Danh sách Blog của Tôi

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2026

BÌNH AN CHÚA BAN


 


(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

 Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian!”.

“Để có thể trải nghiệm niềm vui, chớ gì không một giây phút nào trong đời tôi nằm ngoài ánh sáng, tình yêu và sự hiện diện của Chúa! Như chiếc bình rỗng, tôi trao toàn thân cho Ngài, Đấng sẽ đổ đầy nó bằng tình yêu và Thánh Thần!” - Andrew Murray.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu tiết lộ một bí quyết để thôi xao xuyến, tìm lại tự do. Không chỉ nên như chiếc bình rỗng để được đổ đầy, nhưng chúng ta phải đắm mình trong nguồn ấy; không chỉ nhận lãnh, nhưng ở lại.

“Anh em đừng xao xuyến!”Xao xuyến không hẳn đến từ những gì xảy ra bên ngoài; nó phát sinh từ việc chúng ta đứng trước mọi sự. Có người ở trong thử thách mà vẫn bình an; có người không thiếu gì mà lòng vẫn bất ổn. “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa, và lòng con khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Chúa!” - Augustinô. Vấn đề không nằm ở hoàn cảnh thuận hay nghịch, nhưng ở chỗ bạn và tôi đang bám vào đâu, hy vọng điều gì - và sâu xa hơn, sống với ai.

Xao xuyến không chỉ là một trạng thái tâm lý; nó là dấu của một đời sống chưa ở lại, chưa ở trong. Chúa Giêsu không mời gọi chúng ta làm điều gì thêm, nhưng ở lại - menein - trong Ngài. “Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” không phải là trao một cảm giác để xoa dịu, nhưng là bình an kéo chúng ta vào sự sống của Ngài; ở đó, con người không còn giữ lấy mình, không còn chao đảo giữa sợ hãi và bám víu, nhưng bắt đầu sống từ một sự sống khác - một hiệp thông bản thể. Bình an thế gian cần hoàn cảnh thuận; bình an của Chúa vẫn còn đó giữa những đổ vỡ.

Chính trong sự ở lại ấy, bình an không còn mơ hồ, nhưng trở thành một cách hiện hữu. Phaolô là một chứng từ. Bị ném đá, tưởng đã chết; nhưng ông vẫn đứng dậy và trở lạiHoàn cảnh không đổi; ông không còn bám vào sự sống mình giữ, nhưng sống từ Đấng nâng ông dậy và giữ ông ở lại. Vì thế, Phaolô không trốn chạy, nhưng tiếp tục loan báo: “Triều đại Ngài vinh hiển!” - Thánh Vịnh đáp ca. Ở lại như Phaolô không phải là một nỗ lực căng, nhưng là một sự buông mình. Khi không còn phải giữ lấy bản thân, lòng người dần lắng xuống, vì đã có một nơi để ở. Và trong sự ở lại ấy, bình an không còn là điều phải tìm, nhưng tự nhiên hiện diện.

Anh Chị em,

Đức Giêsu Kitô là Đấng đã sống trọn vẹn sự ở lại ấy. Giữa xao xuyến của Vườn Dầu, giữa sợ hãi và cái chết, Ngài không giữ lấy mình, nhưng hoàn toàn phó thác trong tay Cha. Vì thế, bình an Ngài ban không phải là vắng bóng thử thách, nhưng là một sự sống không tách lìa Cha, cùng nhịp với Cha. Cũng thế, chỉ khi ở lại trong Chúa Kitô, trong Cha, con người không chỉ thôi xao xuyến, được an ủi hay vững vàng hơn, nhưng được sống chính sự sống thần linh của Ngài - một ‘hiệp thông bản thể’. “Thiên Chúa đã làm người để con người được tham dự vào sự sống của Ngài!” - Athanasiô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con biết ở lại trong Ngài, để không còn xao xuyến, nhưng sống trong bình an của Ngài, bình an không ai lấy mất!”, Amen.

Suy tư:

Ngày sống của đa số nhân loại trôi qua trong sự khắc khoải – mong chờ - mong ước… kết quả là nặng nề, thở dài và oán trách nhau, kể cả oán trách Chúa. Chúng ta mong trời mưa, mong gia đình hòa thuận, mong con cái kết hôn với người ta đánh giá cao… Lời cầu nguyện tha thiết, ngày qua ngày mà chẳng có gì tiến triển. Và cuộc sống trôi qua trong sự nặng nề.

Có một người đi tham quan viện tâm thần, một bệnh nhân miệng tru lên ‘Lu Lu, hỡi Lu Lu’. Bác sỹ cho biết ‘Lu Lu là tên một cô ả mà anh này yêu mà không lấy được, nên phát bệnh’. Đi tiếp một quãng, lại có một bệnh nhân khác, đập đầu vào tường và đang tru tréo ‘Lu Lu, Lu Lu’, bác sỹ cho biết: ‘anh chàng nầy lấy được cô ả, nhưng thất vọng đến phát điên’. Trên đời này, người ta thường phát điên vì hai lý do: thứ nhất là mong ước điều gì đó mà không được, thứ nhì là đạt được điều mong ước nhưng lại vỡ mộng.

Chúng ta thường phát điên khi con cái cư xử vô ơn, khi chúng không nghe theo sự hướng dẫn của mình. Cha mẹ tự tin vào sự khôn ngoan của mình, dựa vào quyền làm cha mẹ, muốn truyền lệnh cho con cái phải nghe theo ý mình. Hãy coi chừng, sự khôn ngoan – sự quan phòng của Thiên Chúa vẫn đang ẩn mình. Một bên là sự khôn ngoan và trách nhiệm của người làm cha mẹ, một bên là sự tự do của con cái và mầu nhiệm quan phòng của Thiên Chúa, đâu là ranh giới? Đừng nóng nảy kẻo mất hết người thân, và  đừng quá bám vào mình mà mất cả đức tin!

Xin trích lại câu mở đầu của cha Minh Anh: “Để có thể trải nghiệm niềm vui, chớ gì không một giây phút nào trong đời tôi nằm ngoài ánh sáng, tình yêu và sự hiện diện của Chúa! Như chiếc bình rỗng, tôi trao toàn thân cho Ngài, Đấng sẽ đổ đầy nó bằng tình yêu và Thánh Thần!” - Andrew Murray. 

Lạy Chúa Giê su con tín thác vào Chúa, cả hiện tại và tương lai, chuyện cuộc sống và cả phần rỗi linh hồn. Amen

 

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2026

BÌNH THƯỜNG - NƠI CHÚA ẨN



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ông này không phải là con bác thợ sao?”.

“Thiên Chúa tỏ mình bằng cách ẩn mình!” - Hans Urs von Balthasar.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa lễ Thánh Giuse đặt chúng ta trước một nghịch lý: Thiên Chúa tỏ mình bằng cách ẩn mình; không ở nơi xa lạ, nhưng ngay trong điều bình thường. Và chính nơi đó, ‘bình thường - nơi Chúa ẩn’.

Khi gọi Chúa Giêsu là “con bác thợ”, họ không sai về gốc gác; nhưng chính cái đúng ấy lại che khuất điều ẩn giấu. Đó là skandalon - cớ vấp phạm: ánh sáng không thiếu, nhưng ánh sáng xuất hiện dưới một hình thức quá thân quen. Điều họ thấy là đúng, nhưng không đủ; và chính khi tưởng đã nắm bắt, họ lại không còn nhận ra. Không phải vì không thấy, nhưng vì đã thấy theo cách quen nhìn của mình. “Thiên Chúa đặt những dấu chỉ để người ta nhận ra Ngài; nhưng Ngài cũng che phủ chúng, để chỉ ai tìm kiếm mới nhận ra!” - Blaise Pascal.

“Con bác thợ”, một danh xưng của đời sống lao động tầm thường. Nhưng chính ở đó, Con Thiên Chúa ẩn mình, mang lấy tất cả những lam lũ của Ngài. Ngay từ thuở đầu, Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài và trao cho họ cộng tác vào công trình ấy; Ngài làm việc, nghỉ ngơi, và đặt con người vào nhịp điệu đó - bài đọc một. Lao động vì thế mang dấu ấn của Đấng Tạo Hoá; continuatio creationis - sự tiếp tục của hành động sáng tạo. Và điều chúng ta vẫn lặp lại mỗi ngày lại không trôi qua vô nghĩa: “Lạy Chúa, việc tay chúng con làm, xin Ngài củng cố!” - Thánh Vịnh đáp ca. Chính ở đó, điều tưởng chừng bình thường lại trở thành nơi mầu nhiệm ẩn giấu: ‘bình thường - nơi Chúa ẩn’.

Thánh Giuse ở trong mầu nhiệm ấy. Không một lời, không xuất hiện, không được nhận ra; nhưng chính trong đời sống lao động bình thường, ngài gìn giữ và cộng tác với công trình của Thiên Chúa. Giuse không làm những điều phi thường; nhưng ở lại trong điều bình thường, và chính ở đó, mầu nhiệm được bảo toàn. Nơi ngài, điều ẩn giấu không còn là thiếu vắng, nhưng là một cách hiện diện; một hiện diện không phô bày, nhưng mang lấy và gìn giữ điều Thiên Chúa đang thực hiện: dưỡng dục Chúa Con. Giuse không chỉ là mẫu gương; nơi ngài, người ta học cách Thiên Chúa hành động. “Giây phút hiện tại luôn chứa đựng một kho tàng vô hạn!” - Jean-Pierre de Caussade.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, cách Thiên Chúa hành động đạt đến cùng tận: Bêlem nghèo hèn, ba mươi năm ẩn dật; và cuối cùng, thập giá. Đó không phải là những biến cố tách biệt, nhưng là cả một cuộc đời được chọn để tỏ mình trong ẩn giấu; không ở ngoài, nhưng đi vào tận bên trong đời sống con người. Chính khi không được nhận ra, Con Thiên Chúa lại ở gần nhất; không chỉ sống ẩn, Ngài biến sự ẩn giấu thành mặc khải. Đó cũng là nơi đời sống chúng ta chạm tới: không trong những gì phi thường, nhưng ngay trong những điều lặp lại mỗi ngày. “Có một điều thánh thiêng, một điều thần linh, ẩn giấu trong những hoàn cảnh bình thường nhất!” - Josemaría Escrivá.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con vì quá quen mà không còn nhận ra Ngài; cho con gặp Ngài ngay trong những điều con vẫn coi là tầm thường!”, Amen.

Suy tư:

Thiên Chúa tự hủy, Thiên Chúa ẩn mình và Thiên Chúa cải trang trong tha nhân ... là một mầu nhiệm mà con người phải dùng cặp mắt đức tin để nhìn thấy Ngài. Con người dễ nhìn thấy Thiên Chúa khi Ngài biểu dương sức mạnh, nhưng khó chấp nhận một sự im lặng và bất lực trước sự dữ ngập tràn trên thế giới. Hãy chiêm ngắm Con Thiên Chúa bị chết treo trên Thập giá vì yêu nhân loại, để hiểu được cách Ngài hành động trên thế giới và trong cuộc sống.

Con người thời đại và nhất là người trẻ đòi hỏi 'điều gì cũng phải nhanh, hiệu quả, được nổi tiếng ... họ khó chấp nhận một Thiên Chúa hành động trong âm thầm, nhẫn nại, thương xót. Cách hành động đó đồng nghĩa với bất lực, và thậm chí là 'không có Ngài'.

Ki tô giáo nói với chúng ta rằng:

- Sa tan đang sàng sảy và như sư tử rình mồi cắn xé các tâm hồn... ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu thoát.

- Trừ một số rất ít người nổi tiếng và có đặc sủng cải tạo thế giới, đa số chúng ta sẽ sống một cuộc đời bình dị, làm những công việc bình thường của một con người như kiếm sống- giáo dục con cái- yêu thương các thành viên trong gia đình... Điều quan trọng là chính tình yêu Chúa và tha nhân làm nên giá trị cuộc đời, làm cho đức tin nở hoa: dù sống dù chết, chúng ta vẫn thuộc trọn về Chúa.

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

CỬA CHUỒNG Ở ÐÂU?

 


Lm. Mark Link, S.J.

 

“Hình ảnh mục tử nhân lành làm nổi bật mối tương giao và sự hiến thân của Chúa Giêsu cho mỗi người chúng ta.”

 

Vào thời Chúa Giêsu, khi màn đêm buông xuống, các mục tử lùa đàn chiên của họ vào chuồng.  Nếu ở gần làng, họ sẽ lùa chúng vào cái chuồng công cộng, còn nếu ở xa làng, thì họ sẽ lùa chúng vào một cái chuồng ở ngoài đồng hoặc đôi khi trong một cái hang.  Các mục tử làm thế là để che chở bầy chiên khỏi sương đêm lạnh lẽo và khỏi lũ thú rừng.  Trong bài Phúc âm Chúa Nhật IV PS năm A, Chúa Giêsu ám chỉ đến cả hai loại chuồng trên.

 

Phần đầu bài Phúc âm, Người ám chỉ đến loại chuồng làng công cộng, đặc biệt nhắc đến lúc sáng sớm, khi người mục tử đến chuồng làng công cộng nhận bầy của mình để dẫn chúng đi ăn cỏ suốt ngày, Chúa Giêsu nói: “Người giữ cửa sẽ mở cửa cho anh ta; chiên anh sẽ nghe tiếng anh khi anh gọi tên từng con một và dẫn chúng ra.  Khi mang chúng ra rồi, anh đi phía trước, lũ chiên đi theo anh vì chúng nhận biết giọng nói của anh”

 

Phần sau của bài Phúc âm, Chúa Giêsu ám chỉ đến loại chuồng ở ngoài đồng đặc biệt Người nói đến lối vào chật hẹp trong chuồng mà bầy chiên phải đi qua.  Chúa Giêsu nói: “Ta là cửa chuồng chiên... Ai bước qua Ta mà vào thì sẽ được cứu: người ấy sẽ vào, và ra, rồi tìm được đồng cỏ.”  Trong cuốn sách nhan đề The Holy Land (đất thánh).  John Kellman mô tả một cái chuồng chiên ngoài đồng như sau: nó có một bức tường bằng đá chung quanh cao khoảng bốn bộ (cỡ 1m4) và một lối vào.  Kellman kể rằng ngày nọ một du khách Thánh Ðịa đã trông thấy một cái chuồng chiên ngoài đồng gần Hebron.  Anh du khách hỏi người mục tử đang ngồi cạnh đó: “Cửa chuồng của anh ở đâu?  Người mục tử liền đáp: “Tôi chính là cửa chuồng.”  Ðoạn người mục tử kể cho du khách nghe anh ta nằm chặn ngang lối vào chật hẹp đó.  Không có chú chiên nào có thể bỏ chuồng đi ra, và cũng chẳng có con thú rừng nào có thể đi vào mà không bước qua mình anh ta.

 

Có hai điều nổi bật trong câu chuyện dễ thương này.  Thứ nhất là tính cách duy nhất ngày càng tăng lên giữa người mục tử và bầy súc vật của anh.  Phần lớn đàn chiên được nuôi để lấy len.  Một mục tử phải hiện diện với bầy chiên của mình 365 ngày một năm, và thường là đủ 24 giờ một ngày.  Người mục tử phải biết rõ chiên mình đến mức phải biết con nào có móng mềm, con nào đau vì ăn bậy, con nào hay bỏ bầy chạy rông...  Thứ hai là sự hiến thân sâu sắc của người mục tử cho bầy chiên, thậm chí liều mạng sống cho chúng.

 

Chính trong bối cảnh này, chúng ta có thể hiểu rõ hơn điều Chúa Giêsu mường tượng trong tâm trí khi Người nói: “Ta là mục tử nhân lành” (Ga 10: 11).  Chúa Giêsu muốn nói rằng, mối tương giao và sự hiến thân của Người cho chúng ta tương tự như mối tương giao và sự hiến thân của người mục tử cho bầy chiên mình.  Giống như người mục tử, Chúa Giêsu luôn hiện diện với chúng ta 365 ngày mỗi năm, 24 giờ mỗi ngày.  Người đã từng nói với các môn đệ: “Ta sẽ luôn ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28: 20).

 

Giống như người mục tử, Chúa Giêsu cũng biết rõ mỗi người chúng ta một cách thân mật sâu xa.  Người biết ai trong chúng ta yếu kém về đức tin, ai trong chúng ta thường dễ ngã lòng, ai trong chúng ta thường hay bỏ bầy đi rông.  Chúa Giêsu không bao giờ bỏ rơi chúng ta.  Người luôn luôn ở đó để giúp đỡ chúng ta.  Và nếu lỡ chúng ta bỏ bầy đi rông thì Người sẽ bỏ lại 99 con chiên để đi kiếm chúng ta.  Ðiều Thiên Chúa nói với dân riêng Người qua miệng tiên tri Isaia, cũng chính là điều Chúa Giêsu đích thân nói với mỗi người chúng ta : “Ðừng sợ, Ta gọi ngươi bằng tên...  Ngươi rất quí báu đối với Ta...  Ðừng sợ!  Này đây Ta ở với ngươi” (Isaia 43: 1, 4-5).

 

Bài Phúc âm hôm nay đặc biệt thích hợp cho ngày các bà mẹ.  Giống như người mục tử, giống như Chúa Giêsu, một bà mẹ luôn có mối tương giao gần gũi sâu sắc với bầy con hoặc gia đình mình.  

 

Không có gì mà bà mẹ không làm để bảo vệ cho bầy con khỏi cơn nguy hiểm.  Và bà sẵn sàng đi đến bất cứ nơi nào để tìm kiếm đứa con lầm đường lạc lối.  Tình yêu của một bà mẹ dành cho gia đình vẫn hoạt động ngay cả khi tự thân bà không thể bảo vệ cho bầy con của bà nữa.

 

Có câu chuyện thật dễ thương trong cuốn tự thuật của Jimmy Cagney, nam diễn viên nổi tiếng ở HollyWood.  Câu chuyện xảy ra vào thời tuổi trẻ của Cagney khi mẹ ông đang nằm trên giường chờ chết.  Chung quanh giường có bốn cậu con trai đều mang tên Cagney và cô em gái duy nhất của họ là Jeannie.  Vì bị nhồi máu cơ tim, bà Cagney không nói được nữa.  Sau khi lần lượt bá cổ cả năm đứa con, bà liền giơ cánh tay phải, cánh tay duy nhất còn hoạt động đựơc lên.  Jimmy mô tả những gì xảy ra sau đó:

 

“Mẹ tôi dùng ngón tay chỉ Harry rồi chỉ vào ngón trỏ của bàn tay vô dụng của bà, sau đó chỉ tôi rồi chỉ vào ngón giữa, rồi chỉ Eddie rồi chỉ vào ngón áp út, chỉ Bill rồi chỉ vào ngón út, chỉ Jeannien rồi chỉ vào ngón cái.  Ðoạn bà cầm ngón cái để vào giữa lòng bàn tay, rồi áp chặt ngón cái dưới bốn ngón kia tụm lại. Sau đó bà dùng bàn tay còn khỏe vỗ nhẹ lên nắm đấm bàn tay trái” (James Cagney).

 

Jimmy nói rằng cử chỉ của mẹ ông thật tuyệt vời.  Mọi người đều biết ý nghĩa của cử chỉ ấy, tức bốn anh em có bổn phận che chở cho bé Jeannie sau khi mẹ họ qua đời.   Đó là một cử chỉ đẹp và đầy ý nghĩa mà không lời nào có thể diễn tả hay hơn.

 

Tôi vui mừng vì chúng ta có ngày dành riêng cho các bà mẹ để nhắc nhở chúng ta về bản chất của người mẹ và để nhắc nhở các bà mẹ về sứ vụ mà Chúa kêu gọi họ.

 

Tôi vui mừng vì ngày các bà mẹ trùng hợp với Chúa nhật hôm nay với những lời Chúa Giêsu nói về người mục tử.  Bởi vì sự thân mật và sự hiến thân trọn vẹn của một bà mẹ cho gia đình mình là một phản ảnh hoàn hảo sự thân mật và hiến thân trọn vẹn của người mục tử cho bầy súc vật của anh.  Và hơn tất cả, tình thân và sự hiến thân cho gia đình của một bà mẹ phản ảnh hoàn hảo tình thân mà Chúa Giêsu dành cho chúng ta.

 

Vì thế, chúng ta hãy hân hoan vui mừng và cầu xin cho ngày hôm nay sẽ kéo các thành viên trong gia đình gần lại với nhau hơn, đồng thời quí chuộng lẫn nhau hơn, đặc biệt đối với bà mẹ của họ.

 

Suy tư:

Trong tuần lễ này, chúng ta suy niệm về đề tài: CHÚA GIÊ SU LÀ MỤC TỬ NHÂN LÀNH, HY SINH MẠNG SỐNG ĐỂ MỖI TÂM HỒN ĐƯỢC SỐNG DỒI DÀO.

Chúng ta thường nhớ dai những bất mãn, bất công người khác gây cho mình và không nhận ra những ân phúc Chúa ban mỗi ngày: không khí, nước, thức ăn, những người tử tế và những anh em đồng đạo... và cả hồng ân đức tin nữa... bởi chúng rất đỗi tự nhiên và tự có.

Các nhà tu đức khuyên ta: Mỗi ngày dành ra ít phút để đọc kỹ đoạn Lời Chúa hằng ngày, dành 5-10' suy niệm về sự hy sinh của Chúa Giê su, năng suy niệm về sự chết để sống có ý nghĩa hơn.

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2026

XIN CHÚA Ở LẠI VỚI CHÚNG CON

 



(Bình MInh. Đài Chân lý Á châu)

Kính thưa quý vị, các bạn thân mến!

Một giám đốc nọ đang có một buổi họp quan trọng với hội đồng quản trị của công ty, bỗng một cô thư ký bước vào báo tin rằng con trai của ông gây tai nạn xe hơi cho người khác và đang chờ ông đến để xử lý.

Sau khi tiếp điện thoại với con trai xong, vị giám đốc gọi điện cho cô thư ký và nói rằng nếu con trai ông mà gọi điện đến lần nữa thì nói rằng ông đã đi vắng rồi và ông tiếp tục cuộc họp trước sự ngạc nhiên của cô thư ký và tất cả mọi người trong công ty.

Sau khi họp xong ông bình thản trở về nhà. Vừa nhìn thấy ông, cậu quý tử đã nói như trút tất cả tâm trạng bực bội của mình rằng: “Con chờ ba suốt cả ngày hôm nay, sao ba không đến? Chẳng lẽ ba có công việc gì quan trọng hơn con à? Con không còn ý nghĩa gì với ba sao?”

Ông ôn tồn đáp: “Con ạ, chắc chắn là việc ở công ty không quan trọng bằng con. Nhưng thực sự là ba đang gặp một vấn đề hóc búa, ba không biết giải quyết thế nào nên ba phải ngồi cả một ngày để chờ người đến giúp và người ba chờ chính là ông nội của con”

Lúc bấy giờ, cậu con trai thốt lên: “Nhưng ông nội con đã mất cách đây hơn 10 năm rồi mà?”

Quý vị và các bạn thân mến!

Như vậy là cậu con trai đã hiểu lý do tại sao Ba cậu lại không đến giúp đỡ cậu trong vụ tai nạn vừa rồi khi ông ta bảo rằng người mà ông chờ đến giúp đỡ mình để giải quyết công việc chính là người cha đã mất cách đây 10 năm. Khi trả lời như thế vị giám đốc muốn nhắn nhủ với con trai rằng trước những khó khăn thử thách bất ngờ của cuộc sống, thái độ đầu tiên cần phải có đó là hãy biết cố gắng tự thân giải quyết hơn là luôn trông chờ vào sự giúp đỡ của người khác. Đồng thời vị giám đốc cũng giúp con trai hiểu rằng cho dù ông không trực tiếp có mặt bên cậu con trai khi cậu gặp rắc rối bây giờ và có thể cả về sau nữa nhưng điều đó không có nghĩa là ông ta đã không rất yêu thương cậu, rằng điều quan trọng nhất đối với ông không là cậu ta, cũng như việc giúp cậu thoát khỏi những tình huống khó khăn trong cuộc sống là điều không nằm trong khả năng của ông. Điều ông muốn là sự trưởng thành, tinh thần tự lập của cậu con trai trước những khó khăn trong cuộc sống. Riêng ông, ông vẫn bên cạnh cậu con trai yêu quý nhưng không theo cái cách của cậu con trai muốn.

Trong đời sống người Kitô hữu, như cậu con trai đã bất bình với thái độ không đến giúp của cha mình, nhiều khi chúng ta cũng có tâm trạng bực bội than trách Chúa khi cảm thấy dường như Chúa để một mình ta với muôn đắng cay nghiệt ngã của cuộc đời. Tuy nhiên, sự thực là Ngài vẫn hoạt động với và trong cuộc đời mỗi một người trong chúng ta. Ngày xưa khi Chúa Sống Lại, Ngài vẫn hằng theo dõi, vẫn nhiều lần hiện ra khi các ông gặp khó khăn trong cuộc sống. Và sau này khi đã về Trời, Ngài vẫn tiếp tục sống và làm việc với các tông đồ.Thánh Phêrô đã mạnh dạn tuyên xưng với những người trong Thượng Hội Đồng rằng: Chúng tôi nhân danh Chúa Giêsu Nazareth, Người đã bị các ông đóng đinh vào Thập Giá. Ngài vẫn đang sống và họat động trong chúng tôi; và không ai có thể được cứu độ nếu không tin vào Danh Ngài.

Ngày nay, Chúa Giêsu vẫn sống và đang hoạt động trong thế giới, trong Giáo Hội, trong gia đình, và trong mỗi người chúng ta. Vấn đề là chúng ta có cảm nhận được sự hiện diện của Ngài hay không vì đôi khi Ngài sẽ không diện diện theo như suy nghĩ của chúng ta hay như cái cách chúng ta muốn. Hãy cảm nhận tình yêu của Ngài hiện diện trong cuộc đời mình cho dù chúng ta đang thành công hay thất bại, hạnh phúc hay đau khổ, an vui hay bão tố đó mới là điều Chúa mong muốn nơi thái độ sống của chúng ta.

Lạy Chúa Kitô Khổ Nạn và Phục Sinh, chúng con tin rằng Chúa Phục Sinh luôn hiện diện trong cuộc đời chúng con. Chúng con xin ca ngợi tình thương vô bờ bến của Chúa và xin giúp chúng con luôn cảm nhận được tình yêu này trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời mình và tình yêu Chúa sẽ là nguồn sinh lực giúp chúng con sống yêu thương mọi người, và luôn chu toàn bổn phận hằng ngày của mình trong tình yêu với Chúa và tha nhân. Amen.

Bình Minh   

 

ĐỪNG KEO KIỆT VỚI LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA

 



 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Chẳng bao lâu sau khi chịu chức linh mục, trong lúc đi làm mục vụ thay tại một giáo xứ, tôi có dịp ở cùng một vị linh mục già đức độ.  Ngài đã ngoài tám mươi, mắt gần như mù lòa, nhưng lại là người được rất nhiều người tìm đến xin lời khuyên và kính trọng.  Một tối nọ, khi chỉ có hai người, tôi đã hỏi ngài một câu: “Nếu được sống lại đời linh mục một lần nữa, cha có thay đổi điều gì không?”

 

Từ một con người đầy chính trực như ngài, tôi vốn đinh ninh rằng ngài sẽ chẳng có gì phải hối tiếc.  Vì vậy, câu trả lời của ngài làm tôi vô cùng ngạc nhiên.  Ngài bảo có, ngài có một nỗi hối tiếc rất lớn: “Nếu được làm lại đời linh mục, lần tới tôi sẽ bao dung với mọi người hơn.  Tôi sẽ không quá bủn xỉn với lòng thương xót của Chúa, với các bí tích và sự tha thứ.  Anh thấy đó, điều được nhồi nhét vào đầu tôi hồi ở chủng viện là câu: Sự thật sẽ giải phóng anh em.  Thế nên, tôi tin rằng trách nhiệm của mình là luôn đưa ra những thách đố khó khăn, và điều đó cũng có cái tốt.  Nhưng tôi e rằng mình đã quá khắt khe với mọi người.  Họ đã đủ đau khổ rồi, không cần tôi và Giáo hội phải chất thêm gánh nặng lên vai họ nữa.  Lẽ ra tôi nên dám mạo hiểm vào lòng thương xót của Chúa hơn nữa!”

 

Điều này làm tôi sững sờ, vì chỉ chưa đầy một năm trước đó, khi tôi thi vấn đáp cuối kỳ ở chủng viện, một trong những linh mục giám khảo đã cảnh báo tôi thế này: “Hãy cẩn thận, đừng bao giờ để cảm xúc xen vào.  Đừng có mềm yếu, như vậy là sai.  Hãy nhớ rằng, dù có khắc nghiệt đến đâu, chính sự thật mới giải phóng con người!”  Đó dường như là một lời khuyên chí lý cho một linh mục trẻ.

 

Thế nhưng, sau năm mươi năm thi hành tác vụ, tôi lại nghiêng về lời khuyên của vị linh mục già kia hơn: Chúng ta cần dám mạo hiểm hơn với lòng thương xót của Thiên Chúa.  Vị trí của công lý và sự thật không bao giờ được phép phớt lờ, nhưng chúng ta phải dám để cho lòng thương xót vô biên, không bờ bến, không điều kiện và không đòi hỏi công trạng của Chúa được tuôn trào tự do hơn.  Lòng thương xót của Chúa luôn sẵn có như một vòi nước gần nhất, và vì thế, giống như ngôn sứ Isaiah, chúng ta phải loan báo một lòng thương xót không hề dán nhãn giá: Đến đây, hãy đến mà không cần tiền bạc, không cần đức hạnh, hãy đến uống thỏa thuê lòng thương xót của Chúa! (Isaiah 55:1)

 

Điều gì đang kìm hãm chúng ta?  Tại sao chúng ta lại ngần ngại khi loan báo lòng thương xót vô tận, hào phóng và không phân biệt của Ngài?

 

Một phần động cơ của chúng ta là tốt, thậm chí là cao quý.  Sự quan tâm đến sự thật, công lý, tính chính thống, đạo đức chuẩn mực, hình thức công khai hay việc chuẩn bị bí tích kỹ lưỡng không phải là không quan trọng.  Tình yêu cần được định hướng bởi sự thật, cũng như sự thật phải được điều hòa bởi tình yêu.

 

Nhưng đôi khi động cơ của chúng ta lại kém cao quý hơn, và sự ngần ngại đó nảy sinh từ sự rụt rè, sợ hãi, chủ nghĩa lề luật, sự tự mãn kiểu những người biệt phái, và một hiểu biết nghèo nàn về Thiên Chúa.  Thế là, chúng ta quyết không để bất kỳ một “ân sủng rẻ tiền” nào được ban phát dưới sự canh chừng của mình!

 

Khi làm như vậy, tôi e rằng chúng ta đang đi lạc đường, chưa làm tròn vai trò của người mục tử nhân lành, và không cùng nhịp đập với Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã nhập thể để bày tỏ.  Lòng thương xót của Thiên Chúa, như Đức Giêsu mặc khải, ôm ấp tất cả không phân biệt ai, giống như ánh mặt trời chiếu soi đồng đều trên người tốt cũng như kẻ xấu, người xứng đáng cũng như kẻ không xứng đáng, người trong đạo cũng như kẻ ngoài đời.

 

Một trong những thấu thị thực sự gây chấn động mà Đức Giêsu mang lại cho chúng ta là: lòng thương xót của Thiên Chúa không thể không đến với tất cả mọi người.  Nó luôn miễn phí, không do công trạng, không điều kiện, mang tính phổ quát, vượt lên trên mọi tôn giáo, phong tục, luật lệ, đảng phái chính trị, các chương trình bắt buộc, ý thức hệ, và thậm chí vượt lên trên cả chính tội lỗi.

 

Về phần mình, đặc biệt là những người làm cha mẹ, những người làm mục vụ, thầy cô giáo, giáo lý viên và những người đi trước, chúng ta phải dám loan báo đặc tính hào phóng của lòng thương xót Chúa.  Chúng ta không được ban phát lòng thương xót của Chúa như thể nó là của riêng mình để ban ơn; không được phân phát sự tha thứ của Chúa như thể đó là một món hàng có hạn; không được đặt điều kiện cho tình yêu của Chúa như thể Chúa cần được bảo vệ; hay ngăn chặn con đường đến với Chúa như thể chúng ta là người giữ cổng thiên đàng.  Chúng ta không phải là người giữ cổng.  Nếu chúng ta trói buộc lòng thương xót của Chúa vào sự rụt rè và sợ hãi của chính mình, chúng ta đang giới hạn nó trong tầm vóc nhỏ bé của tâm trí mình.  Đó là một sai lầm.

 

Thật thú vị khi để ý trong các sách Tin Mừng rằng các tông đồ - dĩ nhiên là với ý tốt - thường cố gắng ngăn cản một số người đến gần Đức Giêsu vì cho rằng họ không xứng đáng, hoặc họ là sự xúc phạm đến sự thánh thiện của Ngài, hay bằng cách nào đó sẽ làm vấy bẩn sự thanh sạch của Ngài.  Thế là họ cố đuổi trẻ em, những người hành nghề mại dâm, những người thu thuế, những tội nhân khét tiếng và đủ mọi thành phần chưa được khai tâm.  Nhưng lần nào Đức Giêsu cũng bác bỏ những nỗ lực đó bằng những lời đại ý rằng: “Cứ để họ đến với Ta.  Ta muốn họ đến.”

 

Mọi chuyện vẫn không thay đổi.  Theo năm tháng, chúng ta - những người đầy thiện chí - vì những lý do y hệt như các tông đồ, vẫn tiếp tục cố gắng giữ một số cá nhân và nhóm người tránh xa lòng thương xót của Chúa vốn luôn sẵn có trong Lời Chúa, Bí tích và Cộng đoàn.  Ngày xưa Đức Giêsu đã dàn xếp được mọi chuyện; tôi tin rằng ngày nay Ngài cũng làm được.  Thiên Chúa không cần chúng ta làm người gác cổng.

 

Điều Thiên Chúa muốn là tất cả mọi người, bất kể tuổi tác, tôn giáo, văn hóa, sự yếu đuối cá nhân hay việc thiếu thực hành đạo đức, hãy đến với nguồn nước vô tận của lòng thương xót thần linh.

 

Nhà tự nhiên học nổi tiếng John Muir từng thách thức các Kitô hữu bằng những lời này: Tại sao các Kitô hữu lại ngần ngại để các loài vật bước chân vào cái thiên đàng bủn xỉn của họ đến thế?

 

Tôi e rằng, chúng ta cũng đang bủn xỉn với lòng thương xót hào phóng của Thiên Chúa như vậy.

 


 

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2026

VẤT VẢ VỚI HAI CHỮ “PHỤC SINH”

 



Trần Mỹ Duyệt

 

 

Đối với nhiều Kitô hữu thế là xong. Mùa Chay, Tuần Thánh và Phục Sinh đã qua. Tất cả đều lùi vào quá khứ và đây là thời gian “ăn mặn” trở lại. Chúa đã phục sinh và sống lại thật cho chúng nhân rồi. Mình phải vui mừng, ăn nhậu. Alleluia! Alleluia. 

 

Nhưng đối với những Kitô hữu chân chính, những Kitô hữu với lòng yêu mến Thiên Chúa và yêu mến hồng ân Cứu Độ của Ngài thì không suy nghĩ và sống như vậy. Họ vẫn phải chiến đấu để duy trì hai chữ “Phục Sinh” trong cuộc sống tâm linh và trong đời thường của mình. Đúng hơn, họ vẫn phải sống tinh thần Phục Sinh mỗi ngày, và từng ngày. Đối với họ, Phục Sinh không chỉ là một biến cố giới hạn của thời gian và không gian, nhưng nó là một biến cố sống động và tái diễn mọi ngày trong cuộc sống người Kitô hữu.

 

Thật vậy, ý nghĩa Phục Sinh chính là lời diễn giải của Thánh Phaolô: “Nếu chúng ta cùng chết với Ngài, chúng ta tin rằng sẽ cùng sống lại với Ngài” (Rom 6:7). Và cái cốt lõi cũng như cái nguyên nhân chính đưa đến việc Phục Sinh của Chúa Kitô, đó là Chúa Kitô đã chết. Chết vì phần rỗi nhân loại, chết để xóa tội trần gian, và chết để giải thoát nhân loại khỏi nô lệ tội lỗi, khỏi nô lệ của Satan. Do đó, nếu muốn phục sinh và sống lại với Ngài thì cũng giống như Ngài, con người phải qua cái “chết” như Ngài đã chết. Nhưng đối với các Kitô hữu, chết đây không có nghĩa là chỉ chết một lần như Chúa rồi sống lại vinh hiển, sáng láng, và hạnh phúc. Chết đây là chết mỗi ngày trong cuộc sống. Và đây là cái mà chúng ta phải vất vả, vì thực tế là phần đông chúng ta chỉ muốn phục sinh, muốn sống lại nhưng ngại và sợ chết.  Vậy nếu “Phục Sinh” là biến cố luôn luôn hiện hữu thì cái chết cũng luôn luôn có mặt trong cuộc sống tâm linh và cuộc đời của mỗi Kitô hữu. 

 

Nhưng có lẽ bạn hỏi, vậy cái chết đây là gì và phải chết như thế nào? Tác giả Lung Linh trong Tâm Linh Vào Đời đã có những suy tư rất thực tế và cũng rất hợp với kiếp người. Theo đó:

 

Sự chết thường được mô tả như những bóng tối nặng nề. Thí dụ như:

·         Có thứ bóng tối tội lỗi.

·        Có thứ bóng tối đam mê dục vọng.

·        Có thứ bóng tối tham lam ích kỷ.

·        Có thứ bóng tối ghen ghét oán thù.

·        Có thứ bóng tối tự ái kiêu căng.

 

Và dĩ nhiên, còn có nhiều thứ bóng tối khác nữa như bóng tối đa mê quyền lực. Bóng tối đa mê cờ bạc, nghiện hút, bóng tối danh vọng chức quyền… Tất cả những bóng tối đó đang che khuất nẻo về và khiến con người lạc vào trong cõi u mê của ảo vọng, ảo giác về cái tôi của mình cũng như về cái thế giới phồn vinh giả tạo do Satan đang làm chủ. Những bóng tối mà ánh sáng Chúa Phục Sinh bị đẩy lui. Bóng tối ngăn chặn dòng suối ơn sủng của Ngài.

 

Để ánh sáng Phục Sinh của Chúa tràn vào hồn ta, ta phải quét sạch và xua tan những bóng tối ấy. Dĩ nhiên điều này làm cho con người phải vất vả, phải chịu khó, và phải hy sinh. Đôi khi sự hy sinh này đòi hỏi phải đổ máu như chính Chúa Kitô đã đổ máu Ngài trên thập tự giá để có được sự Phục Sinh vinh thắng.

 

Bạn và tôi đều biết rõ điều này, trong tất cả những cái khó khăn, rườm ra, xung đột, tranh giành, giận hờn, ghen ghét, và cả đến việc chửi bới, thanh toán nhau tất cả đều do cái tôi mà ra. Điều này rất đúng, nhất là khi con người đặt cái tôi sai chỗ, đặt cái tôi của mình trên cái tôi của người khác. Và nhất là cái tôi ấy lại đặt cao hơn cái “Tôi” của Thiên Chúa, tức Thánh Ý Nhiệm Mầu của Ngài. Trong vườn Diệu Quang Adong và Evà cũng đã làm như vậy. Các vị cũng đã muốn đặt cái tôi của mình trên cái “Tôi” của Đấng Tạo Hóa khi chấp nhận ăn trái cấm. Từ đó mới đưa đến phản nghịch. Mới đem đến việc con người muốn thay thế cái “Tôi” của Thiên Chúa bằng cái tôi của mình.

 

Thay thế cái “Tôi” của Thiên Chúa không được, con người lại tìm cách thay thế cái “tôi” của những người khác. Muốn thay thế tất cả những cái tôi của người khác bằng cái tôi của mình. Chúa Cứu Thế đã biết rõ điều này, nên khi còn tại thế, Ngài đã đặt điều kiện cho những ai muốn đi theo vết chân Ngài, muốn thành môn đệ Ngài, đó là “Nếu ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo” (Mat 16:24). Điều kiện đã rõ ràng, không bỏ cái tôi đi, không thể vác thập giá mình được. Và dĩ nhiên, không thể trở thành môn đệ của Ngài được.  Như vậy cũng có nghĩa là bóng tối che khuất nẻo về vĩnh hằng. Bóng tối che khuất con đường tìm về chân thiện mỹ. Bóng tối dẫn đến u mê đó phát xuất từ cái tôi của mỗi người. Cái tôi ấy hiển diện trong mọi ngóc ngách cuộc đời, ngay khi ta ăn, uống, ngủ, nghỉ, vui chơi, và ngay cả khi ta đọc kinh, cầu nguyện. Khi làm việc lớn, khi làm việc nhỏ. Trong vai trò lớn nhỏ trong Giáo Hội cũng như xã hội. Tóm lại, cái tôi đó chính là những gì đang làm nên con người thật của mỗi chúng ta lúc này. Chiến đấu được, kiềm chế được tức là đẩy lui bóng tối, là bỏ mình, là vác được thập giá, và để ánh sáng Phục Sinh Chúa chiếu dọi.

 

...

 

Chúa đã chết và hủy diệt tội lỗi. Chúa đã chết và đã sống lại. Ngài đã chiến thắng thế gian. Nhưng Ngài không hủy diệt thế gian. Ngài không hủy diệt cái tôi của mỗi người. Ngài cũng không hủy diệt Satan. Ngài muốn để phần đó cho mỗi môn đệ Ngài. Bởi vì theo Thánh Phaolô, mỗi người phải hoàn tất phần còn lại trong cuộc Khổ Nạn của Chúa Kitô. Và vì thế, chúng ta cần phải nhủ mình rằng, trong khi vui mừng vì chiến thắng Chúa Phục Sinh, cũng đừng quên vẫn còn phải vất vả, mệt mỏi với hai chữ Phục Sinh. 

 

Trần Mỹ Duyệt

**************************

 

 

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2026

KHÔNG TIN - VẪN ĐƯỢC SAI

 



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng”.

“Đức tin không phải là kết quả của suy nghĩ, nhưng là kết quả của một cuộc gặp gỡ!” - Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa (ngày thứ Bảy trong tuần Bát nhật Phục Sinh) không khen ngợi một niềm tin vững vàng rằng Thầy đã sống lại, nhưng là những lời khiển trách vì các môn đệ không tin và cứng lòng. Đức tin không đến từ suy nghĩ, nhưng từ gặp gỡ; và ‘dù không tin’, họ ‘vẫn được sai’ - một nghịch lý khó chấp nhận.

Marcô đã tài tình tóm tắt các lần hiện ra của Chúa Phục Sinh; tuy nhiên, qua đó, việc các môn đệ “không tin” không chỉ là một phản ứng tâm lý, nhưng là việc họ không nhận ra Đấng đã tỏ mình; không phải vì thiếu chứng từ, nhưng vì lòng chưa mở ra. Vì thế, điều Chúa Giêsu khiển trách không chỉ là sự nghi ngờ, nhưng là một sự “chậm mở” trước một thực tại mang tính quyết định đã xảy đến; và đó cũng là điều có thể xảy ra nơi chúng ta. Đôi khi, không phải vì thiếu ánh sáng, nhưng vì chúng ta chưa sẵn sàng để thấy.

Vậy mà, Chúa Giêsu không dừng lại ở việc họ không tin, Ngài lập tức sai các ông đi. Incredulitas không loại trừ missio, nhưng mở ra chính sứ vụ; không phải khi họ đã hoàn toàn tin, nhưng ngay khi họ còn đang trên đường đến với đức tin. Và cũng chính nơi đó, chúng ta nhận ra mình: Chúa không đợi đến khi chúng ta vững vàng rồi mới sai đi, nhưng ngay trong những chần chừ và nghi hoặc, lời sai đi vẫn không ngừng vang lên - ‘không tin - vẫn được sai!’. “Thiên Chúa không chọn người xứng đáng, nhưng làm cho người được chọn trở nên xứng đáng!” - Phanxicô.

Vì thế, điều xảy ra nơi các tông đồ không dừng lại ở kinh nghiệm riêng, nhưng trở thành lời chứng: “Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra” - bài đọc một. Đức tin - một khi phát sinh từ một cuộc gặp gỡ - không thể khép kín, nhưng tự nó mở ra thành sứ vụ. Đức Phanxicô nhấn mạnh: đức tin hoặc mang chiều kích truyền giáo, hoặc không còn là đức tin; không phải để giữ cho mình, nhưng để trao ban, không chỉ bằng lời nói, nhưng bằng chính đời sống. Và khi đó, điều đã thấy không thể giữ lại, điều đã tin không thể không nói ra.

Anh Chị em,

Nơi Đức Giêsu Kitô, đức tin không còn là một tiến trình phải đi tới, nhưng là một tương quan được sống trọn vẹn. Ngài tin Cha một cách tuyệt đối, không chỉ trong vinh quang, nhưng cả trong khổ đau; ngay tại vườn Dầu, khi mọi sự dường như sụp đổ, Ngài vẫn thưa: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Cha”. Vì thế, nơi Ngài, không có khoảng cách giữa tin và được sai; chính trong sự phó thác trọn vẹn ấy, sứ vụ đạt tới cùng đích và trở thành ơn cứu độ. Và cũng từ đó, chúng ta nhận ra rằng, đức tin không lớn lên khi mọi sự rõ ràng, nhưng khi dám phó thác, ngay trong những điều mình chưa hiểu. Để đạt tới điều ngươi không biết, ngươi phải đi qua con đường ngươi không biết!” - Gioan Thánh Giá.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Giêsu, dù lòng con chưa vững, xin vẫn cứ sai con. Xin cho con biết yêu mến việc gặp Chúa mỗi ngày, để không giữ lại điều đã thấy, và không nín lặng điều đã tin!”, Amen.

Suy tư:

Có khi nào bạn cảm thông và cảm thương cho các linh mục và những người làm truyền thông về việc phải chia sẻ - phải nói những cảm nghiệm sống đạo của riêng mình - trong lúc chính họ cũng thấy không rõ điều mình nói? Những mầu nhiệm càng lớn lao thì trí óc con người càng cảm nghiệm sự nghèo nàn của ngôn từ và lý luận: nhập thể, thập giá - phục sinh, sự quan phòng, tình yêu của Thiên Chúa. Đó là chưa kể đến những lúc Chúa cho nhiều tâm hồn trải qua giai đoạn ‘khô hạn và mù mịt thiêng liêng’ để họ cảm nghiệm sự nghèo nàn bất lực của linh hồn.

Đừng nghĩ chỉ có các nhà giảng thuyết phải nói về Chúa, mà chính mỗi Ki tô hữu đều phải thể hiện niềm tin của mình như một cách thông truyền sứ điệp Chúa Phục Sinh cho anh em mình, ai nấy cũng đều phải nhức đầu và nỗ lực bước đi trên con đường hẹp của niềm tin. Điều quan trọng không phải là lý luận mà là gặp gỡ Đức Ki tô, phó thác cho Ngài những vết thương rướm máu của tâm hồn mình và của Giáo hội… để Chúa yêu thương và dìu ta tiến bước trên con đường nên thánh.