Danh sách Blog của Tôi

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2026

BÀI THI CỦA BÀ GIÁO O'NEILL



Tin Mừng Chúa nhật 23 TN A

 

Lm. Mark Link, S.J.


Chủ đề: “Các Kitô hữu có bổn phận giúp đỡ anh chị em mình làm điều thiện.”

 

Một phụ nữ làm việc ở nhà hàng tiếng tăm nọ từng tuyên bố không theo tôn giáo nào cả, bà nói với một vị linh mục: “Thưa cha, tôi không muốn làm cha thất vọng, nhưng trong số kẻ bê bối nhất tôi từng gặp trong nghề nghiệp của tôi lại có những Kitô hữu rất siêng năng đi nhà thờ.”

Linh mục đáp lại: “Ðúng vậy, trong số các Kitô hữu, không may vẫn có những người tồi tệ, không khác gì trong số những người ngoài cũng có những người tồi tệ như vậy.”

 

Người phụ nữ đáp lời: “Thưa cha, thế thì không phải các Kitô hữu vẫn được xem là đặc biệt hơn sao?”

 

Vị linh mục buồn bã nhìn bà ta nói: “Ðúng thế, đúng thế, họ được xem là phải sống tốt hơn!”

 

Cuộc đàm thoại trên hẳn khiến anh chị em ngạc nhiên.  Các Kitô hữu thường xuyên đi nhà thờ hẳn khác hơn những kẻ không đi nhà thờ chứ?  Chúng ta hãy xem xét ba trường hợp sau:

 

Một người bán vé xe đưa đón ở phi trường nói với một ông bố: “Thưa ông, con trai ông có vẻ trẻ hơn tuổi của nó: ông nên mua nửa vé thôi.  Nếu tài xế có hỏi, ông cứ nói là thằng bé dưới 12 tuổi.  Như thế ông sẽ đỡ tốn vài đola!”  Giả sử anh chị em là ông bố ấy, anh chị em sẽ trả lời người bán vé thế nào? 

 

Rồi một trường hợp khác.  Một bà mẹ bắt gặp đứa con gái 5 tuổi của mình cầm một cây kẹo mà nó ăn cắp sau khi từ siêu thị đi ra.  Giả sử anh chị em là bà mẹ ấy, anh chị em sẽ làm gì?

 

Và đây trường hợp sau cùng.  Giả sử bạn nghe đứa bạn thân nhất của con bạn nói với nó: “Nếu mày cần hỏi bất cứ câu gì trong kỳ thi toán, mày cứ ra dấu cho tao.”  Ðặt trường hợp thằng bé ấy là con của anh chị em, thì anh chị em sẽ cứ tiếp tục đọc báo hay sẽ đặt báo xuống và nói chuyện với cả hai cậu bé?

 

Tôi không biết anh chị em sẽ xử lý thế nào trong những trường hợp như thế, nhưng tôi biết rõ Chúa Giêsu sẽ xử lý thế nào.  Câu trả lời ấy được tìm thấy trong các bài đọc hôm nay.  Cả ba bài đều tập trung vào bổn phận hỗ tương của người Kitô hữu phải có đối với nhau.  Các Kitô hữu không chỉ phải làm điều thiện mà còn phải giúp đỡ kẻ khác làm điều thiện nữa.  Chúa Giêsu bảo các môn đệ: “Các con là muối đất... các con là ánh sáng thế gian...  Ánh sáng các con phải chiếu tỏa trước mặt thiên hạ” (Mt 5 : 13-16).

 

Chúng ta hãy trở lại với ba trường hợp trên.  Câu trả lời của người Kitô hữu đối với từng trường hợp trên như thế nào?  Một kẻ theo Chúa Giêsu sẽ nói gì với người bán vé xe là kẻ đã nói với ông bố nọ: “Ông cứ nói với tài xế xe là thằng bé con ông dưới 12 tuổi?”  Trường hợp này thực sự đã xảy ra ở Chicago.  Ông bố ấy đã trả lời làm sao?  Ông ta bảo với người bán “Tôi rất trân trọng hảo ý của ông, nhưng tôi muốn con tôi thành thật dù điều đó gây bất lợi cho nó.”  Còn bà mẹ bắt gặp đứa con gái của mình ăn cắp cây kẹo đã xử lý như thế nào?  Ðây cũng là một câu chuyện có thực đã xảy ra.  Tác giả bài viết trong tờ báo Dallas Morning News (Tin tức Dallas buổi sáng) khi thuật lại câu chuyện trên đã nói rằng bà mẹ nọ đã bảo đứa bé trả lại cây kẹo cho vị quản đốc, và ông này nói: “Ôi đừng lo gì chuyện đó.  Nó có đáng gì đâu.  Mỗi ngày, đám nhân viên của tôi ăn cắp nhiều hơn thế nhiều!”

 

Như tác giả bài viết kể lại, đây thực là một câu trả lời khó tin nổi.  Viên quản đốc đã gây cho cháu bé ấn tượng ăn cắp không quan trọng gì nếu chỉ là vật nhỏ mọn.  Thực sự dù là ăn cắp vật lớn hay nhỏ thế nào đi nữa thì ăn cắp vẫn luôn là điều xấu.

 

Và cuối cùng hãy xét đến trường hợp thằng bạn của đứa con trai chúng ta đồng ý gian lận để giúp đỡ con mình trong bài thi toán.  Jerome Weidman, tác giả cuốn “Hand of the Hunter” (Tay người thợ săn) khi còn bé đã từng can dự vào một trường hợp như trên.  Ông kể lại cách đây 30 năm, ông vào học ở một trường công Nữu Ước.  Bà giáo dạy toán lớp ba của ông tên là bà O' Neill.  Ngày nọ bà ra cho lớp một bài thi.  Khi chấm bài bà nhận ra 12 cậu trai đã trả lời sai một cách giống y như nhau đối với cùng một câu hỏi.  Qua ngày sau, bà yêu cầu 12 cậu bé ấy ở lại lớp sau khi tan học.  Sau đó, không hề kết tội đứa nào, bà chỉ viết lên trên bảng câu này: “Tính chân thực của một người được thể hiện trong những điều mà kẻ ấy sẽ làm dù biết rằng không ai hay biết.”  Ðoạn bà ghi tên tác giả câu nói trên: Thomas Babington Macaulay.  Weidman viết: “Tôi không rõ về 11 cậu kia ra sao, chỉ có một đứa trong số đó là chính tôi, có thể nói rằng: Ðây là bài học đơn sơ nhưng quan trọng nhất trong đời tôi.”

 

Như thế chúng ta đã thấy ba mẫu người Kitô giáo xử lý như thế nào trong ba trường hợp khác nhau trên.  Ba Kitô hữu này đã lưu tâm đến lời giáo huấn của Chúa Giêsu dạy phải giúp đỡ anh chị em sống cuộc sống Kitô hữu.  Ba Kitô hữu này đã nghiêm chỉnh chấp nhận lời Chúa Phán với Êdekien trong bài đọc thứ nhất hôm nay: “Nếu... ngươi không răn dạy kẻ xấu thay đổi cách ăn ở của nó thì Ta sẽ qui trách nhiệm cho ngươi.”  Ba Kitô hữu này đã nghiêm chỉnh chấp hành lời thánh Phaolô gởi tín hữu Roma trong bài đọc thứ hai hôm nay: “Nếu anh em yêu mến kẻ nào, anh em sẽ không bao giờ làm hại kẻ ấy.”  Và cuối cùng, ba Kitô hữu nầy cũng đã nghiêm chỉnh tuân theo lời Chúa Giêsu trong phúc âm hôm nay: “Nếu anh em ngươi phạm lỗi với ngươi, hãy đến gặp nó và chỉ cho nó biết lỗi lầm của nó.  Tuy nhiên phải làm điều ấy một cách âm thầm giữa ngươi và nó thôi.”

 

Như thế ba Kitô hữu nêu trên đã gây ấn tượng như thế nào cho những người nghe họ nói?  Tôi xin được lập lại điều Jerome Weidman đã nói: “Tôi không rõ về 11 cậu kia ra sao, chỉ biết một đứa trong số đó là chính tôi, thì tôi có thể nói rằng: Ðây là bài học đơn sơ nhưng quan trọng nhất trong đời tôi.”

 

Edmund Burke nói: “Chỉ cần những người tốt cứ giữ yên lặng, là điều xấu sẽ phát triển ngay.”

 

Trong những trường hợp trên, ba Kitô hữu nọ đã không giữ yên lặng.  Họ mời gọi chúng ta noi gương họ.

 

Ðể kết thúc, chúng ta hãy cầu nguyện:

 

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con ghi lòng tạc dạ những lời Chúa kêu gọi chúng con đi theo làm môn đệ Ngài:
Các con là muối đất, nếu muối nhạt đi thì lấy gì ướp nó mặn lại được.  Nó chẳng còn ích gì chỉ đáng quẳng ra ngoài cho người ta chà đạp lên đó.  Các con là ánh sáng thế gian, một thành xây trên núi không thể giấu được.  Không ai đốt đèn rồi đặt dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn để soi cho mọi người trong nhà.  Cũng thế, ánh sáng các con phải toả chiếu trước mặt mọi người để họ trông thấy việc các con làm mà ngợi khen Cha các con, là Ðấng ngự trên trời” (Mt 5: 13-16).


Thứ Năm, 3 tháng 9, 2026

ĐƯỢC CẢ - BỎ CẢ

 


Lời Chúa thứ năm tuần 22 TN

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người!”.

“Trời là của tôi, đất là của tôi; mọi sự là của tôi, vì Đức Kitô là của tôi và hoàn toàn cho tôi!” - Gioan Thánh Giá. 

Kính thưa Anh Chị em,

Khi Đức Kitô là của mình và hoàn toàn cho mình, người ta không còn sợ mất điều gì. Phêrô vừa được cả một mẻ cá, lại bỏ mọi sự mà theo Chúa Giêsu - ‘được cả, bỏ cả’.

Sau một đêm trắng tay, Phêrô vừa có mẻ cá lớn nhất đời mình: lưới gần rách, thuyền gần chìm, bạn chài phải đến trợ giúp. Vậy mà khi vào bờ, họ “bỏ hết mọi sự mà theo Người”. Bản Hy Lạp viết panta - “tất cả”. Chính lúc có nhiều để giữ, chữ “tất cả” mới cho thấy sức nặng của nó. Họ không bỏ một đêm thất bại, nhưng bỏ buổi sáng thành công nhất; không rời thuyền rỗng, nhưng rời thuyền đầy. Hoá ra, lưới trống thử lòng tin; lưới đầy thử tự do.

Điều gì khiến Phêrô có thể bỏ như thế? Trước mẻ cá, ông gọi Chúa Giêsu là “Thầy”; sau mẻ cá, ông quỳ xuống thưa, “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!”. Cá nhiều không làm Phêrô mờ mắt; nó làm mắt ông sáng ra để nhận biết Đấng đang ở trong thuyền. Mẻ cá đầy thuyền vẫn quý; Đấng làm đầy đời ông còn quý hơn. “Ai có Thiên Chúa thì chẳng thiếu gì; một mình Thiên Chúa là đủ!” - Têrêxa Avila.

Chữ “tất cả” trở lại trong thư Phaolô: “Tất cả đều thuộc về anh em”, từ thế gian, sự sống, sự chết, hiện tại đến tương lai. Nhưng đỉnh cao không nằm ở chỗ chúng ta có tất cả, mà ở chỗ “anh em thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô thuộc về Thiên Chúa”. Thánh Vịnh đáp ca đưa trật tự ấy về tận nguồn: “Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài!”. Khi biết mình thuộc về Đức Kitô, chúng ta có thể nhận mà không chiếm giữ, sử dụng mà không lệ thuộc, trao lại mà không thấy mình nghèo đi. Phêrô bỏ điều thuộc về ông để đi theo Đấng mà chính ông thuộc về.

Phần chúng ta, thường xin Chúa cho lưới đầy, nhưng ít khi xin đủ tự do trước một mẻ cá lớn. Không phải ai cũng được gọi bỏ nghề, rời nhà hay trao lại công việc; nhưng ai cũng được gọi sống sao để những gì đang có không trở thành sợi dây buộc mình. Tự do không phải là không có gì trong tay; tự do là có thể mở tay khi Chúa gọi.

Anh Chị em,

Nghe Phêrô thưa, “Lạy Chúa, xin tránh xa con!”, Chúa Giêsu làm điều ngược lại. Ngài đến gần và trao cho ông một tương lai: “Từ nay, anh sẽ là người thu phục người ta!”. Trên thập giá, Đức Kitô đến gần nhân loại hơn bao giờ hết, không để kể tội, nhưng để tha tội và thu phục lòng người. Phục Sinh cho thấy Ngài không lấy đi tất cả, nhưng trao chính mình cho từng người. “Không dại gì khi trao điều không thể giữ để nhận điều không thể mất!” - Jim Elliot. Phêrô bỏ lại tất cả không phải để trắng tay, nhưng để bước theo Đấng sẽ trở thành Tất Cả cho đời mình - ‘được cả, bỏ cả’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi lưới con trống, cho con biết tin; khi lưới con đầy, cho con tự do; và khi Chúa gọi, cho con dám bỏ cả mà theo Ngài!”, Amen.

Suy tư:

Trong lịch sử Giáo hội, có những người đang trên đỉnh cao của danh vọng, thu nhập ngất trời, sắc đẹp tuyệt vời, một gia tài đồ sộ và một tương lai sáng lạn... lại bỏ tất cả để đi tu, điều đó gây ngạc nhiên cho xã hội; có những kẻ bỏ một cuộc sống bình thường để dấn thân (chịu khổ) vì những người cùi, tàn tật, nghiện ngập, tù tội... chỉ vì tình yêu dành cho Thiên Chúa, để yêu Chúa Giê su trong người bệnh và được Chúa làm gia nghiệp. Lý tưởng của họ thật cao đẹp và đáng cho chúng ta ngưỡng mộ bắt chước.

Chúa dùng những hoàn cảnh khác nhau để 'quyến rũ' các tâm hồn: có kẻ Chúa cho chứng kiến mẻ cá lạ để họ nhận ra quyền năng của Ngài, có kẻ Chúa cho gặp thất bại và tủi nhục để họ nhận ra sự phù phiếm của trần gian, có kẻ Chúa cho gặp một ai đó - được nghe một câu nói nào đó... đánh động tâm hồn thúc đẩy họ từ bỏ con đường quen thuộc để phiêu lưu theo Thầy.


Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

NHỮNG CÁNH ĐỒNG KHÁC

 

Lời Chúa

Thứ Tư Tuần XXII TN,





Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa!”.

Với tất cả những gì đã qua - tạ ơn; với tất cả những gì sẽ đến - xin vâng!” - Dag Hammarskjöld.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu đã sống trọn hai tâm tình ấy. Ngài rời Capharnaum để đến ‘những cánh đồng khác’; không phải vì đã yêu nơi ấy đủ, nhưng vì tình yêu của Chúa Cha không dừng lại ở một nơi nào.

Đó là một buổi sáng rất dễ khiến người ta muốn ở lại. Chiều hôm trước, Ngài chữa nhạc mẫu Phêrô, rồi đặt tay chữa từng bệnh nhân. Sáng ra, dân chúng tìm đến, cố giữ Ngài lại. Vậy mà Ngài nói, “Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa!”. Bản Hy Lạp viết dei - “phải”; trong Luca, đó là ý muốn của Chúa Cha đã trở thành khát vọng nung nấu tâm hồn Người Con. Cái “phải” ấy không cho phép Ngài dừng lại trong niềm vui của những gì đã qua; Ngài thưa “xin vâng” và cất bước về phía điều chưa biết. “Cuộc đời chỉ có thể được hiểu khi nhìn lại; nhưng phải được sống về phía trước!” - Søren Kierkegaard.

Đám đông nhìn thấy những nhu cầu tưởng như không cùng; Chúa Giêsu nhìn thấy những thành chưa được nghe Tin Mừng. Vì thế, trung thành với sứ mạng không hẳn là làm xong mọi việc tại một nơi, nhưng làm trọn phần được trao trong quãng đời Chúa muốn. ‘Những cánh đồng khác’ không gọi ai lìa bỏ tình yêu cũ; chúng gọi tình yêu ấy lớn lên, trương rộng.

Phaolô cũng dùng ngôn ngữ ấy để đưa Côrintô về sự hiệp nhất. Trước những người nói, “Tôi thuộc về Phaolô”, “Tôi thuộc về Apôllô”, ông tuyên bố, “Tôi trồng, anh Apôllô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên”, bởi “anh em là cánh đồng của Thiên Chúa”. Người trước đi, người sau đến; mỗi người làm phần được trao. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca hoàn tất niềm vui ấy: hạnh phúc của một dân không nằm ở người gieo hay người tưới, nhưng ở chỗ được Chúa ‘chọn làm gia nghiệp’.

Với chúng ta, đến đã khó, đi còn khó hơn. Bởi khi đến, chúng ta chỉ rời một nơi; khi đi, phải rời cả những con người và công trình đã thành một phần đời mình. Chính lòng biết ơn cánh đồng cũ cho chúng ta đủ tự do để thưa “xin vâng” và ra đi. Rời quê, trao việc, lùi lại cho con cái bước tới; ai cũng phải trao lại một cánh đồng. Với người linh mục, lời “Thưa con hứa!” ngày nào trở thành lời tuyên xưng đức tin: cánh đồng thuộc về Chúa - Đấng vẫn cho nó lớn lên cả khi mình không còn ở đó.

Anh Chị em,

Đức Giêsu không chỉ đến các thành khác; cuối cùng, Ngài trở thành hạt giống được gieo ngoài thành. Trên thập giá, mọi sự tưởng như dang dở: môn đệ tan tác, sứ mạng chưa vượt khỏi một miền đất nhỏ, Người Gieo lại bị chôn vùi. Nhưng Phục Sinh cho thấy công trình của Thiên Chúa không kết thúc tại nơi con người tưởng mọi sự đã mất. “Điều ta gọi là khởi đầu thường lại là kết thúc; và kết thúc cũng là bắt đầu!” - T. S. Eliot. Từ sự vùi lấp ấy, chính cuộc ra đi làm nảy sinh ‘những cánh đồng khác’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con tận tâm khi ở lại, tự do khi lên đường và thanh thản vì tin rằng chính Chúa sẽ cho ngày mùa bội thu!”, Amen.

Suy tư:

Bài Tin Mừng và thư 1Cor 3, 1-3 nói với chúng ta vài tâm tình:

-Người Ki tô hữu được mời gọi đóng góp phần mình trong việc mở mang nước Chúa - xây dựng nhiệm thể Chúa Ki tô, người thì đảm nhận việc này kẻ thì việc nọ, việc nhỏ việc lớn tùy khả năng và lòng quảng đại của mỗi người. Thư Thánh Phao lô nói với chúng ta về cơn cám dỗ: cộng đoàn bị cám dõ xếp hạng công trạng, người sứ giả bị cám dỗ bám trụ để an thân - tự phụ và tìm sự vinh vang. Hãy nhớ lời Chúa dạy: khi làm xong mọi việc hãy nói 'chúng tôi chỉ là đầy tớ vô dụng, chỉ làm việc phải làm'. Thánh Phao lô thì dạy: mình chỉ là cộng sự viên của Thiên Chúa, những người tôi tớ giúp cho anh em có đức tin, mình đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho nhưng không. Khi rời nhiệm sở hoặc công việc được giao, người khác sẽ lạnh nhạt với người cũ, đó là chuyện thường, người ta ví 'linh mục như con trâu kéo cày, bao lâu còn được việc thì được trọng dụng, còn lúc đã già yếu - bị quên lãng là lẽ thường.

-Hãy nhớ bài học của Đấng Đáng kính Fx. Nguyễn Văn Thuận: "chọn Chúa chứ không phải công việc của Chúa". Chúa muốn mình ra đi thì Ngài có cách lo cho những chuyện còn lại, “Lạy Chúa, cho con tận tâm khi ở lại, tự do khi lên đường và thanh thản vì tin rằng chính Chúa sẽ cho ngày mùa bội thu!”, Amen.

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2026

NHÀM CHÁN – LỖI CỦA CHÍNH CHÚNG TA

 


Rev. Ron Rolheiser, OMI

 

Năm 2011, quyển sách của tác giả trẻ Bieke Vandekerckhove đã giành giải Sách Thiêng liêng của Năm ở Bỉ.  Với tựa đề, Vị của Thinh lặng [Taste of Silence], quyển sách ghi lại cuộc đấu tranh của cô sau khi bị chẩn đoán mắc bệnh ALS, hay thường gọi là bệnh Lou Gehrig, tình trạng suy thoái thần kinh dẫn đến kết cục là suy nhược cơ thể trầm trọng và sẽ chết không lâu sau đó.  Thật là một chẩn đoán không dễ chấp nhận với một phụ nữ trẻ đầy sinh lực.

 

Nhưng không lâu sau khi bị trầm cảm nội tâm sâu sắc, cô tìm thấy ý nghĩa cuộc đời thông qua suy niệm, thinh lặng, văn học, nghệ thuật, thi ca, và không kém phần quan trọng, là một mối quan hệ cuối cùng đã kết trái thành hôn nhân.  Và thật không ngờ, bệnh tình của cô thuyên giảm, và cô sống thêm hai mươi năm nữa.  Trong nhiều thấu suốt phong phú đã chia sẻ với chúng ta, Bieke có đưa ra một suy tư đáng chú ý về sự nhàm chán.

 

Bàn về sự nhàm chán đang thịnh hành trong thời nay, cô nêu bật một nghịch lý, cụ thể là sự nhàm chán đang tăng mạng giữa chúng ta cho dù mỗi ngày chúng ta đều sản xuất ra đủ loại cải tiến để tránh chuyện đó.  Ngày nay, khi có trong tay các thiết bị công nghệ nối kết chúng ta với mọi thứ, từ tin tức thế giới cho đến ảnh chụp của những người thân yêu đang chơi với con cái họ, chẳng phải chúng ta đã được cách ly khỏi sự nhàm chán hay sao?  Nghịch lý thay, ngược lại thế mới đúng.  Mọi cải tiến công nghệ không xoa dịu nỗi nhàm chán của chúng ta.  Tại sao lại không?  Chúng ta vẫn vật lộn với sự nhàm chán bởi mọi kích thích trong thế giới không hẳn đã có ý nghĩa.  Theo Bieke, ý nghĩa và hạnh phúc không hệ tại nhiều ở chuyện gặp gỡ những người thú vị và khám phá những điều thú vị, mà đúng hơn là hệ tại ở việc hứng thú sâu sắc về những con người và sự vật.

 

Từ thú vị phát xuất từ gốc La Tinh, với hai từ là inter (bên trong) và esse (hiện hữu) và khi kết hợp lại, nghĩa là hiện hữu bên trong sự gì đó.  Mọi sự thú vị với chúng ta khi chúng ta chú tâm đến chúng đủ để thật sự đi vào trong chúng.  Và hứng thú của chúng ta không nhất thiết phải tùy vào khả năng kích thích tự nhiên của sự đó, dù ta vẫn thừa nhận rằng có những sự kiện và cảm nghiệm mạnh mẽ hơn cái khác.  Điều này giải thích sự hứng thú mạnh của ta với những sự kiện thế giới, các giải thể thao lớn, các lễ trao giải, cũng như sự ám ảnh vốn kém lành mạnh hơn với đời sống của những người nổi tiếng.  Có những người, sự vật và sự kiện, tự nhiên thu hút chúng ta hơn và chúng ta muốn ở “bên trong” những cuộc sống và sự kiện đó.

 

Nhưng hầu hết các tin tức thế giới, sự kiện thể thao lớn, các buổi trao giải và đời sống riêng tư của những người nổi tiếng, không phải là chế độ bình thường của ta, không phải là bữa ăn gia đình, nơi làm việc, những buổi đi nhà thờ, những buổi bán hàng từ thiện, lịch sống thường nhật hay những món ta ăn hằng ngày.  Và đây chính là điểm thường khiến ta chịu lấy sự nhàm chán, bởi ta không ở sâu trong hiện thực của những con người và sự kiện đó.  Chính vì thế mà chúng ta thường cảm thấy cuộc sống đều đều, ù lì, và thông lệ.  Nhưng nếu như thế, xét cho cùng, chúng ta đấu tranh với sự nhàm chán, không phải bởi gia đình, nơi làm việc, hàng xóm, giáo xứ, và bạn bè mình không thú vị.  Chúng ta nhàm chán bởi quá bần cùng nội tâm, quá phân tâm hay quá quy ngã, để có thể thật sự hứng thú với những sự đó.  Cảm nghiệm không phải là những gì xảy đến với chúng ta, mà là những gì chúng ta làm với những gì xảy đến với mình.  Enstein đã nói thế đấy.

 

Và Bieke Vandekerckhove cũng nêu bật một nghịch lý khác: Thật nghịch lý khi ta có xu hướng đấu tranh với nhàm chán và trì trệ trong khi ta đang đầy triển nở trong đời, đang khỏe mạnh và làm việc, còn những người như Bieke Vandekerckhove thì mất sức khỏe và chuẩn bị đối diện với cái chết nhưng lại thường thấy sự hồ hởi vui tươi nơi những cảm nghiệm bình thường nhất.

 

Những thấu suốt của Bieke Vandekerckhove rất giống với cảm nghiệm của Rainer Maria Rilke trong quyển Những lá thư gởi Thi sĩ Trẻ [Letters to a Young Poet.]  Như Bieke, ông cũng gợi ý rằng nhàm chán là lỗi của chúng ta, lỗi của một con mắt hờ hững.  Trong những lá thư giữa ông với một thi sĩ trẻ, chàng thi sĩ đã than phiền rằng mình không được tiếp cận đủ với những cảm nghiệm thúc đẩy thi ca, bởi anh sống trong một thị trấn nhỏ nơi hầu như chẳng có chuyện gì thú vị.  Và chàng thi sĩ ghen tị với Rilke, vì ông chu du gần khắp châu Âu và đã gặp đủ mọi kiểu người thú vị.  Với anh, những thấu suốt thi ca của Rilke phần nhiều dựa vào việc được đến những thành phố lớn, gặp những người thú vị, và được những kích thích mà một chàng trai ở thị trấn nhỏ chẳng bao giờ có được.

 

Câu trả lời của Rilke với chàng trai trẻ này đã trở thành câu trả lời kinh điển về vấn đề nhàm chán: “Nếu cuộc sống thường nhật của anh có vẻ nghèo nàn, thì đừng đổ lỗi cho nó, mà hãy bảo rằng mình không đủ thi vị để khơi lên sự phong phú của nó, bởi với người sáng tạo, thì không có sự nghèo nàn và không có không gian nghèo nàn.”

 

Tìm được hứng thú trong đời không hệ tại ở việc chúng ta là ai và gặp ai, nhưng là ở khả năng nhìn sâu vào mọi sự.  Cuộc sống khắp nơi đủ phong phú để cho ta thú vị, nhưng về phần mình ta phải hứng thú trước đã.

 


Suy tư: 

-Sự nhàm chán và sự vô cảm dường như có một sự liên quan mật thiết với nhau. Có thể diễn tả sự vô cảm là sự dửng dưng và không có cảm xúc trước cái đẹp, cái xấu diễn ra trước mắt mình. Chúng ta nhàm chán bởi quá bần cùng(nghèo nàn) nội tâm, quá phân tâm hay quá quy ngã, để có thể thật sự hứng thú với những sự đó. Và quả thực, đó cũng là nguyên nhân của sự vô cảm! Vì quá quy ngã, chúng ta chẳng muốn nghe hết câu chuyện hơi dài người kia đang muốn nói - không muốn gặp người ta nghĩ 'họ chẳng đem lại lợi ích gì'... và cuộc sống của mình và tha nhân cứ nghèo nàn dần đi - từng chút một.

- Để chữa trị sự nhàm chán và để sống có ý nghĩa trong cuộc đời, con người được mời gọi sống đời nội tâm: biết mình, biết người và biết Chúa. Con người thời đại bị nghiện các thiết bị công nghệ và mạng xã hội, hãy sử dụng có chọn lựa và có mục đích. Một số cảnh báo tôi nghĩ là có lý: Đừng dùng chúng để giết thời giờ, đừng biết quá nhiều thứ mà thứ gì cũng sơ sài, đừng lạm dụng AI quá nhiều để mất đi khả năng sáng tạo... và quan trọng nhất là phải duy trì những giờ cầu nguyện, những phút hồi tâm, thói quen tìm hiểu bản văn Kinh Thánh được đọc trong phụng vụ mỗi ngày. Lời Chúa và ơn Thánh Thần sẽ tạo những kích thích nội tâm giúp bạn đi vào chiều sâu của cuộc sống mình đang trải qua, thúc đẩy bạn chia sẻ những điều thú vị của tâm hồn mình cho những người gần gũi hằng ngày.

- Sự công bằng của Thiên Chúa được biểu lộ qua nhiều lãnh vực: nắng mưa trên kẻ lành người dữ, tỷ lệ sinh tự nhiên là bé nam nhỉnh hơn nữ 104/100, không ở đâu thiếu nhân tài, không ở đâu kém điều kiện tạo nên thú vị (interest)... có điều mình có nhận ra và trân trọng hay không.

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026

BIẾT LÀ MỘT CHUYỆN



Lời Chúa Thứ Ba Tuần XXII TN

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Tôi biết ông là ai rồi: ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa!”.

“Hiểu biết về Thiên Chúa là kinh nghiệm đức tin, đồng thời đòi hỏi một hành trình cả về trí tuệ lẫn luân lý: để cho sự hiện diện của Thần Khí chạm đến tận sâu thẳm con người!- Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay thật lạ, lời tuyên xưng đúng nhất trong hội đường ngày ấy lại phát ra từ miệng thần ô uế. Nó biết Chúa Giêsu là ai, nhưng nhất định không để Ngài làm chủ; bởi ‘biết là một chuyện’.

Khi Chúa Giêsu giảng dạy với uy quyền tại Capharnaum, chính thần ô uế đã kêu lên: “Ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa!”. Lời ấy hoàn toàn đúng, nhưng không phải là lời tuyên xưng đức tin. Nó gọi đúng tên Ngài để chống trả: “Ông đến tiêu diệt chúng tôi?”. Nó biết sự hiện diện của Ngài sẽ chấm dứt quyền chiếm giữ của nó trên con người ấy. Hoá ra, nói đúng về Chúa chưa có nghĩa là đã tin vào Chúa.

Trước những lời rành rọt của thần dữ, Chúa Giêsu không đôi co, cũng chẳng thoả hiệp. Ngài cắt ngang bằng một mệnh lệnh: “Câm đi, hãy xuất khỏi người này!”. Ngài không đáp lời thần dữ, cũng không nhận lời nó tuyên xưng; trước mắt Ngài chỉ có một con người phải được trả lại tự do. Ngài buộc nó phải im tiếng, bởi chân lý Thiên Chúa không cần được chứng minh từ miệng lưỡi sự dữ. Thần ô uế vật người ấy xuống giữa hội đường rồi xuất ra mà không làm hại gì. Chúa Giêsu không chỉ nói điều đúng; Lời Ngài còn giải thoát một con người. “Lời Ta phán ra sẽ không trở về với Ta mà không sinh kết quả!” - Isaia 55, 11.

Thế nhưng, con người vẫn có thể khép lòng trước Lời. Vì thế, Phaolô cảnh tỉnh cộng đoàn Côrintô: trở ngại không nằm ở trí óc, nhưng ở con người “không đón nhận”. Tri thức tôn giáo có thể làm một người hiểu biết, nhưng chưa hẳn làm họ thành môn đệ. Phaolô không dừng ở việc biết Đức Kitô từ bên ngoài, nhưng nói: “Chúng tôi biết được tư tưởng của Đức Kitô” - bài đọc một. Bản Hy Lạp viết noun Christou echomen - “có tâm trí của Đức Kitô”: không chỉ hiểu điều Chúa Kitô dạy, người môn đệ còn mang lấy cách Ngài nghĩ, Ngài nhìn và Ngài chọn lựa. Điều ấy phải trở thành con đường người môn đệ bước đi, vì “Chúa công minh trong mọi đường lối Chúa!” - Thánh Vịnh đáp ca.

Capharnaum vẫn có thể tái diễn nơi chúng ta. Có khi, chúng ta nói rất nhiều về Chúa để khỏi phải nghe Chúa nói về mình. Điều còn thiếu không phải thêm một định nghĩa, nhưng một tấm lòng thật sự muốn trở về. “Tôi thà cảm nghiệm lòng thống hối còn hơn là biết cách định nghĩa nó!” - Thomas à Kempis.

Anh Chị em,

Trên thập giá, Đức Kitô không nói thêm lời nào để định nghĩa Thiên Chúa là ai; Ngài trao chính mình. Ở đó, “tâm trí của Đức Kitô” được tỏ bày: hoàn toàn thuộc về Đấng Ngài biết, đến nỗi hiến mình để hoàn tất ý định cứu độ của Cha. Theo Đấng Chịu Đóng Đinh, chúng ta không chỉ nhận ra Thầy, nhưng bước theo Ngài vào vâng phục và tự hiến. Bởi ‘biết là một chuyện’; thuộc về Đấng đã hiến mình cho chúng ta mới là sự sống.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con đã biết rất nhiều về Chúa; xin cho điều con biết đi xuống trái tim, đi ra đôi tay và trở thành từng chọn lựa của đời sống con!”, Amen.


MỤC ĐÍCH CỦA ĐỜI SỐNG

 

 


LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 22 TN A

Lm. Mark Link, S.J.


Vào khoảng 3 giờ sáng ngày 17 tháng Tám, 1999, một trong những trận động đất kinh hoàng nhất đã xảy ra trong lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ.  Nó đã san bằng hàng trăm công trình kiến trúc và làm thiệt mạng hàng ngàn người.

 

Khi động đất xảy ra, một kế toán viên 40 tuổi người Thổ Nhĩ Kỳ là Yuksel Er vừa mới đi ra từ phòng vệ sinh ở lầu ba trong khu chung cư sáu tầng lầu. Bỗng dưng, mọi thứ bắt đầu quay cuồng.  Chính ông cũng lảo đảo và bị rơi vào dòng thác cuốn các đồ vật.  Trong 45 giây tiếp đó tai ông như điếc vì tiếng động mạnh. Và rồi, bỗng dưng mọi sự im lặng một cách ghê sợ. Khi Yuksel tỉnh dậy, ông thấy mình bị kẹt dưới đống gạch vụn trong một vùng thật tối. Trong khoảng cách nhỏ bé đó, ông không thể nào cựa quậy được, chỉ có thể nằm yên ở đó. Trên mình ông và chung quanh ông là những vụn vỡ của tòa chung cư sáu tầng lầu. Lúc đầu ông tưởng là tận thế.  Nhưng khi nghe thấy tiếng rên rỉ ở xa xa, ông biết là một điều gì khác đã xảy ra.

 

Trong bốn ngày liền, ông không ăn uống gì.  Ông dùng thời giờ để cầu nguyện, suy nghĩ về đời sống và tự hỏi đời sống sau khi chết sẽ như thế nào. Lúc đầu, ông còn la lớn kêu cứu.  Nhưng thấy vô ích ông im lặng để dưỡng sức. Ông bắt đầu nhớ đến gia đình, và nhất là đứa con trai 13 tuổi mà ông vừa mới la rầy nó chỉ vài giờ trước trận động đất – vì nó cứ dành máy vi tính của gia đình để chơi “game.”

 

Sau đó vào ngày thứ tư, khoảng một giờ sáng, ông nghe có tiếng gọi quen thuộc.  Chỉ trong vài phút, ông nhận ra tiếng của đứa cháu và thằng con 13 tuổi.  Chúng đào xới đống vụn để lôi ông lên. Khi đứa con trai lôi được ông ra khỏi đống gạch vụn, điều đầu tiên nó nói là, “Bố ơi, con sẽ không bao giờ làm bố giận nữa.”  Ông Yuksel trả lời, “Bây giờ thì không còn quan trọng nữa, vì bây giờ mọi sự sẽ khác biệt.”

 

Sau này, khi ở trong bệnh viện, Yuksel nói với gia đình và bạn hữu: “Đây là cuộc đời thứ hai của tôi.  Tôi sẽ cố gắng tận dụng cuộc đời ấy.”  Và rồi ông khóc.  Giống như tiếng khóc của đứa bé mới lọt lòng mẹ.

 

Trước trận động đất, Yuksel sống với những ưu tiên và mục đích, không khác gì những ưu tiên và mục đích của chúng ta.  Sau cảm nghiệm ấy, các ưu tiên và mục đích của ông thay đổi cách đáng kể.

 

Điều này đưa chúng ta đến bài Phúc Âm hôm nay.  Trong bài Chúa Giêsu nói rằng, “Nếu ai trong các con muốn đến với Thầy, phải từ bỏ mình, vác thập giá của con và theo Thầy.” Ở đó chúng ta cũng thấy Chúa Giêsu cảnh cáo các môn đệ về sự ngu dại khi giành được thế gian nhưng đánh mất điều quan trọng nhất trong tất cả: là sự sống vĩnh cửu ở đời sau. Sau cùng, chúng ta cũng thấy Chúa Giêsu nói: “Con Người sẽ thưởng cho họ tùy theo hành động của họ.”

 

Hãy trở về với câu chuyện của Yuksel.  Khởi đầu tưởng rằng 'trận động đất' là một thập giá nặng nề, nhưng sau cùng lại là một phước lành lớn lao. Nó đã dạy cho ông và thúc giục ông sống thời gian còn lại theo một phương cách xứng hợp với Chúa, và với suy nghĩ của Thiên Chúa chứ không phải của Satan.

 

Cũng giống như trận động đất đã thay đổi cuộc đời ông Yuksel, bài Phúc Âm hôm nay cũng nhắm đến một kết quả tương tự cho chúng ta – tối thiểu cho một số người trong chúng ta.  Có lẽ, như Phêrô, lối suy nghĩ về đời sống của chúng ta trở nên nguy hiểm hơn và càng giống với kiểu cách suy nghĩ của Satan hơn là của Thiên Chúa. Có lẽ, giống như Phêrô, chúng ta đang mất dần ý nghĩa của đời sống: Một đời sống hướng tìm sự vui thú và muốn tránh càng nhiều thập giá càng tốt. Đúng ra, đó là một đời sống để đạt được phần thưởng là sự sống đời đời.  Đó là lối sống trong những năm còn lại của chúng ta ở đời này để giúp chúng ta gặt được phần thưởng là sự sống vĩnh cửu ở đời sau.

 

Rõ rệt hơn nữa là vác thập giá hằng ngày của chúng ta và chấp nhận các thập giá ấy trong tinh thần mà Chúa Giêsu đã chấp nhận thập giá của Người. Một khi chúng ta bắt đầu sống như Chúa Giêsu đã dậy, chúng ta sẽ khám phá ra điều mà Yuksel đã tìm thấy: điều tưởng như một thập giá to lớn lại trở nên một ơn sủng lớn lao trong đời này và đời sau.

 

 



Mấy chục năm về trước, Gene Stallings đã huấn luyện đội banh trường đại học Alabama để thắng được 22 trận và được coi là trường đứng hạng hai về dã cầu (football).  Nhưng không phải biến cố này, mà là một biến cố khác, đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc đời của ông.  Đó là việc sinh hạ đứa con trai, Johnny. Khi bác sĩ nói với ông Stallings rằng Johnny sẽ bị hội chứng Down (chậm phát triển) và có lẽ không sống lâu hơn bốn năm, ông đã ngất xỉu.

 


Ba mươi năm sau, Johnny vẫn còn sống.  Nói về ảnh hưởng của Johnny trong cuộc đời, ông Stallings cho biết: “Cháu rất đặc biệt!  Tất cả sự yêu thương của cháu thì vô điều kiện.  Cháu không đạt được thành tích gì.  Cháu hoàn toàn vị tha.”

 

Trong rất nhiều dịp, ông Stallings tuyên bố rằng cho dù có thể đảo ngược mọi sự và bắt đầu lại với một đứa con không bị bệnh Down thì ông cũng không muốn như vậy.  Ông nói, “Tôi cảm nhận được rất nhiều ơn lành.” Điều mà ông Stallings nghĩ rằng sẽ là một thập giá lớn lao trong đời thì lại trở nên một ơn sủng lớn lao – cả ở đời này và ngay cả ở đời sau.

 

Đây là điều Tin Mừng của Phúc Âm hôm nay dạy: khi chúng ta vác thập giá của mình và theo Chúa Giêsu, điều đó có thể thay đổi cuộc đời chúng ta nhưng sẽ đem lại một bình an và phước lành mà chưa bao giờ chúng ta tưởng tượng nổi hay dám hy vọng – và ngay cả dám mơ tưởng đến.

 


Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

TRỜI MỞ QUÁ RỘNG




Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ông Êlia lại được sai đến giúp một bà goá thành Sarépta, miền Siđôn”.

“Hội Thánh được mời gọi trở thành ngôi nhà của Chúa Cha, với những cánh cửa luôn rộng mở!” - Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Nhà Chúa Cha chỉ thật sự mở khi không ai bị xem là người ngoài. Nhưng người Nazareth chỉ muốn Đấng Messia cho riêng quê mình; họ không nổi giận vì trời đóng, nhưng vì ‘trời mở quá rộng’.

“Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh tai quý vị vừa nghe!”. Nguyên văn Tin Mừng không nói lời Isaia ứng nghiệm “trước mắt”, nhưng “trong tai” họ. Trời mở khi ‘tai mở’ trước Lời được công bố. Thế nhưng, họ chỉ đòi: những gì Chúa Giêsu đã làm tại Capharnaum, hãy làm tại quê nhà. Họ muốn thấy phép lạ hơn là để Lời biến đổi. Lời đã đến tận tai, nhưng không vào được lòng. “Nếu bạn tin điều mình thích trong Tin Mừng và loại bỏ điều mình không thích, bạn không tin Tin Mừng, nhưng tin chính mình!” - Augustinô.

Và Chúa Giêsu nhắc đến hai người ngoại: một bà goá thành Sarépta được Êlia cứu đói và Naaman người Syria được Êlisê chữa lành, đang khi trong Israel cũng có “nhiều” bà goá và nhiều người phong hủi. Chính điều ấy khiến người Nazareth nổi giận: không phải vì Thiên Chúa quên dân mình, nhưng vì lòng thương xót của Ngài tự do vượt khỏi dân mình. Họ biến việc được tuyển chọn thành quyền sở hữu. Thiên Chúa chọn họ làm cánh cửa cho ân sủng đi qua, còn họ lại dựng hàng rào. ‘Trời mở quá rộng’; chỉ lòng người quá hẹp mới sợ phần mình nhỏ lại khi ân sủng được trao ban.

Ở Côrintô, một thành dân ngoại, Phaolô đến trong yếu đuối và run sợ, chỉ biết Đức Kitô chịu đóng đinh; Lời ông rao giảng biểu lộ quyền năng Thánh Thần, để đức tin dựa vào quyền năng Thiên Chúa - bài đọc một. Tin Mừng không cần người sở hữu, nhưng cần một lối mở. Vì thế, yêu Luật Chúa không phải giữ Lời cho mình, nhưng để Lời đi qua mình đến với người khác: “Luật pháp Ngài, lạy Chúa, con yêu chuộng dường bao!” - Thánh Vịnh đáp ca.

Hôm nay, chúng ta không xô Chúa Giêsu xuống vực; nhưng có thể âm thầm nhăn mặt khi Ngài đưa vào nhà người mình cho là không xứng. Khó nhất không phải tin mình được thương, nhưng chấp nhận người mình gạt ra cũng được thương. Ân sủng biến thành đặc quyền ngay khi chúng ta tự quyết định ai xứng đáng. Hoán cải là biết vui vì người khác cũng có phần trong điều mình đã nhận, nhưng chưa bao giờ sở hữu. “Bạn muốn Thiên Chúa được tôn vinh sao? Hãy vui mừng trước sự tiến bộ của người anh em; và tức khắc, bạn đã tôn vinh Thiên Chúa!” - Gioan Kim Khẩu.

Anh Chị em,

Đức Kitô chịu đóng đinh là câu trả lời cuối cùng cho mọi ý muốn sở hữu ân sủng. Trên thập giá, Ngài không khép trời trước những kẻ loại trừ mình: Ngài cầu xin tha thứ cho họ và mở thiên đàng cho một tội nhân. Đấng bị đẩy ra ngoài lại dang tay đưa mọi người vào. Phục Sinh, Ngài không trở về để đòi lại một quê hương, nhưng sai môn đệ đi khắp nơi, vượt mọi biên giới. Thập giá trở thành cánh cửa không ai có thể chiếm giữ - nơi ‘trời mở quá rộng’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để ân sủng con nhận trở thành đặc quyền; phá những hàng rào con tạo nên; để lòng thương xót Chúa đi qua đời con đến với mọi người!”, Amen.

Suy tư:

Thiên Chúa chọn dân Israel làm dân riêng để chuẩn bị cho Đấng Cứu Thế xuất hiện. Thiên Chúa đã ký kết giao ước ở núi Sinai: Chúa hứa che chở bao bọc họ như con ngươi mắt Chúa, còn dân hứa trung thành với lề luật Chúa ban - tôn thờ một mình Ngài. Ý định của Chúa là chuẩn bị lòng dân đón nhận ơn cứu độ: trước hết dành cho dân Israel và sẽ rộng mở đến tận cùng thế giới. Thế nhưng, người Israel chỉ muốn độc quyền sở hữu lòng thương xót Chúa - cụ thể là những phép lạ mang lại lợi lộc vật chất. Tâm trạng người Do Thái cũng đang tồn tại nơi ta: Chúa phải thương (che chở, ban ơn) người có đạo một cách đặc biệt và tốt hơn nữa là ban đặc ân (phép lạ) cho những kẻ biết nhận ra Ngài, ca tụng Ngài... và tốt hơn nữa là phạt những người vô tín, tội lỗi. Xin Chúa cho tâm hồn ta bớt cứng cỏi để biết rằng: Thiên Chúa là Đấng nhân từ yêu thương hết mọi người trong nhân loại, Ngài muốn các Ki tô hữu trở nên muối men và ánh sáng cho đời - để qua cuộc sống tốt lành của họ dân ngoại sẽ nhận biết Thiên Chúa, để cả họ cũng được cứu độ. Ý muốn cứu độ phổ quát của Thiên Chúa được chính Chúa Giê su nói tới trong kinh Lạy Cha: danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện.

Hãy để cho Lời Chúa biến đổi mình. Lời Chúa và quyền năng Chúa Phục sinh có sức thay đổi con người của ta, từng ngày, có lúc âm thầm và có lúc mạnh mẽ. Càng thêm tuổi đời, bạn sẽ dễ dàng nhận ra điều đó. Cha Phương Đình Toại có kể 2 mẩu chuyện như sau: 

-Ngài gặp lại cha linh hướng cũ (74 tuổi) ở Roma, 2 cha con rủ nhau đi ăn ở tiệm. Cùng ôn lại những kỷ niệm cũ, cha linh hướng đặt câu hỏi: "cách đây mấy chục năm, nếu mình thấy trước những gian nan mà cuộc đời mình đã trải qua, không biết mình có đủ can đảm quyết định dấn thân hay không?". Cả 2 cha con cùng trầm ngâm, và cha linh hướng nói tiếp: có một điều rõ ràng là tâm hồn mình đã thay đổi rất nhiều nhờ đức tin vào Chúa.

-Một người đàn ông trong bệnh viện (80 tuồi), đang ngôì canh thức với thi hài vợ, ngày mai sẽ tiến hành tang lễ. Ông tâm sự: khi con lấy vợ, con không theo đạo vợ ngay, càng sống con nhận ra vợ con sống rất lạ - nên con muốn tìm hiểu đạo Công giáo là gì, đức tin là gì mà đã giúp vợ con sống tốt như vậy... sau đó con được rửa tội... đến bây giờ con nhận ra một điều: tình yêu vợ con dành cho gia đinh và niềm tin vào Chúa đã biến đổi con người con hoàn toàn.

Bạn hãy sống sao cho người khác nhận ra Chúa và ngợi khen Ngài, đừng mong họ khen ngợi bạn. Hãy cầu nguyện cho những người chưa tin nhận biết Chúa. Câu châm ngôn của Thánh Donbosco: “Xin cho tôi các linh hồn, còn mọi sự khác xin cứ lấy đi”. Một nhà tu đức nói: Ngài cầu nguyện cho các tội nhân, sẵn sàng chịu những thử thách mà mình có thể chịu được - với ý chỉ cho ai đó được trở lại, và sau đó ngài trải qua những thất bại đắng cay, hiểu lầm rất nặng nề suýt không chịu nổi ... nhưng kết quả cũng không tệ. Đôi khi ta cũng nên xin Chúa cho mình được người đời lãng quên và không đếm xỉa đến, chịu hiểu lầm xỉ nhục một chút, thất bại một tý... để cầu cho ai đó được ơn trở lại, được ơn thay đổi cuộc sống.