Danh sách Blog của Tôi

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2026

Mặc tấm áo mới



 Thứ Sáu tuần XXII thường niên

1 Cr 4,1-5; Lc 5,33-39

TGM. Jos Ngô Quang Kiệt

Hôm nay tôi bắt đầu bước vào tuổi 75. Theo Giáo luật tuổi 75 là tuổi được nghỉ mọi nhiệm vụ, mọi công việc. Mở ra một thời kỳ mới. Có nhiều người rất hăng say hoạt động. Nhưng khi nghỉ hưu thì hụt hẫng. Thậm chí có người mau chóng suy sụp và bị đột quỵ.  Lời Chúa hôm nay dạy tôi cách sống thời kỳ mới trong cuộc đời. Thư Côrintô dạy: “Chớ gì thiên hạ coi chúng tôi như những đầy tớ của Chúa Kitô, những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Mà người ta chỉ đòi hỏi ở người quản lý một điều, là phải chứng tỏ lòng trung thành”. Người ta hụt hẫng khi giã từ nhiệm vụ vì quá gắn bó với nhiệm vụ và công việc. Vì nghĩ rằng mình vẫn còn năng lực. Vì nghĩ rằng người khác vẫn cần đến mình. Nhưng thực chất là chính mình cần công việc, cần người khác, cần được công nhận.

Thực ra chúng ta chỉ là người tôi tớ của Chúa. Thánh Tông đồ dạy: điều quan trọng duy nhất của người tôi tớ đó là trung thành. Nhưng ta đặt lòng trung thành sai chỗ khi quá trung thành với công việc. Trung thành chính là trung thành với Chúa là chủ nhân của ta. Và người tôi tớ trung thành thì luôn luôn sẵn sàng cho mọi nhiệm vụ được chủ trao phó. Phải sẵn sàng thay đổi theo ý chủ.

Bài Tin mừng dạy ta phải trung thành như thế nào. Trung thành không phải là khư khư với cái cũ. Nhưng là phải đổi mới theo Chúa. Chúa Giêsu đưa ra hai hình ảnh thật đẹp và ý nghĩa.



Hình ảnh thứ nhất: Tấm áo mới: “Chẳng ai xé áo mới lấy vải vá áo cũ”. Mặc áo cũ quen rồi nên người ta tiếc và muốn giữ lại. Đến nỗi muốn xé tấm áo mới để lấy vải vá vào áo cũ. Cuộc đời của ta, đặc biệt của người đã sống 75 năm, là manh áo cũ. Đã rách nát, tả tơi, tàn tạ. Vậy mà ta cứ gắn bó muốn duy trì con người cũ ấy mãi. Càng già càng khó thay đổi. Đến nỗi cả cái giường cái chiếu không quen cũng không ngủ được.

Chúa Giêsu là tấm áo mới. Nếu ta trung thành với Chúa thì phải cởi bỏ manh áo cũ rách nát đi. Để mặc lấy Chúa là tấm áo mới. Manh áo cũ là con người tội lỗi. Bao nhiêu năm sống ở đời là bấy nhiêu lầm lỗi. Manh áo cũ là nhiệm vụ cũ. Là nhiệm sở cũ. Là những người cũ từng gắn bó với ta và ta gắn bó với họ. Là sức khoẻ tuổi thanh xuân. Là trí khôn minh mẫn thời sung sức. Là những công trình lấp biển vá trời. Đã hư hỏng, mục nát rồi. Tấm áo mới là Chúa Kitô. Là cuộc sống mới. Là siêu thoát mọi giá trị thế gian. Như thư Côrintô dạy: “Đối với tôi, dù có bị anh em hay toà đời xét xử, tôi cũng chẳng coi là gì. Mà tôi, tôi cũng chẳng tự xét xử lấy mình…Đấng xét xử tôi chính là Chúa”.

Đừng xé áo mới để vá vào áo cũ. Đừng bắt Chúa phải làm theo ý ta. Đừng tiếc nuối manh áo cũ rách. Hãy xé toạc áo cũ là cuộc đời xưa cũ. Vất cho xa. Để mặc tấm áo mới là Chúa Kitô.

Hình ảnh thứ hai: Rượu mới. Chúa Giêsu chính là rượu mới. Cuộc đời tôi là bầu da cũ. Bầu da cũ đã lỗi thời. Chỉ chứa được thứ rượu cũ. Rượu cũ là thế gian. Là cuộc đời xưa cũ. Là vinh quang trần thế. Là sướng, khổ, vinh, nhục. Là những giấc mơ danh, lợi, thú. Đã chìm vào quá khứ. Đã nhạt như nước ốc. Đã chua như giấm. Đã hết hương vị. Đã uống cạn rồi. Chúa Giêsu là rượu mới. Tràn đầy sức sống. Toả hương thơm ngất ngây. Là hương vị thiên đàng. Là hương vị tình yêu. Là hương vị hạnh phúc. Nhưng chất rượu mới Giêsu quá mạnh. Bầu da cũ cuộc đời tôi chứa không nổi. Phải thay bầu da mới. Phải trở thành con người mới. Rượu mới thiên đàng cần bầu da từ bỏ trần gian. Rượu sức sống thiêng liêng đòi bầu da siêu thoát trần thế. Rượu tình yêu đòi bầu chứa quên mình. Rượu hạnh phúc phải chứa trong bầu da say mến.



Thay đổi là trung thành với Chúa Giêsu. Từ bỏ con người cũ là trung thành với tình yêu của Chúa. Từ bỏ cuộc sống cũ là trung thành với ơn gọi theo Chúa. Từ bỏ những nết xấu cũ là trung thành với lời mời gọi sám hối của Chúa. Từ bỏ những công việc cũ là trung thành với đức tin vào Tin Mừng.

Và khi từ bỏ manh áo cũ và bầu da cũ để mặc lấy Chúa là manh áo mới và tiếp nhận thứ rượu mới, ta sẽ tràn đầy hân hoan. Như lời Thánh vịnh Đáp ca: “Hãy lấy Chúa làm niềm vui của bạn, Người sẽ cho được phỉ chí toại lòng”.

Thời kỳ mới phải có con người mới. Hãy mạnh dạn vất bỏ manh áo cũ mục nát, bầu da cũ quá khứ. Hãy mặc lấy Chúa Kitô là tấm áo mới. Hãy chuẩn bị bầu da mới để đón nhận Chúa Kitô là chất rượu mới. Rượu tình yêu. Rượu sự sống. Rượu hạnh phúc.

Xin mọi người cầu nguyện cho tôi được biết sống thời kỳ mới trong Chúa Kitô. Trong chiêm ngắm Chúa. Trong cầu nguyện kết hợp. Để tôi được luôn ở bên chàng rể Kitô. Được dự tiệc cưới Nước Trời. Được hân hoan trong hạnh phúc không bao giờ vơi cạn.


CÂU CHUYỆN VỀ ĐAU VÀ HẬN - CÒN ĐAU, NHƯNG KHÔNG CÒN HẬN …



Lm Giuse Ngô Mạnh Điệp 

Cha Vinh đang ngồi soạn bài giảng cho Thánh lễ Chúa Nhật thì điện thoại reo. Đầu dây bên kia là cha quản lý nhà hưu dưỡng linh mục, giọng trầm xuống: Cha Vinh à, cha Bảo yếu lắm rồi, bác sĩ nói có lẽ không qua khỏi tuần này. Ngài có nhắc đến cha, muốn gặp mấy anh em học trò cũ, nếu được thì cha thu xếp lên thăm ngài.

 Cha Vinh cúp máy, ngồi lặng rất lâu trước trang bài giảng còn dang dở. Cái tên cha Bảo vừa vang lên đã kéo cả một khoảng ký ức mười lăm năm trước ùa về, không phải những kỷ niệm êm đềm của đời tu, mà là những đêm cha từng nằm trong phòng nội trú chủng viện, úp mặt vào gối, cố không để bạn cùng phòng nghe thấy mình khóc.

 Ngày ấy, cha Bảo là cha giám đốc ơn gọi, người nắm trong tay quyền quyết định ai được tiến bước, ai phải dừng lại. Cha Vinh, khi đó còn là thầy Vinh, một chủng sinh năm cuối, đã từng bị cha Bảo gọi lên phòng, nói thẳng rằng thầy không có tinh thần vâng phục, rằng thầy thiếu ơn gọi, chỉ vì một lần thầy dám góp ý thẳng thắn trong buổi họp về cách phân chia công việc phục vụ, một điều mà thầy tin là bất công với các thầy nhỏ tuổi hơn. Từ đó, thầy Vinh bị đưa vào một dạng diện theo dõi đặc biệt, bị trì hoãn

chịu chức phó tế một năm so với các bạn cùng lớp, dù không ai đưa ra được lý do rõ ràng nào ngoài những nhận xét mơ hồ, cảm tính. Có những buổi họp, thầy nghe kể lại rằng cha Bảo đã nói về mình trước các cha giáo khác bằng giọng điệu mỉa mai, như thể thầy là một trường hợp cá biệt cần phải dạy cho một bài học.

 Năm ấy, thầy Vinh đã nghĩ đến việc rời chủng viện, không phải vì mất ơn gọi, mà vì thầy kiệt sức trước sự bất công mà mình không có cách nào chứng minh hay biện hộ. Chỉ nhờ một cha linh hướng khác, người đã âm thầm đồng hành, lắng nghe, và khuyên thầy đừng để một con người, dù đang nắm quyền quyết định, trở thành lý do khiến thầy đánh mất tiếng gọi mà thầy tin là đến từ chính Thiên Chúa, thầy mới đủ sức ở lại, đủ sức chịu đựng thêm một năm bị nhìn bằng ánh mắt nghi ngờ, để rồi cuối cùng cũng được tiến chức, dù muộn hơn bạn bè cùng lớp.

 Mười lăm năm làm linh mục, cha Vinh hiếm khi nhắc lại chuyện cũ, ngay cả trong những buổi tĩnh tâm riêng. Cha vẫn dâng lễ, vẫn giảng về sự tha thứ cho giáo dân, vẫn tin mình đã bỏ qua chuyện xưa từ lâu. Nhưng chỉ một cuộc điện thoại báo tin cha Bảo hấp hối, cha mới nhận ra, có một góc trong lòng mình, cái góc ấy chưa bao giờ thật sự được dọn sạch, chỉ là cha đã quen sống chung với nó, như người ta quen sống chung với một vết sẹo cũ, tưởng đã lành nhưng vẫn còn ê ẩm mỗi khi trời trở gió.

 


Cha ngồi trước bàn thờ nhỏ trong phòng riêng, nhìn lên tượng chịu nạn, để cho những cảm xúc lộn xộn trong lòng tự do trào ra, không cố kìm nén như cha vẫn quen làm trước mặt giáo dân.

Có cả sự giận dữ, dù đã nguội bớt nhưng vẫn còn đó. Có cả một câu hỏi cứ trở đi trở lại suốt bao năm: tại sao một người có trách nhiệm đào tạo, hướng dẫn những tâm hồn trẻ bước theo Chúa, lại có thể đối xử bất công với chính học trò của mình như vậy. Và cũng có cả một nỗi thương cảm mơ hồ, khi nghĩ đến hình ảnh cha Bảo bây giờ, một ông già gần chín mươi tuổi, nằm một mình trên giường bệnh, chờ đón cái chết.

 Cha Vinh nhớ lại những năm làm linh mục của chính mình, những lần cha được giao nhiệm vụ đồng hành, hướng dẫn các thầy trong giai đoạn tập sự tại giáo xứ. Có những lúc, khi thấy một thầy nào đó cứng đầu, dám nói ngược ý mình, cha cũng từng cảm nhận trong lòng một cơn bực dọc dâng lên, một cám dỗ muốn dùng quyền của mình để dạy cho một bài học, y hệt điều cha Bảo từng làm với cha. Mỗi lần như vậy, cha lại nhớ đến những đêm khóc thầm năm xưa, và cha tự nhủ, mình sẽ không bao giờ để nỗi đau người khác gây ra cho mình, biến thành nỗi đau mình gây ra cho người khác. Có lẽ, không nhận ra, chính cha Bảo, qua sự bất công của ông, đã vô tình dạy cho cha bài học lớn nhất về cách một người đào tạo không nên làm, và nhờ đó, cha đã cố gắng trở thành một người hướng dẫn khác hẳn, kiên nhẫn hơn, công bằng hơn, biết lắng nghe hơn.

 Nhưng bài học ấy không xóa được vết thương. Cha Vinh hiểu rõ điều đó. Cha có thể đã trở nên tốt hơn nhờ chính nỗi đau ấy, nhưng điều đó không có nghĩa là nỗi đau chưa từng tồn tại, hay cha đã thật lòng buông bỏ được nó.

 Cha quỳ xuống, chắp tay, và lần đầu tiên sau nhiều năm, cha cầu nguyện thẳng thắn về chuyện này, không né tránh, không vội vàng nói những lời tha thứ sáo rỗng mà lòng chưa thật sự sẵn sàng.

 Lạy Chúa, con không dám nói con đã hoàn toàn tha thứ cho cha Bảo, vì nếu con nói vậy lúc này, có lẽ con đang nói dối Chúa và dối chính mình. Con vẫn còn nhớ những đêm con khóc một mình, vẫn còn nhớ ánh mắt nghi ngờ của các cha giáo khác nhìn con suốt một năm trời, chỉ vì lời nhận xét của một người. Con không biết cha Bảo có bao giờ nhận ra mình đã bất công với con hay không, có bao giờ áy náy hay không. Nhưng lạy Chúa, dù lòng con vẫn còn đau, con xin chọn một điều: con không muốn mang oán hận này theo con đến cuối đời. Con không muốn khi cha Bảo nằm xuống, lòng con vẫn còn một góc reo mừng vì ông ấy phải trả giá, hay còn ấm ức vì chưa từng được nghe một lời xin lỗi. Xin giúp con phân biệt được, giữa việc còn đau vàviệc còn hận. Con nghĩ, con vẫn còn đau, lạy Chúa, nhưng xin đừng để con còn hận.




 Cầu nguyện xong, cha Vinh không thấy lòng mình bỗng dưng nhẹ bẫng như trong những câu chuyện đẹp người ta hay kể. Cha vẫn thấy một chút nghẹn nơi ngực, một chút gì đó vẫn còn cứng lại khi nghĩ đến gương mặt cha Bảo năm xưa. Nhưng cha biết mình đã quyết định xong một điều: cha sẽ lên thăm.

Chiều hôm sau, cha Vinh đến nhà hưu dưỡng. Cha Bảo nằm đó, gầy guộc, hơi thở khó nhọc, đôi mắt từng sắc lạnh năm nào giờ chỉ còn là hai hốc sâu mờ đục. Nhận ra cha Vinh, cha Bảo cố mấp máy môi, run rẩy đưa tay ra. Cha Vinh nắm lấy bàn tay khô gầy ấy, không nói được gìnhiều, chỉ ngồi xuống bên giường.

 Cha... xin lỗi... ngày xưa... cha đã không công bằng với con, cha Bảo thều thào, từng chữ đứt quãng vì hơi thở yếu ớt. Lúc đó cha... cứng nhắc quá... cha xin lỗi.

 Cha Vinh cảm thấy nước mắt mình chảy xuống, không kìm được. Đó không phải là những giọt nước mắt của một chiến thắng, của một sự hả hê vì cuối cùng đã được nghe lời xin lỗi chờ đợi suốt mười lăm năm. Đó là những giọt nước mắt của một điều gì đó rất con người, rất thật, khi hai vết thương cũ, một bên là người đã gây ra, một bên là người đã chịu đựng, cùng chảy máu lần cuối trước khi khép lại. Con không giữ gì trong lòng đâu, thưa cha, cha Vinh nói, giọng khàn đi. Con đã cầu nguyện rồi. Con chọn không hận cha.

 Cha Bảo nhắm mắt lại, một giọt nước mắt lăn xuống khóe mắt nhăn nheo, và bàn tay ông siết nhẹ tay cha Vinh, như một lời cảm ơn không thành tiếng.

 Ba ngày sau, cha Bảo qua đời. Trong Thánh lễ an táng, cha Vinh được mời đồng tế, và khi đến phần giảng, cha đứng lên, kể lại đôi điều về người thầy cũ, không tô hồng, không giấu đi những năm tháng khó khăn, nhưng cũng không một lời oán trách. Cha chỉ nói một câu, mà sau này nhiều người trong nhà thờ hôm ấy vẫn còn nhớ mãi:

Có những người thầy dạy chúng ta bằng những bài học đẹp đẽ họ trao cho ta. Nhưng cũng có những người thầy, dù không cố ý, lại dạy ta bằng chính nỗi đau họ gây ra, để ta học được điều ngược lại với những gì họ đã làm. Con xin cảm ơn cha Bảo, vì ngay cả trong sự bất công ngày xưa, ngài cũng đã dạy con một bài học, bài học về việc con không bao giờ muốn trở thành người thầy như vậy với bất cứ ai. Và hôm nay, con muốn nói lời tạm biệt ngài, không phải bằng lòng hận thù con đã từng mang, mà bằng một lời cầu nguyện, xin Chúa đón nhận ngài vào lòng thương xót vô biên của Người, như Người vẫn hằng đón nhận tất cả chúng con, những kẻ yếu đuối và có lúc đã làm tổn thương nhau.  

- Tủ sách dịch Công giào…



Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2026

CẢM THƯƠNG NGƯỜI LẦM LỔI



LINH MỤC IGNATIO TRẦN NGÀ


Suy niệm Tin mừng Mat-thêu 18, 15-20 - Chúa nhật 23 thường niên

Sứ điệp: Yêu thương, cảm thông với những ai lầm lạc và tìm cách dìu dắt họ bước theo đường lối Chúa.

***
Một người mù đang dò đường, đi hơi vội vì trời giông tố và sắp đổ mưa. Ông vô tình xông vào hàng rào kẽm gai bên lề đường, gai móc rách quần áo và da thịt. Những người qua đường thấy vậy thì có những thái độ khác nhau:

- Hạng người thứ nhất là những người không biết ông bị mù nên trách móc: “Người gì đâu mà bất cẩn, dại dột… đường thẳng không đi, lại cứ hàng rào kẽm gai mà xông vào, chắc là đang say xỉn!”
Tương tự như thế, có nhiều người hễ thấy người khác lầm lỗi thì lên án, chửi rủa, trách móc… dù chẳng biết nguyên nhân, chẳng tìm hiểu ngọn nguồn.

- Hạng thứ hai là những người vô cảm vô tâm, khi thấy người người mù lâm nạn như thế, chỉ ngoái cổ lại nhìn rồi thinh lặng bỏ đi.

Tương tự như thế, khi thấy người khác sa vào tội lỗi, nhiều người chọn thái độ im lặng, dửng dưng…
- Hạng người thứ ba là những người tốt bụng, tỏ lòng thương xót, chạy đến hỏi han, khử trùng vết thương, rồi dìu ông ra khỏi hàng rào kẽm gai.

Tương tự như thế, có những người nhân đức, khi thấy người sa vào tội lỗi, họ tìm cách khuyên lơn, dạy dỗ người có tội ăn năn sửa mình.
Còn chúng ta, chúng ta thuộc hạng người nào trong ba thành phần trên đây?
- Một là chỉ trích, phê bình, lên án, trách móc người có tội, mặc dù chưa biết rõ đầu đuôi sự việc thế nào mà cũng “ngứa miệng” phán xét, phê bình người khác.
- Hai là thinh lặng làm ngơ trước những sai lỗi của người khác. Ứng xử cách này xem ra khỏe khoắn, nhẹ nhàng…

- Ba là cảm thương, khuyên lơn, dạy bảo cho người lầm lỗi trở về đàng lành. Đây là việc Chúa Giê-su truyền dạy chúng ta phải làm, qua đoạn Tin mừng Mát-thêu được trích đọc hôm nay, Chúa nói: “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em. Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân. Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội thánh” (Mt 18, 15-17).

Cảm thương người tội lỗi vì họ mù quáng
Người sa vào tội lỗi cũng y như người mù vương vào hàng rào kẽm gai. Họ sa vào tội lỗi vì họ “không thấy đường” chứ không phải vì cố tình cố ý.

Nhà hiền triết Socrate mạnh mẽ khẳng định rằng: “Không ai cố tình làm điều ác.” Đúng vậy, sở dĩ người ta gây ra tội ác là vì không am hiểu, thiếu khôn ngoan, không đủ sáng suốt để phân định đúng sai… Đây cũng là một thứ mù, thường được gọi là mù quáng. Mù quáng còn tai hại hơn mù mắt nhiều lần. Vì thế, họ đáng thương hơn là đáng trách.

Trong cuộc thương khó, Chúa Giê-su không lên án những người phỉ báng, xỉ nhục, hành hung Ngài cách dữ dằn thô bạo và đóng đinh Ngài vào thập giá cách dã man… Trái lại, Ngài thương xót họ vì họ mù quáng, không biết việc mình làm. Thế nên Ngài tha thiết cầu xin Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34).

Lạy Chúa Giê-su,
Xin ban cho chúng con tấm lòng yêu thương và cảm thông sâu sắc đối với những ai lầm lạc, nhờ đó chúng con có thể yêu mến họ chân thành và tìm cách dìu dắt họ bước theo đường lối Chúa. Amen.

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2026

BÀI THI CỦA BÀ GIÁO O'NEILL



Tin Mừng Chúa nhật 23 TN A

 

Lm. Mark Link, S.J.


Chủ đề: “Các Kitô hữu có bổn phận giúp đỡ anh chị em mình làm điều thiện.”

 

Một phụ nữ làm việc ở nhà hàng tiếng tăm nọ từng tuyên bố không theo tôn giáo nào cả, bà nói với một vị linh mục: “Thưa cha, tôi không muốn làm cha thất vọng, nhưng trong số kẻ bê bối nhất tôi từng gặp trong nghề nghiệp của tôi lại có những Kitô hữu rất siêng năng đi nhà thờ.”

Linh mục đáp lại: “Ðúng vậy, trong số các Kitô hữu, không may vẫn có những người tồi tệ, không khác gì trong số những người ngoài cũng có những người tồi tệ như vậy.”

 

Người phụ nữ đáp lời: “Thưa cha, thế thì không phải các Kitô hữu vẫn được xem là đặc biệt hơn sao?”

 

Vị linh mục buồn bã nhìn bà ta nói: “Ðúng thế, đúng thế, họ được xem là phải sống tốt hơn!”

 

Cuộc đàm thoại trên hẳn khiến anh chị em ngạc nhiên.  Các Kitô hữu thường xuyên đi nhà thờ hẳn khác hơn những kẻ không đi nhà thờ chứ?  Chúng ta hãy xem xét ba trường hợp sau:

 

Một người bán vé xe đưa đón ở phi trường nói với một ông bố: “Thưa ông, con trai ông có vẻ trẻ hơn tuổi của nó: ông nên mua nửa vé thôi.  Nếu tài xế có hỏi, ông cứ nói là thằng bé dưới 12 tuổi.  Như thế ông sẽ đỡ tốn vài đola!”  Giả sử anh chị em là ông bố ấy, anh chị em sẽ trả lời người bán vé thế nào? 

 

Rồi một trường hợp khác.  Một bà mẹ bắt gặp đứa con gái 5 tuổi của mình cầm một cây kẹo mà nó ăn cắp sau khi từ siêu thị đi ra.  Giả sử anh chị em là bà mẹ ấy, anh chị em sẽ làm gì?

 

Và đây trường hợp sau cùng.  Giả sử bạn nghe đứa bạn thân nhất của con bạn nói với nó: “Nếu mày cần hỏi bất cứ câu gì trong kỳ thi toán, mày cứ ra dấu cho tao.”  Ðặt trường hợp thằng bé ấy là con của anh chị em, thì anh chị em sẽ cứ tiếp tục đọc báo hay sẽ đặt báo xuống và nói chuyện với cả hai cậu bé?

 

Tôi không biết anh chị em sẽ xử lý thế nào trong những trường hợp như thế, nhưng tôi biết rõ Chúa Giêsu sẽ xử lý thế nào.  Câu trả lời ấy được tìm thấy trong các bài đọc hôm nay.  Cả ba bài đều tập trung vào bổn phận hỗ tương của người Kitô hữu phải có đối với nhau.  Các Kitô hữu không chỉ phải làm điều thiện mà còn phải giúp đỡ kẻ khác làm điều thiện nữa.  Chúa Giêsu bảo các môn đệ: “Các con là muối đất... các con là ánh sáng thế gian...  Ánh sáng các con phải chiếu tỏa trước mặt thiên hạ” (Mt 5 : 13-16).

 

Chúng ta hãy trở lại với ba trường hợp trên.  Câu trả lời của người Kitô hữu đối với từng trường hợp trên như thế nào?  Một kẻ theo Chúa Giêsu sẽ nói gì với người bán vé xe là kẻ đã nói với ông bố nọ: “Ông cứ nói với tài xế xe là thằng bé con ông dưới 12 tuổi?”  Trường hợp này thực sự đã xảy ra ở Chicago.  Ông bố ấy đã trả lời làm sao?  Ông ta bảo với người bán “Tôi rất trân trọng hảo ý của ông, nhưng tôi muốn con tôi thành thật - dù điều đó gây bất lợi cho nó.”  Còn bà mẹ bắt gặp đứa con gái của mình ăn cắp cây kẹo đã xử lý như thế nào?  Ðây cũng là một câu chuyện có thực đã xảy ra.  Tác giả bài viết trong tờ báo Dallas Morning News (Tin tức Dallas buổi sáng) khi thuật lại câu chuyện trên đã nói rằng bà mẹ nọ đã bảo đứa bé trả lại cây kẹo cho vị quản đốc, và ông này nói: “Ôi đừng lo gì chuyện đó.  Nó có đáng gì đâu.  Mỗi ngày, đám nhân viên của tôi ăn cắp nhiều hơn thế nhiều!”

 

Như tác giả bài viết kể lại, đây thực là một câu trả lời khó tin nổi.  Viên quản đốc đã gây cho cháu bé ấn tượng ăn cắp không quan trọng gì nếu chỉ là vật nhỏ mọn.  Thực sự dù là ăn cắp vật lớn hay nhỏ thế nào đi nữa, thì ăn cắp vẫn luôn là điều xấu.

 

Và cuối cùng hãy xét đến trường hợp thằng bạn của đứa con trai chúng ta đồng ý gian lận để giúp đỡ con mình trong bài thi toán.  Jerome Weidman, tác giả cuốn “Hand of the Hunter” (Tay người thợ săn) khi còn bé đã từng can dự vào một trường hợp như trên.  Ông kể lại cách đây 30 năm, ông vào học ở một trường công Nữu Ước.  Bà giáo dạy toán lớp ba của ông tên là bà O' Neill.  Ngày nọ bà ra cho lớp một bài thi.  Khi chấm bài bà nhận ra 12 cậu trai đã trả lời sai một cách giống y như nhau đối với cùng một câu hỏi.  Qua ngày sau, bà yêu cầu 12 cậu bé ấy ở lại lớp sau khi tan học.  Sau đó, không hề kết tội đứa nào, bà chỉ viết lên trên bảng câu này: “Tính chân thực của một người được thể hiện trong những điều mà kẻ ấy sẽ làm - dù biết rằng không ai hay biết.”  Ðoạn bà ghi tên tác giả câu nói trên: Thomas Babington Macaulay.  Weidman viết: “Tôi không rõ về 11 cậu kia ra sao, chỉ có một đứa trong số đó là chính tôi, có thể nói rằng: Ðây là bài học đơn sơ nhưng quan trọng nhất trong đời tôi.”

 

Như thế chúng ta đã thấy ba mẫu người Kitô giáo xử lý như thế nào trong ba trường hợp khác nhau trên.  Ba Kitô hữu này đã lưu tâm đến lời giáo huấn của Chúa Giêsu dạy phải giúp đỡ anh chị em sống cuộc sống Kitô hữu.  Ba Kitô hữu này đã nghiêm chỉnh chấp nhận lời Chúa Phán với Êdekien trong bài đọc thứ nhất hôm nay: “Nếu... ngươi không răn dạy kẻ xấu thay đổi cách ăn ở của nó thì Ta sẽ qui trách nhiệm cho ngươi.”  Ba Kitô hữu này đã nghiêm chỉnh chấp hành lời thánh Phaolô gởi tín hữu Roma trong bài đọc thứ hai hôm nay: “Nếu anh em yêu mến kẻ nào, anh em sẽ không bao giờ làm hại kẻ ấy.”  Và cuối cùng, ba Kitô hữu nầy cũng đã nghiêm chỉnh tuân theo lời Chúa Giêsu trong phúc âm hôm nay: “Nếu anh em ngươi phạm lỗi với ngươi, hãy đến gặp nó và chỉ cho nó biết lỗi lầm của nó.  Tuy nhiên phải làm điều ấy một cách âm thầm giữa ngươi và nó thôi.”

 

Như thế ba Kitô hữu nêu trên đã gây ấn tượng như thế nào cho những người nghe họ nói?  Tôi xin được lập lại điều Jerome Weidman đã nói: “Tôi không rõ về 11 cậu kia ra sao, chỉ biết một đứa trong số đó là chính tôi, thì tôi có thể nói rằng: Ðây là bài học đơn sơ nhưng quan trọng nhất trong đời tôi.”

 

Edmund Burke nói: Chỉ cần những người tốt cứ giữ yên lặng, là điều xấu sẽ phát triển ngay.”

 

Trong những trường hợp trên, ba Kitô hữu nọ đã không giữ yên lặng.  Họ mời gọi chúng ta noi gương họ.

 

Ðể kết thúc, chúng ta hãy cầu nguyện:

 

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con ghi lòng tạc dạ những lời Chúa kêu gọi chúng con đi theo làm môn đệ Ngài:
Các con là muối đất, nếu muối nhạt đi thì lấy gì ướp nó mặn lại được.  Nó chẳng còn ích gì chỉ đáng quẳng ra ngoài cho người ta chà đạp lên đó.  Các con là ánh sáng thế gian, một thành xây trên núi không thể giấu được.  Không ai đốt đèn rồi đặt dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn để soi cho mọi người trong nhà.  Cũng thế, ánh sáng các con phải toả chiếu trước mặt mọi người để họ trông thấy việc các con làm mà ngợi khen Cha các con, là Ðấng ngự trên trời” (Mt 5: 13-16).


Thứ Năm, 3 tháng 9, 2026

ĐƯỢC CẢ - BỎ CẢ

 


Lời Chúa thứ năm tuần 22 TN

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người!”.

“Trời là của tôi, đất là của tôi; mọi sự là của tôi, vì Đức Kitô là của tôi và hoàn toàn cho tôi!” - Gioan Thánh Giá. 

Kính thưa Anh Chị em,

Khi Đức Kitô là của mình và hoàn toàn cho mình, người ta không còn sợ mất điều gì. Phêrô vừa được cả một mẻ cá, lại bỏ mọi sự mà theo Chúa Giêsu - ‘được cả, bỏ cả’.

Sau một đêm trắng tay, Phêrô vừa có mẻ cá lớn nhất đời mình: lưới gần rách, thuyền gần chìm, bạn chài phải đến trợ giúp. Vậy mà khi vào bờ, họ “bỏ hết mọi sự mà theo Người”. Bản Hy Lạp viết panta - “tất cả”. Chính lúc có nhiều để giữ, chữ “tất cả” mới cho thấy sức nặng của nó. Họ không bỏ một đêm thất bại, nhưng bỏ buổi sáng thành công nhất; không rời thuyền rỗng, nhưng rời thuyền đầy. Hoá ra, lưới trống thử lòng tin; lưới đầy thử tự do.

Điều gì khiến Phêrô có thể bỏ như thế? Trước mẻ cá, ông gọi Chúa Giêsu là “Thầy”; sau mẻ cá, ông quỳ xuống thưa, “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!”. Cá nhiều không làm Phêrô mờ mắt; nó làm mắt ông sáng ra để nhận biết Đấng đang ở trong thuyền. Mẻ cá đầy thuyền vẫn quý; Đấng làm đầy đời ông còn quý hơn. “Ai có Thiên Chúa thì chẳng thiếu gì; một mình Thiên Chúa là đủ!” - Têrêxa Avila.

Chữ “tất cả” trở lại trong thư Phaolô: “Tất cả đều thuộc về anh em”, từ thế gian, sự sống, sự chết, hiện tại đến tương lai. Nhưng đỉnh cao không nằm ở chỗ chúng ta có tất cả, mà ở chỗ “anh em thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô thuộc về Thiên Chúa”. Thánh Vịnh đáp ca đưa trật tự ấy về tận nguồn: “Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài!”. Khi biết mình thuộc về Đức Kitô, chúng ta có thể nhận mà không chiếm giữ, sử dụng mà không lệ thuộc, trao lại mà không thấy mình nghèo đi. Phêrô bỏ điều thuộc về ông để đi theo Đấng mà chính ông thuộc về.

Phần chúng ta, thường xin Chúa cho lưới đầy, nhưng ít khi xin đủ tự do trước một mẻ cá lớn. Không phải ai cũng được gọi bỏ nghề, rời nhà hay trao lại công việc; nhưng ai cũng được gọi sống sao để những gì đang có không trở thành sợi dây buộc mình. Tự do không phải là không có gì trong tay; tự do là có thể mở tay khi Chúa gọi.

Anh Chị em,

Nghe Phêrô thưa, “Lạy Chúa, xin tránh xa con!”, Chúa Giêsu làm điều ngược lại. Ngài đến gần và trao cho ông một tương lai: “Từ nay, anh sẽ là người thu phục người ta!”. Trên thập giá, Đức Kitô đến gần nhân loại hơn bao giờ hết, không để kể tội, nhưng để tha tội và thu phục lòng người. Phục Sinh cho thấy Ngài không lấy đi tất cả, nhưng trao chính mình cho từng người. “Không dại gì khi trao điều không thể giữ để nhận điều không thể mất!” - Jim Elliot. Phêrô bỏ lại tất cả không phải để trắng tay, nhưng để bước theo Đấng sẽ trở thành Tất Cả cho đời mình - ‘được cả, bỏ cả’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi lưới con trống, cho con biết tin; khi lưới con đầy, cho con tự do; và khi Chúa gọi, cho con dám bỏ cả mà theo Ngài!”, Amen.

Suy tư:

Trong lịch sử Giáo hội, có những người đang trên đỉnh cao của danh vọng, thu nhập ngất trời, sắc đẹp tuyệt vời, một gia tài đồ sộ và một tương lai sáng lạn... lại bỏ tất cả để đi tu, điều đó gây ngạc nhiên cho xã hội; có những kẻ bỏ một cuộc sống bình thường để dấn thân (chịu khổ) vì những người cùi, tàn tật, nghiện ngập, tù tội... chỉ vì tình yêu dành cho Thiên Chúa, để yêu Chúa Giê su trong người bệnh và được Chúa làm gia nghiệp. Lý tưởng của họ thật cao đẹp và đáng cho chúng ta ngưỡng mộ bắt chước.

Chúa dùng những hoàn cảnh khác nhau để 'quyến rũ' các tâm hồn: có kẻ Chúa cho chứng kiến mẻ cá lạ để họ nhận ra quyền năng của Ngài, có kẻ Chúa cho gặp thất bại và tủi nhục để họ nhận ra sự phù phiếm của trần gian, có kẻ Chúa cho gặp một ai đó - được nghe một câu nói nào đó... đánh động tâm hồn thúc đẩy họ từ bỏ con đường quen thuộc để phiêu lưu theo Thầy.


Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

NHỮNG CÁNH ĐỒNG KHÁC

 

Lời Chúa

Thứ Tư Tuần XXII TN,





Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa!”.

Với tất cả những gì đã qua - tạ ơn; với tất cả những gì sẽ đến - xin vâng!” - Dag Hammarskjöld.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu đã sống trọn hai tâm tình ấy. Ngài rời Capharnaum để đến ‘những cánh đồng khác’; không phải vì đã yêu nơi ấy đủ, nhưng vì tình yêu của Chúa Cha không dừng lại ở một nơi nào.

Đó là một buổi sáng rất dễ khiến người ta muốn ở lại. Chiều hôm trước, Ngài chữa nhạc mẫu Phêrô, rồi đặt tay chữa từng bệnh nhân. Sáng ra, dân chúng tìm đến, cố giữ Ngài lại. Vậy mà Ngài nói, “Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa!”. Bản Hy Lạp viết dei - “phải”; trong Luca, đó là ý muốn của Chúa Cha đã trở thành khát vọng nung nấu tâm hồn Người Con. Cái “phải” ấy không cho phép Ngài dừng lại trong niềm vui của những gì đã qua; Ngài thưa “xin vâng” và cất bước về phía điều chưa biết. “Cuộc đời chỉ có thể được hiểu khi nhìn lại; nhưng phải được sống về phía trước!” - Søren Kierkegaard.

Đám đông nhìn thấy những nhu cầu tưởng như không cùng; Chúa Giêsu nhìn thấy những thành chưa được nghe Tin Mừng. Vì thế, trung thành với sứ mạng không hẳn là làm xong mọi việc tại một nơi, nhưng làm trọn phần được trao trong quãng đời Chúa muốn. ‘Những cánh đồng khác’ không gọi ai lìa bỏ tình yêu cũ; chúng gọi tình yêu ấy lớn lên, trương rộng.

Phaolô cũng dùng ngôn ngữ ấy để đưa Côrintô về sự hiệp nhất. Trước những người nói, “Tôi thuộc về Phaolô”, “Tôi thuộc về Apôllô”, ông tuyên bố, “Tôi trồng, anh Apôllô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên”, bởi “anh em là cánh đồng của Thiên Chúa”. Người trước đi, người sau đến; mỗi người làm phần được trao. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca hoàn tất niềm vui ấy: hạnh phúc của một dân không nằm ở người gieo hay người tưới, nhưng ở chỗ được Chúa ‘chọn làm gia nghiệp’.

Với chúng ta, đến đã khó, đi còn khó hơn. Bởi khi đến, chúng ta chỉ rời một nơi; khi đi, phải rời cả những con người và công trình đã thành một phần đời mình. Chính lòng biết ơn cánh đồng cũ cho chúng ta đủ tự do để thưa “xin vâng” và ra đi. Rời quê, trao việc, lùi lại cho con cái bước tới; ai cũng phải trao lại một cánh đồng. Với người linh mục, lời “Thưa con hứa!” ngày nào trở thành lời tuyên xưng đức tin: cánh đồng thuộc về Chúa - Đấng vẫn cho nó lớn lên cả khi mình không còn ở đó.

Anh Chị em,

Đức Giêsu không chỉ đến các thành khác; cuối cùng, Ngài trở thành hạt giống được gieo ngoài thành. Trên thập giá, mọi sự tưởng như dang dở: môn đệ tan tác, sứ mạng chưa vượt khỏi một miền đất nhỏ, Người Gieo lại bị chôn vùi. Nhưng Phục Sinh cho thấy công trình của Thiên Chúa không kết thúc tại nơi con người tưởng mọi sự đã mất. “Điều ta gọi là khởi đầu thường lại là kết thúc; và kết thúc cũng là bắt đầu!” - T. S. Eliot. Từ sự vùi lấp ấy, chính cuộc ra đi làm nảy sinh ‘những cánh đồng khác’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con tận tâm khi ở lại, tự do khi lên đường và thanh thản vì tin rằng chính Chúa sẽ cho ngày mùa bội thu!”, Amen.

Suy tư:

Bài Tin Mừng và thư 1Cor 3, 1-3 nói với chúng ta vài tâm tình:

-Người Ki tô hữu được mời gọi đóng góp phần mình trong việc mở mang nước Chúa - xây dựng nhiệm thể Chúa Ki tô, người thì đảm nhận việc này kẻ thì việc nọ, việc nhỏ việc lớn tùy khả năng và lòng quảng đại của mỗi người. Thư Thánh Phao lô nói với chúng ta về cơn cám dỗ: cộng đoàn bị cám dõ xếp hạng công trạng, người sứ giả bị cám dỗ bám trụ để an thân - tự phụ và tìm sự vinh vang. Hãy nhớ lời Chúa dạy: khi làm xong mọi việc hãy nói 'chúng tôi chỉ là đầy tớ vô dụng, chỉ làm việc phải làm'. Thánh Phao lô thì dạy: mình chỉ là cộng sự viên của Thiên Chúa, những người tôi tớ giúp cho anh em có đức tin, mình đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho nhưng không. Khi rời nhiệm sở hoặc công việc được giao, người khác sẽ lạnh nhạt với người cũ, đó là chuyện thường, người ta ví 'linh mục như con trâu kéo cày, bao lâu còn được việc thì được trọng dụng, còn lúc đã già yếu - bị quên lãng là lẽ thường.

-Hãy nhớ bài học của Đấng Đáng kính Fx. Nguyễn Văn Thuận: "chọn Chúa chứ không phải công việc của Chúa". Chúa muốn mình ra đi thì Ngài có cách lo cho những chuyện còn lại, “Lạy Chúa, cho con tận tâm khi ở lại, tự do khi lên đường và thanh thản vì tin rằng chính Chúa sẽ cho ngày mùa bội thu!”, Amen.

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2026

NHÀM CHÁN – LỖI CỦA CHÍNH CHÚNG TA

 


Rev. Ron Rolheiser, OMI

 

Năm 2011, quyển sách của tác giả trẻ Bieke Vandekerckhove đã giành giải Sách Thiêng liêng của Năm ở Bỉ.  Với tựa đề, Vị của Thinh lặng [Taste of Silence], quyển sách ghi lại cuộc đấu tranh của cô sau khi bị chẩn đoán mắc bệnh ALS, hay thường gọi là bệnh Lou Gehrig, tình trạng suy thoái thần kinh dẫn đến kết cục là suy nhược cơ thể trầm trọng và sẽ chết không lâu sau đó.  Thật là một chẩn đoán không dễ chấp nhận với một phụ nữ trẻ đầy sinh lực.

 

Nhưng không lâu sau khi bị trầm cảm nội tâm sâu sắc, cô tìm thấy ý nghĩa cuộc đời thông qua suy niệm, thinh lặng, văn học, nghệ thuật, thi ca, và không kém phần quan trọng, là một mối quan hệ cuối cùng đã kết trái thành hôn nhân.  Và thật không ngờ, bệnh tình của cô thuyên giảm, và cô sống thêm hai mươi năm nữa.  Trong nhiều thấu suốt phong phú đã chia sẻ với chúng ta, Bieke có đưa ra một suy tư đáng chú ý về sự nhàm chán.

 

Bàn về sự nhàm chán đang thịnh hành trong thời nay, cô nêu bật một nghịch lý, cụ thể là sự nhàm chán đang tăng mạng giữa chúng ta cho dù mỗi ngày chúng ta đều sản xuất ra đủ loại cải tiến để tránh chuyện đó.  Ngày nay, khi có trong tay các thiết bị công nghệ nối kết chúng ta với mọi thứ, từ tin tức thế giới cho đến ảnh chụp của những người thân yêu đang chơi với con cái họ, chẳng phải chúng ta đã được cách ly khỏi sự nhàm chán hay sao?  Nghịch lý thay, ngược lại thế mới đúng.  Mọi cải tiến công nghệ không xoa dịu nỗi nhàm chán của chúng ta.  Tại sao lại không?  Chúng ta vẫn vật lộn với sự nhàm chán bởi mọi kích thích trong thế giới không hẳn đã có ý nghĩa.  Theo Bieke, ý nghĩa và hạnh phúc không hệ tại nhiều ở chuyện gặp gỡ những người thú vị và khám phá những điều thú vị, mà đúng hơn là hệ tại ở việc hứng thú sâu sắc về những con người và sự vật.

 

Từ thú vị phát xuất từ gốc La Tinh, với hai từ là inter (bên trong) và esse (hiện hữu) và khi kết hợp lại, nghĩa là hiện hữu bên trong sự gì đó.  Mọi sự thú vị với chúng ta khi chúng ta chú tâm đến chúng đủ để thật sự đi vào trong chúng.  Và hứng thú của chúng ta không nhất thiết phải tùy vào khả năng kích thích tự nhiên của sự đó, dù ta vẫn thừa nhận rằng có những sự kiện và cảm nghiệm mạnh mẽ hơn cái khác.  Điều này giải thích sự hứng thú mạnh của ta với những sự kiện thế giới, các giải thể thao lớn, các lễ trao giải, cũng như sự ám ảnh vốn kém lành mạnh hơn với đời sống của những người nổi tiếng.  Có những người, sự vật và sự kiện, tự nhiên thu hút chúng ta hơn và chúng ta muốn ở “bên trong” những cuộc sống và sự kiện đó.

 

Nhưng hầu hết các tin tức thế giới, sự kiện thể thao lớn, các buổi trao giải và đời sống riêng tư của những người nổi tiếng, không phải là chế độ bình thường của ta, không phải là bữa ăn gia đình, nơi làm việc, những buổi đi nhà thờ, những buổi bán hàng từ thiện, lịch sống thường nhật hay những món ta ăn hằng ngày.  Và đây chính là điểm thường khiến ta chịu lấy sự nhàm chán, bởi ta không ở sâu trong hiện thực của những con người và sự kiện đó.  Chính vì thế mà chúng ta thường cảm thấy cuộc sống đều đều, ù lì, và thông lệ.  Nhưng nếu như thế, xét cho cùng, chúng ta đấu tranh với sự nhàm chán, không phải bởi gia đình, nơi làm việc, hàng xóm, giáo xứ, và bạn bè mình không thú vị.  Chúng ta nhàm chán bởi quá bần cùng nội tâm, quá phân tâm hay quá quy ngã, để có thể thật sự hứng thú với những sự đó.  Cảm nghiệm không phải là những gì xảy đến với chúng ta, mà là những gì chúng ta làm với những gì xảy đến với mình.  Enstein đã nói thế đấy.

 

Và Bieke Vandekerckhove cũng nêu bật một nghịch lý khác: Thật nghịch lý khi ta có xu hướng đấu tranh với nhàm chán và trì trệ trong khi ta đang đầy triển nở trong đời, đang khỏe mạnh và làm việc, còn những người như Bieke Vandekerckhove thì mất sức khỏe và chuẩn bị đối diện với cái chết nhưng lại thường thấy sự hồ hởi vui tươi nơi những cảm nghiệm bình thường nhất.

 

Những thấu suốt của Bieke Vandekerckhove rất giống với cảm nghiệm của Rainer Maria Rilke trong quyển Những lá thư gởi Thi sĩ Trẻ [Letters to a Young Poet.]  Như Bieke, ông cũng gợi ý rằng nhàm chán là lỗi của chúng ta, lỗi của một con mắt hờ hững.  Trong những lá thư giữa ông với một thi sĩ trẻ, chàng thi sĩ đã than phiền rằng mình không được tiếp cận đủ với những cảm nghiệm thúc đẩy thi ca, bởi anh sống trong một thị trấn nhỏ nơi hầu như chẳng có chuyện gì thú vị.  Và chàng thi sĩ ghen tị với Rilke, vì ông chu du gần khắp châu Âu và đã gặp đủ mọi kiểu người thú vị.  Với anh, những thấu suốt thi ca của Rilke phần nhiều dựa vào việc được đến những thành phố lớn, gặp những người thú vị, và được những kích thích mà một chàng trai ở thị trấn nhỏ chẳng bao giờ có được.

 

Câu trả lời của Rilke với chàng trai trẻ này đã trở thành câu trả lời kinh điển về vấn đề nhàm chán: “Nếu cuộc sống thường nhật của anh có vẻ nghèo nàn, thì đừng đổ lỗi cho nó, mà hãy bảo rằng mình không đủ thi vị để khơi lên sự phong phú của nó, bởi với người sáng tạo, thì không có sự nghèo nàn và không có không gian nghèo nàn.”

 

Tìm được hứng thú trong đời không hệ tại ở việc chúng ta là ai và gặp ai, nhưng là ở khả năng nhìn sâu vào mọi sự.  Cuộc sống khắp nơi đủ phong phú để cho ta thú vị, nhưng về phần mình ta phải hứng thú trước đã.

 


Suy tư: 

-Sự nhàm chán và sự vô cảm dường như có một sự liên quan mật thiết với nhau. Có thể diễn tả sự vô cảm là sự dửng dưng và không có cảm xúc trước cái đẹp, cái xấu diễn ra trước mắt mình. Chúng ta nhàm chán bởi quá bần cùng(nghèo nàn) nội tâm, quá phân tâm hay quá quy ngã, để có thể thật sự hứng thú với những sự đó. Và quả thực, đó cũng là nguyên nhân của sự vô cảm! Vì quá quy ngã, chúng ta chẳng muốn nghe hết câu chuyện hơi dài người kia đang muốn nói - không muốn gặp người ta nghĩ 'họ chẳng đem lại lợi ích gì'... và cuộc sống của mình và tha nhân cứ nghèo nàn dần đi - từng chút một.

- Để chữa trị sự nhàm chán và để sống có ý nghĩa trong cuộc đời, con người được mời gọi sống đời nội tâm: biết mình, biết người và biết Chúa. Con người thời đại bị nghiện các thiết bị công nghệ và mạng xã hội, hãy sử dụng có chọn lựa và có mục đích. Một số cảnh báo tôi nghĩ là có lý: Đừng dùng chúng để giết thời giờ, đừng biết quá nhiều thứ mà thứ gì cũng sơ sài, đừng lạm dụng AI quá nhiều để mất đi khả năng sáng tạo... và quan trọng nhất là phải duy trì những giờ cầu nguyện, những phút hồi tâm, thói quen tìm hiểu bản văn Kinh Thánh được đọc trong phụng vụ mỗi ngày. Lời Chúa và ơn Thánh Thần sẽ tạo những kích thích nội tâm giúp bạn đi vào chiều sâu của cuộc sống mình đang trải qua, thúc đẩy bạn chia sẻ những điều thú vị của tâm hồn mình cho những người gần gũi hằng ngày.

- Sự công bằng của Thiên Chúa được biểu lộ qua nhiều lãnh vực: nắng mưa trên kẻ lành người dữ, tỷ lệ sinh tự nhiên là bé nam nhỉnh hơn nữ 104/100, không ở đâu thiếu nhân tài, không ở đâu kém điều kiện tạo nên thú vị (interest)... có điều mình có nhận ra và trân trọng hay không.