Danh sách Blog của Tôi

Thứ Hai, 3 tháng 8, 2026

Cốt lõi sự thánh thiện

 



Cuộc tranh luận của một số Kinh sư và Biệt phái với Chúa Giê su luôn xảy ra với những chủ đề nóng bỏng: Giữ ngày sabat, rửa tay trước khi ăn, quyền tha tội của Thiên Chúa, cách ăn chay, ly dị, kiêng ăn những con vật ‘dơ bẩn’… Cuộc tranh luận này còn kéo dài mãi tới thời Giáo hội sơ khai.

Đoạn Tin Mừng Mt 15,10-14, Chúa Giê su đưa ra một hướng dẫn: “Không phải cái vào miệng làm cho con người ra ô uế, nhưng cái từ miệng xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế”. Câu nói của Chúa gợi lên hai ý tưởng. Ý thứ nhất: miệng là nơi thổ lộ tâm can, Sách Huấn ca 27, 1-7 nói: tựa như người ta sàng sảy lúa gạo, rơm rác sẽ nổi lên, dựa vào lời nói của mình và của người khác, ta nhận ra tốt xấu của tâm hồn họ; ý tưởng thứ hai: Thánh Gia cô bê nói “ai nói mình công chính mà không gò hãm miệng lưỡi mình thì đó là kẻ nói dối”, sách tu đức dạy ta phải tiết chế và giữ gìn con mắt, lỗ tai, miệng lưỡi, cơ hội phạm tội và bạn bè không tốt… vì bản tính con người rất yếu đuối, nhiều khi cách tốt nhất để giữ mình là ‘tẩu vi thượng sách’.

Chúa Giê su luôn nhấn mạnh:sự tinh sạch phải bắt nguồn từ trong tâm hồn (sự ngoại tình, giết người, ghen ghét đã thành sự từ trong tư tưởng). Cha Minh Anh viết: Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng nói tới sự thánh thiện và chữa lành từ trong tâm hồn. Khi cuộc tranh luận còn dừng ở những đôi tay, Ngài lại chạm đến trái timkhi người ta soi xét điều phải rửa, Ngài lại chữa điều đã hỏng. Điều cần được đổi mới không phải một nghi thức, nhưng là trái tim. Bởi lẽ, điều làm con người ra ô uế không phải từ bên ngoài đi vào, nhưng từ bên trong đi ra. Thiên Chúa không sửa hành vi trước, nhưng tái tạo trái tim - cội nguồn mọi hành vi.

Với chúng ta, điều đáng sợ nhất không phải là đổ vỡ, nhưng là không còn tin Thiên Chúa vẫn có thể viết tiếp đời mình - một cuộc hôn nhân, một ơn gọi, một tâm hồn hay cả một đời người. Có những vết thương chúng ta mang quá lâu nên tưởng là tính cách; những thất bại chúng ta chấp nhận quá thường nên tưởng là số phận; những tội lỗi chúng ta giữ quá kín nên ngỡ không còn gì để cứu. “Đau khổ là chiếc vỏ đang vỡ để sự hiểu biết được sinh ra!” - Kahlil Gibran. Chính nơi chúng ta tuyệt vọng nhất về mình, Thiên Chúa lại bắt đầu công trình của Ngài. Với Thiên Chúa, không có cuộc đời nào chỉ còn là tro.

Thiên Chúa tái tạo không chỉ những gì đã sụp đổ, nhưng cả lòng tín thác đã tắt. Đổ vỡ lớn nhất không phải là những gì đã mất, mà là đánh mất niềm tin rằng ân sủng vẫn còn có thể phục hồi mọi sự. “Hy vọng chỉ thực sự là hy vọng khi vẫn hy vọng giữa lúc mọi sự dường như vô vọng!” - G. K. Chesterton.

Thời đại chúng ta đang sống được mệnh danh là thời đại của khoa học kỹ thuật, người ta đề cao tốc độ, hiệu quả, tự lập, tự do… là những thứ ‘bất lợi’ cho Chúa, vì Ngài là Đấng thường im lặng, kiên nhẫn, xót thương và tôn trọng tự do con người. Ngay trong đời sống cầu nguyện của chúng ta, Chúa dạy: “Hãy xin thì sẽ được”, vậy mà hằng ngày chúng ta xin rất nhiều ơn tốt lành như: mưa nắng để mùa màng tốt tươi, được lành bệnh, được bằng an, cho kẻ khác được thay đổi tính nết để được cứu độ, cho nước Chúa rộng lan khắp nơi… vậy mà nhiều khi chẳng thấy gì thay đổi, ta dễ ngã lòng và thậm chí mất lòng tin, có người xin mãi mà không được nên đem tượng Chúa và Mẹ ra phơi nắng cho mà biết!

Xin Chúa gìn giữ chúng con khỏi sa chước cám dỗ, xin cho chúng con biết cậy dựa vào Chúa trong mọi sự: “Ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu thoát” (Mt 24,13)

 

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2026

ĐÚNG ĐƯỜNG

 


Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Cứ đến!”.

“Người chọn nơi bắt đầu của một con đường cũng chọn luôn nơi nó dẫn đến!” - Harry Fosdick.

Kính thưa Anh Chị em,

Mỗi điểm đến đều khởi đi từ một con đường. Lời Chúa hôm nay mặc khải một điều: đến với Chúa Giêsu thôi chưa đủ; điều quyết định là đến ‘đúng đường’.

Matthêu không ngẫu nhiên đặt liền hai câu chuyện Phêrô đi trên mặt nước để đến với Chúa Giêsu và chuyện dân thành Ghenêxarét chạm vào tua áo Ngài. Hai cảnh quay, một mặc khải: đến với Chúa Giêsu có nhiều cách, nhưng chỉ một cách dẫn đến ơn cứu độ. Bản Hy Lạp viết erchomai - “đến”. Với Matthêu, erchomai không chỉ là một chuyển động của thân xác, mà còn là chuyển động đức tin: đến với Chúa theo cách Ngài mở ra. Đức tin không giữ con người khỏi mọi sóng gió; nhưng giữ con người ở lại trên con đường Chúa mở giữa sóng gió.

Phêrô là người đầu tiên bước vào con đường ấy. “Xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài!”. Chúa Giêsu đáp: “Cứ đến!”. Ông bước được không phải vì mặt biển hoá cứng, nhưng vì đã bước trên một lời mời. Chỉ đến khi rời mắt khỏi Đấng đã gọi mình để nhìn vào sóng gió, ông mới bắt đầu chìm. Điều đánh gục Phêrô không phải là biển cả, nhưng là rời khỏi con đường Chúa đã mở. Dân thành Ghenêxarét đến với Chúa Giêsu theo một cách khác. Họ chỉ xin được chạm vào tua áo Ngài. Matthêu kết luận: “Ai đã sờ vào thì đều được cứu chữa”. Điều cứu họ không nằm ở tua áo, nhưng ở Đấng họ đã chạm đến.

Vậy mà không phải lời mời nào cũng đến từ Thiên Chúa. Giêrêmia kể về Khanangia, người hứa hẹn một lối giải thoát thật dễ tin: chiếc gông bằng gỗ sẽ được bẻ gãy; nhưng Thiên Chúa lại cho biết: gông gỗ sẽ nhường chỗ cho gông sắt - bài đọc một. Hoá ra, con đường không do Thiên Chúa mở ra chỉ làm chiếc ách nặng hơn. Thánh vịnh đáp ca, vì thế, không xin một lối thoát dễ dàng, nhưng xin chỉ cho một con đường: “Lạy Chúa, thánh chỉ Ngài, xin dạy cho con!”.

Với chúng ta, người ta hiếm khi lạc đường vì yếu đuối; nhưng thường vì tin nhầm một lối đi. Điều dễ tin chưa hẳn là điều dẫn đến sự sống. Có những lối đi không làm chúng ta xa Chúa ngay lập tức, nhưng từng bước làm chúng ta thôi bước theo Ngài. Đức tin đích thực không dừng lại ở việc tìm đến Chúa, mà là vững vàng tiến bước trên con đường Ngài thương mở lối. “Không có hai con đường, chỉ có một: con đường Thầy đã đi. Người môn đệ không thể tự mở cho mình một lối khác!” - Gioan Phaolô II.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ mở đường cho con người đến với Thiên Chúa; chính Ngài là Đường: khởi đầu và điểm đến của hành trình cứu độ. Từ lời “Cứ đến!” trên mặt biển đến thập giá và vinh quang phục sinh, mọi nẻo đường đều quy về Ngài. Vì thế, nơi Đức Kitô, ‘đúng đường’ không còn là chọn đúng một lối đi, nhưng là gắn trọn đời mình với đúng một Đấng. “Đức tin không phải là bám vào một điều gì, nhưng là thuộc về Một Đấng!” - Hans Urs von Balthasar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết từ bỏ những lối đi dễ dãi; tín thác con đường Chúa mở ra; và mỗi ngày chọn bước trên con đường Chúa Giêsu!”, Amen.

Suy tư: 

Có rất nhiều chuyện xảy ra trong trong cuộc đời Chúa Giê su được các sách Tin Mừng kể lại, chúng vượt tầm trí hiểu của con người và ngoài quy luật vật lý: chỉ 5 chiếc bánh và 2 con cá - nuôi sống hơn 5 ngàn người mà vẫn còn dư 12 thúng, chuyện ông Phê rô đi trên mặt biển đang nổi sóng, việc ông La za rô (chết 4 ngày) sống lại, việc Chúa chịu chết và phục sinh...  Chúng ta gọi đó là phép lạ, vì có các nhân chứng, chúng vượt ra ngoài những định luật tự nhiên và xảy ra ngay tức khắc khi có sự can thiệp của Chúa. Những phép lạ đó đã thực sự xảy ra, - đủ và với mục đích để chúng ta tin rằng: Đức Giê su là Con Thiên Chúa, và nhờ tin vào Ngài mà chúng ta được cứu độ.

Hành trình bước theo Đức Giê su của mỗi người mỗi khác. Chúng ta tiến bước mỗi ngày mà không biết đường còn bao xa và tương lai sẽ thế nào. Nếu biết trước đường mình đi, nhiều khi chúng ta bị nỗi sợ bủa vây. Điều kỳ diệu của Ki tô giáo là: Chúa Giê su không đến trần gian để loại bỏ đau khổ, Ngài mặc cho đau khổ một ý nghĩa cứu chuộc, Ngài đã trải qua gian lao của kiếp người và cái chết tự hiến trên thập giá, Ngài đã phục sinh, và Ngài đồng hành với từng người mỗi ngày. Với niềm xác tín của một em bé trong tay cha mình, bạn hãy học lời cầu của Thánh Phê rô: "Lạy Thầy, xin cứu con với" mỗi lần yếu lòng tin và gặp thử thách. Câu châm ngôn sống của ĐGM giáo phận Ban mê thuột: "Có Chúa cùng hoạt động" (Mc 16,20).

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2026

Người làm chứng

 



Trong tuần 17 TN, các bài đọc của năm chẵn, chúng ta nghe về tiên tri Giê rê mia: ông vâng lệnh Chúa để nói lệnh truyền của Chúa cho dân Israel, và ông bị khước từ vì dân không muốn thay đổi lối sống đa thần của họ. Câu kết của đoạn Tin Mừng (Mt 14, 12) nghe thật buồn: “Các môn đệ ông Gioan đến lấy xác ông đem đi mai táng, rồi báo tin cho Chúa Giê su”.   

Chúng ta tự hỏi: tại sao Chúa Giê su chẳng làm gì cả, khi nghe tin ông Gioan bị tống ngục và hôm nay thì bị giết? Trong lúc Tin Mừng thường diễn tả: Chúa chạnh lòng thương trước những nỗi khổ và bệnh tật của dân chúng – nên Chúa đã làm nhiều phép lạ để cứu giúp họ? Trong cảnh tù ngục, ông Gioan đã sai người đến hỏi Chúa Giê su một câu: có phải Ngài là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi ai khác? Một trong những điều kiện để các phép lạ xảy ra là phải có lòng tin, nếu hỏi ngược lại: phải chăng ông Gioan thiếu lòng tin – nên Chúa không thể làm gì cho ông?

Câu chuyện của ông Gioan nói đến một khía cạnh khác: người làm chứng. Sứ giả của Chúa là người truyền đạt ý muốn của Chúa, họ thường bị giết vì dân chúng không muốn thay đổi cuộc sống, dân chúng muốn sống theo sở thích và đam mê của họ, thờ những ngẫu tượng thay vì Thiên Chúa. Khi trông chờ phép lạ, sự can thiệp của Thiên Chúa để giải thoát mình khỏi những oan khiên, được tôn trọng và an toàn… thì tầm nhìn của ta còn nằm ở thế giới vật chất. Thực ra, cảnh vực cao nhất (điều quan trọng nhất) là tìm kiếm ý Chúa, còn những điều khác như sự đánh giá của người đời, thành công hay thất bại, sống lâu hay chết trẻ, chết an vui hay bị xử tử và loại trừ… đều là những tình tiết không mấy quan trọng với cuộc sống đời đời.

Có một nhà truyền giáo trở về sau mấy thập kỷ vất vả vì Tin Mừng, cùng thuyền với một vị tổng thống trở về từ chuyến đi săn của ông, vị tổng thống được các quan chức đón chào long trọng - trong lúc nhà truyền giáo âm thầm xách chiếc va li cũ xuống tàu mà hầu như chẳng một ai để ý, nhà truyền giáo tủi thân thưa với Chúa “tại sao lại bất công như thế”, Chúa trả lời: “Con đã trở về nhà đâu!”. Người làm chứng là người cộng tác với Chúa để gieo những hạt giống Tin Mừng, có thể chưa có kết quả ngay, nhưng chúng sẽ mọc khi Chúa muốn. Chúa là Đấng trung tín, Ngài đã thực hiện lời đã hứa với các tổ phụ chúng ta, Ngài cũng không để cho công khó của các chứng nhân rơi vào quên lãng.

Ông Gio an là vị tiền hô cho Chúa Cứu Thế, ông làm chứng bằng lời, bằng phép rửa, và bằng cả cái chết nữa, một cái chết nhìn bề ngoài rất lãng xẹc, thất bại, hiền lành như chiên bị đem đi xén lông. Chúa Giê su cũng đã trải qua một cuộc sống và cái chết tủi nhục, tựa như một tai nạn và xui xẻo, nhưng thực ra là một sự dâng hiến vì tình yêu: chu toàn ý Cha và vì yêu nhân loại tội lỗi. Bạn và tôi, mỗi ngày hãy dâng hiến cuộc đời mình, làm một điều gì đó cho Chúa và tha nhân, hãy gieo những hạt giống nhân đức vào lòng người, nó sẽ nở hoa khi Chúa muốn.

HÔM QUA CHE KHUẤT HÔM NAY



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Bởi đâu ông ta được như thế?”.

“Chúng ta phải luôn luôn gột rửa cửa sổ của mình, để những gì quá quen thuộc không che khuất điều kỳ diệu!” - J. R. R. Tolkien.

Kính thưa Anh Chị em,

Đôi khi, chính điều quá quen lại che khuất điều kỳ diệu. Tin Mừng hôm nay kể ra một bi kịch như thế. Đồng hương của Chúa Giêsu biết rất rõ về Ngài, nhưng lại không nhận ra Đấng Messia đang đứng giữa họ. Họ để hôm qua che khuất hôm nay.

“Bởi đâu ông ta được như thế?”. Bản Hy Lạp viết póthen - “bởi đâu, từ đâu”. Trong Matthêu, đó không chỉ là câu hỏi về những gì Chúa Giêsu làm, mà còn về chính Ngài là ai. Người Nazareth tưởng mình đã biết câu trả lời: con bác thợ mộc, con bà Maria, anh em ông, chị em ông... Nhưng Matthêu đã trả lời ngay từ chương đầu: “Bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần”. Họ chỉ dừng ở nguồn gốc trần thế, trong khi mặc khải mở ra chiều kích mầu nhiệm. Vì thế, họ đã biến điều mình biết thành giới hạn của điều mình có thể tin.

Chúa Giêsu không biện minh; Ngài chỉ lặng lẽ nói: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương và trong gia đình mình”. Ngài không phủ nhận những gì họ biết về mình, cũng không dùng một phép lạ để buộc họ phải tin. Thiên Chúa không phá vỡ dáng vẻ bình thường của Con Một để cưỡng ép đức tin; trái lại, Ngài để mầu nhiệm lớn nhất của lịch sử cứu độ lớn lên trong một gia đình đơn sơ, một làng quê vô danh và một nghề nghiệp bình dị. Bởi lẽ, tình yêu không cần ánh hào quang để chứng minh. “Chỉ có tình yêu mới đáng để người ta tin!” - Hans Urs von Balthasar.

Một tình yêu không cần ánh hào quang cũng là một tình yêu chấp nhận bị khước từ. Giêrêmia chỉ nói điều Chúa truyền, nhưng người ta đã túm lấy ông và quát lên: “Thế nào ông cũng phải chết!” - bài đọc một. Ngôn sứ không bị khước từ vì nói sai, nhưng vì nói đúng; chân lý không làm con người khó chịu vì thiếu sức thuyết phục, nhưng vì đòi họ phải thay đổi. Từ Giêrêmia đến Chúa Giêsu, rồi đến chúng ta hôm nay, Thiên Chúa không ngừng gõ cửa lòng người bằng sự thật, nhưng chưa bao giờ phá cửa để bước vào.

Phần chúng ta, ký ức giúp nhận ra một người anh em, nhưng cũng có thể giữ họ mãi trong định kiến. Điều đã biết trở thành lăng kính của điều đang thấy. Vì thế, điều Thiên Chúa đang thực hiện và muốn nói với chúng ta qua họ rất dễ bị che khuất. “Đức Kitô trong lời của người anh em mạnh hơn Đức Kitô trong trái tim của chính chúng ta!” - Dietrich Bonhoeffer.

Anh Chị em,

Đức Kitô không ngừng vượt quá những gì chúng ta hiểu về Ngài. Ngày xưa, người Nazareth chỉ thấy một bác thợ mộc; ngày nay, chúng ta cũng có thể chỉ thấy một thói quen đạo đức, một nghi thức phụng vụ hay một khuôn mặt quá quen. Đức tin không phải là biết thêm về Đức Kitô, nhưng là luôn để Ngài mặc khải chính mình vượt quá mọi hiểu biết. Chỉ khi đó, cái nhìn của đức tin mới mở ra cho điều Thiên Chúa đang tỏ bày.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để điều con biết ngăn con gặp Chúa; cho con nhận ra Chúa trong những điều rất quen, trong những con người rất gần!”, Amen.


Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

Phục vụ và bình an

 



Giáo hội mừng kính 3 vị thánh làng Bê ta nia, Matta. Maria và La za rô, vào ngày 29.7 hằng năm. Tin Mừng thánh Luca kể lại chuyện Chúa thăm viếng gia đình 3 chị em (Lc 10,38-42) , nảy ra câu chuyện việc phục vụ Giáo hội có nhiều cách thế.

Mẹ Tê rê xa có câu nói nổi tiếng: Hoa trái của tình yêu là phục vụ, và hoa trái của phục vụ là bình an. Dựa vào câu nói này, ta suy nghĩ được nhiều vấn đề:

-Hoa trái của tình yêu là phục vụ. Khi ta ít phục vụ Giáo hội hoặc không giúp đỡ tha nhân là ta sống ích kỷ, khép lại nơi chính mình. Thiên Chúa có lệnh truyền: “Con người ở một mình không tốt”. Ngài muốn mỗi người có sự tương quan và bổ túc cho nhau, giúp nhau hoàn thành ơn gọi nên thánh. Thế nhưng xã hội đương đại lại xuất hiện một khuynh hướng sống hưởng thụ, làm càng ít càng tốt, sống độc thân, không sinh con, không chịu đựng con người của nhau cách lâu bền. Còn việc phục vụ Giáo hội ư? – Có lúc không phải là hoa trái của tình yêu mà pha lẫn nhu cầu thể hiện, để tìm kiếm sự tôn trọng, hành xử thủ đoạn để chỗ đứng của mình được vững chắc; về tinh thần phục vụ, cha xứ Vinh Hương thường nói: muốn thì có cách, không muốn thì có cớ. Bạn đừng quên phần kết của bài Tin Mừng nói về những nén bạc: Thiên Chúa tính sổ cho từng người tùy vào nén bạc họ đã nhận. Đừng so sánh mình với người khác để rồi sinh ra kiêu ngạo hoặc đào ngũ, mỗi người có con đường phải đi: Matta có việc của Matta, đừng so bì với Ma ri a.

-Phục vụ đem lại bình an. Khi phục vụ mà không bình an, bạn nên dừng lại để suy xét bản thân (động lực phục vụ, sai lầm cần sửa chữa) hoặc thay đổi công việc (vì hoàn cảnh không còn phù hợp với mơ ước của mình) kẻo luống công vô ích. Nguyên tắc vàng: chọn Chúa hơn là chọn công việc của Chúa.

-Có lời bài hát: ôi kỳ dị thay đời sống (người) con Chúa. Người đời thấy con cái Chúa sống quảng đại – sống phó thác thì họ ngạc nhiên và thấy kỳ dị (lạ lùng, ít thấy). Nhưng trong Giáo hội, thỉnh thoảng ta thấy thái độ kỳ lạ khi người con cái Chúa hành xử như người đời: độc tài, thủ đoạn, loại trừ. Thật là kỳ lạ khi đối chiếu với tinh thần Chúa dạy: hãy học nơi Chúa sự hiền lành và khiêm nhường.

Xin cho con và người con cái Chúa biết phục vụ Giáo hội và phục vụ người trong gia đình cách khiêm tốn, hiền hòa và rộng rãi, để con cũng được vào sổ sách các thánh bình dân, một đoàn lũ không thể đếm được, khi đến trình diện Chúa. Amen.

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026

RỒI MÙA SẼ ĐẾN

 


Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời”.

“Mọi sự đều là một thời kỳ thai nghén, rồi mới đến lúc sinh nở!” - Rainer Maria Rilke.

Kính thưa Anh Chị em,

Không ai có thể đòi mùa gặt khi hạt giống vừa được gieo; cũng không ai mong ngày sinh nở khi thời kỳ thai nghén chưa trọn. Mọi sự đều cần thời gian. Lời Chúa hôm nay cho thấy Thiên Chúa không vội vàng, vì Ngài biết: ‘rồi mùa sẽ đến’.

Và chính ở đó, Chúa Giêsu mặc khải một cái nhìn rất khác về thời gian. Bản Hy Lạp viết synauxanesthai - “cùng lớn lên”. Có những điều chỉ khi lớn lên mới biết mình là gì. Hạt lúa phải đợi đến khi trổ bông, cỏ lùng cũng phải đợi đến lúc kết hạt mới lộ nguyên hình. Chúa Giêsu vì thế không nhìn cánh đồng bằng con mắt của một khoảnh khắc, nhưng bằng cái nhìn của cả một vụ mùa. Con người chỉ nhìn thấy cánh đồng mới mọc; Thiên Chúa đã nhìn thấy mùa gặt. Đầy tớ sợ cỏ lùng; chủ ruộng tin vào lúa. Bởi Ngài biết: ‘rồi mùa sẽ đến’.

Trong cái nhìn của Thiên Chúa, có những điều chỉ đến mùa mới sáng tỏ. Vì thế, Chúa Giêsu không vội phân định. Ngài để thời gian hoàn tất điều mà con mắt con người chưa nhìn thấy. Đến mùa, lúa không cần chứng minh mình là lúa; cỏ lùng cũng không thể tiếp tục giả làm lúa. “Dối trá không thể hoá thành chân lý, cho dù nó có lớn mạnh đến đâu!” - Rabindranath Tagore.

Điều lạ trong dụ ngôn không phải là cỏ lùng, nhưng là sự bình thản của ông chủ. Giữa một cánh đồng đã bị gieo phá, ông không hốt hoảng. Ông hiểu rằng có những việc càng vội càng hỏng, càng nóng lòng càng mất. Chỉ mùa gặt mới có tiếng nói sau cùng. Điều kỳ diệu nhất trong dụ ngôn có lẽ không nằm ở mùa gặt, mà ở khả năng chờ đợi của Thiên Chúa. Chúng ta đo thời gian bằng đồng hồ; Thiên Chúa đếm thời gian bằng hy vọng. Bao lâu còn một hạt lúa có thể trổ bông, bấy lâu Ngài vẫn đợi.

Niềm hy vọng ấy cũng là niềm hy vọng của Giêrêmia. Giữa cảnh đất trời khô cằn và lòng người bội bạc, vị ngôn sứ vẫn không buông lời tuyệt vọng. Ông thú nhận tội lỗi của dân, nhưng đồng thời nài xin Thiên Chúa hành động vì danh Chúa và lòng trung tín của Ngài - bài đọc một. Vì thế, Hội Thánh không ngừng thưa lên: “Lạy Chúa, để danh Ngài rạng rỡ, xin giải thoát chúng con! - Thánh Vịnh đáp ca.

Với chúng ta, điều làm chúng ta mệt nhiều khi không phải là cỏ lùng, mà là cảm giác chẳng có gì đổi thay. Chúng ta sốt ruột với chính mình, với người khác, thậm chí với cả Thiên Chúa. Đừng bỏ cuộc quá sớm, vì biết bao mùa gặt đã chết ngay trong ngày người ta bỏ cuộc.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là bằng chứng Thiên Chúa không bao giờ từ bỏ cánh đồng của mình. Khi con người tưởng mọi sự đã kết thúc trên thập giá, Ngài lại khởi đầu một mùa gặt mới bằng biến cố phục sinh. Với Đức Phanxicô, Chúa không mời chúng ta đi tìm cỏ lùng, Ngài mời chúng ta đi chăm lúa. Vì thế, theo Đức Kitô là dám ở lại với hy vọng, vì ‘rồi mùa sẽ đến’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con đừng thất vọng quá sớm về chính mình, về tha nhân, vì mùa của Chúa luôn đến đúng lúc!”, Amen.

Suy tư:

-Hành trình sống đạo thực chất là tập sống yêu mến Thiên Chúa: ta sống ở đời này để nhận biết, yêu mến và phụng sự Thiên Chúa. Trong hành trình thiêng liêng, mỗi người luôn là một em bé trước mặt Thiên Chúa. Điều Ngài muốn nơi hành trình này không phải là công trạng mà là lòng yêu mến. Bạn hãy quan sát một em bé trong tương quan với cha mẹ và ngược lại (tâm thế của cha mẹ với đứa con) để học được triết lý sống quan trọng của cuộc đời: cuộc đời chỉ có một mục đích duy nhất là giúp mỗi người cởi bỏ những ràng buộc cồng kềnh để thuộc trọn về Chúa.

Tôi nghĩ ra chân lý này khi suy gẫm bài thơ Bạn tôi (sơ lược):

Buổi sáng, Bạn xuất hiện và mời gọi tôi lên đường.

Tôi xin ít phút để mang theo một ít kỷ niệm và đồ dùng cho cuộc hành trình.

Bạn tôi đi trước, nhẹ nhàng. Tôi lẽo đẽo theo sau, vì cồng kềnh nhiều thứ.

Đến trưa, mặt trời lên cao, tôi đề nghị bạn dừng lại, tôi vứt bỏ một số đồ dùng.

Bạn giục tôi lên đường... vì đường còn xa.

Tôi vội tìm lại di ảnh Mẹ nhưng nó rơi mất từ khi nào.

Khi mặt trời ngả bóng, tôi theo kịp bạn, cũng nhẹ nhàng và hớn hở muốn đi xa hơn.

Bạn mỉm cười, nhìn tôi và nói: chúng ta đã tới nơi rồi.

Từ ngày còn bé thơ, Chúa Giê su đến và mời ta lên đường: "Hãy theo Thầy".

Đến cuối đời, hành lý trở nên nhẹ hơn: có những thứ ta tự nguyện vứt bỏ và có những thứ ta không giữ nổi theo quy luật cuộc đời: danh vọng, của cải, mơ ước, tự hào, giận dỗi, cái tôi... 

Và đến giờ chết ta trở nên trần trụi để hoàn toàn nhẹ nhàng bước theo Đức Kitô là cùng đích của cuộc đời 

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2026

NGẪM NGHĨ


 


Vì sao loạt phi hành gia trở về từ vũ trụ đều hóa "điên dại," người nát rượu, kẻ trầm cảm vứt bỏ cả sự nghiệp? 

 

Chỉ một lần ngoái nhìn về Trái Đất từ không gian bao la cũng đủ để đảo lộn hoàn toàn nhận thức của một con người.  Hiện tượng tâm lý này kinh điển đến mức các nhà khoa học đã đặt tên cho nó: Hiệu ứng cái nhìn tổng quan.

 

Kể từ sau các sứ mệnh Apollo lịch sử, NASA đã ghi nhận rất nhiều phi hành gia trở về với những thay đổi sâu sắc, thậm chí là cực đoan trong thế giới quan:

 

Buzz Aldrin (Apollo 11): Người đàn ông thứ hai đặt chân lên Mặt Trăng đã rơi vào trầm cảm và nghiện rượu kéo dài sau khi trở về.  Khi đứng ở đỉnh cao của vinh quang nhân loại, ông bỗng nhận ra cái gọi là "vĩ đại" của con người thực chất chỉ là một ảo tưởng nực cười.  Vinh quang không cứu rỗi được ông, nó chỉ làm nổi bật thêm sự trống rỗng của thực tại.

 

Những người khác: Người thì từ bỏ chức quản lý cấp cao, người lập tức vứt bỏ cả công ty tỷ đô để đi tìm một lối sống hoàn toàn khác.

 

Giới siêu giàu cũng không ngoại lệ: Từng chi ra số tiền tương đương 700 tỷ VNĐ (hơn 26 triệu đô Mỹ) để mua một tấm vé bay vào vũ trụ, tỷ phú Tôn Vũ Thần sau khi trở về đã im lặng suốt 3 ngày mới thốt lên một câu: "Tôi không biết chúng ta đang sống vì điều gì."

 

Tài sản, thể diện, tranh giành bỗng chẳng là gì giữa khoảng không vô tận.

 

Người đời chê cười anh bỏ tiền mua về nỗi sợ, nhưng thực chất, khoảnh khắc nhìn thấy Trái Đất nhỏ bé, anh hiểu ra tài sản, thể diện hay những cuộc tranh giành danh lợi ngoài kia bỗng chốc chẳng bằng một hạt cát giữa hư không.

 

Hãy tưởng tượng bạn đã đạt được điều mà 99,9999% nhân loại cả đời này không thể chạm tới: đứng ở rìa thế giới, nhìn ngắm ngọn nguồn của sự sống trong một khoảng không tĩnh lặng tuyệt đối.

 

Và rồi, bạn buộc phải quay lại mặt đất để xếp hàng mua đồ ăn sáng, loay hoay trả hóa đơn tiền điện, và chứng kiến những cuộc cãi vã vặt vãnh của người đời.  Sự chênh lệch quá lớn ấy chính là thứ đã bẻ gãy tâm lý của họ.

 

Nhìn vào bức ảnh Trái Đất chỉ là một chấm sáng mỏng manh kích thước 0.12 pixel giữa không gian vô tận, nhà thiên văn học Carl Sagan đã viết nên những dòng triết học lay động lòng người: "Mọi vị vua và kẻ ăn xin, mọi kẻ độc tài và nạn nhân, mọi cuộc chiến tranh đẫm máu hay nỗi dằn vặt xé lòng của con người... tất cả đều chỉ diễn ra trên một hạt bụi nhỏ ngoai ngoắt bám trên một tia nắng."  (Trích từ cuốn "Đốm xanh mờ" - Carl Sagan)

 

Vì vạn vật mong manh, nên từng giây phút mới là vô giá

 

Những thứ như danh vọng, thể diện, sự hơn thua... thực chất chỉ là những quy ước do con người tự tạo ra.

 

Hàng ngày, chúng ta tự làm khổ mình bằng những áp lực tự tạo: hơn thua nhau một câu nói, dằn vặt vì một lỗi lầm trong quá khứ, hay lo lắng thái quá về tương lai.

 

Nếu một tỷ phú sở hữu trăm tỷ còn thấy tiền bạc vô nghĩa trước vũ trụ, thì việc bạn chưa mua được cái túi hiệu hay chưa thăng chức tháng này thực ra cũng chẳng phải là thảm họa của thế giới.

 

Nhìn thấy sự bao la của vũ trụ dạy chúng ta rằng: Mọi đau khổ, sĩ diện và tranh giành của con người thực ra rất nực cười.

 

Nếu những tủi hờn, thất bại hay áp lực của bạn nhỏ bé đến mức vô hình trước vũ trụ, thì tại sao bạn lại để chúng gặm nhấm tâm hồn mình ngày này qua ngày khác?

 

Nhận ra sự vô nghĩa giúp chúng ta dũng cảm buông bỏ cái tôi vặt vãnh, tha thứ cho bản thân, tha thứ cho người khác, và bước đi một cách nhẹ nhõm hơn.

 

(Theo Sách Hay Chọn Đọc)

Nguồn: Tâm Lý Học & Khoa Học Hành Vi