tận, hào phóng và không phân biệt của Ngài?

 

Một phần động cơ của chúng ta là tốt, thậm chí là cao quý.  Sự quan tâm đến sự thật, công lý, tính chính thống, đạo đức chuẩn mực, hình thức công khai hay việc chuẩn bị bí tích kỹ lưỡng không phải là không quan trọng.  Tình yêu cần được định hướng bởi sự thật, cũng như sự thật phải được điều hòa bởi tình yêu.

 

Nhưng đôi khi động cơ của chúng ta lại kém cao quý hơn, và sự ngần ngại đó nảy sinh từ sự rụt rè, sợ hãi, chủ nghĩa lề luật, sự tự mãn kiểu những người biệt phái, và một hiểu biết nghèo nàn về Thiên Chúa.  Thế là, chúng ta quyết không để bất kỳ một “ân sủng rẻ tiền” nào được ban phát dưới sự canh chừng của mình!

 

Khi làm như vậy, tôi e rằng chúng ta đang đi lạc đường, chưa làm tròn vai trò của người mục tử nhân lành, và không cùng nhịp đập với Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã nhập thể để bày tỏ.  Lòng thương xót của Thiên Chúa, như Đức Giêsu mặc khải, ôm ấp tất cả không phân biệt ai, giống như ánh mặt trời chiếu soi đồng đều trên người tốt cũng như kẻ xấu, người xứng đáng cũng như kẻ không xứng đáng, người trong đạo cũng như kẻ ngoài đời.

 

Một trong những thấu thị thực sự gây chấn động mà Đức Giêsu mang lại cho chúng ta là: lòng thương xót của Thiên Chúa không thể không đến với tất cả mọi người.  Nó luôn miễn phí, không do công trạng, không điều kiện, mang tính phổ quát, vượt lên trên mọi tôn giáo, phong tục, luật lệ, đảng phái chính trị, các chương trình bắt buộc, ý thức hệ, và thậm chí vượt lên trên cả chính tội lỗi.

 

Về phần mình, đặc biệt là những người làm cha mẹ, những người làm mục vụ, thầy cô giáo, giáo lý viên và những người đi trước, chúng ta phải dám loan báo đặc tính hào phóng của lòng thương xót Chúa.  Chúng ta không được ban phát lòng thương xót của Chúa như thể nó là của riêng mình để ban ơn; không được phân phát sự tha thứ của Chúa như thể đó là một món hàng có hạn; không được đặt điều kiện cho tình yêu của Chúa như thể Chúa cần được bảo vệ; hay ngăn chặn con đường đến với Chúa như thể chúng ta là người giữ cổng thiên đàng.  Chúng ta không phải là người giữ cổng.  Nếu chúng ta trói buộc lòng thương xót của Chúa vào sự rụt rè và sợ hãi của chính mình, chúng ta đang giới hạn nó trong tầm vóc nhỏ bé của tâm trí mình.  Đó là một sai lầm.

 

Thật thú vị khi để ý trong các sách Tin Mừng rằng các tông đồ - dĩ nhiên là với ý tốt - thường cố gắng ngăn cản một số người đến gần Đức Giêsu vì cho rằng họ không xứng đáng, hoặc họ là sự xúc phạm đến sự thánh thiện của Ngài, hay bằng cách nào đó sẽ làm vấy bẩn sự thanh sạch của Ngài.  Thế là họ cố đuổi trẻ em, những người hành nghề mại dâm, những người thu thuế, những tội nhân khét tiếng và đủ mọi thành phần chưa được khai tâm.  Nhưng lần nào Đức Giêsu cũng bác bỏ những nỗ lực đó bằng những lời đại ý rằng: “Cứ để họ đến với Ta.  Ta muốn họ đến.”

 

Mọi chuyện vẫn không thay đổi.  Theo năm tháng, chúng ta - những người đầy thiện chí - vì những lý do y hệt như các tông đồ, vẫn tiếp tục cố gắng giữ một số cá nhân và nhóm người tránh xa lòng thương xót của Chúa vốn luôn sẵn có trong Lời Chúa, Bí tích và Cộng đoàn.  Ngày xưa Đức Giêsu đã dàn xếp được mọi chuyện; tôi tin rằng ngày nay Ngài cũng làm được.  Thiên Chúa không cần chúng ta làm người gác cổng.

 

Điều Thiên Chúa muốn là tất cả mọi người, bất kể tuổi tác, tôn giáo, văn hóa, sự yếu đuối cá nhân hay việc thiếu thực hành đạo đức, hãy đến với nguồn nước vô tận của lòng thương xót thần linh.

 

Nhà tự nhiên học nổi tiếng John Muir từng thách thức các Kitô hữu bằng những lời này: Tại sao các Kitô hữu lại ngần ngại để các loài vật bước chân vào cái thiên đàng bủn xỉn của họ đến thế?

 

Tôi e rằng, chúng ta cũng đang bủn xỉn với lòng thương xót hào phóng của Thiên Chúa như vậy.

 


 

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2026

VẤT VẢ VỚI HAI CHỮ “PHỤC SINH”

 



Trần Mỹ Duyệt

 

 

Đối với nhiều Kitô hữu thế là xong. Mùa Chay, Tuần Thánh và Phục Sinh đã qua. Tất cả đều lùi vào quá khứ và đây là thời gian “ăn mặn” trở lại. Chúa đã phục sinh và sống lại thật cho chúng nhân rồi. Mình phải vui mừng, ăn nhậu. Alleluia! Alleluia. 

 

Nhưng đối với những Kitô hữu chân chính, những Kitô hữu với lòng yêu mến Thiên Chúa và yêu mến hồng ân Cứu Độ của Ngài thì không suy nghĩ và sống như vậy. Họ vẫn phải chiến đấu để duy trì hai chữ “Phục Sinh” trong cuộc sống tâm linh và trong đời thường của mình. Đúng hơn, họ vẫn phải sống tinh thần Phục Sinh mỗi ngày, và từng ngày. Đối với họ, Phục Sinh không chỉ là một biến cố giới hạn của thời gian và không gian, nhưng nó là một biến cố sống động và tái diễn mọi ngày trong cuộc sống người Kitô hữu.

 

Thật vậy, ý nghĩa Phục Sinh chính là lời diễn giải của Thánh Phaolô: “Nếu chúng ta cùng chết với Ngài, chúng ta tin rằng sẽ cùng sống lại với Ngài” (Rom 6:7). Và cái cốt lõi cũng như cái nguyên nhân chính đưa đến việc Phục Sinh của Chúa Kitô, đó là Chúa Kitô đã chết. Chết vì phần rỗi nhân loại, chết để xóa tội trần gian, và chết để giải thoát nhân loại khỏi nô lệ tội lỗi, khỏi nô lệ của Satan. Do đó, nếu muốn phục sinh và sống lại với Ngài thì cũng giống như Ngài, con người phải qua cái “chết” như Ngài đã chết. Nhưng đối với các Kitô hữu, chết đây không có nghĩa là chỉ chết một lần như Chúa rồi sống lại vinh hiển, sáng láng, và hạnh phúc. Chết đây là chết mỗi ngày trong cuộc sống. Và đây là cái mà chúng ta phải vất vả, vì thực tế là phần đông chúng ta chỉ muốn phục sinh, muốn sống lại nhưng ngại và sợ chết.  Vậy nếu “Phục Sinh” là biến cố luôn luôn hiện hữu thì cái chết cũng luôn luôn có mặt trong cuộc sống tâm linh và cuộc đời của mỗi Kitô hữu. 

 

Nhưng có lẽ bạn hỏi, vậy cái chết đây là gì và phải chết như thế nào? Tác giả Lung Linh trong Tâm Linh Vào Đời đã có những suy tư rất thực tế và cũng rất hợp với kiếp người. Theo đó:

 

Sự chết thường được mô tả như những bóng tối nặng nề. Thí dụ như:

·         Có thứ bóng tối tội lỗi.

·        Có thứ bóng tối đam mê dục vọng.

·        Có thứ bóng tối tham lam ích kỷ.

·        Có thứ bóng tối ghen ghét oán thù.

·        Có thứ bóng tối tự ái kiêu căng.

 

Và dĩ nhiên, còn có nhiều thứ bóng tối khác nữa như bóng tối đa mê quyền lực. Bóng tối đa mê cờ bạc, nghiện hút, bóng tối danh vọng chức quyền… Tất cả những bóng tối đó đang che khuất nẻo về và khiến con người lạc vào trong cõi u mê của ảo vọng, ảo giác về cái tôi của mình cũng như về cái thế giới phồn vinh giả tạo do Satan đang làm chủ. Những bóng tối mà ánh sáng Chúa Phục Sinh bị đẩy lui. Bóng tối ngăn chặn dòng suối ơn sủng của Ngài.

 

Để ánh sáng Phục Sinh của Chúa tràn vào hồn ta, ta phải quét sạch và xua tan những bóng tối ấy. Dĩ nhiên điều này làm cho con người phải vất vả, phải chịu khó, và phải hy sinh. Đôi khi sự hy sinh này đòi hỏi phải đổ máu như chính Chúa Kitô đã đổ máu Ngài trên thập tự giá để có được sự Phục Sinh vinh thắng.

 

Bạn và tôi đều biết rõ điều này, trong tất cả những cái khó khăn, rườm ra, xung đột, tranh giành, giận hờn, ghen ghét, và cả đến việc chửi bới, thanh toán nhau tất cả đều do cái tôi mà ra. Điều này rất đúng, nhất là khi con người đặt cái tôi sai chỗ, đặt cái tôi của mình trên cái tôi của người khác. Và nhất là cái tôi ấy lại đặt cao hơn cái “Tôi” của Thiên Chúa, tức Thánh Ý Nhiệm Mầu của Ngài. Trong vườn Diệu Quang Adong và Evà cũng đã làm như vậy. Các vị cũng đã muốn đặt cái tôi của mình trên cái “Tôi” của Đấng Tạo Hóa khi chấp nhận ăn trái cấm. Từ đó mới đưa đến phản nghịch. Mới đem đến việc con người muốn thay thế cái “Tôi” của Thiên Chúa bằng cái tôi của mình.

 

Thay thế cái “Tôi” của Thiên Chúa không được, con người lại tìm cách thay thế cái “tôi” của những người khác. Muốn thay thế tất cả những cái tôi của người khác bằng cái tôi của mình. Chúa Cứu Thế đã biết rõ điều này, nên khi còn tại thế, Ngài đã đặt điều kiện cho những ai muốn đi theo vết chân Ngài, muốn thành môn đệ Ngài, đó là “Nếu ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo” (Mat 16:24). Điều kiện đã rõ ràng, không bỏ cái tôi đi, không thể vác thập giá mình được. Và dĩ nhiên, không thể trở thành môn đệ của Ngài được.  Như vậy cũng có nghĩa là bóng tối che khuất nẻo về vĩnh hằng. Bóng tối che khuất con đường tìm về chân thiện mỹ. Bóng tối dẫn đến u mê đó phát xuất từ cái tôi của mỗi người. Cái tôi ấy hiển diện trong mọi ngóc ngách cuộc đời, ngay khi ta ăn, uống, ngủ, nghỉ, vui chơi, và ngay cả khi ta đọc kinh, cầu nguyện. Khi làm việc lớn, khi làm việc nhỏ. Trong vai trò lớn nhỏ trong Giáo Hội cũng như xã hội. Tóm lại, cái tôi đó chính là những gì đang làm nên con người thật của mỗi chúng ta lúc này. Chiến đấu được, kiềm chế được tức là đẩy lui bóng tối, là bỏ mình, là vác được thập giá, và để ánh sáng Phục Sinh Chúa chiếu dọi.

 

...

 

Chúa đã chết và hủy diệt tội lỗi. Chúa đã chết và đã sống lại. Ngài đã chiến thắng thế gian. Nhưng Ngài không hủy diệt thế gian. Ngài không hủy diệt cái tôi của mỗi người. Ngài cũng không hủy diệt Satan. Ngài muốn để phần đó cho mỗi môn đệ Ngài. Bởi vì theo Thánh Phaolô, mỗi người phải hoàn tất phần còn lại trong cuộc Khổ Nạn của Chúa Kitô. Và vì thế, chúng ta cần phải nhủ mình rằng, trong khi vui mừng vì chiến thắng Chúa Phục Sinh, cũng đừng quên vẫn còn phải vất vả, mệt mỏi với hai chữ Phục Sinh. 

 

Trần Mỹ Duyệt

**************************

 

 

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2026

KHÔNG TIN - VẪN ĐƯỢC SAI

 



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng”.

“Đức tin không phải là kết quả của suy nghĩ, nhưng là kết quả của một cuộc gặp gỡ!” - Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa (ngày thứ Bảy trong tuần Bát nhật Phục Sinh) không khen ngợi một niềm tin vững vàng rằng Thầy đã sống lại, nhưng là những lời khiển trách vì các môn đệ không tin và cứng lòng. Đức tin không đến từ suy nghĩ, nhưng từ gặp gỡ; và ‘dù không tin’, họ ‘vẫn được sai’ - một nghịch lý khó chấp nhận.

Marcô đã tài tình tóm tắt các lần hiện ra của Chúa Phục Sinh; tuy nhiên, qua đó, việc các môn đệ “không tin” không chỉ là một phản ứng tâm lý, nhưng là việc họ không nhận ra Đấng đã tỏ mình; không phải vì thiếu chứng từ, nhưng vì lòng chưa mở ra. Vì thế, điều Chúa Giêsu khiển trách không chỉ là sự nghi ngờ, nhưng là một sự “chậm mở” trước một thực tại mang tính quyết định đã xảy đến; và đó cũng là điều có thể xảy ra nơi chúng ta. Đôi khi, không phải vì thiếu ánh sáng, nhưng vì chúng ta chưa sẵn sàng để thấy.

Vậy mà, Chúa Giêsu không dừng lại ở việc họ không tin, Ngài lập tức sai các ông đi. Incredulitas không loại trừ missio, nhưng mở ra chính sứ vụ; không phải khi họ đã hoàn toàn tin, nhưng ngay khi họ còn đang trên đường đến với đức tin. Và cũng chính nơi đó, chúng ta nhận ra mình: Chúa không đợi đến khi chúng ta vững vàng rồi mới sai đi, nhưng ngay trong những chần chừ và nghi hoặc, lời sai đi vẫn không ngừng vang lên - ‘không tin - vẫn được sai!’. “Thiên Chúa không chọn người xứng đáng, nhưng làm cho người được chọn trở nên xứng đáng!” - Phanxicô.

Vì thế, điều xảy ra nơi các tông đồ không dừng lại ở kinh nghiệm riêng, nhưng trở thành lời chứng: “Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra” - bài đọc một. Đức tin - một khi phát sinh từ một cuộc gặp gỡ - không thể khép kín, nhưng tự nó mở ra thành sứ vụ. Đức Phanxicô nhấn mạnh: đức tin hoặc mang chiều kích truyền giáo, hoặc không còn là đức tin; không phải để giữ cho mình, nhưng để trao ban, không chỉ bằng lời nói, nhưng bằng chính đời sống. Và khi đó, điều đã thấy không thể giữ lại, điều đã tin không thể không nói ra.

Anh Chị em,

Nơi Đức Giêsu Kitô, đức tin không còn là một tiến trình phải đi tới, nhưng là một tương quan được sống trọn vẹn. Ngài tin Cha một cách tuyệt đối, không chỉ trong vinh quang, nhưng cả trong khổ đau; ngay tại vườn Dầu, khi mọi sự dường như sụp đổ, Ngài vẫn thưa: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Cha”. Vì thế, nơi Ngài, không có khoảng cách giữa tin và được sai; chính trong sự phó thác trọn vẹn ấy, sứ vụ đạt tới cùng đích và trở thành ơn cứu độ. Và cũng từ đó, chúng ta nhận ra rằng, đức tin không lớn lên khi mọi sự rõ ràng, nhưng khi dám phó thác, ngay trong những điều mình chưa hiểu. Để đạt tới điều ngươi không biết, ngươi phải đi qua con đường ngươi không biết!” - Gioan Thánh Giá.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Giêsu, dù lòng con chưa vững, xin vẫn cứ sai con. Xin cho con biết yêu mến việc gặp Chúa mỗi ngày, để không giữ lại điều đã thấy, và không nín lặng điều đã tin!”, Amen.

Suy tư:

Có khi nào bạn cảm thông và cảm thương cho các linh mục và những người làm truyền thông về việc phải chia sẻ - phải nói những cảm nghiệm sống đạo của riêng mình - trong lúc chính họ cũng thấy không rõ điều mình nói? Những mầu nhiệm càng lớn lao thì trí óc con người càng cảm nghiệm sự nghèo nàn của ngôn từ và lý luận: nhập thể, thập giá - phục sinh, sự quan phòng, tình yêu của Thiên Chúa. Đó là chưa kể đến những lúc Chúa cho nhiều tâm hồn trải qua giai đoạn ‘khô hạn và mù mịt thiêng liêng’ để họ cảm nghiệm sự nghèo nàn bất lực của linh hồn.

Đừng nghĩ chỉ có các nhà giảng thuyết phải nói về Chúa, mà chính mỗi Ki tô hữu đều phải thể hiện niềm tin của mình như một cách thông truyền sứ điệp Chúa Phục Sinh cho anh em mình, ai nấy cũng đều phải nhức đầu và nỗ lực bước đi trên con đường hẹp của niềm tin. Điều quan trọng không phải là lý luận mà là gặp gỡ Đức Ki tô, phó thác cho Ngài những vết thương rướm máu của tâm hồn mình và của Giáo hội… để Chúa yêu thương và dìu ta tiến bước trên con đường nên thánh.

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026

LỜI BỪNG LỬA

 



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?”.

“Lòng chúng ta khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Ngài!” - Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Trình thuật hai môn đệ trên đường Emmaus hôm nay cho thấy, không phải đôi mắt mở ra trước; nhưng là lòng. Và chỉ khi lòng bừng cháy, con người mới nhận ra Đấng mình khắc khoải tìm - ‘Lời bừng lửa!’.

Trong trình thuật độc quyền của Luca, có một động từ âm thầm nhưng quyết định: aperiebat - “mở ra”. Chúa Giêsu mở Kinh Thánh, và cũng mở lòng hai môn đệ. Đó không phải là hai hành vi; nhưng là một chuyển động: mở Lời; và mở lòng. Vì thế, điều xảy ra không phải là các môn đệ hiểu thêm; nhưng là họ được biến đổi từ bên trong. Chính trong tiến trình ấy - không chớp nhoáng - trước khi mắt họ được mở, lòng họ đã bừng cháy. “Yêu là biết!” - Grêgôriô Cả.

Luca không mô tả một cảm xúc; nhưng một kinh nghiệm: cor ardens - một trái tim được đánh thức từ bên trong. Điều lạ là họ vẫn chưa nhận ra Thầy: đôi mắt còn bị giữ lại; nhưng lòng đã bừng cháy. Vì thế, lửa đến trước nhận ra. Không phải hai môn đệ thấy rồi mới tin; nhưng chính khi Lời chạm tới, lòng họ bừng lên. Và đó cũng là điều rất gần với chúng ta: có những lúc chúng ta nghe rất nhiều; nhưng không có gì xảy ra. Không phải vì thiếu ‘Lời bừng lửa’; nhưng vì lòng chưa mở ra để Lời có thể chạm tới.

Bởi thế, vấn đề không phải là họ nghe ít; nhưng là họ chưa để Lời đi vào nỗi thất vọng, mất mát - có khi là sụp đổ. Chỉ khi Lời chạm tới đúng nơi đang đau, lòng người mới bừng cháy. Và chỉ khi lòng bừng cháy, bước chân đang đi xa mới có thể quay về.

Niềm tin mang tính quyết định - Thầy đã sống lại - không nằm ở lúc hai môn đệ nghe; nhưng ở lúc họ nhận ra: họ nhận ra Ngài đúng vào lúc Ngài biến mất! Không phải khi Ngài hiện diện trước mắt; nhưng khi Ngài không còn ở đó. Trong Luca, nhận ra không đến từ việc giữ lại một hình ảnh; nhưng từ một kinh nghiệm làm lòng bừng cháy. Vì thế, sự vắng mặt không xoá đi sự hiện diện; trái lại, làm viên mãn nó. Và từ đó, họ “không còn cần thấy” Ngài nữa; vì Lời đã bừng cháy trong họ, đủ để họ quay lại thành. “Dưới lớp tro của vỡ mộng vẫn còn một đốm than hồng sống động, chỉ chờ được nhóm lại; không có đêm nào là vĩnh cửu!” - Lêô XIV.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, Lời không chỉ được nói; nhưng cháy lên trong chính đời Ngài. Lời ấy không dừng lại ở đầu môi; nhưng đi vào phận người, đi qua đêm tối và thập giá vì yêu; bừng sáng trong phục sinh để cứu độ. Bởi thế, khi chạm tới con người, Lời không chỉ soi sáng; nhưng làm cho lòng bừng lửa. Và chỉ khi lòng đã bừng cháy, con người được thôi thúc để nhen nhóm nơi người khác. Tại cửa Đẹp đền thờ, Phêrô đã làm điều đó. ‘Lời bừng lửa’ đã đốt cháy lòng, biến khắc khoải thành hỷ hoan. “Tâm hồn những ai tìm kiếm Chúa, nào hoan hỷ!” - Thánh Vịnh đáp ca.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa một thế giới đầy lời lắm tiếng, xin cho con nghe được Lời Chúa; khi con mệt mỏi và vỡ mộng, xin giữ trong con một đốm lửa nhỏ, đủ để con quay về!”, Amen.

 Suy tư: 

-Câu chuyện hai môn đệ trên đường đi về Emaus nói đến hai chi tiết: Những sự kiện rời rạc về biến cố tử nạn phục sinh được kể lại bởi một người lạ - đã làm cho lòng hai môn đệ bừng cháy và chi tiết thứ hai là khi người lạ đó cầm bánh - đọc lời tạ ơn thì mắt họ nhận ra đó chính là Chúa Giê su. 

Trước đây, tôi chỉ nghĩ rằng: hai môn đệ nhận ra Chúa khi Ngài lặp lại cử chỉ 'Truyền phép' mà họ đã thấy trong bữa Tiệc Ly, nhưng kỳ thực trong bữa tiệc ly chỉ có Chúa Giê su và 12 Tông Đồ, còn đây là hai môn đệ khác trong số 72 môn đệ Chúa đã chọn. 

Thật vui mừng vì các linh mục trẻ dường như rất hăng say cổ vũ giáo dân siêng năng tham dự phụng vụ, nhất là trong Tuần Bát Nhật Phục sinh, vì khi ta đọc Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể, chính Chúa mở lòng cho ta nhận ra chính Ngài đang hiện diện và hành động trong lịch sử và trong từng tâm hồn. Chi có ơn Chúa mới là đáng kể để con người nhận ra Chúa Đã Phục Sinh, còn mọi lý chứng chỉ có giá trị tương đối và không đủ để làm lòng mỗi người bừng cháy. 

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2026

LƯƠNG TÂM TRONG SÁNG

 



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Có nhiều kẻ đã tin vào Người”.

“Nhìn từ đỉnh đầu Nữ Thần Tự Do, tôi kinh ngạc trước mái tóc. Nhà điêu khắc biết chi tiết ấy hầu như không ai thấy - ngoại trừ loài mòng biển. Vậy mà ông vẫn chăm chút cho mái tóc cô ấy như cho khuôn mặt, vóc dáng và ngọn đuốc với lương tâm trong sáng của một người nghệ sĩ!” - Anon.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy, trước Chúa Giêsu, không ai đứng ngoài: lương tâm trong sáng sẽ dẫn đến tin Ngài, hoặc khước từ Ngài; đứng về phía sự thật, hoặc giết chết sự thật - chính Ngài!

Bối cảnh là phép lạ Chúa Giêsu làm cho Lazarô đã chết bốn ngày sống lại. Trước mồ Lazarô, không chỉ một người chết bước ra, mà lương tâm con người cũng được gọi tên để bước ra. Có người tin, vì họ thấy quyền năng của Thiên Chúa; nhưng cũng có kẻ khép lòng, vì họ sợ mất chỗ đứng của mình. Phép lạ không trung lập; nó phơi bày. Và chính lúc ấy, lương tâm trong sáng trở thành thước đo và sẽ làm lộ ra những sâu kín của lòng người - ai dám để sự thật chạm vào mình, và ai tìm cách quay lưng? “Sự thật sẽ giải thoát bạn, nhưng trước hết nó sẽ làm bạn đau đớn!” - James A. Garfield.

Một khi lương tâm bị bóp nghẹt bởi toan tính, người ta có thể đi đến những quyết định lạnh lùng: thà giết chết sự thật còn hơn để sự thật làm xáo trộn đời mình. Và như thế, họ không chỉ từ chối phép lạ, mà còn khước từ chính Đấng ban sự sống! Và quả họ đã làm thế: giết chết Con Thiên Chúa và quyết định sẽ giết luôn cả Lazarô. “Tìm ra sự thật thì dễ… đối diện đã khó, sống theo còn khó hơn!” - Fulton Sheen.

Nhưng Thiên Chúa vẫn tận dụng những ý đồ đen tối của lòng người! Con Thiên Chúa “chết thay cho dân” sẽ dẫn đến ơn cứu độ cho muôn dân! Và logic ‘đầy tính tiên tri’ của thượng tế Caipha có thời hiệu vĩnh viễnGioan thật sâu sắc, “Không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Chúa tản mác khắp nơi về một mối”. “Thiên Chúa là một, Chúa Kitô là một, Hội Thánh là một!” - Cyprianô.

Đây là điều Thiên Chúa đã hứa hằng trăm năm trước, “Ta sẽ quy tụ chúng lại từ bốn phương và đưa chúng về đất của chúng!” - bài đọc một; vì “Chúa canh giữ chúng ta như mục tử canh giữ đàn chiên!” - Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Không ai ép buộc Chúa Giêsu chọn thánh giá; cũng không buộc ai phải theo Ngài. Con Thiên Chúa hoàn toàn tự do với một ‘lương tâm trong sáng’ trước Chúa Cha và trước con người. Ngài không né tránh sự thật, không thoả hiệp với bóng tối, nhưng yêu Cha đến cùng, vâng phục đến cùng. Đi theo Chúa Kitô cũng thế: không phải bị ép buộc, nhưng là chọn để lương tâm mình được soi sáng, dám sống sự thật, dám yêu sự thật - dẫu phải trả giá, dẫu phải bước qua thập giá! “Tình yêu muốn là thật, phải trả giá - phải đau - phải làm ta trống rỗng chính mình!” - Mẹ Têrêxa.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con sợ hãi và toan tính, xin giữ lòng con ngay thẳng; khi con chao đảo và nghi ngờ, xin neo con vào sự thật; khi con đối diện thập giá, cho con trung tín đến cùng!”, Amen.

 Suy tư:

Chúa Giê su đến trần gian có nhiều mục đích: để cứu chuộc, để mạc khải về quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa... Ngài là Sự Thật buộc con người từ chối hoặc chấp nhận Ngài. 

Điều vẫn thường xảy ra cho các Ki tô hữu là nhiều khi chúng ta quá bận tâm đến những chuyện vụn vặt của cuộc sống đến nỗi lãng quên những cử hành phụng vụ và quên tình yêu Ngài... rồi bỗng một ngày mình rời bỏ thế gian mà lòng thật trống rỗng. Xin tình yêu Chúa thúc đẩy từng tâm hồn biết tri ân vì những giọt máu của Chúa đã chuộc mình, còn mọi sự khác cứ để Chúa lo liệu: tình yêu loại trừ mọi sợ hãi.