Danh sách Blog của Tôi

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2026

NHỮNG NGHI NGỜ CỦA BÀ LÃO


 

Lm. Mark Link, S.J.

Chủ đề: “Cách thức để triển nở đức tin là thực hành nó, đặc biệt trong việc yêu thương tha nhân.”

 

Một bé gái 6 tuổi đến ăn tại nhà một người bạn.  Khi mọi người ngồi vào bàn, cô bé cúi đầu chờ đợi mọi người đọc kinh ăn cơm.  Chẳng thấy ai đọc kinh hết, cô bé thẹn thùng nói: “Cả nhà giống con chó nhà cháu quá, cứ ngồi xuống là ăn!”

Dân Do Thái cũng nghĩ như thế đối với đám dân ngoại.  Theo họ, dân ngoại xét về mặt thiêng liêng cũng giống như loài chó vì họ hoàn toàn thiếu nhạy cảm đối với Thiên Chúa.  Ðiều này dẫn chúng ta đến chủ điểm quan trọng của bài Phúc Âm hôm nay.

 

Các học giả nhận xét là từ ngữ Hy Lạp mà Chúa Giêsu nói về “lũ chó” trong câu “không nên ném thức ăn cho lũ chó” là một hình thức giảm thiểu.  Nó ám chỉ lũ chó cưng nuôi trong nhà, chứ không phải những con chó rông ngoài đường.  Chúa Giêsu dùng từ ngữ ấy một cách thân ái.  Câu đáp lại của người phụ nữ cho thấy rõ điều ấy.  Có lẽ bà ta vừa mỉm cười vừa nói:


“Những lũ chó cũng được ăn vụn bánh rơi xuống nền nhà chứ!”

 

Nói cách khác, bà ta đang nói với Chúa Giêsu: “Con biết Ngài hiện đang dành ưu tiên cho dân Israel, tuy nhiên trong khi Ngài thiết đãi họ, Ngài lại không thể đẩy cho con chút ít bánh vụn giống như đám nhóc quăng bánh xuống cho lũ chó cưng khi bố mẹ chúng không nhìn thấy sao?”

 

Chúa Giêsu liền trả lời cho bà ta:Bà là người phụ nữ giàu lòng tin!  Điều bà mong muốn sẽ được trao ban cho bà.

 

Thật đẹp biết bao nếu Chúa Giêsu cũng nói như thế về anh chị em.

 

Ðiều này gợi lên một vấn nạn: Tại sao một số người có đức tin mạnh mẽ trong khi số khác đức tin lại yếu kém?  Tại sao lại thấy đó là điều khó khăn?  Và điều đó dẫn đến một vấn nạn còn khó khăn hơn: Nếu đức tin của chúng ta yếu kém thì liệu chúng ta có thể làm gì để củng cố?  Chúng ta hãy xét vắn tắt từng vấn nạn nêu trên.

 

Trước hết, tại sao có những người đức tin yếu kém và có những người đức tin mạnh mẽ?  Ðiều này cũng giống hệt như việc hỏi tại sao có người yếu nhược còn có người lại khỏe mạnh?

 

Một số người có sức khỏe yếu kém là do cha mẹ họ.  Họ thừa hưởng một thân xác eo sèo.  Nhưng cũng có những người sức khỏe yếu kém vì họ chẳng biết chăm sóc sức khỏe cho chính mình.

 

Ðiều đúng cho sức khỏe thể lý thế nào thì cũng đúng cho sức khỏe tâm linh đức tin của chúng ta như thế.  Một số người có đức tin yếu kém là do cha mẹ họ.  Sức khỏe tâm linh được di truyền cũng tương tự như sức khỏe thể lý.  Nếu bố mẹ lạnh nhạt với đức tin của mình thì điều này cũng thường tác động lên đám con cái họ.  Mặt khác, đức tin của chúng ta yếu kém cũng có thể là do chúng ta không chăm sóc nó.

 

Ðiều này dẫn chúng ta đến vấn nạn thứ hai.  Nếu đức tin chúng ta yếu kém bất kể vì lý do gì, chúng ta có thể làm gì để củng cố nó lại?  Ðức tin có thể được so sánh với một bắp thịt.  Nếu chúng ta không chịu luyện tập, bắp thịt ấy sẽ từ từ yếu đi.  Mặt khác, các bạn càng luyện tập, bắp thịt ấy càng mạnh mẽ lên.  Đức tin của chúng ta tương tự như thế.  Nó cũng cần phải được tập luyện.

 

Có nhiều phương cách luyện tập đức tin.  Chúng ta có thể học hỏi và bàn luận về Phúc Âm như hiện chúng ta đang làm.  Chúng ta có thể tham dự thánh lễ mà ít phút nữa chúng ta sẽ cử hành một cách chăm chú hơn.  Chúng ta có thể tập cầu nguyện mỗi ngày để việc cầu nguyện trở thành thói quen.

 

Tuy nhiên, còn một phương cách luyện tập đức tin chúng ta xem ra cực kỳ hữu hiệu.  Cách này đáng được lưu tâm đặc biệt.  Dostoevski có bàn đến nó trong tác phẩm của ông nhan đề: “Anh em nhà Karamazốp” (The Brothers Karamazov).  Trong tác phẩm này, tác giả đề cập đến một bà lão nọ.  Sức khoẻ thiêng liêng của bà đã suy thoái mau chóng theo sức khỏe thể lý.  Ngày nọ bà ta bàn luận vấn đề của mình với vị linh mục già tên là Zossima.  Bà kể cho cha nghe về đức tin yếu kém của bà những nỗi ngờ vực vừa phát sinh, chẳng hạn như: Thiên Chúa có thực sự quan tâm đến vạn vật không?  Có đời sống sau lúc chết không?

 

Linh mục Zossima thông cảm lắng nghe bà và nói: “Chẳng có cách nào minh chứng rõ ràng những điều này, nhưng bà vẫn có thể tin tưởng những điều ấy vững chắc hơn.”  Bà ta ngạc nhiên: “Bằng cách nào?”  Vị linh mục già đáp: “Bằng tình yêu.  Hãy cố gắng yêu láng giềng của bà thật tình.  Càng yêu thương, bà sẽ càng chắc chắn hơn về sự hiện hữu của Chúa và đời sống tương lai sau khi chết.  Càng yêu mến, đức tin bà sẽ càng lớn lên và các nỗi ngờ vực sẽ tiêu tan.  Ðây là điều chắc chắn từng được thử nghiệm và nó đã có kết quả.

 

Linh mục Zossima nói thật chí lý.  Người cho ta thấy điểm quan trọng là: tình yêu và đức tin đi đôi với nhau không khác gì hai đường rầy xe lửa.  Tìm được cái này tức là tìm thấy cái kia.  Ðức tin và tình yêu liên kết với nhau như xác với hồn.  Albert Schweitzer, vị bác sĩ thừa sai vĩ đại, cũng cùng quan điểm như trên trong cuốn sách của ông nhan đề Reverence For Life (Kính trọng cuộc sống).  Ông bàn đến một vài điều đem lại kết quả này như sau:

 

Bạn có muốn tin vào Chúa Giêsu không?  Bạn có thực sự muốn tin Người không?  Như thế bạn phải làm một điều gì đó cho Người.  Trong thời buổi đầy ngờ vực này thì không có cách nào khác đâu.  Nếu vì Người mà các bạn cho kẻ khác cái gì đó để ăn, để uống hoặc để mặc, những nghĩa cử này Chúa Giêsu đã hứa chúc phúc như là làm cho chính Người, thì lúc đó các bạn sẽ thấy rằng mình đã thực sự làm điều ấy cho Người.  Chúa Giêsu sẽ mặc khải chính Người cho các bạn như thể Người vẫn còn sống.

 

Và điều này dẫn chúng ta trở lại với người phụ nữ trong bài Phúc Âm.  Bà đến với Chúa Giêsu là vì kẻ khác, chớ không vì chính bà, Bà đã đến vì tình yêu, đã đến với tư cách một người mẹ đầy lòng yêu thương, tin tưởng.

 

Tôi xin nêu lên một gợi ý.  Tôi tin rằng mỗi bài Phúc Âm khi được đọc trong thánh lễ đều mang theo một ân sủng đặc biệt.  Nếu các bạn là một bậc cha mẹ cảm thấy cần củng cố đức tin của mình, thì hãy bắt chước người phụ nữ trên.  Ngay tuần này, các bạn hãy bắt đầu đến với Chúa Giêsu mỗi ngày đều đặn để kêu cầu Người chúc phúc cho con cái các bạn.  Nếu các bạn là một thanh niên cảm thấy cần củng cố đức tin của mình thì hãy làm điều Dostoevski và Schweitzer đã nói.  Hãy bắt đầu cư xử một cách yêu thương đối với bố mẹ và anh chị em của mình.

 

Và tôi xin chia sẻ thêm một tư tưởng nữa về vấn đề đức tin.  Bất cứ ai dù khỏe mạnh đến đâu cũng phải trải qua những khó chịu bởi vì cuộc sống con người vốn là như thế.  Chẳng hạn, vào ngày buồn sầu trong cuộc sống khi gặp phải cảm nghiệm chua chát, chúng ta thường gây gỗ với mọi người và mọi vật, chúng ta nguyền rủa kẻ thù và than phiền về bạn bè của mình.  Còn vào ngày hưng phấn trong cuộc sống.  Khi chúng ta cảm nghiệm được điều gì hoan hỉ, tự dưng chúng ta cảm thấy yêu mến mọi người và mọi sự.  Chúng ta tha thứ cho kẻ thù và thích tỏ tình thân thiện với bè bạn.

 

Ðức tin cũng rất giống như thế.  Có ngày rất tươi sáng và rất phấn khích, có ngày ảm đạm, sầu thảm.  Khi gặp phải một ngày “tồi tệ” của đức tin, các bạn hãy ghi nhớ câu chuyện có thực sau đây.  Nó sẽ giúp bạn chịu đựng ngày ấy và giữ vững niềm tin của mình.

 

Sau thế chiến thứ hai ít lâu, có một số công nhân lo dọn dẹp sạch sẽ tàn tích của một ngôi nhà bị bom ở Cologne (nước Ðức).  Họ thấy trên một bức tường nhỏ trong nhà, có một bản ghi chú đầy cảm động, hình như một người Do Thái trên đường trốn bọn Quốc Xã đã viết lên đó.  Anh ta dùng tầng hầm của căn nhà để trốn bọn Quốc Xã.  Sau đây là bản ghi chú đó:

 

Tôi tin vào mặt trời ngay cả lúc nó không chiếu sáng.
Tôi tin vào tình yêu ngay cả lúc tôi không cảm thấy nó.
Tôi tin vào Thiên Chúa ngay cả khi Người yên lặng
”...

 

Lm. Mark Link, S.J.

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2026

ĐỦ CỚ – VẪN KHÔNG BỎ



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ta sẽ nhớ lại giao ước đã lập với ngươi!”.

“Không phải tình yêu nâng đỡ hôn nhân; nhưng từ nay, chính hôn nhân nâng đỡ tình yêu!” - Dietrich Bonhoeffer.

Kính thưa Anh Chị em,

Con người thường nghĩ tình còn, hôn nhân còn; nhưng có lúc, chính hôn nhân giữ cho tình khỏi chết. Với Thiên Chúa, giao ước đã biểu lộ một tình yêu ‘đủ cớ - vẫn không bỏ’.

Để thử Chúa Giêsu, người Pharisêu hỏi: “Có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không?”. Họ tìm lý do để bỏ; Ngài nêu lý do họ bỏ: “lòng chai dạ đá”. Bản Hy Lạp viết sklērokardía - không chỉ là chai lòng, nhưng là một trái tim đã hoá cứng đến mức không còn đau nỗi đau của người khác. Môsê cực lòng bật đèn ly dị vì sự trơ lì ấy, chứ không biến nó thành ý định của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đưa họ về “thuở ban đầu”: giao ước đã nên “huyết nhục” - đi vào máu thịt. Họ tìm ‘đủ cớ’ để bỏ; Ngài nại hôn ước để giữ. “Tình yêu họ cam kết với nhau lớn hơn bất cứ cảm xúc, tình cảm hay trạng thái tâm hồn nào!” - Phanxicô.

Nếu ai đó có đủ lý do để bỏ, thì người ấy chính là Thiên Chúa. Giữa đồng, Giêrusalem giãy giụa trong máu, Ngài cúi xuống, phủ áo, nhặt về, làm cho nên xinh đẹp. Và Ngài kết ước với nó. Nhưng vừa lớn lên, nó đã cậy sắc mà phản bội Đấng cứu mình. Nó lấy quà tặng để ngoại tình; lấy ân huệ mà phản bội. Vậy mà sau tất cả, Ngài vẫn phán: “Ta sẽ nhớ lại giao ước đã lập với ngươi! - bài đọc một. Con người nhớ lỗi, quên thề; Thiên Chúa tha lỗi, nhớ thề. Vì “Giờ đây cơn giận đã nguôi rồi, và Chúa lại ban niềm an ủi” - Thánh Vịnh đáp ca.

Hiếm khi chúng ta bỏ nhau chỉ trong một ngày. Nhưng “lòng chai dạ đá” đã bắt đầu nhen nhóm khi tôi chỉ biết mình bị tổn thương. Hôn ước không phủ nhận lỗi lầm hay dung túng bạo hành; nhưng cũng không lấy một lỗi lầm để định nghĩa cả một con người. Chúa không hỏi Israel còn gì đáng yêu; Ngài chỉ hỏi giao ước còn ý nghĩa gì. Chúng ta thường chỉ cần người kia hết đáng yêu là lời thề cũng hết nghĩa; đang khi Thiên Chúa lại chưa bao giờ thôi yêu. Vì thế, dù trong hôn nhân hay độc thân vì Nước Trời, mọi ơn gọi đều là học ở lại với Đấng đã gọi mình.

Anh Chị em,

“Tình yêu không biết chiều sâu của chính mình cho đến giờ ly biệt!” - Kahlil Gibran. Trên thập giá, Đức Kitô không nói về lòng trung tín; Ngài trở thành Đấng trung tín. Nhân loại ruồng rẫy, đuổi bỏ và ly dị Ngài; Ngài vẫn ở lại, đi vào tận cùng nỗi đau của kẻ bị bỏ, để không một tội nhân nào ở ngoài giao ước. Máu chảy không đòi báo oán, nhưng trở thành “máu giao ước” thứ tha. Khi sống lại, Ngài trở về không với bản liệt kê tội trạng, nhưng với lời “Bình an cho anh em!”. Thương tích vẫn còn đó; nhưng trong tay Ngài, không còn là chứng cứ kết án, mà là dấu ấn của một tình yêu lớn hơn mọi phản bội - có tên ‘đủ cớ - vẫn không bỏ’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi nhớ lỗi, cho con nhớ lời thề; khi cạn yêu, cho con kín múc sức yêu từ ‘máu giao ước’; khi đủ cớ để bỏ, cho con ở lại như Ngài!, Amen.

Suy tư:

Thảm cảnh ly thân và ly dị dường như càng ngày càng lan rộng đến cả các xứ đạo, có nơi tỷ lệ là 10% (80 cặp trên 800 hộ). Một câu hỏi thường được đặt ra: tại sao thời thế hệ ông bà cha mẹ (thế hệ 1) việc tìm hiểu nhau rất hạn chế - chủ yếu là do mai mối -lấy nhau khi còn trẻ con, vậy mà vẫn chung sống đến đầu bạc răng long; so sánh với thời nay (thế hệ 2 và 3), việc tìm hiểu kỹ lưỡng - trực tiếp gặp gỡ - được học về giáo lý... mà lại xảy ra nhiều đổ vỡ trong hôn nhân đến thế? Nếu nói ma quỷ, cơ hội sa ngã, đam mê, lòng tham... thì thời nào chẳng có?- Thưa, chỉ vì lòng chai dạ đá: một trái tim đã hoá cứng đến mức không còn đau nỗi đau của người khác, người ta mong lấy nhau khi trẻ để cậy nhau khi già.

Chúng ta được mời gọi trở nên hoàn thiện như Cha trên trời, học điều gì nơi Thiên Chúa? - Thưa học lòng nhân từ, Chúa làm mưa làm nắng trên cả kẻ lành và người dữ; học lòng thương xót: Chúa tha thứ và yêu thương Israel dù biết rõ đó là một dân bội phản, Con Một Chúa đã đổ đến giọt máu cuối cùng cho một nhân loại đồng tâm treo Đấng cứu độ lên thập giá; học lòng trung tín, cho dù người mẹ có quên con mình đã sinh thì Ta sẽ không bao giờ quên con - Chúa không bao giờ quên điều đã hứa.

Con người thời đại suy nghĩ và biện minh cho sự cứng lòng và tráo trở của mình "khi không còn tình yêu thì giải thoát cho nhau", các tòa án thường nêu lên lý do 'những bất đồng không thể tháo gỡ' để đưa ra kết luận 'ly dị là điều hợp lý và tốt nhất'. Nhưng dù lý luận thế nào, thì ẩn phía sau là một thất bại của cuộc đời: một sự cứng lòng, con đẻ của ma quỷ, một điều đáng chê trách vì đã phản bội lời thề hứa. 


Thứ Tư, 12 tháng 8, 2026

QUÊN MỚI NHỚ



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Anh em đừng lãng quên những việc Chúa làm!”.

“Không gì giúp chúng ta dễ tha thứ hơn bằng việc luôn nhớ rằng mình đã được thứ tha!” - Lewis B. Smedes.

Kính thưa Anh Chị em,

Khi ký ức về lòng thương xót còn sống, lòng tha thứ sẽ không chết. Muốn nhớ điều đáng nhớ, đôi khi phải biết quên điều cần quên. Thì ra, ‘quên mới nhớ’.

Phêrô hỏi: “Phải tha đến mấy lần?”. Thay vì trả lời bằng một con số, Chúa Giêsu kể dụ ngôn một người đầy tớ vừa được chủ xoá món nợ khổng lồ; nhưng vừa bước ra, anh bóp cổ bạn mình vì một món nợ nhỏ. Khoảng cách giữa được tha và không tha gần như bằng không. Món nợ đã được xoá, trái tim vẫn chưa đổi. Đó cũng là bi kịch của đời sống thiêng liêng: ân sủng có thể đổi đời người, nhưng chỉ tình yêu được cảm nhận mới đổi được trái tim. Điều đã được ban chưa kịp trở thành điều được sống. Bản Hy Lạp viết epnigen - “bóp cổ”, không chỉ là hành vi bạo hành thể xác, nhưng còn là bóp nghẹt sự sống. Khi lòng thương xót không đi vào trái tim, con người bắt đầu làm tắc nghẽn sự sống của nhau.

Êzêkiel gọi đó là căn bệnh của một dân “có mắt để nhìn mà không thấy, có tai để nghe mà không nghe” - bài đọc một. Người đầy tớ thấy rất rõ món nợ của bạn mình, nhưng đã quên lòng thương xót chủ vừa dành cho anh. Thánh Vịnh đáp ca nhắc nhở: “Anh em đừng lãng quên những việc Chúa làm!”. “Hỡi linh hồn, hãy nhớ mọi ân huệ của Thiên Chúa khi nhớ đến mọi tội lỗi của mình!” - Augustinô. Thiên Chúa không xin chúng ta quên quá khứ; Ngài chỉ xin chúng ta nhớ quá khứ dưới ánh sáng của lòng thương xót. Tha thứ không thay đổi quá khứ, nhưng thay đổi quyền lực của quá khứ. Chúa không xoá ký ức; Ngài cứu chuộc ký ức. Chỉ khi còn nhớ mình đã được xót thương, chúng ta mới thôi đếm món nợ của người khác. Thì ra, ‘quên mới nhớ’.

Chúng ta hiếm khi đối xử với nhau như người đầy tớ trong dụ ngôn, nhưng không ít lần vẫn cầm người khác trong những món nợ vô hình. Khi ký ức chỉ còn là những món nợ, nó sẽ làm nghẹt thở không chỉ người khác, mà cả chính mình. Mỗi lần từ chối tha thứ, điều đầu tiên mất đi không phải là tự do của người khác, nhưng là tự do của mình. Không ai có thể sống bằng lòng thương xót khi trái tim vẫn chất đầy những món nợ. Quá khứ không giam ai; chính món nợ chúng ta vẫn đòi nơi quá khứ mới giam cầm chúng ta.

Anh Chị em,

Trên thập giá, Đức Kitô mang lấy mọi món nợ của nhân loại mà không đòi lại một món nào. Từ cạnh sườn bị đâm thâu, Ngài không chỉ tuôn đổ ơn tha thứ, nhưng còn khai sinh một trái tim mới - một trái tim biết tri ân hơn là oán hận. Đứng dưới chân thập giá, chúng ta mới học được điều tưởng như không thể: quên món nợ của anh em để nhớ mãi tình yêu cứu chuộc của Thiên Chúa. “Chỉ khi đặt nền trên sự tha thứ đi trước và khôn dò của Thiên Chúa, con người mới có thể vượt qua những giới hạn của thiện chí mình!” - Hans Urs von Balthasar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

Lạy Chúa, xin cho con chỉ nhớ điều Chúa muốn con nhớ, quên điều Chúa muốn con quên, và giữ lại trong tim điều làm Chúa vui lòng!”, Amen.

Suy tư:

 Đức Phan xi cô dạy: Thỉnh thoảng hãy nhớ lại lịch sử đời mình để biết tạ ơn Chúa vì những ân huệ cụ thể Ngài ban. Đến với Chúa, chúng ta thường xin ơn nhiều hơn tạ ơn. Và chúng ta thường tạ ơn Chúa một cách chung chung: vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương, vì muôn ơn lành Chúa ban, vì mọi điều con có là do nơi Ngài, vì công trình tạo dựng và cứu chuộc, vì Con Một Chúa đã chết và sống lại để mang lại ơn giải thoát cho nhân loại... chúng ta tạ ơn dựa theo công thức mà con tim chẳng mảy may rung động, tại sao? Thưa: những điều trên là điều ai cũng có, và đôi khi ta còn bị cám dỗ nghĩ rằng chúng chỉ  là con đẻ của trí tưởng tượng hoặc suy tư thần học!

Có câu chuyện kể về 2 người bạn trên đường đi khám phá thiên nhiên, họ cãi nhau và anh A đã tát vào mặt bạn mình, Người này lẳng lặng ghi lên cát 'hôm nay, người bạn thân đã tát vào mặt tôi', họ tiếp tục lên đường - và đến một lúc anh B bị rơi vào vùng cát lún, và anh được người kia giúp ra khỏi nơi nguy hiểm, anh lấy thanh gươm và khắc vào đá 'hôm nay, người bạn thân đã cứu mạng sống tôi'. Thế đó, nỗi bất bình được ghi trên cát để gió cuốn đi, còn ân tình phải được ghi lên đá để lưu giữ lâu dài. Chúng ta thường làm ngược lại: nỗi buồn, nỗi oán hận, sự vô tâm, sự xúc phạm được ghi vào nhật ký, đưa lên mạng xã hội, được kể đi kể lại... còn ân nghĩa chẳng có nơi lưu giữ... đời mất vui và đời buồn là thế: phải quên ân oán mới có khả năng nhớ ân phúc mà Chúa và tha nhân đã làm cho mình. Câu chuyện Tin Mừng Chúa kể cũng chính là câu chuyện của mỗi người chúng ta.

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026

Trở nên như trẻ nhỏ

 




Chúa Giê su đã dạy: “Nếu các con không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, các con chẳng được vào nước trời” (Mt 10, 3). Bản Hy Lạp viết mikrōn - “bé nhỏ”: không chỉ người nhỏ tuổi, nhưng còn là người không địa vị, dễ bị coi thường.

Chúng ta thường suy nghĩ về những đức tính của một em nhỏ: phó thác, trông cậy mọi sự từ cha mẹ, yêu mến nhiều, đơn sơ, thật thà… Nhưng chính xác là sự tự hạ: “Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy là người lớn nhất trong nước trời” (Mt 10, 4). Bản tính của con người là thích tự do và tự lập, không muốn cậy dựa vào Thiên Chúa… bởi đó, họ chối từ cả sự hiện diện của Ngài. Chúng ta còn nhớ câu biểu ngữ được gắn trên các xe bus công cộng ở Anh năm 2009: “Có lẽ không có Thiên Chúa, bạn cứ vui hưởng cuộc sống đi!”  Ẩn ý đàng sau câu nói này là ‘Thiên Chúa và lề luật của Ngài làm con người không được sống buông thả và tự do như mình mong ước’. Ngày nay ở Mỹ, người ta thừa nhận công khai là có ma quỷ - hoạt động dưới nhiều hình thức và nhiều tổ chức, có kẻ tôn thờ nó và kẻ khác sợ bị quấy rầy nên kiêng kỵ nhiều thứ. Thế nhưng, niềm tin của nhiều người chỉ dừng ở đó, nếu hỏi họ về Thượng Đế thì họ không muốn bàn đến vì họ không biết rõ - có quá nhiều vị: chúa của Ki tô giáo, của Hồi giáo, của Phật giáo và của đất trời… tốt nhất là không bàn tới. Tại sao nhiều người không muốn nhìn nhận sự hiện diện của Chúa?- thưa vì sự nhìn nhận Chúa đòi buộc họ thay đổi cuộc sống không phù hợp với giáo lý Chúa dạy.

Chúng ta trở lại với 3 từ của bài Tin Mừng hôm nay: AI TỰ HẠ. Trong mục nói về cầu nguyện, cha Anthony de Mello. SJ đã viết: “Sở dĩ ngày nay phép lạ ít xảy ra là vì chúng ta không còn trông chờ phép lạ, không còn tin rằng Thiên Chúa thường xuyên can thiệp vào cuộc sống mình và rằng Thiên Chúa là nhân tố quan trọng bậc nhất trong cuộc sống của mình. Đằng sau bất cứ sự việc nào xảy ra trong cuộc sống, ta phải tin rằng Thiên Chúa đã trực tiếp can thiệp, ví dụ: khi bạn nhức đầu – hãy uống một liều aspirin, nhưng hãy biết rằng: chính Chúa đã giúp chúng ta bào chế ra thuốc và chính Ngài tác động trong khả năng chữa lành hoặc trong dược tính của thuốc aspirin. Sự tự hạ này giúp chúng ta nhìn ra Thiên Chúa đang hoạt động phía sau tất cả những nguyên nhân đệ nhị và bàn tay của Người đang đích thân điều khiển mọi biến cố qua bức màn che là những yếu tố nhân loại”.

Tinh thần tự hạ và bé nhỏ trước mặt Thiên Chúa dạy ta ý thức sự trần trụi của hữu thể mình trước Thiên Chúa, chúng ta mang ơn Chúa trong mọi sự: từ sự hiện hữu, công ơn cứu chuộc, công phúc nước trời… để luôn tạ ơn và phó thác cho Ngài trong mọi điều. Tinh thần tự hạ cũng dạy ta đừng so sánh với người khác, vì chúng ta không biết kế hoạch của Thiên Chúa: Một bà mẹ đông con được hỏi “Trong các con, bà thương đứa nào?”. Bà đáp “Đứa đau yếu, cho đến khi nó khoẻ; đứa đi xa, cho đến khi nó về; đứa bé nhất, cho đến khi nó lớn!”.

Nếu hỏi một em nhỏ: “Tội nguyên tổ là tội gì” thì có lẽ em sẽ trả lời ‘là tội ăn trái cấm’. Câu trả lời không sai, nhưng người lớn sẽ trả lời ‘đó là tội kiêu ngạo’. Con người đã thành người lớn, bởi đó Chúa Giê su dạy ta: “Nếu các con không trở lại mà nên như trẻ nhỏ”. Không phải chỉ có ông bà nguyên tổ, mà ngay cả từng người chúng ta cũng muốn rời bàn tay Thiên Chúa để tự lo liệu cho mình, tự tô vẽ vinh quang cho mình, tìm sự ngưỡng mộ của người đời, tìm sự an toàn nơi của cải, và âm thầm chống lại những gì Thiên Chúa muốn – nhất là những mệnh lệnh được ghi chép bằng chữ trong Kinh Thánh và huấn quyền. Xin thêm đức tin cho con để con biết tự hạ như em nhỏ trong vòng tay cha mẹ, vì con biết rõ ‘mình hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa trong mọi sự’. Amen.

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2026

ĐỂ ĐƯỢC CẢ ĐỒNG LÚA


Ngày 10/8 Lễ Thánh Laurenso tử đạo

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình!”.

Bị buộc phải trao nộp kho báu của Giáo Hội, Thánh Laurensô chỉ vào người nghèo. Câu trả lời ấy đã được ngài đóng ấn bằng máu. Từ đó, Tin Mừng về hạt lúa bắt đầu được sống.

Kính thưa Anh Chị em,

Hạt lúa không sợ mục nát; nó chỉ sợ nằm mãi trong kho. Chỉ khi dám đi vào lòng đất, nó mới có thể sinh nhiều bông hạt. Lời Chúa hôm nay mặc khải nghịch lý ấy: chết không phải để mất, nhưng ‘để được cả đồng lúa’.

“Chết” là điều kiện của sự sinh. Bản Hy Lạp viết menei monos - “ở lại một mình”. Nếu không chết đi, hạt lúa vẫn nguyên vẹn, nhưng trơ trọi; không mất đi, nhưng cũng không bao giờ trở nên nhiều hơn nó. Vấn đề không còn là còn hay mất, nhưng là chấp nhận sự đơn độc hay được gieo xuống để sự sống được nhân lên. Đừng sợ những từ bỏ đớn đau, vì trong tay Đấng Tạo Hoá, tiêu hao luôn là khởi đầu của cả một mùa vàng. “Tôi phải học cách rời bỏ chính mình để tìm lại chính mình!” - Thomas Merton.

Nơi Laurensô, “cho” không còn là một hành vi đạo đức, nhưng là cách Tin Mừng được trao truyền. Gieo ít hay nhiều không còn là chuyện tính toán, nhưng là để ân sủng của Thiên Chúa lan rộng - bài đọc một. Của cải không còn được đo bằng điều giữ lại, nhưng bằng điều con người dám hiến trao; Thiên Chúa không đếm những gì con người cất giữ, nhưng làm lớn lên những gì họ gieo xuống. Người nghèo vì thế không chỉ là đối tượng của lòng bác ái, nhưng trở thành kho báu sống động của Giáo Hội; chính nơi họ, những hạt lúa của lòng quảng đại bắt đầu nảy mầm. Thánh Vịnh đáp ca cất lên: “Phúc thay người biết cảm thông và cho vay mượn!”.

Vậy mà đó lại là điều con người sợ nhất. Chúng ta sợ mất nên giữ lại; sợ thiệt nên co rút; sợ bị lấy đi nên không dám trao. Hạt lúa không mất, nhưng cũng không sinh. Điều nghịch lý là: càng cố giữ, sự sống càng thu hẹp; càng tự bảo vệ, lòng người càng nghèo đi. Chỉ khi dám mục nát, đời người mới có thể trở thành cánh đồng ơn phước. Henri de Lubac từng nhận định: con người chỉ đạt tới sự viên mãn khi biết trao hiến. Đó cũng là lúc hạt lúa bắt đầu thuộc về người khác. Mất mát dưới bàn tay ân sủng không bao giờ là sự cạn kiệt, nhưng là chuẩn bị cho một mùa gặt vĩnh cửu.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ nói về hạt lúa, Ngài chính là Hạt Lúa ấy. Đến từ Thiên Chúa, Ngài tự nguyện đi vào lòng đất của thế gian để khai mở một mùa gặt mới cho nhân loại. Vì thế, thập giá không còn là lời cuối của cái chết, nhưng là nơi sự sống bẻ tung mọi giới hạn của cái chết để sinh sôi. Chỉ khi ở trong Đức Kitô, hạt lúa đời chúng ta mới thôi trơ trọi; chỉ khi kết hiệp với Ngài, mọi mất mát mới có thể làm nên cả đồng lúa. “Hạt lúa là chính Đức Giêsu. Hoa trái là sự sống dồi dào mà Người đã đạt được cho chúng ta nhờ thập giá!” - Bênêđictô XVI.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con cứ giữ mình nguyên vẹn; cho con biết trao đi không tiếc, biết yêu không giữ lại; để đời con cũng trổ sinh những cánh đồng!”, Amen.

Suy tư:

-Có thể nói rằng: một Giáo hội còn có nhiều ơn gọi tu trì và còn có tinh thần tử đạo - dám đổ máu vì chân lý là dấu chỉ rõ ràng của một đức tin sống động. Có người nêu lên một nhận định rằng "các dòng tu ở VN tràn ngập ơn gọi từ miền Bắc, mà văn hóa của miền Bắc có phần thua kém người miền Nam (những người đã một thời trải qua nền Cộng Hòa)". Có thể họ có phần nào có lý, nhưng một vấn đề thực tế khác lại nổi cộm lên: nếu không có ơn gọi từ miền Bắc thì biết đâu nhiều dòng tu đã đóng cửa vì thiếu ơn gọi! Chúng ta xác tín rằng ơn gọi dâng hiến là hoa trái Thánh Thần ban cho Giáo hội, ban cho Giáo xứ và cho đương sự... chúng ta chỉ nên nhìn vào khía cạnh thiêng liêng hơn là phương diện nhân loại, chỉ nên tạ ơn và kính trọng sự quan phòng của Thiên Chúa trong chương trình cứu độ.

-Nói đến Thánh Laurenso là nhắc đến cuộc tử đạo bởi giàn thiêu (bị nướng) với câu nói nổi tiếng : xin lật sang bên kia cho chín đều. Còn Thánh Inhaxio thành Antiokia (tử đạo năm 107) để lại câu nói: tôi là hạt lúa mì của Thiên Chúa, sẵn sàng để răng thú dữ nghiền nát trong đấu trường nhằm trở thành tấm bánh tinh tuyền dâng lên Đức Kitô.

- Ngày nay người ta ngại nói đến hy sinh hãm mình, vì xã hội đề cao tinh thần hưởng thụ - tôn trọng tự do và nhân vị, giữ gìn sức khỏe để có điều kiện phục vụ tha nhân, hy sinh bên trong thì tốt hơn là vẻ bề ngoài... nhưng đừng quên rằng: hy sinh là dấu chỉ rõ ràng của tình yêu, chết cho bản thân và dẹp bỏ ý riêng là con đường Chúa Giê su truyền dạy: "Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mạng sống mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta". Sách tu đức dạy: muốn sống tinh thần nghèo khó thì phải có nếp sống khó nghèo thực sự, muốn sống khiêm nhường thì phải vui lòng chịu những hiểu lầm - nhục mạ; còn tinh thần tử đạo ư? - hãy học Thánh Tê rê xa Hài Đồng: chịu đựng những hy sinh trái ý trong cuộc sống hằng ngày vì lòng yêu mến Chúa và cầu cho các linh hồn.

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2026

LỜI VẪN CHÁY

 


Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa!”.

“Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô!” - Giêrônimô.

Kính thưa Anh Chị em,

Biết Đức Kitô, không ai có thể đứng yên. Một khi đã gặp Ngài, không ai được phép trì hoãn; đón nhận Lời Ngài là phải lên đường. Giữa muôn nẻo - ‘Lời vẫn cháy’.

Thánh Đaminh đã sống đúng chuyển động Tin Mừng ấy. Nơi ngài, Lời trở thành lửa, thôi thúc để lửa ấy cháy lan. Điều thánh nhân tìm kiếm không phải là giữ chân lý cho mình, nhưng để chân lý đến với mọi người. Vì thế, ngài khai mở một lối sống và một Dòng Giảng Thuyết, nơi Lời trở thành gia sản chung của Hội Thánh.

Nguồn mạch của lối sống ấy phát xuất từ chính lời của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay. Ngài đặt con người trước một sự cắt đứt: dứt khoát, không ngoái lại. Bản Hy Lạp viết Apelthōn diángelle - “Hãy lên đường loan báo!”. Apelthōn không chỉ là bước đi, nhưng là dứt mình khỏi điều đang giữ chân; diángelle không chỉ là cất tiếng, nhưng là để Lời tiếp tục đi tới. Người môn đệ lên đường không để mang lời mình, nhưng để Lời Thiên Chúa tiếp tục vang lên.

Lời ấy là Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa - ánh sáng không bao giờ tàn lụi - không được ban để cất giữ, nhưng để tiếp tục soi đường; không dừng lại nơi người đã đón nhận, nhưng luôn tìm đến những người còn chưa được nghe - bài đọc một. Đức Khôn Ngoan không vơi đi khi được trao ban; trái lại, càng trao ban càng làm giàu cả người trao lẫn người nhận. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca mới mời gọi: “Hãy kể cho muôn dân được biết những kỳ công Chúa làm!”.

Nhưng việc loan báo không dừng lại ở đó. Ở đây, Lời không chỉ là điều được biết, nhưng là sự sống. Truyền thống Đaminh cô đọng điều ấy trong một châm ngôn: “Chiêm niệm và trao cho người khác điều mình đã chiêm niệm”. Vì thế, giảng thuyết không phải là lặp lại một chân lý, nhưng để Chân Lý tiếp tục lên tiếng trong đời người rao giảng. Chẳng có ngọn lửa truyền giáo nào không thiêu đốt trước tiên người cầm đuốc. Chỉ khi người loan báo để Lời biến đổi chính mình, Lời mới có thể biến đổi người khác. “Lời Thiên Chúa không chỉ là thông tin, nhưng là một thực tại biến đổi chúng ta!” - Bênêđictô XVI.

Điều thiếu không phải là nhiều lời hơn, nhưng là nhiều con người không để Lời đọng lại trên cuộc đời mình. Có những bài giảng chỉ kéo dài mười phút; cũng có những bài giảng kéo dài suốt một đời người. Khác biệt không nằm ở tài hùng biện, nhưng ở việc Lời đã thật sự trở thành máu thịt của người loan báo. “Người giảng phải uống lấy điều mình sẽ rót ra!” - Grêgôriô Cả.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, Lời không còn chỉ được nói, nhưng đã làm người. Không chỉ công bố chân lý, Ngài là Chân Lý; không chỉ chỉ đường, Ngài là Đường; không chỉ loan báo sự sống, Ngài là Sự Sống. Vì thế, mỗi lần chúng ta để cho Lời biến đổi đời mình, chính Đức Kitô lại tiếp tục lên tiếng giữa thế giới. Trong Ngài, Lời không bao giờ tắt. Dẫu thuận tiện hay không thuận tiện, ai thuộc về Ngài, ‘Lời vẫn cháy’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con sống điều con loan báo và loan báo điều con sống, để ‘Lời Bừng Lửa’ luôn là ‘Lời vẫn cháy’ trong con và qua con!”, Amen.

Suy tư:

Nhiều khi chúng ta thấy ngộp thở khi sống trong một thời đại 'trắng đen lẫn lộn - cỏ lùng nhiều hơn lúa' và ngao ngán trước tình người: sống không theo chuẩn mực đạo đức, không có lòng tự trọng, không thảo hiếu, không tôn trọng của cải người khác, quên lời thề hôn phối (yêu thương, tôn trọng, chung thủy)...

Nhưng đừng quên Lời Chúa: ai yêu mến Thầy thì tuân giữ Lời Thầy. Thầy đem lửa vào trần gian và Thầy ước muốn biết bao cho lửa ấy bừng cháy lên. Ngọn lửa chân lý, ngọn lửa Tin Mừng dẫn đưa con người đến sự sống viên mãn trong Thiên Chúa. Hãy nhớ châm ngôn của dòng Đa Minh: "Chiêm niệm và đem ra áp dụng điều mình chiêm niệm". Biểu hiện rõ ràng của một con người 'còn sống' là sự động đạc: nói nhiều, nói dai và nói những điều tầm phào (tuyệt nhiên không nói về Chúa và rất hiếm khi nói điều tốt lành).. vì muốn thể hiện mình (kiến thức, khả năng, mối liên hệ). Hãy bớt nói những chuyện vô ích và bớt sưu tập những kiến thức vô bổ, tránh chốn ồn ào, siêng năng đọc Lời Chúa và nghiền ngẫm những câu Lời Chúa hoặc những tia sáng mà Chúa gieo vào lòng, có vậy Lời Chúa mới lớn lên và sinh hoa trái trong đời bạn.

Có một nhóm nhà truyền giáo đến vùng đất Ấn Độ để truyền giáo, trải qua một thời gian dài mà kết quả rất khiêm tốn. Một người dân Ấn nói với họ: Các ông không thể truyền đạo ở đây, nếu không trở thành những vị linh sư (là người đã gặp Chúa và chỉ vẽ cụ thể cách gặp Ngài, đừng chỉ nói lý thuyết). Thế giới này không đói thần học mà đói Thiên Chúa, hãy thắp sáng tâm hồn người khác bằng ánh sáng Lời Chúa, thế gian sẽ sáng hơn và lòng bạn cũng sáng hơn.

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2026

CHỐI MÌNH – CÒN TÔI



Xin trích một phần bài chia sẻ của cha Minh Anh:

“Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình!”.

“Càng gạt sang một bên cái chúng ta gọi là ‘bản thân’ và để Ngài chiếm lấy, chúng ta càng thực sự trở nên chính mình!” - C. S. Lewis.

Kính thưa Anh Chị em,

Thiên Chúa không làm ai đánh mất chính mình khi chiếm lấy cuộc đời họ; trái lại, Ngài trả lại cho chúng ta chính con người Ngài đã nghĩ đến từ đời đời. Để tìm lại con người ấy, phải chối bỏ một ‘cái mình’ cũ. ‘Chối mình - còn tôi’ là vậy!

“Từ bỏ chính mình!”. Bản Hy Lạp viết aparnēsasthō heauton - “hãy chối chính mình”. Matthêu thật ý tứ: chính động từ này sẽ trở lại khi Phêrô chối Thầy. Chúa Giêsu không đòi người môn đệ xoá mình, nhưng đòi họ chối ‘cái mình’ muốn chiếm chỗ Chúa. Họ luôn phải chọn: chối cái tôi để thuộc về Chúa, hoặc giữ nó rồi có ngày chối Chúa. “Càng chết đi cho chính mình, con người càng bắt đầu sống cho Thiên Chúa!” - Thomas à Kempis. Con người thật không mất đi; chỉ kẻ tiếm chỗ Chúa phải mất.

Phêrô đã vô tình trở thành kẻ ấy. Bối cảnh dẫn vào Tin Mừng hôm nay cho thấy một nghịch chuyển nơi ông: vừa được chúc phúc vì tuyên xưng: “Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, ông lại bị quở trách. Chỉ trong khoảnh khắc, tảng đá đón nhận mặc khải đã thành đá cản lối Chúa. Sa ngã bắt đầu khi Phêrô giành quyền quyết định Thầy phải là một Đấng Kitô thế nào. Ông không chối danh tước; ông khước từ thập giá, và như thế, khước từ chính Đấng Kitô của Chúa Cha. Vì thế, người môn đệ phải chối một ‘cái mình’ rất đạo đức: nói đúng về Chúa, nhưng không cho phép Chúa khác với điều mình nghĩ.

Suy tư:

-Khi nói về tự do, cũng có 2 cách hiểu trái ngược (giống như sự từ bỏ): tự do theo nghĩa phóng khoáng là muốn làm gì thì làm, thứ tự do này chỉ là một ảo tưởng của trí tưởng tượng, vì đương sự sẽ trở thành nô lệ cho những đam mê và thói xấu, đàng khác để sống cho xứng đáng là con người thì bản thân mỗi người phải tự đưa ra những nguyên tắc sống, và thêm một điểm nữa: đã sống trong xã hội thì phải có luật lệ, quy định, mình có tự do thì phải tôn trọng tự do của người khác.

Còn tự do theo nghĩa thần học là khả năng làm việc lành và tuân theo ý Chúa, tự do này tỷ lệ thuận với tin-cậy-mến: ta càng trưởng thành trong đức tin, đức cậy và đức mến thì ta càng tự do.Để có tự do nội tâm phải chấp nhận rằng mình không hoàn toàn tự do, vì khi sinh ra đời, phần lớn những yếu tố cấu thành con người mình không do mình chọn lựa: quốc tịch, gen di truyền, vóc dáng, màu mắt... và hầu như chúng ta chẳng tự lo liệu cho cuộc đời mình - phải trao phó cho Chúa định liệu.

- Nói đến từ bỏ, ta nghĩ đến những người bỏ thế gian để dâng hiến cuộc đời trong ơn gọi thánh hiến. Thời nay người ta ngại đi tu vì nghĩ đến sự nghèo khó, mất tự do ăn ngủ nghỉ, phải vâng phục, sự độc thân và trinh khiết trọn đời ... đó là những thực tại có thật, những điều kiện vật chất mà người tu trì đón nhận vì tình yêu đối với Thiên Chúa. Bởi đó, người ta quý trọng các bậc tu trì như những hoa trái của Thần Khí, những món quà thần linh mà Chúa ban cho Giáo hội, giáo xứ và gia đình. Đừng bàn tán nhiều đến các đấng bậc, vì đó là người yêu của Chúa, chuyện các ngài cứ để các ngài tự chịu trách nhiệm, còn tôi là ai mà dám xét đoán anh em?

Có một lời đề tặng rất hay cho cuốn sách Gương Phúc: "Nếu bạn có Chúa, thiết tưởng bạn đã đủ giàu".


Suy