Danh sách Blog của Tôi

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

TAY KHÔNG THỂ DỐI

 


Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Các người xây mồ cho các ngôn sứ và tô mả cho những người công chính”.

“Con người thật của bạn đứng đó, vang lên như sấm; tôi không còn nghe được những gì bạn nói ngược lại!” - Ralph Waldo Emerson.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những lời thanh minh rất đẹp, nhưng việc làm luôn nói lớn hơn. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đọc chính việc người Pharisêu làm như lời tự thú của họ: miệng có thể chối, nhưng ‘tay không thể dối’.

Xây mồ cho ngôn sứ không có gì xấu. Điều đáng xấu hổ là người Pharisêu dùng việc ấy để nói rằng mình tốt hơn cha ông: nếu sống thời trước, họ đã không giết các ngôn sứ. Vậy mà công trình dựng lên để tỏ lòng kính trọng lại phơi trần sự thật: họ tôn kính những người đã chết, nhưng khước từ Đấng được các ngôn sứ loan báo nay đang sống và nói trước mặt họ. Giả hình sâu nhất là chỉ yêu sự thật khi sự thật không còn quấy rầy. “Chúa Giêsu, với sự đơn sơ và quyền năng của Thiên Chúa, đã làm họ khó chịu!” - Phanxicô.

Và Chúa Giêsu nói tiếp: “Thì các người đổ thêm cho đầy đấu tội của tổ tiên các người đi!”. Đó là một lời mỉa mai đau đớn: tội tưởng đã được chôn kín dưới những lớp đá đẹp vẫn đang được con cháu viết tiếp. Cái đấu không đầy một lần; một lời ngay lành bị gạt đi là thêm một nắm, một sự thật bị bẻ cong là một nắm khác, một người công chính bị loại trừ là thêm một nắm nữa. Họ chưa tra tay giết Chúa Giêsu, nhưng đã mở con đường từ mồ các ngôn sứ đến thập giá. Tay không chỉ nói thật về một người, mà còn cho biết người ấy đang tiếp tục câu chuyện nào.

Cũng có những đôi tay viết nên những câu chuyện đẹp. “Chính tôi, Phaolô, tự tay viết lời chào này”; cũng bàn tay ấy “đêm ngày đã làm lụng khó nhọc vất vả” để khỏi trở nên gánh nặng cho ai - bài đọc một. Vì thế, “Hạnh phúc thay những người kính sợ Chúa” - Thánh Vịnh đáp ca - không chỉ là một tâm tình; đó là khi lòng kính sợ đi xuống đôi tay, hoá thành việc làm, thành miếng bánh và bình an cho người thân và người bên cạnh.

Mỗi ngày, đôi tay vẫn âm thầm bộc bạch những gì trong lòng: có thể chắp lại trước Chúa mà khép lại trước người cần giúp; vừa rời giờ kinh đã có thể để lại một vết thương. Hoán cải là đổi việc tay làm. Chính những điều nhỏ cho biết chúng ta đang xây nhà hay xây mộ. “Hãy làm mọi sự vì tình yêu. Như thế, sẽ không còn việc nhỏ; mọi việc đều lớn!” - Josemaría Escrivá.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, đôi tay làm chứng mạnh nhất khi không còn làm được gì. Bị đóng đinh, những bàn tay từng chạm người phong hủi, bẻ bánh và rửa chân nay chỉ có thể dang ra. Nhưng chính ở đó, chúng nói trọn sự thật về Thiên Chúa: Thiên Chúa không chỉ yêu bằng lời, nhưng trao cả Người Con. Vết thương còn đó, bởi tình yêu không cần che giấu: khi hiện ra với các môn đệ, Ngài vẫn mang dấu đinh trên tay. Đôi tay ấy nói đến cùng rằng ‘tay không thể dối’ - không khép lại để kết án, nhưng mở ra trao bình an.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho tay con luôn nói thật lòng con; chắp lại trước Chúa và mở ra trước anh em; không xua đuổi nhưng chúc lành!”, Amen.

Suy tư: 

Chúa Giê su khiển trách các Biệt Phái và Luật sỹ là đạo đức giả: các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong toàn là đạo đức giả và gian ác. Vào thập niên 60, cha nghĩa phụ của linh mục Minh Anh đã nói: "Nếu tội thầm kín của mỗi người hiện lên bằng chữ trên trán họ thì đố ai dám ngẩng mặt lên, vì xấu hổ". Sách tu đức dạy rằng: dù đứng trước một tội đồ khét tiếng, bạn cũng đừng nghĩ mình tốt hơn họ, vì nếu nằm trong hoàn cảnh họ, có khi mình còn xấu xa hơn họ. Các kinh sư nghĩ mình tốt hơn cha ông, nhưng thực sự họ cũng cố chấp và khước từ hồng ân Thiên Chúa ban, chính họ sẽ treo Đấng Cứu Thế lên thập giá. 

Đừng ai trong chúng ta tự hào mình tốt hơn người khác, một hãy đấm ngực vì đã lãng phí trước biết bao hồng ân Chúa ban riêng cho mình ... vậy mà mình chưa nên thánh, tâm hồn chất chứa và lo lắng sự đời - những điều phụ tùy không thể mang theo khi lìa thế: gian tham, hưởng thụ, tiếng khen của người đời, ham nổi tiếng, ích kỷ. Tâm hồn mỗi người là nơi thánh thiêng Chúa ngự, hãy siêng năng dọn dẹp cho gọn gàng, trang hoàng bằng những tâm tình đạo đức, đuổi cho xa những bận tâm thế tục: những chuyện không liên quan đến mình, không thuộc bổn phận mình, bớt nghe và nhìn những chuyện xấu xa... làm cho hồn xao động và mất bình an.

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2026

TÔN GIÁO KHÔNG TRỌNG LƯỢNG

 


Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Các người lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà!”.

“Trọng lượng của tôi là tình yêu; nó mang tôi đi bất cứ nơi đâu!” - Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Đời người đi về đâu tuỳ điều gì nặng nhất trong tim - tình yêu. Nhưng Lời Chúa hôm nay cho thấy có một kiểu tôn giáo khắt khe với điều nhỏ mà lỏng lẻo với điều nặng - đó là một ‘tôn giáo không trọng lượng’.

Chúa Giêsu không trách người Pharisêu vì họ quá tỉ mỉ; Ngài trách vì sự tỉ mỉ ấy đã làm lệch cân. Họ nộp một phần mười bạc hà, thì là, rau húng, nhưng “bỏ những điều quan trọng nhất”. Bản Hy Lạp viết barytera: không chỉ là “những điều quan trọng nhất”, mà còn là “những điều nặng hơn”. Rau thơm có thể đếm, một phần mười có thể cân rồi yên tâm. Bởi thế, họ cân điều nhẹ để khỏi mang điều nặng; rồi nâng điều nhẹ thành tuyệt đối: con muỗi mắc lại trong rây, còn con lạc đà trôi thẳng vào bụng.

Một đời sống đạo có thể rất bận rộn: giữ đủ giờ kinh, ngày chay, khoản dâng cúng, mà lòng vẫn y nguyên. Việc nhỏ dễ chịu vì làm xong là có thể yên tâm; nhưng công lý, lòng nhân và thành tín không cho phép ai đứng ngoài. Chúng đụng đến túi tiền, sự tiện nghi, cả những lối thoát mỗi người âm thầm giữ cho mình. Vì thế, chén đĩa có thể sáng bóng mà bên trong vẫn đầy cướp bóc và vô độ. “Hãy rửa bên trong chén đĩa cho sạch trước đã!” - Chúa Giêsu không đòi thêm một việc đạo; Ngài đòi trả lại sức nặng cho việc đang làm. “Nên thánh không hệ tại ở chỗ làm những việc khác, nhưng ở chỗ làm vì Chúa những gì chúng ta thường làm vì mình!” - Brother Lawrence.

Đó cũng là cách Phaolô chuẩn bị tín hữu Thessalônica cho ngày Chúa quang lâm. Trước những tin đồn, họ hoảng sợ; ông không thêm một dấu chỉ, nhưng “Xin các Ngài an ủi và cho tâm hồn anh em được vững mạnh, để làm và nói tất cả những gì tốt lành” - bài đọc một. Việc lành có sức nặng vì “Chúa ngự đến xét xử trần gian!” - Thánh Vịnh đáp ca. Chúng ta lo lắng hỏi khi nào Chúa đến; Lời Chúa lại hỏi, đời chúng ta có gì đủ nặng để đặt lên bàn cân khi Ngài đến?

Vậy mà chiếc cân ấy nhiều lúc vẫn lệch, không vì thiếu quả cân, nhưng vì cái tôi đã chiếm mất điểm tựa. Lỗi người khác được đặt lên đĩa công lý; lỗi bản thân, lên đĩa biện minh. “Làm sao hiểu được công lý, nếu không nhìn mọi hành vi trong ánh sáng trọn vẹn?” - Kahlil Gibran. Hoán cải là đưa điểm tựa ra khỏi cái tôi về lại nơi Chúa, để mỗi điều được trả đúng trọng lượng. Linh hồn chỉ có sức nặng khi biết đau điều khiến người khác đau.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, “những điều nặng hơn” của Lề Luật không còn là những ý niệm; chúng mang hình thập giá. Thập giá là chiếc cân: một bên là toàn bộ sức nặng tội lỗi, bên kia là tình yêu của Người Con. Không phải tội lỗi bỗng nhẹ đi; nhưng tình yêu đã nặng hơn. Con Thiên Chúa đã đặt mình lên đó và mang lấy phần nặng nhất. Không có thập giá, đời sống đạo dễ trở thành một ‘tôn giáo không trọng lượng’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chỉnh lại chiếc cân lệch trong con; đừng để con vin vào điều nhỏ mà trốn tránh điều nặng; cho mỗi việc con làm mang trọng lượng của tình yêu!”, Amen.

Suy tư:

Bài Tin Mừng là những lời Chúa sửa dạy các Kinh sư và Biệt Phái, là những người thuộc tầng lớp cao trong đạo Do Thái, nhưng thật ra đây là những lời giúp từng người chúng ta xét mình, vì những tật xấu này ở đâu cũng có và thời nào cũng có. Chúa dạy ta: Hãy thanh tẩy nội tâm mình.

-Lừa dối bản thân: chúng ta dễ an tâm vì đã hoàn thành 'bổn phận' đạo đức như kinh hạt sáng tối, đi lễ Chúa nhật, xưng tội hằng năm, không phạm những tội tày trời (nổi tiếng, gây gương mù gương xấu)... nhưng lại bỏ qua luật sống công bình, nhân từ và chân thực, sống cướp bóc, ích kỷ, lắm chuyện, không giúp đỡ (vô tâm), khắt khe với người khác, thiếu thảo hiếu với cha mẹ... Có thể nói chúng ta tự lừa dối bản thân khi hoàn thành những kinh kệ để khỏi trở về nội tâm - nghe tiếng lương tâm thức tỉnh và sửa mình.

-Tật lắm chuyện. Sách tu đức dạy: Hãy nói đơn giản về mình. Sau mỗi cuộc nói chuyện với ai đó (bằng điện thoại hoặc trực tiếp) đôi khi mình cảm thấy bất an là vì mình đã nói quá những điều cần nói: mình khoe khoang bản thân và nói những phỏng đoán vô căn cứ về tha nhân. Tật lắm chuyện cũng gây ảo tưởng về sự tốt đẹp của bản thân và tạo nên sự bất công cho người thứ 3 là kẻ vắng mặt. Bởi vậy, hãy gò hãm miệng lưỡi là điều kiện tiên quyết để duy trì sự an bình nội tâm, thể hiện sự nhân từ - trung thực và tránh lỗi đức công bình.

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2026

SỐNG VẬY CÓ UỔNG KHÔNG?



 (Mỗi Ki tô hữu là một thừa sai, thực hiện lệnh truyền của Chúa: "Anh em là ánh sáng cho tràn gian". Một bài viết hay giúp ta thực hiện lệnh truyền của Chúa tốt hơn).

Lm Giuse Ngô Mạnh Điệp

Quỳnh có dịp ghé thăm đan viện Clara Nghèo vào một buổi chiều, khi theo chân mấy người trong xứ mang chút quà tới biếu các dì. Đây là lần đầu cô đặt chân tới một Đan viện Dòng Kín. Mọi thứ ở đây lặng lẽ và bình an đến lạ, khác hẳn cái nhịp sống ồn ào bên ngoài mà cô đã quen.


Ra tiếp chuyện cô là dì Clara, một nữ tu đã lớn tuổi, gương mặt bình an, ánh mắt hiền hậu. Sau vài câu chào hỏi, hai người ngồi lại nơi phòng khách nhỏ, cạnh khung cửa nhìn ra khu vườn lặng lẽ.

 

Quỳnh nhìn quanh, rồi tò mò hỏi, với sự hồn nhiên của người trẻ: Dì ơi, cho con hỏi cái này, dì đừng cười con nhé. Con thắc mắc mãi. Các dì sống ở đây, trong đan viện này, là cả đời luôn hả dì? Không ra ngoài, không đi đâu sao ạ? Mà sống vậy... ít người biết tới mình, con thấy nó thế nào ấy. Con không hiểu sao các dì lại chọn con đường này. Dì Clara bật cười hiền: Con hỏi hay lắm. Nhiều bạn trẻ tới đây cũng thắc mắc y như con vậy. Để dì kể con nghe một chuyện, rồi con sẽ hiểu.

 

Con có biết hôm nay Hội Thánh mừng lễ thánh nữ nào không? dì hỏi.

Dạ, con không rõ dì ạ. Thánh Clara, đấng sáng lập dòng của các dì. Trong bài Tin Mừng lễ của ngài, Chúa Giêsu nói một câu dì rất thích. Chúa không bảo: các con là vàng của trái đất. Chúa cũng không bảo: các con là kim cương của thế gian. Chúa nói: các con là muối của đất, là ánh sáng của thế gian. Muối với ánh sáng, con thấy đó, là hai thứ tầm thường lắm, đơn sơ lắm. Nhưng thiếu chúng thì cuộc đời khác hẳn.

Quỳnh chăm chú nghe.

Con nghĩ mà xem, dì Clara nói tiếp. Hạt muối, khi nó làm tốt việc của nó, thì mình chẳng để ý tới nó đâu. Ăn món ăn ngon, người ta khen món ăn, chứ có ai reo lên: ồ, muối này tuyệt quá đâu con. Nhưng mà thiếu muối một cái là biết liền, nhạt nhẽo ngay. Đời tu của các dì cũng vậy đó. Âm thầm, không ai thấy, như hạt muối tan vào món ăn. Nhưng con biết không, một thứ đâu cần phải được nhìn thấy thì mới có giá trị. Hạt muối tan biến đi trong món ăn, mà nó làm thay đổi cả món ăn.

 Dì Clara nói tiếp, giọng nhẹ nhàng: Thánh Clara hiểu điều đó. Ngài sống gần như cả đời ẩn khuất trong đan viện. Ngài không đi khắp nơi rao giảng. Ngài không tìm kiếm sự chú ý. Ngài cầu nguyện. Ngài hy sinh. Ngài yêu thương chị em của mình. Ngài trung thành với Chúa. Đời ngài ẩn giấu, như muối tan trong món ăn. Vậy mà hơn tám trăm năm sau, người ta vẫn còn được đánh động vì ngài. Con thấy không, cái đẹp của ơn gọi này là ở chỗ đó. Phần lớn những gì các dì làm đều âm thầm. Không ai thấy các dì cầu nguyện lúc tinh mơ. Không ai thấy những hy sinh nhỏ bé mỗi ngày. Nhưng một điều không cần được thấy, thì vẫn cứ có giá trị, con à.

Quỳnh khẽ gật đầu, như thể lần đầu tiên cô nghe được một điều ngược hẳn với cách nghĩ thông thường của mình.



Vậy còn ánh sáng thì sao dì?cô hỏi. Dì Clara cười: À, đây mới là điều đẹp nhất trong ngày lễ hôm nay. Con biết không, cái tên Clara, nghĩa là trong sáng, là rạng ngời, là chiếu sáng. Thánh Clara đã trở nên đúng như cái tên của mình. Ngài thành một ánh sáng. Nhưng lạ lắm con à, ngài chẳng bao giờ cố tỏa sáng. Ngài không tìm danh tiếng, không tìm sự chú ý. Ngài chỉ ở thật gần Chúa Giêsu, là Ánh Sáng thật. Và vì ngài ở gần Chúa, nên ánh sáng của Chúa mới chiếu qua ngài mà tỏa ra.

Dì Clara nhìn Quỳnh, ánh mắt trìu mến: Dì nói điều này, con nghe thử xem có đúng không nhé. Thế giới bây giờ, người ta cứ mải lo được người khác nhìn thấy. Ai cũng muốn được chú ý, được biết đến, được khen. Nhiều khi mình lo được người ta thấy quá, đến nỗi quên mất một câu hỏi quan trọng hơn: liệu Chúa có thấy nơi mình điều gì đẹp không? Người đời có thể không biết mình, nhưng Chúa thì thấy hết. Và cái Chúa thấy mới là cái đáng kể.

 Câu ấy khiến Quỳnh lặng người suy nghĩ.

 Thánh Clara dạy các dì thế này, dì nói tiếp. Đừng lo làm cho mình tỏa sáng. Hãy ở gần Chúa Giêsu, rồi để Chúa tỏa sáng qua mình. Con thấy đan viện này chứ? Nó như một ngọn đèn lặng lẽ cháy trong lòng Hội Thánh. Người ta tìm tới đây, mang theo đủ thứ gánh nặng. Người lo cho con cái. Người đau bệnh. Người trục trặc trong hôn nhân. Người hoang mang chẳng biết tỏ cùng ai. Họ tới và nói: dì ơi, xin cầu nguyện cho con. Tại sao vậy? Vì họ biết, đằng sau những bức tường này, có những người phụ nữ vẫn ngày đêm giữ cho ngọn đèn cầu nguyện cháy sáng. Con thấy không, tưởng là các dì vô ích với đời, mà hóa ra biết bao người đang tựa vào lời cầu nguyện của các dì đó.

 Dì ngừng một chút, rồi nói, giọng tha thiết: Thế giới này đã quá nhiều bóng tối rồi con. Nhưng thay vì ngồi đó than trách bóng tối, thì mình thắp lên một ngọn đèn. Nhiều khi, chỉ một ánh sáng nhỏ thôi cũng đủ để nói với ai đó: đừng bỏ cuộc, Chúa vẫn còn đây.

 Quỳnh thấy lòng mình lắng lại. Cô ngồi im một lúc, rồi khẽ hỏi:

 Vậy... một người sống ngoài đời như con, thì làm sao để cũng thành muối, thành ánh sáng được hả dì? Chứ con đâu ở trong đan viện.

 Dì Clara gật đầu, như chờ đợi đúng câu hỏi ấy: Con hỏi trúng cái cốt lõi rồi đó. Con không cần phải vào đan viện mới làm được muối, làm được ánh sáng đâu. Ngay giữa đời sống của con, con vẫn làm được mà. Chúa Giêsu nói: hãy để ánh sáng các con chiếu giãi trước mặt người ta, để họ thấy việc lành các con làm mà tôn vinh Cha các con trên trời. Con để ý kỹ nhé. Chúa không nói: để người ta thấy việc con làm mà khen ngợi con. Chúa nói: để họ tôn vinh Cha trên trời. Đó là điều phân biệt giữa một chứng nhân của Chúa và một người chỉ lo cho mình. Mình làm điều tốt, không phải để người ta nói: ồ, người này tốt quá. Mà để người ta nói: ồ, Thiên Chúa thật tuyệt vời.

 Thánh Clara là như vậy đó, dì nói. Cả cuộc đời ngài chỉ tay về một Đấng khác, chứ không về chính mình. Khi người ta nhìn Clara, ngài muốn họ thấy Chúa Giêsu. Con thử lấy điều đó mà xét mình xem. Sau khi gặp con, người ta có gần Chúa hơn không? Sau khi nói chuyện với con, người ta thấy được nâng đỡ hay thấy nản lòng? Khi nhìn cách con đối xử với người khác, người ta có thấy được một chút gì đó của Chúa không?



Dì Clara mỉm cười, nói thêm: Con thấy đó, sự thánh thiện không phải ở chỗ mình sống nơi đâu. Ở trong đan viện mà lòng chưa hoán cải thì cũng vậy thôi. Còn sống giữa đời mà để Chúa sống trong mình, thì ở đâu cũng nên thánh được. Người ta có thể mang theo cuốn Kinh Thánh mà vẫn làm tổn thương người khác. Có thể lần chuỗi Mân Côi mà vẫn nói xấu người ta. Có thể đi lễ mỗi Chúa nhật mà vẫn không chịu tha thứ. Cho nên sự thánh thiện, sau cùng, là để cho Chúa sống trong mình, con à. Đem một chút tử tế vào chỗ khó khăn. Đem kiên nhẫn vào gia đình. Đem tha thứ tới chỗ đang hờn giận. Đem lời động viên tới người nản lòng. Con làm được những điều nhỏ ấy, là con đã thành muối, thành ánh sáng rồi.

 Quỳnh cúi đầu, lòng dâng lên một cảm xúc khó tả. Cô tới đây chỉ vì tò mò về đời sống của các dì, vậy mà ra về lại mang theo một điều gì đó cho chính cuộc đời mình. Con cảm ơn dì, cô nói khẽ. Con tới đây, con cứ tưởng đời các dì âm thầm là uổng phí. Giờ con mới hiểu, âm thầm không có nghĩa là vô ích. Mà con cũng ngộ ra, con sống ngoài đời cũng vậy, đâu cần ai thấy, chỉ cần vì có con mà đời sống quanh con tốt hơn một chút.

 Chiều hôm ấy, trước khi về, Quỳnh nán lại dự giờ kinh với các dì. Trong ngôi nguyện đường đơn sơ, cô nghe tiếng các nữ tu nguyện kinh, những lời kinh âm thầm mà đã vang lên như thế suốt bao trăm năm, chẳng ai ngoài Chúa nghe thấu. Và giữa sự thinh lặng ấy, Quỳnh cảm thấy lòng mình bình an lạ thường. Cô nhìn những gương mặt bình thản của các dì, những con người cả đời ẩn mình sau bốn bức tường, và cô không còn thấy đó là sự uổng phí nữa. Cô thấy đó là những hạt muối âm thầm tan vào đời, những ngọn đèn lặng lẽ cháy trong đêm.

 Khi ra về, Quỳnh xin dì Clara cho mình được trở lại thăm. Dì gật đầu, tiễn cô ra cổng, và dặn dò thêm: Con về, cứ làm hạt muối, làm ngọn đèn giữa cuộc sống của con nhé. Không cần ai thấy con. Chỉ cần, vì có con, mà đời sống quanh con mặn mà hơn, sáng hơn một chút. Rồi người ta nhìn con, mà lại thấy được Chúa.

Quỳnh gật đầu, mắt long lanh. Cô bước ra khỏi cổng đan viện khi trời đã ngả chiều, nhưng trong lòng cô, một ngọn đèn nhỏ vừa được thắp lên.  – Tủ sách dịch Công giáo

 

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2026

NỮ VƯƠNG VÌ LÀ NỮ TỲ



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Triều đại Người sẽ vô cùng vô tận!”.

Trong Kinh Cầu Đức Bà, Hội Thánh gọi Mẹ là “Toà Đấng Khôn Ngoan”. Toà ấy không làm bằng vàng, nhưng bằng thân xác và tiếng “xin vâng” của một nữ tỳ. Đức Vua của triều đại vô tận đã chọn ngai đầu tiên của Ngài ngay dưới trái tim của một người mẹ.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không kể chuyện Cô bé Lọ Lem được đổi phận. Maria không thôi là nữ tỳ để trở thành Nữ Vương, nhưng là ‘Nữ Vương vì là nữ tỳ’.

Tin Mừng đặt cạnh nhau hai ngôn ngữ tưởng như trái ngược. Sứ thần nói về “ngai vàng vua Đavít”, “trị vì”, “triều đại của Người vô cùng vô tận”; Maria lại chỉ nói về sự thuộc về: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa!”. Bản Hy Lạp viết doulē - “nữ tỳ”: không chỉ phục vụ, mà còn hoàn toàn thuộc quyền chủ. Vì thế, “xin vâng” không chỉ là một lời đáp khiêm nhường, nhưng là hành vi trao thân xác, dự định và tương lai của mình để Đức Vua bắt đầu trị vì. Vương quyền của Mẹ không khởi đầu trong ngày đội triều thiên, nhưng trong ngày Mẹ để Chúa toàn quyền trên đời mình. Ở Maria, chính thân phận nữ tỳ mang hình dáng vương quyền.

Hội Thánh chiêm ngắm Maria như Nữ Hoàng bên hữu Đức Vua. Nhưng bên hữu ấy không khiến Mẹ thôi phục vụ; đó là nơi sự phục vụ mang tầm vóc vương giả. Mọi vinh quang của Mẹ đều nhận từ Con, mọi quyền thế của Mẹ đều trở thành chuyển cầu. Nữ tỳ nay ngự bên Đức Vua, vẫn chỉ muốn đưa con người đến gần Ngài. Tại Cana, một hành vi “vương giả” của Mẹ chỉ là nhận ra một thiếu thốn không ai nói thành lời: “Họ hết rượu rồi!”. Càng ở gần Chúa, chúng ta càng khó bình thản trước niềm vui đang cạn dần của người bên cạnh. Ngai của Nữ Hoàng không tách Mẹ khỏi chúng ta; đó là nơi Mẹ ở gần Đức Vua để không ai phải ở xa lòng thương xót.

Isaia hé mở nguồn mạch vương quyền của Mẹ: “Một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta”; “Người gánh vác quyền bính trên vai” - bài đọc một. Mẹ bồng Con Trẻ, Đấng gánh vác quyền bính. Mẹ chỉ trao Đức Vua cho thế giới và trao thế giới cho Ngài. Triều thiên của Mẹ không giữ lại ánh sáng cho mình, nhưng làm cho vinh quang của Con rạng rỡ. Thánh Vịnh đáp ca hoàn tất chuyển động ấy: “Chúc tụng danh thánh Chúa, tự giờ đây cho đến mãi muôn đời!”. Nữ Hoàng không giữ lời ca tụng nơi mình; Mẹ hướng tất cả về danh thánh Đấng Toàn Năng.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, ngai là thập giá, triều thiên là vòng gai; vương quyền của Ngài là cúi xuống. Càng được nâng cao bên Đức Vua, Maria càng cúi xuống bên những con người bé nhỏ. “Đừng tưởng tượng Đức Maria như một bức tượng sáp bất động; nơi Mẹ, chúng ta thấy một người chị với đôi dép mòn!” - Phanxicô. Triều thiên không làm Mẹ cởi đôi dép của nữ tỳ. Câu nói hóm hỉnh của Fulton Sheen lại chạm đến một sự thật rất ấm: “Khi đến trước mặt Chúa, bạn sẽ nghe Ngài nói: ‘Ta đã nghe Mẹ Ta nói về con!’”. Đó là nét gần gũi nhất của một ‘Nữ Vương vì là nữ tỳ’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Mẹ Maria, cho con càng được nâng lên, càng biết cúi xuống; càng gần Chúa, càng gần người bé nhỏ; càng được yêu, càng biết chuyển cầu!”, Amen.

Suy tư: Điều khác nhau của một nữ hoàng trần gian với Nữ vương Thiên đàng là ở chỗ Mẹ vẫn luôn gần gũi con cái Mẹ: chuyển cầu và giúp đỡ họ đạt được niềm vui nước trời. Một mục sư Tin Lành trở lại đạo Công Giáo đã có một nhận xét: "Tôi thấy đạo Công giáo có một sự ấm cúng vì có sự hiện diện gần gũi của một người mẹ". Trong đạo Tin Lành, Đức Maria (hay Ma-ri) được tôn trọng là một phụ nữ có đức tin lớn và được Chúa chọn sinh ra Chúa Giê-su, nhưng bà không được tôn kính là đấng trung gian, không cầu nguyện cùng bà và không có các tín điều như bên Công giáo (Internet).

Cha Nguyễn Tầm Thường kể (trong bài Người đi trừ tà) một chứng từ của cha già đã trừ quỷ: "Tôi rảy nước phép, dùng dây stola, dùng cả Thánh giá mà quỷ không chịu ra khỏi người con gái nó ám, bí quá tôi đưa chuỗi hạt ra - truyền nó phải xuất ra và nó xuất ra thật. Tôi phân vân 'chẳng lẽ Đức Mẹ lớn hơn Chúa?' , không phải thế, nó xuất vì nó xấu hổ vì Mẹ đầy nhân đức - nhất là sự khiêm nhường sâu thẳm của Mẹ". Chúng ta hãy học hai chữ xin vâng của Mẹ: Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa!”. Bản Hy Lạp viết doulē - “nữ tỳ”: không chỉ phục vụ, mà còn hoàn toàn thuộc quyền chủ. Vì thế, “xin vâng” không chỉ là một lời đáp khiêm nhường, nhưng là hành vi trao thân xác, dự định và tương lai của mình để Đức Vua bắt đầu trị vì.

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2026

ĐÚNG HẾT – VẪN CHẾT

 


Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Tất cả Luật Môsê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy”.

“Ca mổ thành công, nhưng bệnh nhân đã chết!. Câu nói phi lý ấy phơi bày một sự thật lạnh người: mọi thao tác có thể đúng mà mục đích vẫn thất bại.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy đời sống đức tin của chúng ta cũng thế: có thể giữ đúng từng điều luật, chu toàn mọi thực hành, nhưng nếu trái tim không còn yêu, chúng ta ‘đúng hết - vẫn chết’.

Người thông luật hỏi Chúa Giêsu về một giới răn; Ngài trả lời bằng hai: yêu Chúa và yêu người. Ngài đặt chúng ở nơi toàn bộ Lề Luật phải bám vào. Bản Hy Lạp viết krématai - “tuỳ thuộc”; không chỉ tuỳ thuộc mà còn có nghĩa “treo vào, móc vào”. Toàn bộ Luật Môsê và các sách ngôn sứ chỉ sống khi được treo vào tình yêu. Tách khỏi tình yêu, điều đúng vẫn còn đó, nhưng sự sống đã rời đi.

Chúa Giêsu biết người ta dễ nói yêu Thiên Chúa vô hình hơn yêu người đang làm mình khó chịu. Vì thế, khi nói “điều răn thứ hai cũng giống điều răn ấy”, Ngài không thêm một phần phụ, nhưng chỉ ra nơi tình yêu dành cho Thiên Chúa được kiểm chứng. Người ta có thể đúng khi nói về Chúa mà vẫn sai trong cách cư xử với người; có thể bảo vệ chân lý mà làm tổn thương phẩm giá của họ; thậm chí, dùng Lề Luật để khỏi phải yêu. Khi ấy, giữ luật trở thành một lối trốn khỏi tình yêu. “Ngay cả chữ viết của Tin Mừng cũng sẽ giết chết, nếu bên trong không có ân sủng chữa lành của đức tin!” - Tôma Aquinô.

Thị kiến Êzêkiel gọi đúng tên bi kịch ấy. Xương đã nối với xương, gân thịt đã mọc, da đã phủ bên ngoài; không gì sai chỗ, “nhưng thần khí chưa có ở nơi chúng”. Sự chết mang dáng vẻ một trật tự hoàn chỉnh, chỉ thiếu một điều: thở! Đời sống đạo cũng thế: mọi sự có thể đâu vào đó, mà bên trong vẫn lạnh. Chỉ khi được thần khí làm cho sống, chúng ta mới có thể cất lên từ chính kinh nghiệm của mình: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương!” - Thánh Vịnh đáp ca.

Có những ngày chúng ta không sai nguyên tắc nào, nhưng người bên cạnh lại ngạt thở. Tin Mừng không dừng ở câu hỏi “Tôi có đúng không?”; nó còn hỏi: “Người trước mặt tôi có được sống hơn không?”. Nếu sau khi gặp chúng ta, họ nhỏ lại, tuyệt vọng hơn hoặc xa Chúa hơn, cái đúng ấy có lẽ cần được treo lại vào tình yêu.

Anh Chị em,

“Đức Kitô dạy và trao phó cho các môn đệ một tình yêu lấy chính tình yêu của Ngài làm khuôn mẫu!” - Gioan Phaolô II. Ngài không chỉ treo toàn bộ Lề Luật vào hai giới răn ấy; Ngài treo chính đời mình vào đó. Trên thập giá, hai giới răn không còn đứng cạnh nhau, nhưng nên một trong thân xác hiến tế của Ngài. Được Chúa Cha làm cho sống lại, Ngài trao Thần Khí cho những trái tim khô cứng đập lại nhịp yêu thương. Trong Ngài, chúng ta không được mời gọi bớt đúng, nhưng phải đúng theo cách của Thiên Chúa: đúng để cứu sống; bằng không, vẫn có thể ‘đúng hết - vẫn chết’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con đúng mà lạnh; thật mà thiếu thương; sốt sắng với Chúa mà làm anh chị em con ngạt thở!”, Amen.

Suy tư:

Trong cuộc sống bon chen, thỉnh thoảng chúng ta nghe nói ở đâu đó có những quán cơm miễn phí, những cây gạo không đồng, những ân nhân giúp quỹ mổ tim, những cơ sở từ thiện và việc phục vụ không lương trong Giáo Hội. Nhưng rồi chúng ta cũng nghe những chuyện hối lộ, dịch vụ, tải nhạc đạo cũng phải trả phí, cha mẹ cho con tiền khi nhờ vả chúng chăm sóc... Chữ servus có 2 nghĩa, phục vụ và dịch vụ. Chúa Giê su dạy ta bắt chước Ngài đến để phục vụ.

Khi con cái đòi quyền lợi về tài sản và lại đùn đẩy trách nhiệm chăm sóc cha mẹ, đưa ra lý này lý nọ ... thì đã cạn tình lắm rồi. Còn chuyện nhạc đạo thì cũng giống như mình làm việc truyền giáo, như linh mục giảng Lời Chúa và như các vị HĐGX làm việc... nếu miễn phí được thì tốt hơn. 

Thánh Gioan Tông đồ viết: Nếu ai nói mình yêu mến Thiên Chúa mà không yêu thương tha nhân thì đó là kẻ nói dối. Nhưng Giáo hội cũng cảnh tỉnh chúng ta: đừng chỉ phục vụ anh em mà không giới thiệu Chúa cho họ, vì Thiên Chúa là sự thiện - là quà tặng vĩ đại nhất trên trần gian này. 

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2026

CỨ ĐẾN – ĐỪNG CỨ THẾ!

 


Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?”.

“Thiên Chúa yêu bạn như bạn đang là, nhưng Ngài không để bạn cứ mãi như thế; Ngài muốn bạn nên giống Chúa Kitô!” - Max Lucado.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói: cứ đến như con đang là; nhưng không ai có thể bước vào tình yêu mà không đổi thay: ‘cứ đến - đừng cứ thế!’.

Khi những người được mời từ chối dự tiệc, vua sai đầy tớ tập hợp mọi người, “bất luận xấu tốt”. Không có cuộc sát hạch nào ở cửa. Thế nhưng, nhà vua lại dừng trước một người không mặc y phục lễ cưới. Vấn đề không phải ông nghèo, vì mọi người đều được gọi từ các ngả đường; vấn đề là ông đã vào phòng tiệc mà không để tiệc cưới đi vào lòng mình. Ông đổi chỗ, nhưng chưa đổi lòng.

Điều lạ là càng bị từ chối, nhà vua càng mở rộng lời mời: từ những khách được mời trước đến bất cứ ai ngoài đường; không ai bị loại. Nhưng lòng quảng đại không biến ân sủng thành món rẻ tiền. Theo Đức Phanxicô, áo cưới là lòng thương xót Thiên Chúa ban cho mọi người. Nếu cửa tiệc là ân sủng, áo cưới cũng là ân sủng. Thiên Chúa không đợi chúng ta đổi đời mới gọi; Ngài gọi để trao cho chúng ta khả năng đổi đời. Áo được trao, nhưng khách phải khoác lấy: ân sủng làm việc trong chúng ta, không làm thay chúng ta. “Đấng đã dựng nên bạn mà không cần bạn, sẽ không làm cho bạn nên công chính nếu không có bạn!” - Augustinô.

Êzêkiel cho thấy cuộc đổi mới ấy diễn ra thế nào. Thiên Chúa không đòi người nhơ uế phải tự thanh tẩy rồi mới đến; chính Ngài lấy khỏi họ trái tim chai đá, ban một trái tim mới và đặt Thần Khí vào lòng họ - bài đọc một. Áo cưới không phải lớp vải che con người cũ, nhưng là dấu chỉ một trái tim được đổi mới. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca vang lên như một lời hứa: “Trên các ngươi, Ta sẽ rảy nước trong ngần, và các ngươi sẽ được rửa sạch mọi vết nhơ!”.

Cũng thế với chúng ta. Chúng ta dễ bước vào nhà Chúa hơn là để Chúa bước vào những góc khuất lòng mình: một oán giận không muốn buông, một đổ vỡ không muốn hàn gắn, một ưu tiên không muốn đảo lại. Ân sủng không chỉ cho chúng ta một chỗ trong nhà Chúa; ân sủng còn làm đời chúng ta mang dáng của Người Con. “Y phục lễ cưới là gì, nếu không phải là đức ái?” - Grêgôriô Cả. Đó là lúc áo cưới không dừng ở bề ngoài, nhưng trở thành nếp sống.

Anh Chị em,

Trung tâm tiệc cưới là Người Con. Trên thập giá, Ngài bị lột áo để những kẻ trần trụi vì tội lỗi được khoác lại phẩm giá làm con. Ngài mang chiếc áo cũ của chúng ta xuống mồ; khi trỗi dậy, Ngài trở nên y phục của một nhân loại mới. Kitô giáo không phải khoác vẻ đạo đức lên con người cũ, nhưng là “mặc lấy Đức Kitô” - để tâm tư, chọn lựa và cách yêu của Ngài dần thành hình trong chúng ta. Trong Ngài, Thiên Chúa đón nhận chúng ta trọn vẹn, nhưng cũng biến đổi chúng ta tận căn: ‘cứ đến - đừng cứ thế!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con dám đến như con đang là; biết khoác lấy ân sủng bằng một đời hoán cải; và đừng để con cứ mãi như trước!”, Amen.

Suy tư:

-Cha Minh Anh đã chia sẻ: dụ ngôn tiệc cưới nói đến ông chủ, chàng rể, bò bê, thực khách chối từ và thực khách được mời từ các ngả đường... nhưng tuyệt nhiên không nói tới cô dâu? -Thưa, mỗi thực khách được mời vào dự tiệc cứu độ đều là một nàng dâu kiều diễm tinh tuyền của nước trời. Thánh Phaolô nói: "Tôi đã đính hôn anh em cho một người, như dâng một trinh nữ trong trắng cho Đức Ki tô". Thiên Chúa sẽ cử hành hôn lễ với từng tâm hồn, tương quan giữa linh hồn với Chúa không chỉ là tương quan vua tôi, chủ tớ, hoặc thầy trò, nhưng là tương quan của hôn thê được yêu bởi vị hôn phu của mình. Đó là một tương quan thâm trầm và đằm thắm của những người yêu nhau mà lửa Thánh Thần tình yêu sẽ gìn giữ. 

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2026

GIỜ THỨ MƯỜI MỘT – VẪN TÌM


 

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Vì không ai mướn chúng tôi”.

Constantin Virgil Gheorghiu từng ám ảnh người đọc với Giờ Thứ Hai Mươi Lăm - giờ sau giờ cuối, khi mọi cứu thoát tưởng đã quá muộn. Trong thế giới ấy, điều đáng sợ không chỉ là con người không được cứu, nhưng không còn được nhìn như một con người.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay dừng ở giờ thứ mười một. Ngày gần tàn, người ta đã thôi tìm thợ; những con người cuối cùng vẫn đứng đó vì “không ai mướn”. Thế nhưng, giờ tưởng đã muộn vẫn là giờ Chủ Vườn còn đi tìm người - ‘giờ thứ mười một - vẫn tìm’.

Dụ ngôn trải dài một ngày, từ sáng sớm đến chiều tối. Điều lạ là Chủ Vườn không chỉ ra một lần: sáng sớm, giờ thứ ba, thứ sáu, thứ chín, rồi giờ thứ mười một, ông vẫn đi ra. Chưa được ai thuê, những người cuối cùng vẫn chưa bị bỏ qua.

Đáng chú ý, ở lần gọi cuối, không một lời nào về tiền công, không một lời nào về thời giờ; điều còn lại là một lời mời: “Hãy đi vào vườn nho!”. Ân huệ đầu tiên không phải là được tiền, nhưng là vẫn được gọi. Có những lúc điều con người cần nhất không phải là nhận thêm, nhưng được biết mình vẫn còn có một chỗ. Họ đã đứng suốt ngày mà không ai mướn; giờ đây, một lời gọi đưa họ vào. Trước khi trao cho họ điều gì, Chủ Vườn đã trao cho họ một nơi để thuộc về. “Ông đã đích thân gọi họ; ông biết phẩm giá của họ!” - Lêô XIV.

Chủ Vườn đi ra tìm người cũng chính là Mục Tử đi tìm chiên. Bước chân ấy đã vang từ rất xa xưa. Những mục tử Israel chỉ biết chăn chính mình, để đàn chiên tản mác; Thiên Chúa tuyên bố: “Chính Ta sẽ chăm sóc chiên của Ta và thân hành kiểm điểm” - bài đọc một. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca không nói những con chiên tự tìm đường về, nhưng tuyên xưng: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi!”. Hoá ra, điều làm người giờ thứ mười một “chẳng thiếu thốn gì” không vì họ đã có mọi sự, nhưng vì có Đấng đi tìm mình.

Với chúng ta, “giờ thứ mười một” có khi là lúc nhìn lại và tưởng phần đẹp nhất của đời mình đã ở phía sau. Tin Mừng không bảo chúng ta quay lại buổi sáng; chỉ cho thấy ngay ở giờ này, Chúa vẫn đi tìm tôi. “Đối với tình yêu Thiên Chúa, không ai là vô dụng hay vô nghĩa!” - Phanxicô. Những gì chưa thành không có quyền nói lời cuối về một đời người. Có thể chúng ta đã thôi hy vọng vào mình; Ngài thì chưa.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, Thiên Chúa đi đến tận cùng cuộc tìm kiếm con người. Ngài rời vinh quang, đi vào phận người, rồi xuống tận nơi không ai có thể đi xa hơn: sự chết. Trên thập giá, Ngài bước vào giờ tưởng mọi cứu thoát đã quá muộn; chính ở đó, một người trộm lành còn được Ngài gọi vào Nước Trời. Trong mồ, Ngài ở nơi mọi dấu chân đều dừng lại; nhưng cũng từ đó, Ngài trỗi dậy. Phục Sinh cho thấy cái chết có thể chặn bước con người, nhưng không thể chặn bước Thiên Chúa. Nơi tưởng đã hết đường, tình yêu vẫn lên đường - ‘giờ thứ mười một - vẫn tìm’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, vì những gì đã muộn, đừng để con tuyệt vọng; vì lạc lối vô bờ, con tin Chúa vẫn tìm; và dù ở giờ nào, xin cứ gọi con vào!”, Amen.

Suy tư:

-Trong Tin Mừng, có những câu chuyện mạc khải về lòng thương xót của Thiên Chúa mãi đánh động tấm lòng con người, làm ta luôn sững sờ vì quá khác với lòng người. Đấng Đáng Kính Fx. Nguyễn Văn Thuận gọi đó là một trong những khuyết điểm của Chúa 'Ngài không giỏi tính toán' : người trộm lành trên thập giá được Chúa quên hết tội, người công nhân giờ thứ 11 chỉ làm có 1 giờ mà vẫn được trả công bằng với kẻ làm từ sáng sớm, người đàn bà tìm lại đồng bạc bị mất liền kêu bạn bè đến ngay trong đêm và ăn mừng, con chiên bị mất có giá bằng (hoặc hơn) 99 con không bị mất...

-Hai chữ 'lẩm bẩm' nói lên sự so sánh và phân bì. Một trong những điều làm lộ tính kiêu ngạo của con người là phân tích 'tại sao người này được may mắn, kẻ kia gặp tai ương' vì khi xét đoán là ta tự cho mình 'khôn' bằng Thiên Chúa. Đành rằng chúng ta vẫn được dạy rằng: cha mẹ hiền lành để đức cho con, đời cha ăn mặn đời con khát nước... nhưng phải tránh những kết luận trong tư tưởng - trong lời nói 'kẻ này gặp hoạn nạn là do cha mẹ sống không tốt' vì lời này đụng vào lý đoán nhiệm mầu của Chúa, là Đấng lòng người không dò thấu và tư tưởng của Ngài cao rộng như trời mây so với mặt đất. Chúng ta thường không đau khổ vì gặp thất bại cho bằng chứng kiến thành công của kẻ khác.

-Đức Tổng Giám mục Fulton J. Sheen (1895–1979) có một hình ảnh rất dễ thương về thiên đàng. Tôi nghĩ rằng khi đến thiên đàng, có 3 điều ngạc nhiên: điều thứ nhất là những người tôi không ngờ lại có mặt ở đó, điều thứ hai là những người tôi tưởng ở đó lại vắng mặt, và điều bất ngờ lớn nhất là do lòng thương xót Chúa, tôi lại có mặt ở đó.