Danh sách Blog của Tôi

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2026

THIÊN CHÚA LUÔN LÀ NGƯỜI LẠ

 



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ngay cả việc có Thánh Thần, chúng tôi cũng chưa hề được nghe nói!” - bài đọc một.

“Đức tin là tác động của Thiên Chúa, soi sáng tâm trí và niêm phong trái tim! Con đường phía trước luôn bất ngờ. Nó là quà tặng đơn thuần của Ngài!” - Jacobus Arminius.

Kính thưa Anh Chị em,

Nếu con đường đức tin luôn bất ngờ, thì có lẽ bởi Thiên Chúa không bao giờ là Đấng con người có thể hiểu hết. Càng bước theo Ngài, chúng ta càng nhận ra: Thiên Chúa luôn là người lạ’.

Thực trạng đức tin của các tín hữu Êphêsô thật đáng suy nghĩ: họ tin Chúa, nhưng không biết Chúa Thánh Thần. Thật ra, điều ấy cũng có thể là thực trạng của nhiều người. Chúng ta biết nhiều điều về Chúa, nhưng chưa chắc đã thật sự để Ngài dẫn đi. Có lẽ vì “pneuma” - Thần Khí - cũng có nghĩa là gió; mà gió thì không ai giữ, càng không ai điều khiển được. Thiên Chúa luôn lớn hơn điều con người tưởng mình đã biết về Ngài.

Với bài Tin Mừng, các môn đệ tưởng mình đã hiểu Chúa Giêsu. “Giờ đây, chúng con nhận ra là Thầy biết hết mọi sự… chúng con tin Thầy từ Thiên Chúa mà đến!” - một tuyên bố tự tin, nhưng cũng non trẻ. Chúa Giêsu phá vỡ ảo tưởng ấy: “Anh em sẽ bị phân tán mỗi người một ngả!”. Đó luôn là nghịch lý của đời sống đức tin: càng tưởng đã nắm được Thiên Chúa, con người càng đánh mất Ngài. Karl Rahner từng nói, “Thiên Chúa không phải là một đối tượng để sở hữu, nhưng là một mầu nhiệm để con người mãi mãi bước vào!”. Vì thế, Thiên Chúa luôn là người lạ’: càng đến gần, Ngài càng mở ra những chiều sâu chưa ai chạm tới. Đóng khung Thiên Chúa vào lý thuyết là cách nhanh nhất để khai tử mầu nhiệm!

Thật ra, điều đáng sợ nhất không phải là không biết Thiên Chúa, nhưng là tưởng mình đã biết Ngài quá rõ. Một đức tin không còn ngạc nhiên rất dễ trở thành một đức tin đang chết. Giáo đoàn Êphêsô không biết Chúa Thánh Thần; các môn đệ lại quá tự tin về Thầy. Một bên thiếu, một bên tưởng đã đủ; nhưng cả hai đều cần được dẫn vào một cuộc gặp gỡ sâu hơn. Đó là cách Thiên Chúa hành động: phá vỡ những hình ảnh cũ về chính Ngài để kéo con người ra khỏi một đức tin quen thuộc, an toàn và khép kín. “Mỗi lần tôi nghĩ mình đã hiểu Thiên Chúa, đó thường là lúc tôi bắt đầu đánh mất Ngài!” - Meister Eckhart.

Anh Chị em,

Với Đức Kitô, Chúa Cha không bao giờ là “người lạ”, vì giữa Ngài với Cha luôn có một sự hiệp thông trọn vẹn của tình yêu, ngay cả trong bóng tối thập giá. Chính nơi tưởng như bị bỏ rơi nhất, Ngài vẫn thưa, “Con phó linh hồn con trong tay Cha!”. Còn với chúng ta, Thiên Chúa luôn là người lạ, bởi chúng ta quên rằng, đức tin không phải là chiếm hữu Thiên Chúa, nhưng là để Ngài dẫn mình đi vào những điều luôn lớn hơn mình. Đức Giêsu không cần chúng ta thấu suốt Ngài, nhưng cần chúng ta bước theo Ngài. Bởi lẽ, một đức tin an toàn thường là một đức tin đang hấp hối. Søren Kierkegaard từng bông đùa: đức tin nhìn thấy rõ nhất trong bóng tối!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để đức tin con trở nên cũ kỹ; đừng để trái tim con thôi ngỡ ngàng; và đừng để con sợ những bất ngờ của Chúa Thánh Thần!”, Amen.

Suy tư: Lễ mở tay của Tân linh mục Phêrô Nguyễn Duy Khâm, với câu châm ngôn đời linh mục: “Lạy Chúa, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng”. Cha Nghĩa phụ Phaolô Nguyễn Thư Hùng giảng: một tấm lòng trong trắng là để yêu Chúa như Chúa đáng yêu, để nhìn thấy Chúa nơi tha nhân, để nhìn thấy sự thật về chính mình ‘chỉ là một thụ tạo yếu đuối’, để thấy những ân ban của chức thánh – để rồi khi tha nhân cần đến mình thì mình hãy vui vẻ và nghĩ đơn giản rằng: ‘họ cần ơn thánh, vì nếu họ làm được thì họ đã không cần đến mình’, trong trắng để không cậy dựa vào khả năng riêng của mình, không bám víu vào bất cứ điều gì khác ngoài Thiên Chúa… để luôn bước đi trong Chúa, trong bình an.

-Câu kết Tin Mừng Ga 16, 33: “Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian”. Tôi nhớ đến 2 câu chuyện. Câu chuyện thứ nhất kể về một con nhộng đang lột xác, lỗ kén chỉ mở rất nhỏ và con sâu phải rán hết sức mới chui ra được một phần, có người thấy tội nghiệp nên mở lớn lỗ kén một chút để nó chui ra dễ dàng, nhưng chính điều đó đã làm hại nó – khiến nó không bao giờ bay lên trời xanh, vì quy luật tự nhiên là khi con sâu rán sức để chui ra thì cơ thể nó sẽ tiết ra một chất nhờn giúp cho đôi cánh phát triển… Chính Đức Ki tô, dù là Con Thiên Chúa cũng phải trải qua đau khổ để học được đức vâng phục (Thư Do Thái). Khi ta cầu xin cho được kiên nhẫn và sức mạnh thì Thiên Chúa đã nói: Không, kiên nhẫn là hoa trái của thử thách, con hãy tự hái lấy. Điều quan trọng là Chúa Giê su đã chiến thắng thế gian bằng sự phục sinh, Ngài luôn có đó để trợ giúp ta: Hãy can đảm lên con.

Câu chuyện thứ hai kể về một đứa bé. Nó chạy xe đạp trong sân, có một tảng đá lớn cản đường, nó dùng hết sức và nhiều cách để di chuyển tảng đá nhưng vô ích, nó òa lên khóc - người cha chạy đến và hỏi: “Con đã dùng hết cách chưa… còn một cách con chưa dùng đến đó là nhờ ba giúp”. Đó cũng là cách hành xử của Thiên Chúa, Ngài vẫn ban cho ta những ơn thường sủng và những ân lộc chung chung cho kẻ lành người dữ, nhưng nếu kẻ có lòng tin mạnh và kẻ kiên trì kêu xin … thì ơn ban càng dồi dào hơn nhiều, vì Chúa luôn tôn trọng tự do của con người: Ngài quyền năng, Ngài mong chờ lời kêu xin, nhưng đành bất lực khi con người bất cần!  Ngài kiên nhẫn đứng đó, gõ cửa, chờ ta mở cửa tâm hồn… Ngài bước vào dùng bữa tối với ta.

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2026

THIÊN CHÚA RÚT LUI



(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ!”.

“All Hallows College”, một đại học truyền giáo nổi tiếng ở Ái Nhĩ Lan, chọn mệnh lệnh cuối cùng của Chúa Giêsu làm khẩu hiệu: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng Chúa Nhật Thăng Thiên không chỉ ghi lại mệnh lệnh cuối cùng của Chúa Giêsu, nhưng còn mặc khải một nghịch lý lớn của Kitô giáo: để Hội Thánh có thể đi tới, Thiên Chúa rút lui.

Vào những năm đầu tiên của Hội Thánh, thật khó để tưởng tượng Tin Mừng có thể đến với muôn dân. Các môn đệ chỉ là một nhóm nhỏ đầy hoang mang. Vậy mà chính lúc ấy, Chúa Giêsu lại rời họ để về cùng Cha. Kỳ lạ thay, từ nhóm nhỏ mong manh ấy, Kitô giáo lại dần vượt khỏi Giêrusalem để đi vào lịch sử.

Không ít người hôm nay vẫn mang sự nản lòng của các môn đệ thuở đầu. Edward Schillebeeckx cho rằng, chúng ta đang sống khoảng giữa “cái chết của Chúa Giêsu và lúc họ nhận ra Ngài đã phục sinh”: vẫn biết Đức Kitô, nhưng chỉ như một Đấng chịu đóng đinh. Ron Rolheiser thì ví Hội Thánh hôm nay như đang ở “giữa phục sinh và thăng thiên”: Đức Kitô vẫn sống nhưng hiện diện theo một cách khác. Vì thế, điều gây hoang mang không vì Ngài vắng mặt, nhưng vì Ngài hiện diện một cách mới.

Thăng Thiên, vì thế, không phải là việc Chúa Giêsu vắng mặt, nhưng là sự biến đổi trong “parousia- sự hiện diện của Ngài. Nếu trước đây, các môn đệ gặp Ngài trong một hình hài hữu hạn, thì nay, Ngài hiện diện cách phổ quát hơn trong Thánh Thần, trong Hội Thánh và thế giới. Thiên Chúa rút lui khỏi một kiểu hiện diện cũ, không phải để bỏ mặc con người, nhưng để con người trưởng thành khỏi nhu cầu thấy mới tin. Nói cách khác, Chúa rút lui để đức tin con người trưởng thành. “Từ lúc ấy, Ngài hiện diện cách thần linh sâu xa khôn tả với chính những người mà Ngài đã rời xa trong nhân tính hữu hình!” - Lêô Cả.

Như vậy, Thăng Thiên không phải là chia ly, nhưng là cuộc đăng quang của Con trong vinh quang Cha. “Thiên Chúa ngự lên, rộn rã tiếng hò reo!” - Thánh Vịnh đáp ca. Đấng từng được các môn đệ thấy cất lên khỏi mắt mình giờ đây ngự bên hữu Chúa Cha, “trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được” - bài đọc hai. Và nếu các thiên thần nhắc các môn đệ đừng mãi đứng nhìn trời - bài đọc một, thì Phaolô lại hướng Hội Thánh về Đức Kitô là Đầu, Đấng vẫn hoạt động trong Hội Thánh, thân mình Ngài.

Anh Chị em,

Đức Kitô lên cùng Cha không mời Kitô hữu trốn khỏi đất để tìm trời, nhưng sống giữa đời với một linh hồn đã được kéo lên khỏi chính mình. Ngài vắng mặt để chúng ta bắt đầu hiện diện. Thiên Chúa rút lui không phải để Hội Thánh sống thiếu Ngài, nhưng để con người thôi bám víu vào kiểu hiện diện cũ, để ngước lên và ra đi. Khi Ngài giấu mình đi, là để tìm thấy ta trong thế giới. Sự im lặng của trời cao là lệnh lên đường của đất thấp. “Thiên Chúa không được tìm thấy trong linh hồn bằng sự chất thêm, nhưng bằng một tiến trình buông bỏ!” - Meister Eckhart.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dù con gần đất hơn gần trời, xin đừng để lòng con nặng mùi đất; cho con ngát mùi trời và sẵn sàng ra đi toả hương!”, Amen.


Thứ Tư, 13 tháng 5, 2026

ĐƯỢC CHỌN, ĐỂ Ở LẠI

 



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em!”.

Một bé gái mơ được đóng vai trong vở kịch cuối năm; đến ngày công bố, em chạy về, vui mừng nói với mẹ, “Mẹ ơi, con được chọn… làm người vỗ tay!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Được chọn không luôn đồng nghĩa với được đứng ở trung tâm; nhiều khi, được chọn chỉ để làm người vỗ tay. Với Matthia, là để ở lại. Lời Chúa hôm nay mở ra một nghịch lý: không phải được chọn để làm điều gì đó, nhưng bạn và tôi được chọn - để ở lại.

Trong Tin Mừng Gioan, “được chọn” không phải là một đặc ân bên ngoài, nhưng là một lời gọi vào tương quan. Động từ ở lại - manere - trở thành trục: “Hãy ở lại trong tình thương của Thầy!”. Vì thế, được chọn không nhằm trao một vai trò, nhưng mở ra một tình trạng hiện hữu: ở lại trong tình yêu, trong Lờitrong chính Thầy. Và chỉ trong sự gắn  ấy, người môn đệ mới sinh hoa trái; không phải từ khả năng, nhưng từ ơn ban. Như vậy, được chọn không phải để làm điều gì đó cho Chúa, nhưng để ở trong Ngài. “Ơn gọi Kitô hữu trước hết không phải là hành động, nhưng là ở trong Đức Kitô!” Hans Urs von Balthasar.

Matthia xuất hiện trong một tiêu chuẩn rất Gioan: “phải là người đã cùng chúng tôi đi theo Chúa Giêsu… và làm chứng Người đã phục sinh” - bài đọc một. Đôi khi, vỗ tay cho người khác cũng là một cách tán thưởng Thiên Chúa. Ở đây, điều quyết định không phải là vai trò, nhưng là một sự trung tín. Không rời bỏ khi lời chói tai, không tản mác khi nhóm tan tác; Matthia không được thấy, nhưng vẫn ở đó. Vì thế, việc ông được chọn không phải là một khởi đầu, nhưng là một bộc lộ: ở lại đôi khi đã là một hành động. Và như thế, được chọn không phải để bước lên, nhưng để thấy mình đã luôn thuộc về - để ở lại - và còn ở lại.

“Để anh em ra đi, sinh được hoa trái”. Hoa trái không bắt đầu từ hành động, nhưng từ sự kết hiệp. Cành nho không tự mình sinh trái; nó phải gắn liền với thân. Vì thế, điều quyết định không phải Matthia hay ai làm được gì cho Chúa, nhưng là có còn gắn liền với Ngài hay không. Khi còn gắn liền, hoa trái không còn là điều phải gắng làm nên, nhưng là điều được ban. Trung tín là một hình thái của quyền năng. “Khi Thiên Chúa ban thưởng công nghiệp, Ngài chỉ đang ban thưởng chính ân sủng của Ngài!” - Augustinô.

Anh Chị em,

Đức Kitô luôn ở trong Chúa Cha, và từ Cha, Ngài đến với những ai bơ vơ tất tưởi. Nơi Ngài, “ở lại” không tách rời “được sai đi”. Matthia được chọn không phải từ chỗ nổi bật, nhưng từ một đời sống âm thầm ở lại; không được thấy, nhưng không rời. Bị quên lãng trong Chúa chính là được ghi nhớ đời đời. Và từ đó, ông được sai đi. Chúng ta cũng thế: được chọn không phải để bước ra phía trước, nhưng để hiện diện; không phải để được thấy, nhưng để được sai. Và trước hết, được chọn - để ở lại’. “Đừng chờ đợi những việc lớn, hãy làm những việc nhỏ với tình yêu lớn!” - Mẹ Têrêxa Cacutta.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con muốn làm điều lớn, xin cho con yêu điều nhỏ; con muốn nổi bật, xin cho con khiêm nhu; con muốn vội lên đường, xin cho con biết lân la với Chúa!”, Amen.

Suy tư:

-Ơn gọi chính yếu của người Ki tô hữu là được ở lại trong Chúa Giê su, nguồn ơn thánh và là Đấng Cứu Độ. Dù bạn chỉ là một hội viên, một ca viên, một giáo dân bình thường hoặc là tu sỹ, linh mục… thì những vai trò đó cũng chỉ là cái ‘phông, nền’ của một bình hoa, giúp cho những nụ hoa nhân đức được nổi bật – đó là tình yêu Giê su được lớn lên. Điều đáng thương là ai trong chúng ta cũng luôn bị lôi kéo đi trệch hướng: tìm tiếng khen và vỗ tay của người đời – thay vì chìm sâu trong tình yêu Chúa.

-Ai đó từng nói: nét đẹp của người đàn ông là pha lẫn một chút nữ tính và nét đẹp của người phụ nữ là pha lẫn một chút nam tính. Tôi muốn nói thêm ‘nét đẹp của người lớn là pha lẫn một chút của trẻ con’: đơn sơ, chân thành, dễ tha thứ và cười nhiều. Người lớn chúng ta thường nói mà không làm, nói ‘dậy và không phải dậy’, chiến tranh lạnh, bỏ bê nhiệm vụ, gây rối loạn và chia rẽ… Tất cả là vì cái tôi bị tổn thương và muốn gây chú ý.

Hãy giữ lại hình ảnh em bé rất phấn khởi vì được phân công vỗ tay cổ vũ các bạn, một nhiệm vụ nhỏ thôi, nhưng phải thật sự quên mình mới chấp nhận trong niềm vui. Cuộc đấu tranh giữa sự lớn lên mỗi ngày trong nhân cách và ý thức nhỏ bé của mình trước Chúa và anh em sẽ luôn xảy ra mỗi ngày – cho đến ngày ta lìa thế.

 

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2026

 TÌM RA ƠN GỌI CỦA MÌNH

 Rev. Ron Rolheiser, OMI


Nhiều người trong chúng ta quen thuộc với một câu nói nổi tiếng của C.S. Lewis.  Khi viết về cuộc trở lại Kitô giáo của mình, ông chia sẻ rằng mình là “người trở lại miễn cưỡng nhất trong lịch sử Kitô giáo.”  Khi ông quỳ gối lần đầu tiên, đó không phải là trong sự sốt sắng hân hoan, nhưng với cảm giác rằng đây là điều ông buộc phải làm.  Điều gì đã cho ông cảm giác ấy?

 

Lời của ông: “[Tôi quỳ xuống dù lòng còn chống đối], bởi tôi đã nhận ra rằng sự thôi thúc của Thiên Chúa chính là sự giải thoát của chúng ta.”

 

“Sự thôi thúc của Thiên Chúa” là gì?  Đó là cảm thức luân lý sâu xa, không thể dập tắt, ở trong ta – điều cho ta biết mình phải làm gì hơn là mình muốn làm gì.  Và điều đó có thể rất hữu ích khi chúng ta tìm kiếm ơn gọi và vị trí của mình trong cuộc đời.

 

Ơn gọi là gì, và làm sao để tìm ra ơn gọi của mình?  Theo David Brooks, ơn gọi là một yếu tố có phần “phi lý trí,” khi bạn nghe một tiếng nói nội tâm mạnh đến mức không thể nghĩ đến chuyện quay lưng lại; khi bạn trực giác rằng mình không có lựa chọn nào khác, ngoài việc tự hỏi: trách nhiệm của tôi ở đây là gì?

 

Đó cũng là câu chuyện về ơn gọi linh mục và đời sống tu trì của tôi.  Tôi chia sẻ ở đây không phải vì câu chuyện ấy đặc biệt; thực ra, nó rất bình thường, chỉ là một trong hàng triệu câu chuyện khác.  Tôi chia sẻ với hy vọng rằng nó có thể giúp ai đó nhận ra ơn gọi của mình trong đời.  Đây là câu chuyện của tôi.

 

Tôi lớn lên trong một nền văn hóa Công giáo, nơi mà vào thời ấy, hầu như mọi thiếu niên nam nữ đều được mời gọi suy nghĩ xem mình có được kêu gọi sống đời thánh hiến và/hoặc làm linh mục hay không.  Tôi nghe điều đó cách minh nhiên từ cha mẹ và từ các nữ tu Ursuline dạy tôi ở trường; tôi cũng cảm nhận điều ấy trong bầu khí chung của văn hóa Công giáo thời bấy giờ.

 

Nhưng bên trong tôi luôn có một sự kháng cự mạnh mẽ.  Đó không phải là điều tôi muốn làm với đời mình!  Tôi không muốn trở thành linh mục Công giáo.  Tôi nuôi dưỡng sự chống đối ấy suốt những năm trung học và tốt nghiệp với dự định vào đại học, lý tưởng là để trở thành một nhà tâm lý học.  Thế nhưng, một tiếng nói trong tôi không chịu im lặng.

 

Tôi đã dành cả mùa hè sau khi tốt nghiệp trung học làm việc tại hai trang trại, trang trại của gia đình và một trang trại của người hàng xóm.  Hầu hết thời gian tôi làm việc ngoài trời, thường là một mình, lái máy kéo hàng giờ liền trên đồng ruộng.  Và trong những giờ làm việc dài ấy, sự thôi thúc của Chúa bắt đầu làm suy yếu sự kháng cự của tôi.  Ý nghĩ rằng tôi được kêu gọi trở thành linh mục đơn giản là không thể bị dập tắt, dù tôi đã cố gắng.  Tôi nhớ một buổi chiều nọ, khi đang làm việc một mình trên máy kéo, tôi đã cố gắng xua tan suy nghĩ đó bằng cách hát thật to, nhưng tiếng nói của Chúa không dễ dàng bị dập tắt như vậy.

 

Mọi sự lên đến cao điểm vào cuối mùa hè, chỉ hai tuần trước khi tôi dự định lên đường vào đại học.  Một buổi tối, sau một buổi chiều lại làm việc một mình trên máy cày, tôi về nhà.  Cha mẹ tôi không có ở đó, nên tôi cố tự làm mình xao lãng bằng cách chơi ném bóng với em trai.  Nhưng bình an vẫn chưa đến.  Bình an chỉ đến sau đó, khi tôi lên giường ngủ – sau khi tôi đã quyết định theo đuổi ơn gọi linh mục.  Sáng hôm sau, tôi chia sẻ quyết định ấy với cha mẹ.  Họ mỉm cười và đưa tôi đến gặp cha xứ địa phương, một linh mục thuộc Dòng Thừa Sai Đức Mẹ Vô Nhiễm.

 

Công bằng mà nói, vị linh mục ấy cho tôi biết rằng, dù ngài là một tu sĩ Thừa Sai, tôi vẫn có thể có những lựa chọn khác, chẳng hạn như trở thành linh mục địa phận hoặc gia nhập Dòng Tên.  Tôi chọn Dòng Thừa Sai Đức Mẹ Vô Nhiễm vì đó là điều tôi quen thuộc, và vì tôi đã có một người anh trong dòng.  Hai tuần sau, tôi vào nhà tập của Dòng – như một trong những tập sinh miễn cưỡng nhất trong lịch sử của Dòng!

 

Nhưng ngay từ ngày đầu tiên, tôi biết đó là đúng.  Tôi biết đó là nơi tôi được gọi để thuộc về.  Điều ấy đã xảy ra cách đây sáu mươi năm.  Dù đã trải qua những khó khăn trong đời linh mục, tôi chưa bao giờ nghi ngờ rằng đây là ơn gọi của mình – đời linh mục và Dòng Thừa Sai Đức Mẹ Vô Nhiễm.

 

Và Thiên Chúa, cuộc sống, sứ vụ và Dòng đã ban cho tôi nhiều hơn những gì tôi xứng đáng.  Thừa tác vụ của tôi chan chứa ân sủng vượt quá mọi lường đo; Dòng đã cho tôi một đời sống cộng đoàn lành mạnh, những cơ hội học tập xuất sắc, nhiều sứ vụ tuyệt vời, và niềm tự hào về đặc sủng của hội dòng trong việc phục vụ người nghèo.

 

Sáu mươi năm sống ơn gọi này, tôi chỉ có thể nói: Lạy Chúa, con cảm tạ Ngài vì đã dẫn con đến nơi con không muốn đi.

 

Tôi đã đưa ra quyết định ấy khi mới mười bảy tuổi.  Ngày nay, văn hóa của chúng ta có thể nói rằng một quyết định như thế không thể được thực hiện với sự trưởng thành và sáng suốt đầy đủ ở tuổi còn quá trẻ như vậy.  Thế nhưng, tôi chưa bao giờ thực sự nghi ngờ lựa chọn của mình, và giờ đây nhìn lại, tôi xem đó là quyết định sáng tỏ nhất, vị tha nhất và ban sự sống nhất mà tôi từng thực hiện.

 

Đó là câu chuyện của tôi.  Nhưng còn có rất nhiều câu chuyện ban sự sống khác, khác với câu chuyện của tôi.  Sự thôi thúc của Thiên Chúa có vô vàn cách để biểu lộ.

 


Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2026

SỰ VẮNG MẶT BIẾT THỞ

 



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Thầy sẽ không để anh em mồ côi!”.

“Cô độc không đến từ việc không có ai ở quanh mình, nhưng từ việc không thể chia sẻ những điều mình cho là quan trọng và sâu xa!” - Carl Jung.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói rằng các môn đệ sẽ không mồ côi, chẳng phải vì Chúa Giêsu vẫn ở quanh họ, nhưng vì Ngài ở trong họ bằng hơi thở của Thánh Thần. Khởi đầu của một sự vắng mặt biết thở.

Thần học Gioan xem Thánh Thần không như “người thay thế”, nhưng là cách Chúa Giêsu tiếp tục ở lại sau Phục Sinh. Vì thế, sự ra đi của Ngài không tạo nên khoảng trống; nhưng mở ra một cách thức ở lại. Chính Thánh Thần làm cho Chúa Giêsu không còn chỉ ở trước mặt họ, nhưng trong họ. “Thầy về cùng Cha” không phải là rút lui khỏi thế gian, nhưng là sự chuyển đổi từ hữu hình sang nội tại  sâu hơn. Càng không thể bị chạm tới, Ngài càng đi vào chiều sâu con người“Ngài ở trong con còn sâu hơn phần sâu thẳm nhất của con, và cao hơn phần cao nhất nơi con!” - Augustinô.

Chúa Giêsu gọi Thánh Thần là “Thần Khí sự thật” Pneuma tēs alētheias. “Sự thật” không chỉ là điều đúng, nhưng là điều làm lộ con người thật. Vì thế, công việc của Thánh Thần không phải là thêm kiến thức, nhưng là kéo con người ra khỏi những phiên bản giả của chính mình. Có lẽ vì vậy mà thế gian không thể đón nhận Thánh Thần; bởi thế gian chỉ quen tin vào những gì có thể nắm giữ, đang khi Thánh Thần không như một vật thể. Còn người môn đệ, họ không sống như kẻ nhớ Chúa, nhưng như kẻ đang được Chúa cư ngụ. Ngài vắng mặt, một ‘sự vắng mặt biết thở.

Thánh Thần cũng không làm người môn đệ khép kín trong những cảm xúc thiêng liêng, nhưng mở họ ra cho thế giới. Nhờ “thở hơi Thánh Thần”, đức tin không còn là một ký ức về vị Thầy đã vắng bóng, nhưng trở thành một sự sống lan rộng và làm rung động lòng người. Tại Samaria, các tông đồ đặt tay để tín hữu lãnh nhận Thánh Thần - bài đọc một; Phêrô mời gọi các Kitô hữu “hãy luôn sẵn sàng trả lời cho ai chất vấn về niềm hy vọng” của mình - bài đọc hai. Từ đó, dân ngoại mừng, tín hữu vui - “Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa!” như Thánh Vịnh đáp ca cất lên.

Anh Chị em,

“Thầy sẽ không để anh em mồ côi!”. Điều đáng sợ không phải Thiên Chúa vô hình, nhưng là một thế giới không còn ai hiện diện với ai. Đức Giêsu Kitô không hề mồ côi, Ngài hằng ở với Cha, cùng Cha và trong Cha; ngay cả trên thập giá khi mọi tương quan tưởng như tan vỡ. Từ sự hiệp thông ấy, Ngài không để người môn đệ sống như kẻ bị bỏ rơi. Theo Yves Congar, Thánh Thần không bao giờ tách khỏi Đức Kitô; chính Ngài làm cho Đức Kitô tiếp tục hiện diện trong Giáo Hội và nơi người tín hữu. Chúa Thánh Thần là cách Ngài ở lại! Nhờ đó, nỗi cô độc sâu nhất nơi lòng người được chữa lành nhờ thở hơi Thánh Thần.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con sống giữa một thế giới đầy kết nối nhưng thiếu hiện diện; xin cho con biết ở lại trong Ngài và hiện diện cho tha nhân!”. Amen.

 Suy tư: 

Nhiều người rất dị ứng với hai chữ 'mầu nhiệm' trong đạo, họ cho rằng vì lười suy nghĩ và không nỗ lực tìm hiểu mọi sự bằng lý trí, nên cứ gán cho hai chữ đó là xong! Thực ra các linh mục - tu sĩ và các nhà thần học đều phải học 4 năm triết và 4 năm thần với các vị giáo sư bằng cấp hẳn hoi, nhưng đứng trước pho Kinh Thánh và muốn hiểu Đấng Vô Hình, trí óc con người chỉ hiểu biết có chừng. Phần không hiểu và không thể diễn tả còn lớn hơn phần đã hiểu, và phải chấp nhận 2 chữ mầu nhiệm. Người ta chỉ có thể diễn tả : Thiên Chúa không như, không phải là... thì dễ hơn là diễn tả Ngài như thế nào. Khi chấp nhận 'mầu nhiệm' là chấp nhận sự hữu hạn của phận người.

Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm lớn và khó hiểu bậc nhất trong đạo. Đừng mong hiểu thấu, và tốt hơn là nên sống mầu nhiệm đó. Chúa Giê su nói:  "Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em" (Ga 16,7). Chúng ta dễ tưởng Chúa Giê su và Chúa Thánh Thần hoạt động độc lập kiểu như lính thay ca và thường nói: Thời đại chúng ta đang sống là thời đại của Chúa Thánh Thần, kiểu như 'Chúa Cha và Chúa con xong việc và nghỉ ngơi'. Bài suy niệm của Cha Minh Anh làm ta phải suy nghĩ lại: Khi Chúa Giê su về trời, Ngài không rời bỏ trần gian, nhưng cách hiện diện của Ngài chuyển đổi từ hữu hình sang nội tại sâu hơn, với tác dộng của Chúa Thánh Thần. Đừng quên rằng Ba Ngôi Thiên Chúa luôn yêu thương nhau và hoạt động cùng nhau, không ganh tị - không bỏ mặc - không chia rẽ... 

Thiên Chúa là Tình Yêu, hãy học yêu mến Chúa hết lòng - luôn thực hành ý Ngài, cùng yêu thương anh em đến hy sinh mạng sống mình để anh em được hạnh phúc. Amen

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2026

BÌNH AN CHÚA BAN


 


(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

 Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian!”.

“Để có thể trải nghiệm niềm vui, chớ gì không một giây phút nào trong đời tôi nằm ngoài ánh sáng, tình yêu và sự hiện diện của Chúa! Như chiếc bình rỗng, tôi trao toàn thân cho Ngài, Đấng sẽ đổ đầy nó bằng tình yêu và Thánh Thần!” - Andrew Murray.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu tiết lộ một bí quyết để thôi xao xuyến, tìm lại tự do. Không chỉ nên như chiếc bình rỗng để được đổ đầy, nhưng chúng ta phải đắm mình trong nguồn ấy; không chỉ nhận lãnh, nhưng ở lại.

“Anh em đừng xao xuyến!”Xao xuyến không hẳn đến từ những gì xảy ra bên ngoài; nó phát sinh từ việc chúng ta đứng trước mọi sự. Có người ở trong thử thách mà vẫn bình an; có người không thiếu gì mà lòng vẫn bất ổn. “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa, và lòng con khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Chúa!” - Augustinô. Vấn đề không nằm ở hoàn cảnh thuận hay nghịch, nhưng ở chỗ bạn và tôi đang bám vào đâu, hy vọng điều gì - và sâu xa hơn, sống với ai.

Xao xuyến không chỉ là một trạng thái tâm lý; nó là dấu của một đời sống chưa ở lại, chưa ở trong. Chúa Giêsu không mời gọi chúng ta làm điều gì thêm, nhưng ở lại - menein - trong Ngài. “Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” không phải là trao một cảm giác để xoa dịu, nhưng là bình an kéo chúng ta vào sự sống của Ngài; ở đó, con người không còn giữ lấy mình, không còn chao đảo giữa sợ hãi và bám víu, nhưng bắt đầu sống từ một sự sống khác - một hiệp thông bản thể. Bình an thế gian cần hoàn cảnh thuận; bình an của Chúa vẫn còn đó giữa những đổ vỡ.

Chính trong sự ở lại ấy, bình an không còn mơ hồ, nhưng trở thành một cách hiện hữu. Phaolô là một chứng từ. Bị ném đá, tưởng đã chết; nhưng ông vẫn đứng dậy và trở lạiHoàn cảnh không đổi; ông không còn bám vào sự sống mình giữ, nhưng sống từ Đấng nâng ông dậy và giữ ông ở lại. Vì thế, Phaolô không trốn chạy, nhưng tiếp tục loan báo: “Triều đại Ngài vinh hiển!” - Thánh Vịnh đáp ca. Ở lại như Phaolô không phải là một nỗ lực căng, nhưng là một sự buông mình. Khi không còn phải giữ lấy bản thân, lòng người dần lắng xuống, vì đã có một nơi để ở. Và trong sự ở lại ấy, bình an không còn là điều phải tìm, nhưng tự nhiên hiện diện.

Anh Chị em,

Đức Giêsu Kitô là Đấng đã sống trọn vẹn sự ở lại ấy. Giữa xao xuyến của Vườn Dầu, giữa sợ hãi và cái chết, Ngài không giữ lấy mình, nhưng hoàn toàn phó thác trong tay Cha. Vì thế, bình an Ngài ban không phải là vắng bóng thử thách, nhưng là một sự sống không tách lìa Cha, cùng nhịp với Cha. Cũng thế, chỉ khi ở lại trong Chúa Kitô, trong Cha, con người không chỉ thôi xao xuyến, được an ủi hay vững vàng hơn, nhưng được sống chính sự sống thần linh của Ngài - một ‘hiệp thông bản thể’. “Thiên Chúa đã làm người để con người được tham dự vào sự sống của Ngài!” - Athanasiô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con biết ở lại trong Ngài, để không còn xao xuyến, nhưng sống trong bình an của Ngài, bình an không ai lấy mất!”, Amen.

Suy tư:

Ngày sống của đa số nhân loại trôi qua trong sự khắc khoải – mong chờ - mong ước… kết quả là nặng nề, thở dài và oán trách nhau, kể cả oán trách Chúa. Chúng ta mong trời mưa, mong gia đình hòa thuận, mong con cái kết hôn với người ta đánh giá cao… Lời cầu nguyện tha thiết, ngày qua ngày mà chẳng có gì tiến triển. Và cuộc sống trôi qua trong sự nặng nề.

Có một người đi tham quan viện tâm thần, một bệnh nhân miệng tru lên ‘Lu Lu, hỡi Lu Lu’. Bác sỹ cho biết ‘Lu Lu là tên một cô ả mà anh này yêu mà không lấy được, nên phát bệnh’. Đi tiếp một quãng, lại có một bệnh nhân khác, đập đầu vào tường và đang tru tréo ‘Lu Lu, Lu Lu’, bác sỹ cho biết: ‘anh chàng nầy lấy được cô ả, nhưng thất vọng đến phát điên’. Trên đời này, người ta thường phát điên vì hai lý do: thứ nhất là mong ước điều gì đó mà không được, thứ nhì là đạt được điều mong ước nhưng lại vỡ mộng.

Chúng ta thường phát điên khi con cái cư xử vô ơn, khi chúng không nghe theo sự hướng dẫn của mình. Cha mẹ tự tin vào sự khôn ngoan của mình, dựa vào quyền làm cha mẹ, muốn truyền lệnh cho con cái phải nghe theo ý mình. Hãy coi chừng, sự khôn ngoan – sự quan phòng của Thiên Chúa vẫn đang ẩn mình. Một bên là sự khôn ngoan và trách nhiệm của người làm cha mẹ, một bên là sự tự do của con cái và mầu nhiệm quan phòng của Thiên Chúa, đâu là ranh giới? Đừng nóng nảy kẻo mất hết người thân, và  đừng quá bám vào mình mà mất cả đức tin!

Xin trích lại câu mở đầu của cha Minh Anh: “Để có thể trải nghiệm niềm vui, chớ gì không một giây phút nào trong đời tôi nằm ngoài ánh sáng, tình yêu và sự hiện diện của Chúa! Như chiếc bình rỗng, tôi trao toàn thân cho Ngài, Đấng sẽ đổ đầy nó bằng tình yêu và Thánh Thần!” - Andrew Murray. 

Lạy Chúa Giê su con tín thác vào Chúa, cả hiện tại và tương lai, chuyện cuộc sống và cả phần rỗi linh hồn. Amen