Danh sách Blog của Tôi

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2026

BỐ NUÔI

 (Chủ nhật thứ 3 của tháng 6 hằng năm là ngày của cha. Năm nay là ngày 21)

Sưu tầm 

Ngày cưới của tôi và em đã được ấn định, tôi đón chờ ngày 08/05/2016 sắp tới như một món quà của cuộc đời cho em, cho tôi và cho cả người cha già của tôi nữa.  Vậy mà chỉ trong phút chốc, giấc mơ ấy tan tành, nó phá vỡ niềm tin của tôi, hạnh phúc của tôi nhưng đau khổ hơn thế, nó có thể biến tôi thành một người con bất hiếu mà có nằm mơ, cả cuộc đời này tôi cũng không dám nghĩ mình sẽ có ngày bất hiếu với cha.......

 

Em là người biết rõ hoàn cảnh của tôi.  Tôi mồ côi cha từ bé, mẹ tôi góa chồng năm mẹ 26 tuổi, mẹ có hai đứa con trai, đứa lớn 5 tuổi, đứa bé vừa mới 1 tuổi.  Trong làng ngoài xóm nói mẹ tôi số sát chồng, ông bà nội không nhìn nhận cháu.  Mẹ tôi một mình nuôi hai anh em tôi trong đớn đau và tủi nhục.  Trong làng có một người đàn ông tuổi đã ngoài 30 nhưng do di chứng của bệnh quai bị nên chẳng lấy vợ.  Người đàn ông ấy bất chấp tất cả, xin được cưu mang ba mẹ con tôi dù gia đình từ bỏ, làng xóm chê cười và bạn bè dè bỉu.  Người đàn ông đó chính là bố tôi.  Bố không sợ số phận, không sợ gì số sát phu của mẹ tôi mà đón nhận chúng tôi như chính các con do bố đứt ruột sinh thành ......

 

Ba năm sau ngày bố tôi lấy mẹ, mẹ tôi mắc bệnh hiểm nghèo và qua đời.  Chôn vùi nỗi tiếc thương vợ, bố vẫn nói với mọi người rằng hai anh em tôi chính là món quà quí giá mà mẹ để lại.

 

Từ ngày đó, nhà chỉ có ba bố con nhưng chúng tôi chưa bao giờ phải nhịn đói, cũng chưa từng nghỉ học dù chỉ một buổi.  Bố nhận tất cả công việc có thể (đóng gạch ba banh thuê, làm củ sứ điện, làm phụ hồ...) để nuôi chúng tôi khôn lớn.  Nhiều đêm thức giấc, hình ảnh bố tôi ngồi bên ngọn đèn khâu cặp sách cho anh em tôi mãi không bao giờ quên. 

 

Có lần, đoàn thợ nhận được công trình lớn nhưng phải xa nhà một tháng, bố tôi muốn đi lắm để kiếm được nhiều tiền, nhưng vì lo cho anh em chúng tôi ở nhà nên bố lại từ chối chỉ để ở cạnh các con.  Sau lần đấy, họ không nhận bố tôi làm thợ phụ nữa, bố lại chuyển sang nghề bốc vác thuê, cứ ai gọi là đi, bất kể ngày hay đêm, chỉ mong đủ tiền cho các con ăn học. 

 

Từ lúc tôi nhận thức được, tôi chưa thấy bố tôi khóc bao giờ.  Lần đầu tiên tôi thấy bố tôi khóc là ngày tôi nhận giấy báo trúng tuyển Đại học Kinh tế Quốc dân (khóa 46).  Ngày hôm đó, bố tôi cầm tờ giấy báo trúng tuyển đại học của tôi mà hai tay run rẩy, bố để lên bàn thờ mẹ thắp hương rồi cứ thế mà khóc. 

 

Tôi và em trai chỉ biết nhìn bố mà không nói nên lời. 

 

Suốt những năm đại học, bố chưa bao giờ chậm gửi tiền đóng học phí cho tôi dù chỉ một ngày, mặc tôi nói tôi đi làm thêm, mặc tôi có học bổng bố vẫn gửi tiền đều đặn cho tôi và căn dặn tôi ăn uống đầy đủ, đừng làm thêm nữa, một mình bố làm là đủ rồi.  Năm hai đại học tôi bị tai nạn nặng và phải nhập viện gần một tháng.  Cả tháng đó, bố mang em trai lên Hà Nội chăm tôi, tôi bảo sao bố không để em ở nhà cho nó đi học thì bố bảo đi đâu bố cũng mang các con theo vì bố không yên tâm giao các con cho bất cứ ai.  Gần một tháng đó, ngày bố ra cầu Long Biên chờ người gọi việc bốc vác là làm, tối lại chăm sóc tôi trong viện.  Những ngày tháng đó, cả đời tôi không bao giờ quên... 

 

Tôi ra trường đi làm cũng chưa mua được gì cho bố, chỉ vài bộ quần áo mà mỗi lần mua, bố lại dỗi lên dỗi xuống kêu tốn tiền.  Tôi cũng mới sửa được cái nhà, cũng nuôi được em trai đại học.  Bố vẫn luôn thế, vẫn bắt tôi dành tiền để cưới vợ, để mua nhà ở Hà Nội, Bố bảo bố vẫn làm được, con đừng lo. 

 

Hôm nhà tôi sang nói chuyện người lớn với nhà em, tôi dẫn bố đi mua một bộ vest.  Bố bảo mua đắt lắm mà bố chỉ mặc có ba ngày (ngày dạm ngõ, ăn hỏi và ngày cưới).  Con thuê hay mượn cho bố cũng được, tiền đó còn để lo cỗ bàn.  Tôi ứa nước mắt, ép mãi bố mới chịu thử áo. 

 

Hôm nay tôi và em đi thử áo cưới.  Em vẫn đang thử đồ.  Điện thoại của em có tin nhắn Zalo của người bạn thân của em.  Tôi nghĩ cô ấy gửi lời chúc mừng nên mở ra xem.  Tôi không tin vào mắt mình khi nhìn đoạn chat giữa em và bạn ấy.  Em nói sao?  Em nói dù lấy tôi, em vẫn không muốn ở với bố tôi.  Em bảo rằng em không muốn chăm bố chồng hờ.  Em bảo với bạn rằng : “Ổng có đẻ ra chồng tao đâu mà tao phải chăm?  Cưới rồi cứ để ông ấy ở quê với thằng em...”  Còn nhiều, nhiều nữa mà tôi không thể đọc vì mắt cứ nhòe đi... 

 

Em từng nói sẽ chăm bố tôi, yêu thương bố tôi khi chúng tôi là vợ chồng, vậy bây giờ tôi nên tin lời em nói với tôi hay tin vào đoạn chat giữa em với bạn?  Em có thể yêu tôi ít đi nhưng thương bố tôi được không?  Người bố đã mang anh em tôi đến cuộc đời này.  Cho em một người chồng mà em vẫn ngày ngày nói yêu thương. 

 

Ngày cưới đã định, bố tôi vui mừng đi mời khắp xóm làng.  Bố tự hào về em, người con dâu có học thức.  Còn tôi, tôi ngồi đây trăn trở, khổ đau.  Liệu tôi có làm em thay đổi được không?  Liệu em có sẵn lòng thay đổi để thương yêu Bố tôi không?  Tôi sợ lắm một tình yêu ích kỷ, chỉ nghĩ cho bản thân.  Tôi vốn chỉ quen với tình yêu cho đi mà không bao giờ biết nhận lại của bố mà thôi. 

 

Gửi anh trai!

 

Hôm qua tình cờ đứa bạn cho em đọc những lời tâm sự của anh trên group, em đã nhận ra ngay đó là anh của em.  Nước mắt em đã rơi.  Em không rơi nước mắt vì anh mà vì bố của chúng ta anh à. 

 

Khi anh viết lên những dòng tâm sự ấy, em hiểu anh đã phân vân nhiều lắm.  Để em kể anh nghe, nghe về bố của chúng ta những ngày anh vắng nhà, còn quyết định như thế nào thì tùy anh định liệu, em không dám cản ngăn. 

 

Ngày anh lên trường nhập học, em và bố lên Hà Nội cùng anh, anh còn nhớ chứ.  Lúc trở về, nhà Nội (Nội ruột gồm hai ông bà và hai chú) sang bảo Bố: “Thằng H có phải là con ông đâu mà ông đi khoe khắp đầu làng cuối xóm, nó đậu đại học là do gen nhà tao thông minh, chứ gen nhà mày thì chỉ có đi làm cửu vạn mà thôi.”  Hôm đó em đã lao vào ẩu đả với hai chú vì dám xúc phạm đến bố.  Em cứ lao vào vừa khóc vừa quơ tay đấm đá liên hồi.  Em không ý thức được việc em làm, em chỉ thấy đau vì họ sỉ nhục bố em.  Bố đã lôi em ra, giữ chặt tay em và xin lỗi nhà nội.  Bố hứa sẽ giữ lời ăn tiếng nói.  Đêm đó bố ngồi trầm ngâm cả đêm không ngủ.  Sáng hôm sau, bố bắt em quỳ gối và vụt em ba roi (dù lúc đó em đã lớp 9).  Bố nói dù có như thế nào cũng không được hỗn hào với nhà nội ruột... 

 

Sau lần đó, có ai hỏi về anh mắt bố cũng long lanh, khoe anh thông minh giống bố ruột chứ người như bố chỉ biết lao động thôi.  Suốt những năm anh học đại học, chưa bao giờ bố chậm gửi tiền cho anh, nhưng cũng chưa bao giờ bố biết tới ăn sáng, anh biết không?  Nồi cháo đậu đen hôm trước ăn không hết, hôm sau bố ăn qua quít rồi đi làm.  Bố hay bảo người Trung Quốc sáng họ thường ăn cháo buổi sáng mới thọ.  Bố muốn sống lâu để chăm sóc tụi bay.  Em chưa bao giờ nhịn ăn hoặc ăn cháo sáng dù chỉ nắm xôi hay bát mì.  Có lần anh gọi về bảo nộp tiền học tiếng Anh gì đó (em quên rồi,) bố đã đi vay khắp xóm cho đủ.  Bố đi mãi đến khi bố về thì đã hơn một giờ sáng.  Em nói: "Bố có gửi cho Nó chậm một ngày cũng đâu sao mà bố phải đêm hôm khuya khoắt thế này.”  Em xót bố thôi.  Bố tát em, lần đầu tiên bố tát em và khóc.  (Em nói Nó là cái trung tâm tiếng Anh chứ có phải nói anh đâu) thế mà bố đấm ngực và bảo em chưa ngoan là do lỗi bố không biết dạy dỗ.  Sau lần đó, em không  bao giờ dám nói bậy dù chỉ nửa lời. 

 

Ngày anh tốt nghiệp, bố mua cho anh bộ vest mà bốn tháng sau bố mới trả hết tiền, anh biết không?   

Em không  có ý định thi đại học vì hơn ai hết, em hiểu bố nhọc nhằn đến như thế nào.  Vậy mà bố dỗi, bố ốm cả tháng và em sợ đến phát ốm theo.  Em lao vào học và đỗ.  Ngày em đỗ vào Đại học Giao thông vận tải, bố không khoe ai nữa, chỉ lặng lẽ dắt em ra thắp hương mộ mẹ mà thôi. 

 

Em không biết anh yêu chị Q nhiều bao nhiêu.  Chị ấy có quyền làm khổ anh nhưng không có quyền làm khổ bố em, càng không có quyền xúc phạm bố chúng ta.  Anh quyết định sao cũng được, em cũng năm cuối đại học rồi, anh không phải lo nuôi em, cả bố nữa vì em sẽ cố gắng lo cho bố.  Chính vì thế mà em chưa dám yêu một ai vì em chưa tin rằng sẽ có ai đó có thể hiểu và thông cảm với hoàn cảnh của chúng ta, chia sẻ với chúng ta và trân quí bố mình.  Nhưng anh khác và em khác.  Em sẽ mang bố theo em suốt cuộc đời này, anh đừng phải lo nếu anh còn phân vân. 

 

Em: HVĐ

 


ĐÊM HÔM CÓ TIẾNG NÓI



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 “Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày!”.

“Với chúng ta, Thiên Chúa thì thầm trong niềm vui, nói trong lương tâm, nhưng hét lên trong đau khổ!” - C. S. Lewis.

Kính thưa Anh Chị em,

 

Có thật Thiên Chúa hét lên trong đau khổ? Lời Chúa hôm nay trả lời: Có! Không chỉ trong đau khổ, nhưng đôi khi Ngài còn cất tiếng giữa cả sự chết chóc. Điều mà Tin Mừng hôm nay gọi là “đêm hôm” - một ‘đêm hôm có tiếng nói’.

 

Đêm hôm ở đây không chỉ là thời gian, nhưng là một trải nghiệm. Đó là lúc lý trí không còn khả năng giải thích, kinh nghiệm không còn đủ nâng đỡ; và người khác cũng không thể đi thay. Chúng ta không còn nghe được gì ngoài sự im lặng. Thế nhưng, chính ở đó, Thiên Chúa lại lên tiếng. Có những điều chỉ được nghe khi mọi tiếng động khác đã lặng im. “Thinh lặng là ngôn ngữ đầu tiên của Thiên Chúa!” - Gioan Thánh Giá.

 

Nhưng Thiên Chúa nói gì giữa đêm hôm? Có tới ba lần, Chúa Giêsu lặp lại cùng một lời: “Đừng sợ!”. Trong nguyên ngữ, mē phobeisthe vang lên như một điệp khúc giữa bách hại và sự chết. Dường như Ngài biết rằng tiếng nói lớn nhất của đêm hôm chính là nỗi sợ. Vì thế, điều đầu tiên Chúa Giêsu muốn làm không phải là giải thích mọi sự hay lấy đi khó khăn, nhưng là cất lên giữa đêm hôm một tiếng nói khác: “Đừng sợ!”.

 

Giữa bóng tối của thử thách, Giêrêmia nghe biết bao người vu cáo mình, “Kìa, lão ‘Tứ phía kinh hoàng!’”. Ông bị theo dõi, rình rập và chờ ngày gục ngã. Nhưng giữa những tiếng nói ấy, ông còn nghe một tiếng nói khác: “Đức Chúa hằng ở bên con như một trang chiến sĩ oai hùng” - bài đọc một. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca mới có thể cất lên: “Lạy Chúa, xin đáp lại, vì ơn cả nghĩa dày!”. Hoá ra, đêm hôm không phải là nơi Thiên Chúa im tiếng; đó là nơi tiếng nói của Ngài trở nên quyết định nhất.

Chúng ta có lẽ không sống những ngày đen tối như Giêrêmia. Nhưng ai cũng có những “đêm hôm”: một chẩn đoán bất ngờ, một mất mát không thể bù đắp, một thất bại, một hiểu lầm, một sự im lặng kéo dài của Thiên Chúa. Chính trong những giờ phút ấy, biết bao âm thanh cất lên: sợ hãi, thất vọng, cay đắng và buông xuôi. Vì thế, điều quyết định là chúng ta đang lắng nghe điều gì. Có những lời chỉ muốn đẩy chúng ta vào tuyệt vọng; nhưng cũng có những tiếng gọi âm thầm giữ chúng ta lại bên bờ vực - một ‘đêm hôm có tiếng nói’.

 

Anh Chị em,

Đức Kitô là Đấng đã đi qua đêm của Vườn Dầu. Ở đó, Ngài nghe biết bao tiếng nói: tiếng sợ hãi, tiếng cô đơn, tiếng của đau khổ và sự chết đang đến gần. Nhưng giữa tất cả những tiếng nói ấy, Ngài vẫn chọn lắng nghe tiếng nói của Cha. Vì thế, từ đêm của Ngài, không còn đêm nào hoàn toàn câm lặng. Ngay trong đêm sâu nhất, vẫn có một tiếng nói không tắt. Và ai biết lắng nghe tiếng nói ấy sẽ không còn sợ hãi. “Không có vực thẳm nào sâu đến mức tình yêu Thiên Chúa không thể chạm tới!” - Corrie ten Boom.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, bước vào những đêm tối đời mình, cho con xác tín rằng Ngài chưa bao giờ im tiếng; để con không còn run sợ vì biết Ngài vẫn ở cùng con!”, Amen.

Suy tư: Thời đại chúng ta đang sống là thời đại của kỹ thuật số, và camera là một trong những sản phẩm của nó. Nhờ có camera, con người dường như sống tử tế và kỷ luật hơn, vì sợ việc xấu của mình bị nhìn thấy. Nhưng đừng quên rằng: Thiên Chúa luôn nhìn thấu tâm hồn con người và ghi nhớ tất cả. Điều khác biệt cốt lõi giữa ánh mắt của camera và của Thiên Chúa nằm ở mục đích sử dụng: ánh mắt của Thiên Chúa dõi nhìn trong yêu thương, như ánh mắt của người cha - người mẹ luôn dõi theo cuộc sống con mình, để cùng vui cùng buồn, dù tốt - dù xấu - dù thành đạt hay vấp ngã...thì cũng vẫn là con mình, có lúc đứa con càng tệ càng được thương hơn; còn camera thì khác, chúng được lắp đặt chỉ để theo dõi để đưa ra sự thưởng phạt, bất chấp những tình cảm tâm hồn.

Thế nhưng, con người thường sợ camera hơn kính sợ Thiên Chúa, chính vì Ngài luôn im lặng, đến nỗi nhiều kẻ cho rằng Ngài không hiện hữu hoặc Ngài chẳng bận tâm đến loài người nữa, vì vũ trụ cứ vận hành theo những quy luật đã được thiết lập. Nhiều người đã từng có kinh nghiệm đi máy bay, cũng từng có nỗi sợ: nếu trục trặc máy móc thì chỉ có chết - ăn năn tội chẳng kịp. Nhưng nghĩ lại: dù chết cách nào thì con người cũng chỉ biết phó thác mọi sự cho lòng thương xót Chúa, sống thế nào thì thác thể ấy, ngay giây phút lìa đời ước gì mỗi người vẫn xác tín được lời nói của Chúa Giê su "Thầy đây, đừng sợ".  

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2026

KHÔNG VỪA KHUÔN

 


Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Chính vua Đavít gọi Đấng Kitô là Chúa Thượng!”.

Tương truyền, khi được hỏi làm sao tạo nên tượng Đavít, Michelangelo trả lời: “Bức tượng vốn đã ở trong khối đá; tôi chỉ loại bỏ những gì không phải Đavít!”. Con người thường làm điều ngược lại: họ cố đẽo Đức Kitô cho vừa với những mong đợi và khuôn mẫu của mình.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy, Đức Kitô không vừa với bất cứ khuôn mẫu nào con người dựng lên. Ngài không chỉ là “con vua Đavít”; Ngài còn là “Chúa Thượng của Đavít”. Ngài là Đấng ‘không vừa khuôn’.

Với người Do Thái, gọi Đấng Messia là “con vua Đavít” đã là một tước hiệu rất cao. Đó không chỉ là một danh xưng, nhưng hàm chứa khát vọng phục hồi Israel. Nhưng Chúa Giêsu đi xa hơn: nếu Đavít gọi Đấng Kitô là “Chúa Thượng”, thì Ngài không thể chỉ là hậu duệ của Đavít; nghĩa là, Thiên Chúa luôn lớn hơn mọi hình dung tôn giáo, chính trị hay lịch sử con người dựng lên. Bi kịch lớn nhất là bắt Trời cao phải làm đầy các nhu cầu ích kỷ của một linh hồn tham lam. “Thiên Chúa luôn là mầu nhiệm vượt quá khả năng nắm bắt của con người!” - Karl Rahner.

Khi gọi Đấng Kitô là Kyrios - Chúa Thượng, Chúa Giêsu mở tung mọi giới hạn con người áp đặt cho Thiên Chúa. Người ta muốn một vị thần giải quyết vấn đề, bảo vệ lợi ích hay đứng về phía mình; nhưng Thiên Chúa luôn là Deus semper maior - Đấng lớn hơn mọi định nghĩa. Ngài không đến để xác nhận những mong đợi của con người, nhưng để hoán cải chúng. Chúa Giêsu liên tục làm người đương thời khó chịu: Ngài không vừa với tham vọng chính trị của người Pharisêu, không vừa với thứ đạo đức khép kín của giới kinh sư, cũng không vừa với giấc mơ quyền lực của các môn đệ. Đẽo gọt Thiên Chúa cho vừa với ý mình là đang tạo ra một ngẫu tượng thay vì thờ phượng Ngài. “Chỉ Thiên Chúa mới hiểu thấu Thiên Chúa!” - Karl Barth.

Bình an không đến từ một Thiên Chúa vừa khít với các nhu cầu của mình, nhưng từ việc để chính mình được biến đổi theo ý Ngài. Timôthê được mời gọi trung thành với chân lý đã lãnh nhận - bài đọc một. “Kẻ yêu luật Chúa hưởng an bình thư thái!” - Thánh Vịnh đáp ca - bởi lẽ, chỉ khi thôi bắt Thiên Chúa phải vừa với ý mình, con người mới bắt đầu nếm cảm sự bình an! “Thiên Chúa vượt khỏi mọi điều con người có thể nắm bắt hay gọi tên!” - Angelus Silesius.

Anh Chị em,

Đức Kitô không đến để vừa với những khuôn mẫu con người dựng lên; Ngài đến để phá vỡ chúng. Là Kyrios - Chúa Thượng, Ngài không thể bị thu nhỏ trong bất cứ khuôn mẫu nào. Vì thế, theo Chúa Kitô không phải là giữ một Thiên Chúa vừa tầm với mong đợi của tôi, nhưng là dám để đời tôi bị phá vỡ và tái tạo bởi một Thiên Chúa luôn lớn hơn. Nhiều khi, con người không gặp được Chúa Kitô không phải vì Ngài quá xa, nhưng vì họ chỉ muốn một Thiên Chúa vừa khuôn với mình. Đức tin không nhằm giúp ai an vị trong vùng đất cũ, nhưng là cuộc phá vỡ để bước vào Đấng lớn hơn!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, như nhà điêu khắc đã loại khỏi khối đá những gì không phải Đavít; xin đẽo khỏi đời con những gì không thuộc về Chúa, để Đức Kitô thành hình nơi con!”, Amen.

Suy tư: Một vị vua đang cầu nguyện, người bề tôi tò mò hỏi xem hoàng thượng cầu xin điều gì cùng Thượng Đế? - Ta cầu xin sự phù hộ của trời cao để được mọi sự an lành. Người bề tôi nhận ra rằng hoàng thượng, tuy rất giàu có về của cải nhưng tâm hồn vẫn nghèo, cũng xin những điều như sức khỏe, sống lâu, không gặp tai ương, con ngoan vợ đẹp ... như mọi người.

Vua Đa vit được Chúa khen vì đã cầu xin cho được khôn ngoan, biết phải trái để chu toàn phận sự cai trị dân Chúa. Chúa Giê su dạy ta cầu nguyện cho nhu cầu tâm linh trước khi xin những nhu cầu vật chất. Một nhà tu đức nói: chúng ta thường mong chờ phép lạ, nhưng không biết thay đổi tâm hồn cho đẹp ý Chúa hơn. Hãy có những lời cầu nguyện 'nâng cao': danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện trong cuộc đời mình, biết nhận ra ý Chúa, biết yêu thương người khác như Chúa muốn, biết sống đẹp lòng Chúa... còn mọi sự khác Chúa sẽ ban cho, vì Chúa biết rõ chúng ta cần gì.

 

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2026

THIẾU MỘT BƯỚC CUỐI

 



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!”.

“Nhiều người thuộc về Thiên Chúa mà Hội Thánh không có; và nhiều người Hội Thánh có lại không thực sự thuộc về Thiên Chúa!” - Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay kể về một kinh sư: ông hỏi đúng, hiểu đúng và trả lời đúng; nhưng Chúa Giêsu chỉ nói: “Ông không còn xa…”. Hoá ra, người ta có thể rất gần Thiên Chúa qua dáng vẻ đạo đức, mà vẫn ‘thiếu một bước cuối’ để thật sự bước vào Nước Ngài.

Vị kinh sư không còn mắc kẹt trong thứ đạo đức hình thức. Ông hiểu rằng, yêu mến Thiên Chúa và tha nhân “quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ”. Nhưng Chúa Giêsu vẫn không bảo đảm ông đã ở trong Nước Trời; bởi lẽ, Kitô giáo không dừng ở chỗ hiểu đúng về Thiên Chúa, nhưng là để toàn bộ đời mình bước vào tương quan với Ngài. Khoảng cách cuối cùng không nằm ở tri thức, mà ở sự dấn thân của toàn bộ hiện hữugiữa biết điều phải sống và thật sự dám sống điều đã biết. “Kitô giáo không phải là một lý thuyết để hiểu, nhưng là một sự sống để bước vào!” - Karl Rahner.

Vì thế, Chúa Giêsu không nói: hãy yêu Thiên Chúa bằng một cảm xúc đạo đức nào đó, nhưng bằng “toàn thể” con người. Marcô dùng bốn từ rất mạnh: kardiapsychēdianoia và ischys. Nghĩa là, Thiên Chúa không muốn con người nhường cho Ngài một góc nhỏ đạo hạnh trong đời sống; Ngài muốn trọn con người ấy. Chính ở đây, nhiều người vẫn “không xa” Nước Trời, nhưng chưa thật sự bước vào: họ dành cho Chúa một phần thời gian, một phần niềm tin hay chút thiện chí; nhưng chưa bao giờ thật sự phó thác cho Ngài. Bố thí cho Thiên Chúa một góc nhỏ cuộc đời là một hình thức sỉ nhục Trời cao. Thông suốt giáo lý mà không dám dấn thân chỉ là đứng ngắm Nước Trời từ xa. Người ta có thể nói rất đúng về Nước Trời, nhưng không ai bước vào đó bằng kiến thức.

Phaolô nhắn nhủ Timôthê: “Hãy nhớ đến Đức Giêsu Kitô!” - bài đọc một. Nghĩa là, đức tin Kitô giáo không hệ tại ở việc ghi nhớ một giáo huấn, nhưng ở việc để chính Đức Kitô chiếm lấy đời mình. Vì thế, điều con người cần không chỉ là biết đường về Nước Trời, nhưng là thật sự bước đi trên con đường ấy. Biết đường mà không cất bước vẫn là kẻ lưu vong. “Lạy Chúa, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết!” - Thánh Vịnh đáp ca - không phải là lời xin thêm kiến thức, nhưng là lời xin được dẫn vào một lối sống mới.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ nói về giới răn yêu thương; chính Ngài là Đấng đã sống trọn giới răn ấy. Ngài yêu Chúa Cha không bằng một phần đời mình, nhưng bằng toàn bộ hiện hữu - đến tận thập giá. Và tại đó, Ngài yêu con người bằng cách trao hiến toàn thân cho họ. Vì thế, theo Chúa Kitô không chỉ là biết điều phải làm, mà là dám bước qua khoảng cách cuối cùng giữa hiểu biết và trao hiến. Có những người rất gần Nước Trời, nhưng vẫn đứng ngoài vì chưa bao giờ thật sự đặt đời mình vào tay Thiên Chúa. Họ ‘thiếu một bước cuối’. “Cám dỗ lớn nhất của con người là bằng lòng với quá ít!” - Thomas Merton.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa bao điều giằng xé lòng con, xin dạy con biết dành cho Chúa không phải một phần nhỏ, nhưng toàn bộ cuộc sống!”, Amen.

 

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2026

TIỀN TRUNG THÀNH HƠN NGƯỜI



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế) 

“Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa!”.

Chỉ cần nhìn một đồng xu, nhà sưu tập tiền cổ có thể biết ngay nó thuộc triều đại nào, đúc ở đâu, giá trị bao nhiêu. Nhưng khi được hỏi điều gì là quan trọng nhất trong đời, ông lúng túng.

Kính thưa Anh Chị em,

Nhà sưu tập biết gốc gác một đồng tiền cổ; nhưng không biết gốc gác của mình. Tin Mừng hôm nay đưa ra một nghịch lý: đồng tiền mang hình Caesar, thuộc về Caesar; con người mang hình Thiên Chúa nhưng không phải lúc nào cũng thuộc về Ngài. Bởi thế, có lúc ‘tiền trung thành hơn người’.

Chúa Giêsu không trả lời câu hỏi có nên nộp thuế không; Ngài chỉ xin xem đồng tiền và hỏi: “Hình và danh hiệu này là của ai?”. Từ được dùng ở đây là eikōn - “hình ảnh”; nhưng Kinh Thánh còn nói đến một eikōn khác: con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Vì thế, câu hỏi của Ngài không dừng lại ở đồng tiền: đã hẳn, đồng tiền mang hình Caesar, thuộc về Caesar; còn con người mang hình Thiên Chúa thì thuộc về ai?

Điều nghịch lý là những người chất vấn Chúa Giêsu, chống lại việc nộp thuế cho Caesar, lại muốn kéo Ngài vào cuộc; đang khi chính họ vẫn rủng rỉnh Caesar trong túi. Chúa Giêsu không vội trả lời; Ngài để chính đồng tiền lên tiếng. Vấn đề vì thế không còn là thuế, nhưng là sự thật về chính mình. Đôi khi điều tố cáo chúng ta không phải lời nói, mà là những gì chúng ta đang nắm giữ. “Giá mà người ta hiểu được sự ngọt ngào của một tâm hồn không giữ lại gì cho mình trước mặt Thiên Chúa!” - Thérèse Couderc.

Điều đáng suy ngẫm là Chúa Giêsu không nói: “Dâng cho Thiên Chúa”, nhưng: “Trả về Thiên Chúa”. Người ta chỉ trả lại điều vốn thuộc về chủ của nó: Caesar nhận lại đồng tiền của mình; còn con người phải được trả về cho Thiên Chúa. Vì thế, điều Ngài đòi hỏi không phải là một phần, nhưng là toàn bộ con người. Vấn đề không phải chúng ta cho Thiên Chúa bao nhiêu, nhưng giữ lại cho mình bao nhiêu.

Con người có thể quên mình thuộc về ai; Thiên Chúa thì không bao giờ quên con người thuộc về Ngài. Vì thế, Phêrô mời gọi các tín hữu lớn lên trong ân sủng và sự hiểu biết Đức Giêsu Kitô - bài đọc một. Đó là hành trình trở về sâu hơn với Đấng đã in dấu Ngài nơi chúng ta. Và qua bao thế hệ, Kitô hữu vẫn chỉ có một nơi trú ẩn không đổi thay: “Trải qua bao thế hệ, Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn!” - Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Nếu có lúc ‘tiền trung thành hơn người’, thì Đức Kitô cho thấy con người được tạo dựng để trung thành hơn cả đồng tiền. Ngài là hình ảnh Chúa Cha và hoàn toàn thuộc về Cha; không quyền lực, đám đông hay thập giá nào khiến Ngài phản bội tư cách làm Con. Chính nhờ sự trung tín của Người Con mà chúng ta được trở nên nghĩa tử, và được đưa về với Đấng đã nắn đúc nên mình. Với chúng ta, để vật chất định đoạt giá trị bản thân là đang tự xoá hình ảnh Thiên Chúa nơi mình. “Con người đáng giá vô cùng hơn những gì mình sở hữu!” - Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con thuộc về những gì con đang nắm giữ, hay những gì đang nắm giữ con; nhưng thuộc trọn về Đấng đã in dấu Ngài nơi linh hồn con!”, Amen.

Suy tư:

Người độc tài là những người quá khích từ trong tư tưởng về một khía cạnh nào đó và bắt người khác phải nghe theo ý mình, nếu không thì sẽ bị loại trừ. Chúng ta nhìn ra điều đó trong lịch sử nhân loại và trong đời sống thường ngày, cụ thể nơi những kẻ khủng bố. 

Trong đời sống tâm linh, khi ai đó sống ngược với những giá trị Tin Mừng, họ thường đưa ra những ngụy biện để biện minh cho hành động sai trái của mình, nhưng trụ cột của Tin Mừng là 10 điều răn Đức Chúa Trời, được tóm lại trong 2 điểm cốt lõi là Kính mến Chúa trên hết mọi sự và yêu người ta như chính mình. Điều gì đi ngược với 10 điều răn thì đều là ngụy biện.

Hãy trả lại cho Thiên Chúa điều thuộc về Ngài: sống trọn tình con thảo với Chúa, vì mỗi người là con cái Thiên Chúa, là anh em của một Cha trên trời. 

Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2026

GIẾT THỪA KẾ - ĐỂ LÀM CHỦ



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Nào ta giết quách nó đi, và gia tài sẽ về tay ta!”.

Khi còn là hoàng tử, Absalom đã âm thầm thu phục cảm tình dân chúng và cuối cùng nổi loạn chống lại Đavít, vua cha. Bi kịch là: người sẽ được thừa kế lại muốn sở hữu ngay điều mình chưa được trao. Và trên đường chiếm đoạt vương quyền, ông đánh mất tất cả.

Kính thưa Anh Chị em,

Muốn chiếm lấy điều chỉ có thể đón nhận như hồng ân là một cám dỗ cổ xưa. Những tá điền trong Tin Mừng hôm nay cũng vậy, “Nào ta giết quách nó đi, và gia tài sẽ về tay ta!”. Đó là một thứ logic của tội lỗi: ‘giết thừa kế - để làm chủ’.

Dụ ngôn xoay quanh người klēronomos - người thừa kế. Trong Kinh Thánh, đó không chỉ là người nhận gia sản, nhưng còn là dấu chỉ của quyền sở hữu chính đáng. Vì thế, các tá điền vừa thấy người con đã biết ngay anh là ai: một chướng ngại. Chừng nào người thừa kế còn đó, họ mãi chỉ là tá điền. Muốn làm chủ, họ phải loại bỏ người thừa kế. Họ muốn chiếm đoạt điều lẽ ra phải đón nhận như quà tặng. Từ Ađam đến hôm nay, con người vẫn nghĩ mình sẽ giàu hơn khi gạt Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời; nhưng càng xa Thiên Chúa, con người càng vong thân. “Ai để Đức Kitô bước vào đời mình thì không mất gì cả; trái lại, người ấy tìm thấy sự sống đích thực!” - Bênêđictô XVI.

Nếu các tá điền gây ngạc nhiên vì lòng tham, thì chủ vườn còn gây ngạc nhiên hơn vì lòng quảng đại. Sau cảnh những đầy tớ bị đánh đập, sỉ nhục và giết hại, ông vẫn sai người con. Theo cái nhìn nhân loại, đó là một quyết định liều lĩnh. Nhưng chính ở đây dụ ngôn hé mở dung mạo Thiên Chúa. Con người luôn muốn giữ lại điều quý nhất; Thiên Chúa lại trao chính điều quý nhất. Nếu các tá điền nói: “Nào ta giết quách nó đi!”, thì Thiên Chúa lại nói: “Ta vẫn sai con ta đến!”.

Nhưng dụ ngôn không kết thúc ở cái chết của người con. “Tảng đá thợ xây loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường”. Con người loại bỏ điều họ cho là chướng ngại; Thiên Chúa lại biến chính điều ấy thành nền móng. Người con bị giết trở thành con đường để kế hoạch được hoàn tất. Thập giá không phải là thất bại của công lý, nhưng là vương quyền của tình yêu. Chính tình yêu ấy mở ra cho con người khả năng được “thông phần bản tính Thiên Chúa - bài đọc một. Vì thế, người tín hữu không sống bằng sự chiếm hữu, nhưng bằng sự tín thác: “Lạy Thiên Chúa, con tin tưởng vào Ngài” - Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là Người Thừa Kế mà các tá điền muốn loại bỏ. Con người ‘giết Người Thừa Kế - để làm chủ’; Thiên Chúa lại trao Người Thừa Kế để chúng ta được làm nghĩa tử. Bi đó, thay vì nắm giữ như các tá điền, người môn đệ học sống bằng sự tín trung. Chỉ người biết đón nhận mới thực sự giàu có. Kẻ sống bằng sự chiếm hữu là kẻ đang nuôi dưỡng một linh hồn nghèo đói. Người biết đón nhận mọi sự như hồng ân sẽ khám phá rằng: điều quý giá nhất trong đời không phải là điều mình sở hữu, nhưng là Đấng mình thuộc về.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giải thoát con khỏi cám dỗ chiếm hữu điều chỉ có thể được đón nhận như quà tặng!” Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

  

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2026

KHÔNG SỢ CHÚA - SỢ ĐÁM ĐÔNG

 



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Chúng tôi không biết!”.

Khi cả nước tuyên thệ trước Henry VIII, công nhận vua là thủ lãnh tối cao của Giáo Hội Anh Quốc, Thomas More vẫn cự tuyệt. Ông chấp nhận mất địa vị, tự do và cả mạng sống hơn là phản bội lương tâm. More hiểu rằng vấn đề không nằm ở sự thật, nhưng ở nỗi sợ.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, các thượng tế, kinh sư và kỳ mục không trả lời câu hỏi của Chúa Giêsu bằng một lập luận, nhưng bằng một câu thoái lui: “Chúng tôi không biết!”. Thực ra, họ biết nhiều hơn điều họ dám nói. Họ ‘không sợ Chúa’, nhưng ‘sợ đám đông’. Vấn đề không nằm ở sự thật, nhưng ở nỗi sợ!

Câu hỏi của các thượng tế xuất hiện ngay sau khi Chúa Giêsu thanh tẩy Đền Thờ, đụng chạm trực tiếp đến trung tâm quyền lực tôn giáo tại Giêrusalem. Khi hỏi Ngài lấy quyền nào mà làm các điều ấy, họ không thực sự tìm kiếm một câu trả lời. Trong Marcô, exousia là quyền bính đến từ Thiên Chúa. Vấn đề là họ hiểu quá rõ hệ quả của câu trả lời ấy. Thừa nhận quyền bính của Chúa Giêsu cũng đồng nghĩa với việc phải xét lại quyền bính của chính mình. Vì thế, vấn đề của họ không phải là thiếu bằng chứng, nhưng là sợ hệ quả của bằng chứng. Giả vờ ‘không biết trước đòi hỏi của Tin Mừng là một hình thức phản bội tinh vi. “Chân lý không được quyết định bởi biểu quyết của số đông!” - Fulton Sheen.

Điều trớ trêu là câu trả lời “Chúng tôi không biết!” lại phát xuất từ những người biết quá nhiều. Họ không thiếu dữ kiện để kết luận, nhưng thiếu can đảm để kết luận. Vì thế, “không biết” ở đây không còn là một tình trạng tri thức, nhưng trở thành một nơi trú ẩn. Họ chọn sự an toàn của dư luận hơn sự đòi hỏi của chân lý.

Từ góc độ Kinh Thánh, nỗi sợ luôn đi theo khát vọng. Con người sẽ bảo vệ điều họ yêu thích và sợ mất nhất. Vì thế, giới lãnh đạo sợ đám đông vì họ đã gắn đời mình với quyền lực và sự công nhận. Trái lại, Thánh Vịnh đáp ca cho thấy một trật tự khác: “Linh hồn con đã khao khát Chúa!”. Khi Thiên Chúa trở thành khát vọng tối hậu, Ngài cũng trở thành nền tảng tối hậu, “Đấng có quyền năng gìn giữ anh em khỏi sa ngã và cho anh em đứng vững” - bài đọc một. Chỉ lúc đó, những nỗi sợ khác mới mất quyền chi phối. Vì nơi nào có nỗi sợ lớn nhất, nơi đó chính là ngẫu tượng bạn đang thờ lạy.

Anh Chị em,

Đức Kitô là phản đề của giới lãnh đạo tôn giáo. Ngài không cần ai xác nhận mình là ai. Khi dân chúng muốn tôn Ngài làm vua, Ngài lánh đi; khi đám đông hô “Đóng đinh nó đi!”, Ngài không thay đổi. Đức Kitô không sống bằng tiếng vỗ tay, cũng không chết vì những tiếng la ó. Ngài chỉ tìm và thi hành ý muốn của Cha. Chỉ khi Thiên Chúa là Đấng chúng ta yêu nhất, bạn và tôi mới thôi ‘sợ đám đông để biết ‘sợ Chúa. “Tôi chết như một bề tôi trung thành của nhà vua, nhưng trước hết là của Thiên Chúa!” - Thomas More.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con núp sau những câu ‘con không biết!’. Cho con đủ can đảm để sống điều con đã biết và làm điều con phải làm!”, Amen.

 Suy tư:

Con người, ai cũng khao khát công bình và chân lý được thể hiện, và mong ước đời mình không phải trải qua những bất công. Chuyện xảy ra trong xã hội đã đành, nhưng ngay trong Giáo hội vẫn xuất hiện những người có đầu óc độc tài muốn mọi người phải tuân theo ý mình và có những người rửa tay theo kiểu ông Philato: không biết, tội chưa lớn đủ, tôn trọng ý kiến tập thể, không can dự vào chuyện nội bộ ... và thế là có nhiều bất công xảy ra ngay trong những cộng đoàn tôn giáo. Tác hại của sự dung dưỡng này rất lớn: chia rẽ, mất lòng tin vào Chúa và các vị đại diện Ngài.

Dù thế nào đi nữa, người theo Chúa phải xác định mỗi ngày: chỉ cần Chúa biết là đủ, Chúa là nền tảng tối hậu của cuộc đời, linh hồn con khao khát Chúa, chỉ sợ Chúa và Ngài thấu suốt tâm can mỗi người.