Danh sách Blog của Tôi

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2026

SỐNG VẬY CÓ UỔNG KHÔNG?



 Lm Giuse Ngô Mạnh Điệp


Quỳnh có dịp ghé thăm đan viện Clara Nghèo vào một buổi chiều, khi theo chân mấy người trong xứ mang chút quà tới biếu các dì. Đây là lần đầu cô đặt chân tới một Đan viện Dòng Kín. Mọi thứ ở đây lặng lẽ và bình an đến lạ, khác hẳn cái nhịp sống ồn ào bên ngoài mà cô đã quen.


Ra tiếp chuyện cô là dì Clara, một nữ tu đã lớn tuổi, gương mặt bình an, ánh mắt hiền hậu. Sau vài câu chào hỏi, hai người ngồi lại nơi phòng khách nhỏ, cạnh khung cửa nhìn ra khu vườn lặng lẽ.

 

Quỳnh nhìn quanh, rồi tò mò hỏi, với sự hồn nhiên của người trẻ: Dì ơi, cho con hỏi cái này, dì đừng cười con nhé. Con thắc mắc mãi. Các dì sống ở đây, trong đan viện này, là cả đời luôn hả dì? Không ra ngoài, không đi đâu sao ạ? Mà sống vậy... ít người biết tới mình, con thấy nó thế nào ấy. Con không hiểu sao các dì lại chọn con đường này. Dì Clara bật cười hiền: Con hỏi hay lắm. Nhiều bạn trẻ tới đây cũng thắc mắc y như con vậy. Để dì kể con nghe một chuyện, rồi con sẽ hiểu.

 

Con có biết hôm nay Hội Thánh mừng lễ thánh nữ nào không? dì hỏi.

Dạ, con không rõ dì ạ. Thánh Clara, đấng sáng lập dòng của các dì. Trong bài Tin Mừng lễ của ngài, Chúa Giêsu nói một câu dì rất thích. Chúa không bảo: các con là vàng của trái đất. Chúa cũng không bảo: các con là kim cương của thế gian. Chúa nói: các con là muối của đất, là ánh sáng của thế gian. Muối với ánh sáng, con thấy đó, là hai thứ tầm thường lắm, đơn sơ lắm. Nhưng thiếu chúng thì cuộc đời khác hẳn.

Quỳnh chăm chú nghe.

Con nghĩ mà xem, dì Clara nói tiếp. Hạt muối, khi nó làm tốt việc của nó, thì mình chẳng để ý tới nó đâu. Ăn món ăn ngon, người ta khen món ăn, chứ có ai reo lên: ồ, muối này tuyệt quá đâu con. Nhưng mà thiếu muối một cái là biết liền, nhạt nhẽo ngay. Đời tu của các dì cũng vậy đó. Âm thầm, không ai thấy, như hạt muối tan vào món ăn. Nhưng con biết không, một thứ đâu cần phải được nhìn thấy thì mới có giá trị. Hạt muối tan biến đi trong món ăn, mà nó làm thay đổi cả món ăn.

 Dì Clara nói tiếp, giọng nhẹ nhàng: Thánh Clara hiểu điều đó. Ngài sống gần như cả đời ẩn khuất trong đan viện. Ngài không đi khắp nơi rao giảng. Ngài không tìm kiếm sự chú ý. Ngài cầu nguyện. Ngài hy sinh. Ngài yêu thương chị em của mình. Ngài trung thành với Chúa. Đời ngài ẩn giấu, như muối tan trong món ăn. Vậy mà hơn tám trăm năm sau, người ta vẫn còn được đánh động vì ngài. Con thấy không, cái đẹp của ơn gọi này là ở chỗ đó. Phần lớn những gì các dì làm đều âm thầm. Không ai thấy các dì cầu nguyện lúc tinh mơ. Không ai thấy những hy sinh nhỏ bé mỗi ngày. Nhưng một điều không cần được thấy, thì vẫn cứ có giá trị, con à.

Quỳnh khẽ gật đầu, như thể lần đầu tiên cô nghe được một điều ngược hẳn với cách nghĩ thông thường của mình.



Vậy còn ánh sáng thì sao dì?cô hỏi. Dì Clara cười: À, đây mới là điều đẹp nhất trong ngày lễ hôm nay. Con biết không, cái tên Clara, nghĩa là trong sáng, là rạng ngời, là chiếu sáng. Thánh Clara đã trở nên đúng như cái tên của mình. Ngài thành một ánh sáng. Nhưng lạ lắm con à, ngài chẳng bao giờ cố tỏa sáng. Ngài không tìm danh tiếng, không tìm sự chú ý. Ngài chỉ ở thật gần Chúa Giêsu, là Ánh Sáng thật. Và vì ngài ở gần Chúa, nên ánh sáng của Chúa mới chiếu qua ngài mà tỏa ra.

Dì Clara nhìn Quỳnh, ánh mắt trìu mến: Dì nói điều này, con nghe thử xem có đúng không nhé. Thế giới bây giờ, người ta cứ mải lo được người khác nhìn thấy. Ai cũng muốn được chú ý, được biết đến, được khen. Nhiều khi mình lo được người ta thấy quá, đến nỗi quên mất một câu hỏi quan trọng hơn: liệu Chúa có thấy nơi mình điều gì đẹp không? Người đời có thể không biết mình, nhưng Chúa thì thấy hết. Và cái Chúa thấy mới là cái đáng kể.

 Câu ấy khiến Quỳnh lặng người suy nghĩ.

 Thánh Clara dạy các dì thế này, dì nói tiếp. Đừng lo làm cho mình tỏa sáng. Hãy ở gần Chúa Giêsu, rồi để Chúa tỏa sáng qua mình. Con thấy đan viện này chứ? Nó như một ngọn đèn lặng lẽ cháy trong lòng Hội Thánh. Người ta tìm tới đây, mang theo đủ thứ gánh nặng. Người lo cho con cái. Người đau bệnh. Người trục trặc trong hôn nhân. Người hoang mang chẳng biết tỏ cùng ai. Họ tới và nói: dì ơi, xin cầu nguyện cho con. Tại sao vậy? Vì họ biết, đằng sau những bức tường này, có những người phụ nữ vẫn ngày đêm giữ cho ngọn đèn cầu nguyện cháy sáng. Con thấy không, tưởng là các dì vô ích với đời, mà hóa ra biết bao người đang tựa vào lời cầu nguyện của các dì đó.

 Dì ngừng một chút, rồi nói, giọng tha thiết: Thế giới này đã quá nhiều bóng tối rồi con. Nhưng thay vì ngồi đó than trách bóng tối, thì mình thắp lên một ngọn đèn. Nhiều khi, chỉ một ánh sáng nhỏ thôi cũng đủ để nói với ai đó: đừng bỏ cuộc, Chúa vẫn còn đây.

 Quỳnh thấy lòng mình lắng lại. Cô ngồi im một lúc, rồi khẽ hỏi:

 Vậy... một người sống ngoài đời như con, thì làm sao để cũng thành muối, thành ánh sáng được hả dì? Chứ con đâu ở trong đan viện.

 Dì Clara gật đầu, như chờ đợi đúng câu hỏi ấy: Con hỏi trúng cái cốt lõi rồi đó. Con không cần phải vào đan viện mới làm được muối, làm được ánh sáng đâu. Ngay giữa đời sống của con, con vẫn làm được mà. Chúa Giêsu nói: hãy để ánh sáng các con chiếu giãi trước mặt người ta, để họ thấy việc lành các con làm mà tôn vinh Cha các con trên trời. Con để ý kỹ nhé. Chúa không nói: để người ta thấy việc con làm mà khen ngợi con. Chúa nói: để họ tôn vinh Cha trên trời. Đó là điều phân biệt giữa một chứng nhân của Chúa và một người chỉ lo cho mình. Mình làm điều tốt, không phải để người ta nói: ồ, người này tốt quá. Mà để người ta nói: ồ, Thiên Chúa thật tuyệt vời.

 Thánh Clara là như vậy đó, dì nói. Cả cuộc đời ngài chỉ tay về một Đấng khác, chứ không về chính mình. Khi người ta nhìn Clara, ngài muốn họ thấy Chúa Giêsu. Con thử lấy điều đó mà xét mình xem. Sau khi gặp con, người ta có gần Chúa hơn không? Sau khi nói chuyện với con, người ta thấy được nâng đỡ hay thấy nản lòng? Khi nhìn cách con đối xử với người khác, người ta có thấy được một chút gì đó của Chúa không?



Dì Clara mỉm cười, nói thêm: Con thấy đó, sự thánh thiện không phải ở chỗ mình sống nơi đâu. Ở trong đan viện mà lòng chưa hoán cải thì cũng vậy thôi. Còn sống giữa đời mà để Chúa sống trong mình, thì ở đâu cũng nên thánh được. Người ta có thể mang theo cuốn Kinh Thánh mà vẫn làm tổn thương người khác. Có thể lần chuỗi Mân Côi mà vẫn nói xấu người ta. Có thể đi lễ mỗi Chúa nhật mà vẫn không chịu tha thứ. Cho nên sự thánh thiện, sau cùng, là để cho Chúa sống trong mình, con à. Đem một chút tử tế vào chỗ khó khăn. Đem kiên nhẫn vào gia đình. Đem tha thứ tới chỗ đang hờn giận. Đem lời động viên tới người nản lòng. Con làm được những điều nhỏ ấy, là con đã thành muối, thành ánh sáng rồi.

 Quỳnh cúi đầu, lòng dâng lên một cảm xúc khó tả. Cô tới đây chỉ vì tò mò về đời sống của các dì, vậy mà ra về lại mang theo một điều gì đó cho chính cuộc đời mình. Con cảm ơn dì, cô nói khẽ. Con tới đây, con cứ tưởng đời các dì âm thầm là uổng phí. Giờ con mới hiểu, âm thầm không có nghĩa là vô ích. Mà con cũng ngộ ra, con sống ngoài đời cũng vậy, đâu cần ai thấy, chỉ cần vì có con mà đời sống quanh con tốt hơn một chút.

 Chiều hôm ấy, trước khi về, Quỳnh nán lại dự giờ kinh với các dì. Trong ngôi nguyện

đường đơn sơ, cô nghe tiếng các nữ tu nguyện kinh, những lời kinh âm thầm mà đã vang

lên như thế suốt bao trăm năm, chẳng ai ngoài Chúa nghe thấu. Và giữa sự thinh lặng ấy, Quỳnh cảm thấy lòng mình bình an lạ thường. Cô nhìn những gương mặt bình thản của các dì, những con người cả đời ẩn mình sau bốn bức tường, và cô không còn thấy đó là sự uổng phí nữa. Cô thấy đó là những hạt muối âm thầm tan vào đời, những ngọn đèn lặng lẽ cháy trong đêm.

 Khi ra về, Quỳnh xin dì Clara cho mình được trở lại thăm. Dì gật đầu, tiễn cô ra cổng, và

dặn dò thêm: Con về, cứ làm hạt muối, làm ngọn đèn giữa cuộc sống của con nhé. Không cần ai thấy con. Chỉ cần, vì có con, mà đời sống quanh con mặn mà hơn, sáng hơn một chút. Rồi người ta nhìn con, mà lại thấy được Chúa.

Quỳnh gật đầu, mắt long lanh. Cô bước ra khỏi cổng đan viện khi trời đã ngả chiều,

nhưng trong lòng cô, một ngọn đèn nhỏ vừa được thắp lên.  – Tủ sách dịch Công giáo

 

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2026

NỮ VƯƠNG VÌ LÀ NỮ TỲ



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Triều đại Người sẽ vô cùng vô tận!”.

Trong Kinh Cầu Đức Bà, Hội Thánh gọi Mẹ là “Toà Đấng Khôn Ngoan”. Toà ấy không làm bằng vàng, nhưng bằng thân xác và tiếng “xin vâng” của một nữ tỳ. Đức Vua của triều đại vô tận đã chọn ngai đầu tiên của Ngài ngay dưới trái tim của một người mẹ.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không kể chuyện Cô bé Lọ Lem được đổi phận. Maria không thôi là nữ tỳ để trở thành Nữ Vương, nhưng là ‘Nữ Vương vì là nữ tỳ’.

Tin Mừng đặt cạnh nhau hai ngôn ngữ tưởng như trái ngược. Sứ thần nói về “ngai vàng vua Đavít”, “trị vì”, “triều đại của Người vô cùng vô tận”; Maria lại chỉ nói về sự thuộc về: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa!”. Bản Hy Lạp viết doulē - “nữ tỳ”: không chỉ phục vụ, mà còn hoàn toàn thuộc quyền chủ. Vì thế, “xin vâng” không chỉ là một lời đáp khiêm nhường, nhưng là hành vi trao thân xác, dự định và tương lai của mình để Đức Vua bắt đầu trị vì. Vương quyền của Mẹ không khởi đầu trong ngày đội triều thiên, nhưng trong ngày Mẹ để Chúa toàn quyền trên đời mình. Ở Maria, chính thân phận nữ tỳ mang hình dáng vương quyền.

Hội Thánh chiêm ngắm Maria như Nữ Hoàng bên hữu Đức Vua. Nhưng bên hữu ấy không khiến Mẹ thôi phục vụ; đó là nơi sự phục vụ mang tầm vóc vương giả. Mọi vinh quang của Mẹ đều nhận từ Con, mọi quyền thế của Mẹ đều trở thành chuyển cầu. Nữ tỳ nay ngự bên Đức Vua, vẫn chỉ muốn đưa con người đến gần Ngài. Tại Cana, một hành vi “vương giả” của Mẹ chỉ là nhận ra một thiếu thốn không ai nói thành lời: “Họ hết rượu rồi!”. Càng ở gần Chúa, chúng ta càng khó bình thản trước niềm vui đang cạn dần của người bên cạnh. Ngai của Nữ Hoàng không tách Mẹ khỏi chúng ta; đó là nơi Mẹ ở gần Đức Vua để không ai phải ở xa lòng thương xót.

Isaia hé mở nguồn mạch vương quyền của Mẹ: “Một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta”; “Người gánh vác quyền bính trên vai” - bài đọc một. Mẹ bồng Con Trẻ, Đấng gánh vác quyền bính. Mẹ chỉ trao Đức Vua cho thế giới và trao thế giới cho Ngài. Triều thiên của Mẹ không giữ lại ánh sáng cho mình, nhưng làm cho vinh quang của Con rạng rỡ. Thánh Vịnh đáp ca hoàn tất chuyển động ấy: “Chúc tụng danh thánh Chúa, tự giờ đây cho đến mãi muôn đời!”. Nữ Hoàng không giữ lời ca tụng nơi mình; Mẹ hướng tất cả về danh thánh Đấng Toàn Năng.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, ngai là thập giá, triều thiên là vòng gai; vương quyền của Ngài là cúi xuống. Càng được nâng cao bên Đức Vua, Maria càng cúi xuống bên những con người bé nhỏ. “Đừng tưởng tượng Đức Maria như một bức tượng sáp bất động; nơi Mẹ, chúng ta thấy một người chị với đôi dép mòn!” - Phanxicô. Triều thiên không làm Mẹ cởi đôi dép của nữ tỳ. Câu nói hóm hỉnh của Fulton Sheen lại chạm đến một sự thật rất ấm: “Khi đến trước mặt Chúa, bạn sẽ nghe Ngài nói: ‘Ta đã nghe Mẹ Ta nói về con!’”. Đó là nét gần gũi nhất của một ‘Nữ Vương vì là nữ tỳ’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Mẹ Maria, cho con càng được nâng lên, càng biết cúi xuống; càng gần Chúa, càng gần người bé nhỏ; càng được yêu, càng biết chuyển cầu!”, Amen.

Suy tư: Điều khác nhau của một nữ hoàng trần gian với Nữ vương Thiên đàng là ở chỗ Mẹ vẫn luôn gần gũi con cái Mẹ: chuyển cầu và giúp đỡ họ đạt được niềm vui nước trời. Một mục sư Tin Lành trở lại đạo Công Giáo đã có một nhận xét: "Tôi thấy đạo Công giáo có một sự ấm cúng vì có sự hiện diện gần gũi của một người mẹ". Trong đạo Tin Lành, Đức Maria (hay Ma-ri) được tôn trọng là một phụ nữ có đức tin lớn và được Chúa chọn sinh ra Chúa Giê-su, nhưng bà không được tôn kính là đấng trung gian, không cầu nguyện cùng bà và không có các tín điều như bên Công giáo (Internet).

Cha Nguyễn Tầm Thường kể (trong bài Người đi trừ tà) một chứng từ của cha già đã trừ quỷ: "Tôi rảy nước phép, dùng dây stola, dùng cả Thánh giá mà quỷ không chịu ra khỏi người con gái nó ám, bí quá tôi đưa chuỗi hạt ra - truyền nó phải xuất ra và nó xuất ra thật. Tôi phân vân 'chẳng lẽ Đức Mẹ lớn hơn Chúa?' , không phải thế, nó xuất vì nó xấu hổ vì Mẹ đầy nhân đức - nhất là sự khiêm nhường sâu thẳm của Mẹ". Chúng ta hãy học hai chữ xin vâng của Mẹ: Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa!”. Bản Hy Lạp viết doulē - “nữ tỳ”: không chỉ phục vụ, mà còn hoàn toàn thuộc quyền chủ. Vì thế, “xin vâng” không chỉ là một lời đáp khiêm nhường, nhưng là hành vi trao thân xác, dự định và tương lai của mình để Đức Vua bắt đầu trị vì.

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2026

ĐÚNG HẾT – VẪN CHẾT

 


Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Tất cả Luật Môsê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy”.

“Ca mổ thành công, nhưng bệnh nhân đã chết!. Câu nói phi lý ấy phơi bày một sự thật lạnh người: mọi thao tác có thể đúng mà mục đích vẫn thất bại.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy đời sống đức tin của chúng ta cũng thế: có thể giữ đúng từng điều luật, chu toàn mọi thực hành, nhưng nếu trái tim không còn yêu, chúng ta ‘đúng hết - vẫn chết’.

Người thông luật hỏi Chúa Giêsu về một giới răn; Ngài trả lời bằng hai: yêu Chúa và yêu người. Ngài đặt chúng ở nơi toàn bộ Lề Luật phải bám vào. Bản Hy Lạp viết krématai - “tuỳ thuộc”; không chỉ tuỳ thuộc mà còn có nghĩa “treo vào, móc vào”. Toàn bộ Luật Môsê và các sách ngôn sứ chỉ sống khi được treo vào tình yêu. Tách khỏi tình yêu, điều đúng vẫn còn đó, nhưng sự sống đã rời đi.

Chúa Giêsu biết người ta dễ nói yêu Thiên Chúa vô hình hơn yêu người đang làm mình khó chịu. Vì thế, khi nói “điều răn thứ hai cũng giống điều răn ấy”, Ngài không thêm một phần phụ, nhưng chỉ ra nơi tình yêu dành cho Thiên Chúa được kiểm chứng. Người ta có thể đúng khi nói về Chúa mà vẫn sai trong cách cư xử với người; có thể bảo vệ chân lý mà làm tổn thương phẩm giá của họ; thậm chí, dùng Lề Luật để khỏi phải yêu. Khi ấy, giữ luật trở thành một lối trốn khỏi tình yêu. “Ngay cả chữ viết của Tin Mừng cũng sẽ giết chết, nếu bên trong không có ân sủng chữa lành của đức tin!” - Tôma Aquinô.

Thị kiến Êzêkiel gọi đúng tên bi kịch ấy. Xương đã nối với xương, gân thịt đã mọc, da đã phủ bên ngoài; không gì sai chỗ, “nhưng thần khí chưa có ở nơi chúng”. Sự chết mang dáng vẻ một trật tự hoàn chỉnh, chỉ thiếu một điều: thở! Đời sống đạo cũng thế: mọi sự có thể đâu vào đó, mà bên trong vẫn lạnh. Chỉ khi được thần khí làm cho sống, chúng ta mới có thể cất lên từ chính kinh nghiệm của mình: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương!” - Thánh Vịnh đáp ca.

Có những ngày chúng ta không sai nguyên tắc nào, nhưng người bên cạnh lại ngạt thở. Tin Mừng không dừng ở câu hỏi “Tôi có đúng không?”; nó còn hỏi: “Người trước mặt tôi có được sống hơn không?”. Nếu sau khi gặp chúng ta, họ nhỏ lại, tuyệt vọng hơn hoặc xa Chúa hơn, cái đúng ấy có lẽ cần được treo lại vào tình yêu.

Anh Chị em,

“Đức Kitô dạy và trao phó cho các môn đệ một tình yêu lấy chính tình yêu của Ngài làm khuôn mẫu!” - Gioan Phaolô II. Ngài không chỉ treo toàn bộ Lề Luật vào hai giới răn ấy; Ngài treo chính đời mình vào đó. Trên thập giá, hai giới răn không còn đứng cạnh nhau, nhưng nên một trong thân xác hiến tế của Ngài. Được Chúa Cha làm cho sống lại, Ngài trao Thần Khí cho những trái tim khô cứng đập lại nhịp yêu thương. Trong Ngài, chúng ta không được mời gọi bớt đúng, nhưng phải đúng theo cách của Thiên Chúa: đúng để cứu sống; bằng không, vẫn có thể ‘đúng hết - vẫn chết’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con đúng mà lạnh; thật mà thiếu thương; sốt sắng với Chúa mà làm anh chị em con ngạt thở!”, Amen.

Suy tư:

Trong cuộc sống bon chen, thỉnh thoảng chúng ta nghe nói ở đâu đó có những quán cơm miễn phí, những cây gạo không đồng, những ân nhân giúp quỹ mổ tim, những cơ sở từ thiện và việc phục vụ không lương trong Giáo Hội. Nhưng rồi chúng ta cũng nghe những chuyện hối lộ, dịch vụ, tải nhạc đạo cũng phải trả phí, cha mẹ cho con tiền khi nhờ vả chúng chăm sóc... Chữ servus có 2 nghĩa, phục vụ và dịch vụ. Chúa Giê su dạy ta bắt chước Ngài đến để phục vụ.

Khi con cái đòi quyền lợi về tài sản và lại đùn đẩy trách nhiệm chăm sóc cha mẹ, đưa ra lý này lý nọ ... thì đã cạn tình lắm rồi. Còn chuyện nhạc đạo thì cũng giống như mình làm việc truyền giáo, như linh mục giảng Lời Chúa và như các vị HĐGX làm việc... nếu miễn phí được thì tốt hơn. 

Thánh Gioan Tông đồ viết: Nếu ai nói mình yêu mến Thiên Chúa mà không yêu thương tha nhân thì đó là kẻ nói dối. Nhưng Giáo hội cũng cảnh tỉnh chúng ta: đừng chỉ phục vụ anh em mà không giới thiệu Chúa cho họ, vì Thiên Chúa là sự thiện - là quà tặng vĩ đại nhất trên trần gian này. 

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2026

CỨ ĐẾN – ĐỪNG CỨ THẾ!

 


Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?”.

“Thiên Chúa yêu bạn như bạn đang là, nhưng Ngài không để bạn cứ mãi như thế; Ngài muốn bạn nên giống Chúa Kitô!” - Max Lucado.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói: cứ đến như con đang là; nhưng không ai có thể bước vào tình yêu mà không đổi thay: ‘cứ đến - đừng cứ thế!’.

Khi những người được mời từ chối dự tiệc, vua sai đầy tớ tập hợp mọi người, “bất luận xấu tốt”. Không có cuộc sát hạch nào ở cửa. Thế nhưng, nhà vua lại dừng trước một người không mặc y phục lễ cưới. Vấn đề không phải ông nghèo, vì mọi người đều được gọi từ các ngả đường; vấn đề là ông đã vào phòng tiệc mà không để tiệc cưới đi vào lòng mình. Ông đổi chỗ, nhưng chưa đổi lòng.

Điều lạ là càng bị từ chối, nhà vua càng mở rộng lời mời: từ những khách được mời trước đến bất cứ ai ngoài đường; không ai bị loại. Nhưng lòng quảng đại không biến ân sủng thành món rẻ tiền. Theo Đức Phanxicô, áo cưới là lòng thương xót Thiên Chúa ban cho mọi người. Nếu cửa tiệc là ân sủng, áo cưới cũng là ân sủng. Thiên Chúa không đợi chúng ta đổi đời mới gọi; Ngài gọi để trao cho chúng ta khả năng đổi đời. Áo được trao, nhưng khách phải khoác lấy: ân sủng làm việc trong chúng ta, không làm thay chúng ta. “Đấng đã dựng nên bạn mà không cần bạn, sẽ không làm cho bạn nên công chính nếu không có bạn!” - Augustinô.

Êzêkiel cho thấy cuộc đổi mới ấy diễn ra thế nào. Thiên Chúa không đòi người nhơ uế phải tự thanh tẩy rồi mới đến; chính Ngài lấy khỏi họ trái tim chai đá, ban một trái tim mới và đặt Thần Khí vào lòng họ - bài đọc một. Áo cưới không phải lớp vải che con người cũ, nhưng là dấu chỉ một trái tim được đổi mới. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca vang lên như một lời hứa: “Trên các ngươi, Ta sẽ rảy nước trong ngần, và các ngươi sẽ được rửa sạch mọi vết nhơ!”.

Cũng thế với chúng ta. Chúng ta dễ bước vào nhà Chúa hơn là để Chúa bước vào những góc khuất lòng mình: một oán giận không muốn buông, một đổ vỡ không muốn hàn gắn, một ưu tiên không muốn đảo lại. Ân sủng không chỉ cho chúng ta một chỗ trong nhà Chúa; ân sủng còn làm đời chúng ta mang dáng của Người Con. “Y phục lễ cưới là gì, nếu không phải là đức ái?” - Grêgôriô Cả. Đó là lúc áo cưới không dừng ở bề ngoài, nhưng trở thành nếp sống.

Anh Chị em,

Trung tâm tiệc cưới là Người Con. Trên thập giá, Ngài bị lột áo để những kẻ trần trụi vì tội lỗi được khoác lại phẩm giá làm con. Ngài mang chiếc áo cũ của chúng ta xuống mồ; khi trỗi dậy, Ngài trở nên y phục của một nhân loại mới. Kitô giáo không phải khoác vẻ đạo đức lên con người cũ, nhưng là “mặc lấy Đức Kitô” - để tâm tư, chọn lựa và cách yêu của Ngài dần thành hình trong chúng ta. Trong Ngài, Thiên Chúa đón nhận chúng ta trọn vẹn, nhưng cũng biến đổi chúng ta tận căn: ‘cứ đến - đừng cứ thế!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con dám đến như con đang là; biết khoác lấy ân sủng bằng một đời hoán cải; và đừng để con cứ mãi như trước!”, Amen.

Suy tư:

-Cha Minh Anh đã chia sẻ: dụ ngôn tiệc cưới nói đến ông chủ, chàng rể, bò bê, thực khách chối từ và thực khách được mời từ các ngả đường... nhưng tuyệt nhiên không nói tới cô dâu? -Thưa, mỗi thực khách được mời vào dự tiệc cứu độ đều là một nàng dâu kiều diễm tinh tuyền của nước trời. Thánh Phaolô nói: "Tôi đã đính hôn anh em cho một người, như dâng một trinh nữ trong trắng cho Đức Ki tô". Thiên Chúa sẽ cử hành hôn lễ với từng tâm hồn, tương quan giữa linh hồn với Chúa không chỉ là tương quan vua tôi, chủ tớ, hoặc thầy trò, nhưng là tương quan của hôn thê được yêu bởi vị hôn phu của mình. Đó là một tương quan thâm trầm và đằm thắm của những người yêu nhau mà lửa Thánh Thần tình yêu sẽ gìn giữ. 

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2026

GIỜ THỨ MƯỜI MỘT – VẪN TÌM


 

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Vì không ai mướn chúng tôi”.

Constantin Virgil Gheorghiu từng ám ảnh người đọc với Giờ Thứ Hai Mươi Lăm - giờ sau giờ cuối, khi mọi cứu thoát tưởng đã quá muộn. Trong thế giới ấy, điều đáng sợ không chỉ là con người không được cứu, nhưng không còn được nhìn như một con người.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay dừng ở giờ thứ mười một. Ngày gần tàn, người ta đã thôi tìm thợ; những con người cuối cùng vẫn đứng đó vì “không ai mướn”. Thế nhưng, giờ tưởng đã muộn vẫn là giờ Chủ Vườn còn đi tìm người - ‘giờ thứ mười một - vẫn tìm’.

Dụ ngôn trải dài một ngày, từ sáng sớm đến chiều tối. Điều lạ là Chủ Vườn không chỉ ra một lần: sáng sớm, giờ thứ ba, thứ sáu, thứ chín, rồi giờ thứ mười một, ông vẫn đi ra. Chưa được ai thuê, những người cuối cùng vẫn chưa bị bỏ qua.

Đáng chú ý, ở lần gọi cuối, không một lời nào về tiền công, không một lời nào về thời giờ; điều còn lại là một lời mời: “Hãy đi vào vườn nho!”. Ân huệ đầu tiên không phải là được tiền, nhưng là vẫn được gọi. Có những lúc điều con người cần nhất không phải là nhận thêm, nhưng được biết mình vẫn còn có một chỗ. Họ đã đứng suốt ngày mà không ai mướn; giờ đây, một lời gọi đưa họ vào. Trước khi trao cho họ điều gì, Chủ Vườn đã trao cho họ một nơi để thuộc về. “Ông đã đích thân gọi họ; ông biết phẩm giá của họ!” - Lêô XIV.

Chủ Vườn đi ra tìm người cũng chính là Mục Tử đi tìm chiên. Bước chân ấy đã vang từ rất xa xưa. Những mục tử Israel chỉ biết chăn chính mình, để đàn chiên tản mác; Thiên Chúa tuyên bố: “Chính Ta sẽ chăm sóc chiên của Ta và thân hành kiểm điểm” - bài đọc một. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca không nói những con chiên tự tìm đường về, nhưng tuyên xưng: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi!”. Hoá ra, điều làm người giờ thứ mười một “chẳng thiếu thốn gì” không vì họ đã có mọi sự, nhưng vì có Đấng đi tìm mình.

Với chúng ta, “giờ thứ mười một” có khi là lúc nhìn lại và tưởng phần đẹp nhất của đời mình đã ở phía sau. Tin Mừng không bảo chúng ta quay lại buổi sáng; chỉ cho thấy ngay ở giờ này, Chúa vẫn đi tìm tôi. “Đối với tình yêu Thiên Chúa, không ai là vô dụng hay vô nghĩa!” - Phanxicô. Những gì chưa thành không có quyền nói lời cuối về một đời người. Có thể chúng ta đã thôi hy vọng vào mình; Ngài thì chưa.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, Thiên Chúa đi đến tận cùng cuộc tìm kiếm con người. Ngài rời vinh quang, đi vào phận người, rồi xuống tận nơi không ai có thể đi xa hơn: sự chết. Trên thập giá, Ngài bước vào giờ tưởng mọi cứu thoát đã quá muộn; chính ở đó, một người trộm lành còn được Ngài gọi vào Nước Trời. Trong mồ, Ngài ở nơi mọi dấu chân đều dừng lại; nhưng cũng từ đó, Ngài trỗi dậy. Phục Sinh cho thấy cái chết có thể chặn bước con người, nhưng không thể chặn bước Thiên Chúa. Nơi tưởng đã hết đường, tình yêu vẫn lên đường - ‘giờ thứ mười một - vẫn tìm’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, vì những gì đã muộn, đừng để con tuyệt vọng; vì lạc lối vô bờ, con tin Chúa vẫn tìm; và dù ở giờ nào, xin cứ gọi con vào!”, Amen.

Suy tư:

-Trong Tin Mừng, có những câu chuyện mạc khải về lòng thương xót của Thiên Chúa mãi đánh động tấm lòng con người, làm ta luôn sững sờ vì quá khác với lòng người. Đấng Đáng Kính Fx. Nguyễn Văn Thuận gọi đó là một trong những khuyết điểm của Chúa 'Ngài không giỏi tính toán' : người trộm lành trên thập giá được Chúa quên hết tội, người công nhân giờ thứ 11 chỉ làm có 1 giờ mà vẫn được trả công bằng với kẻ làm từ sáng sớm, người đàn bà tìm lại đồng bạc bị mất liền kêu bạn bè đến ngay trong đêm và ăn mừng, con chiên bị mất có giá bằng (hoặc hơn) 99 con không bị mất...

-Hai chữ 'lẩm bẩm' nói lên sự so sánh và phân bì. Một trong những điều làm lộ tính kiêu ngạo của con người là phân tích 'tại sao người này được may mắn, kẻ kia gặp tai ương' vì khi xét đoán là ta tự cho mình 'khôn' bằng Thiên Chúa. Đành rằng chúng ta vẫn được dạy rằng: cha mẹ hiền lành để đức cho con, đời cha ăn mặn đời con khát nước... nhưng phải tránh những kết luận trong tư tưởng - trong lời nói 'kẻ này gặp hoạn nạn là do cha mẹ sống không tốt' vì lời này đụng vào lý đoán nhiệm mầu của Chúa, là Đấng lòng người không dò thấu và tư tưởng của Ngài cao rộng như trời mây so với mặt đất. Chúng ta thường không đau khổ vì gặp thất bại cho bằng chứng kiến thành công của kẻ khác.

-Đức Tổng Giám mục Fulton J. Sheen (1895–1979) có một hình ảnh rất dễ thương về thiên đàng. Tôi nghĩ rằng khi đến thiên đàng, có 3 điều ngạc nhiên: điều thứ nhất là những người tôi không ngờ lại có mặt ở đó, điều thứ hai là những người tôi tưởng ở đó lại vắng mặt, và điều bất ngờ lớn nhất là do lòng thương xót Chúa, tôi lại có mặt ở đó.

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2026

NHƯNG GẤP BỘI

 


Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp”.

“Sự sống được trao cho chúng ta; chúng ta sinh lợi nó bằng cách trao ban!” - Rabindranath Tagore.

Kính thưa Anh Chị em,

Giữ lại, sự sống nhỏ đi; trao ban, sự sống lớn lên. Tin Mừng hôm nay còn đi xa hơn: những gì trao cho Chúa tưởng như mất đi. Thế mà không - ‘nhưng gấp bội’; và trên cả gấp bội, còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp.

Cái “gấp bội” bắt đầu từ điều không thể: người thanh niên vừa bỏ đi, Chúa Giêsu nói đến con lạc đà và lỗ kim. Các môn đệ sửng sốt: “Thế thì ai có thể được cứu?”. Họ hiểu, Chúa Giêsu không chỉ nói về người giàu, nhưng đang đánh sập một ảo tưởng: con người có thể tự bảo đảm phần rỗi. Ngài không mở rộng lỗ kim, cũng không thu nhỏ lạc đà; Ngài hướng mắt họ về phía Thiên Chúa: “Đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể được”. Không ai tự bước qua cái không thể; chỉ Thiên Chúa mới đưa họ qua.

Phêrô đã bỏ lưới, nhưng chưa bỏ phép tính: “Phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?”. Chúa Giêsu không trách ông; Ngài mở phép tính ấy đến vô cùng. Bản Hy Lạp viết palingenesia - “thời tái sinh”. Phêrô hỏi phần mình sẽ nhận lại gì ở đời này; Chúa Giêsu đặt trước ông cả một cuộc tạo thành mới. Phêrô kê ra phần mình đã bỏ; Chúa Giêsu cho một đáp số vượt mọi phép tính: một trời mới đất mới. “Gấp bội” không phải là hoàn vốn, nhưng là bước vào sự sống Thiên Chúa đang mở ra, nơi không điều gì đã trao cho Ngài bị mất đi.

Bài đọc Cựu Ước phơi ra một thứ “gấp bội” khác. Nhờ “rất khôn ngoan và có tài buôn bán”, thủ lãnh Tia tích luỹ vàng bạc; của cải càng đầy, lòng ông càng cao. Ông tưởng mình đã vượt khỏi phận người đến mức tự nhận: “Ta là thần!”. Nhưng trước lưỡi gươm của kẻ sát hại, ảo tưởng ấy sụp đổ: ông chỉ là người! Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca xác lập chủ quyền tối hậu của Thiên Chúa trên sự sống: “Ta cầm quyền sinh tử!”. Con người có thể làm cho của cải sinh lợi gấp bội, nhưng không thể kéo dài đời mình thêm một ngày.

Cũng thế với chúng ta. Đôi lúc, trao cho người một giờ, chờ một lời cảm ơn; dâng cho Chúa một điều, lại thầm hỏi sao Ngài chưa bù lại nhiều hơn. Nhưng ân sủng không hoàn vốn. Điều trao đi vượt khỏi kích thước nhỏ hẹp của chúng ta để bước vào sự phong nhiêu của Thiên Chúa: một hy sinh âm thầm có thể giữ ấm cả một gia đình; một đời tận hiến có thể làm chín vàng những cánh đồng mãi ngoài tầm mắt.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, cái ‘gấp bội’ của Thiên Chúa mang hình một thập giá. Trên đó, Ngài mất hết - áo xống, danh dự, cả hơi thở - nhưng vẫn trao mình vào tay Cha. Chúa Cha đã làm cho Ngài trỗi dậy trong một sự sống không còn chết nữa. Một cuộc tạo thành mới bừng lên từ ngôi mộ trống. Thập giá tưởng mất sạch. Thế mà không! Phục Sinh làm phát sinh điều chưa từng có và thực hiện điều loài người không thể. Không chỉ được lại, ‘nhưng gấp bội’: một Người Con trao mình, một nhân loại được đưa về nhà Cha.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con dám trao mà không tính toán; dám mất mà không sợ hãi; và tin rằng trong tay Chúa, mọi hy sinh sẽ sinh hoa kết trái ‘gấp bội!’”, Amen.

Suy tư:

-Đối với Thiên Chúa, mọi sự đều có thể. Chúng ta thường dùng câu này để thêm xác tín trong lời cầu nguyện, nhưng hôm nay cha Minh Anh mở rộng nó đến lãnh vực ơn cứu độ: con người không thể tự bảo đảm phần rỗi. Thiên Chúa thường thanh luyện, Thiên Chúa ban tặng cách nào tùy Người (người công nhân giờ thứ 11).

-Bài đọc 1 rất đáng cho ta ngẫm nghĩ: vua Tia rất khôn ngoan và có tài buôn bán, sinh ra tự cao cho mình ngang hàng với các thần, nhưng rồi sự chết đến. Chúa Giê su nói: các con không thể làm tôi hai chủ, không thể đặt trọng tâm đời mình trên của cải và Thiên Chúa được. 

-Bài Tin Mừng hôm nay thường được dùng trong các thánh lễ truyền chức và khấn dòng: các con đã bỏ mọi sự vì Thầy thì sẽ được lợi gấp trăm ở đời này và được sự sống đời đời. Xin đừng ai ảo tưởng rằng: đời tu rất êm đềm, không phải lo cái ăn cái uống, an bình và hạnh phúc. Điều quan trọng trong đời tu là nên trọn lành trong sự tự nguyện dâng hiến, nên giống Chúa và được chính Chúa làm gia nghiệp cả đời này và đời sau... Dâng hiến mạng sống mình để đáp lại tình yêu Giê su cũng là động lực chính thúc đẩy các thánh tử đạo can trường chịu đổ máu.

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2026

NHỮNG NGHI NGỜ CỦA BÀ LÃO


 

Lm. Mark Link, S.J.

Chủ đề: “Cách thức để triển nở đức tin là thực hành nó, đặc biệt trong việc yêu thương tha nhân.”

 

Một bé gái 6 tuổi đến ăn tại nhà một người bạn.  Khi mọi người ngồi vào bàn, cô bé cúi đầu chờ đợi mọi người đọc kinh ăn cơm.  Chẳng thấy ai đọc kinh hết, cô bé thẹn thùng nói: “Cả nhà giống con chó nhà cháu quá, cứ ngồi xuống là ăn!”

Dân Do Thái cũng nghĩ như thế đối với đám dân ngoại.  Theo họ, dân ngoại xét về mặt thiêng liêng cũng giống như loài chó vì họ hoàn toàn thiếu nhạy cảm đối với Thiên Chúa.  Ðiều này dẫn chúng ta đến chủ điểm quan trọng của bài Phúc Âm hôm nay.

 

Các học giả nhận xét là từ ngữ Hy Lạp mà Chúa Giêsu nói về “lũ chó” trong câu “không nên ném thức ăn cho lũ chó” là một hình thức giảm thiểu.  Nó ám chỉ lũ chó cưng nuôi trong nhà, chứ không phải những con chó rông ngoài đường.  Chúa Giêsu dùng từ ngữ ấy một cách thân ái.  Câu đáp lại của người phụ nữ cho thấy rõ điều ấy.  Có lẽ bà ta vừa mỉm cười vừa nói:


“Những lũ chó cũng được ăn vụn bánh rơi xuống nền nhà chứ!”

 

Nói cách khác, bà ta đang nói với Chúa Giêsu: “Con biết Ngài hiện đang dành ưu tiên cho dân Israel, tuy nhiên trong khi Ngài thiết đãi họ, Ngài lại không thể đẩy cho con chút ít bánh vụn giống như đám nhóc quăng bánh xuống cho lũ chó cưng khi bố mẹ chúng không nhìn thấy sao?”

 

Chúa Giêsu liền trả lời cho bà ta:Bà là người phụ nữ giàu lòng tin!  Điều bà mong muốn sẽ được trao ban cho bà.

 

Thật đẹp biết bao nếu Chúa Giêsu cũng nói như thế về anh chị em.

 

Ðiều này gợi lên một vấn nạn: Tại sao một số người có đức tin mạnh mẽ trong khi số khác đức tin lại yếu kém?  Tại sao lại thấy đó là điều khó khăn?  Và điều đó dẫn đến một vấn nạn còn khó khăn hơn: Nếu đức tin của chúng ta yếu kém thì liệu chúng ta có thể làm gì để củng cố?  Chúng ta hãy xét vắn tắt từng vấn nạn nêu trên.

 

Trước hết, tại sao có những người đức tin yếu kém và có những người đức tin mạnh mẽ?  Ðiều này cũng giống hệt như việc hỏi tại sao có người yếu nhược còn có người lại khỏe mạnh?

 

Một số người có sức khỏe yếu kém là do cha mẹ họ.  Họ thừa hưởng một thân xác eo sèo.  Nhưng cũng có những người sức khỏe yếu kém vì họ chẳng biết chăm sóc sức khỏe cho chính mình.

 

Ðiều đúng cho sức khỏe thể lý thế nào thì cũng đúng cho sức khỏe tâm linh đức tin của chúng ta như thế.  Một số người có đức tin yếu kém là do cha mẹ họ.  Sức khỏe tâm linh được di truyền cũng tương tự như sức khỏe thể lý.  Nếu bố mẹ lạnh nhạt với đức tin của mình thì điều này cũng thường tác động lên đám con cái họ.  Mặt khác, đức tin của chúng ta yếu kém cũng có thể là do chúng ta không chăm sóc nó.

 

Ðiều này dẫn chúng ta đến vấn nạn thứ hai.  Nếu đức tin chúng ta yếu kém bất kể vì lý do gì, chúng ta có thể làm gì để củng cố nó lại?  Ðức tin có thể được so sánh với một bắp thịt.  Nếu chúng ta không chịu luyện tập, bắp thịt ấy sẽ từ từ yếu đi.  Mặt khác, các bạn càng luyện tập, bắp thịt ấy càng mạnh mẽ lên.  Đức tin của chúng ta tương tự như thế.  Nó cũng cần phải được tập luyện.

 

Có nhiều phương cách luyện tập đức tin.  Chúng ta có thể học hỏi và bàn luận về Phúc Âm như hiện chúng ta đang làm.  Chúng ta có thể tham dự thánh lễ mà ít phút nữa chúng ta sẽ cử hành một cách chăm chú hơn.  Chúng ta có thể tập cầu nguyện mỗi ngày để việc cầu nguyện trở thành thói quen.

 

Tuy nhiên, còn một phương cách luyện tập đức tin chúng ta xem ra cực kỳ hữu hiệu.  Cách này đáng được lưu tâm đặc biệt.  Dostoevski có bàn đến nó trong tác phẩm của ông nhan đề: “Anh em nhà Karamazốp” (The Brothers Karamazov).  Trong tác phẩm này, tác giả đề cập đến một bà lão nọ.  Sức khoẻ thiêng liêng của bà đã suy thoái mau chóng theo sức khỏe thể lý.  Ngày nọ bà ta bàn luận vấn đề của mình với vị linh mục già tên là Zossima.  Bà kể cho cha nghe về đức tin yếu kém của bà những nỗi ngờ vực vừa phát sinh, chẳng hạn như: Thiên Chúa có thực sự quan tâm đến vạn vật không?  Có đời sống sau lúc chết không?

 

Linh mục Zossima thông cảm lắng nghe bà và nói: “Chẳng có cách nào minh chứng rõ ràng những điều này, nhưng bà vẫn có thể tin tưởng những điều ấy vững chắc hơn.”  Bà ta ngạc nhiên: “Bằng cách nào?”  Vị linh mục già đáp: “Bằng tình yêu.  Hãy cố gắng yêu láng giềng của bà thật tình.  Càng yêu thương, bà sẽ càng chắc chắn hơn về sự hiện hữu của Chúa và đời sống tương lai sau khi chết.  Càng yêu mến, đức tin bà sẽ càng lớn lên và các nỗi ngờ vực sẽ tiêu tan.  Ðây là điều chắc chắn từng được thử nghiệm và nó đã có kết quả.

 

Linh mục Zossima nói thật chí lý.  Người cho ta thấy điểm quan trọng là: tình yêu và đức tin đi đôi với nhau không khác gì hai đường rầy xe lửa.  Tìm được cái này tức là tìm thấy cái kia.  Ðức tin và tình yêu liên kết với nhau như xác với hồn.  Albert Schweitzer, vị bác sĩ thừa sai vĩ đại, cũng cùng quan điểm như trên trong cuốn sách của ông nhan đề Reverence For Life (Kính trọng cuộc sống).  Ông bàn đến một vài điều đem lại kết quả này như sau:

 

Bạn có muốn tin vào Chúa Giêsu không?  Bạn có thực sự muốn tin Người không?  Như thế bạn phải làm một điều gì đó cho Người.  Trong thời buổi đầy ngờ vực này thì không có cách nào khác đâu.  Nếu vì Người mà các bạn cho kẻ khác cái gì đó để ăn, để uống hoặc để mặc, những nghĩa cử này Chúa Giêsu đã hứa chúc phúc như là làm cho chính Người, thì lúc đó các bạn sẽ thấy rằng mình đã thực sự làm điều ấy cho Người.  Chúa Giêsu sẽ mặc khải chính Người cho các bạn như thể Người vẫn còn sống.

 

Và điều này dẫn chúng ta trở lại với người phụ nữ trong bài Phúc Âm.  Bà đến với Chúa Giêsu là vì kẻ khác, chớ không vì chính bà, Bà đã đến vì tình yêu, đã đến với tư cách một người mẹ đầy lòng yêu thương, tin tưởng.

 

Tôi xin nêu lên một gợi ý.  Tôi tin rằng mỗi bài Phúc Âm khi được đọc trong thánh lễ đều mang theo một ân sủng đặc biệt.  Nếu các bạn là một bậc cha mẹ cảm thấy cần củng cố đức tin của mình, thì hãy bắt chước người phụ nữ trên.  Ngay tuần này, các bạn hãy bắt đầu đến với Chúa Giêsu mỗi ngày đều đặn để kêu cầu Người chúc phúc cho con cái các bạn.  Nếu các bạn là một thanh niên cảm thấy cần củng cố đức tin của mình thì hãy làm điều Dostoevski và Schweitzer đã nói.  Hãy bắt đầu cư xử một cách yêu thương đối với bố mẹ và anh chị em của mình.

 

Và tôi xin chia sẻ thêm một tư tưởng nữa về vấn đề đức tin.  Bất cứ ai dù khỏe mạnh đến đâu cũng phải trải qua những khó chịu bởi vì cuộc sống con người vốn là như thế.  Chẳng hạn, vào ngày buồn sầu trong cuộc sống khi gặp phải cảm nghiệm chua chát, chúng ta thường gây gỗ với mọi người và mọi vật, chúng ta nguyền rủa kẻ thù và than phiền về bạn bè của mình.  Còn vào ngày hưng phấn trong cuộc sống.  Khi chúng ta cảm nghiệm được điều gì hoan hỉ, tự dưng chúng ta cảm thấy yêu mến mọi người và mọi sự.  Chúng ta tha thứ cho kẻ thù và thích tỏ tình thân thiện với bè bạn.

 

Ðức tin cũng rất giống như thế.  Có ngày rất tươi sáng và rất phấn khích, có ngày ảm đạm, sầu thảm.  Khi gặp phải một ngày “tồi tệ” của đức tin, các bạn hãy ghi nhớ câu chuyện có thực sau đây.  Nó sẽ giúp bạn chịu đựng ngày ấy và giữ vững niềm tin của mình.

 

Sau thế chiến thứ hai ít lâu, có một số công nhân lo dọn dẹp sạch sẽ tàn tích của một ngôi nhà bị bom ở Cologne (nước Ðức).  Họ thấy trên một bức tường nhỏ trong nhà, có một bản ghi chú đầy cảm động, hình như một người Do Thái trên đường trốn bọn Quốc Xã đã viết lên đó.  Anh ta dùng tầng hầm của căn nhà để trốn bọn Quốc Xã.  Sau đây là bản ghi chú đó:

 

Tôi tin vào mặt trời ngay cả lúc nó không chiếu sáng.
Tôi tin vào tình yêu ngay cả lúc tôi không cảm thấy nó.
Tôi tin vào Thiên Chúa ngay cả khi Người yên lặng
”...

 

Lm. Mark Link, S.J.

Suy tư:

Đức tin là hồng ân Chúa ban, nhưng đức tin mạnh hay yếu cũng còn tùy thuộc vào việc nuôi dưỡng (chăm sóc một ngọn lửa): học hỏi Kinh Thánh, tham gia phụng vụ (nhất là thánh lễ), thực hành việc yêu thương tha nhân: hãy thực hành những cử chỉ yêu thương nho nhỏ hằng ngày bằng việc chăm sóc người thân trong gia đình, đừng chờ việc lớn để làm - vì chưa làm được việc nhỏ thì đừng mong làm việc lớn!