Danh sách Blog của Tôi

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2026

ĐỂ ĐƯỢC CẢ ĐỒNG LÚA



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình!”.

Bị buộc phải trao nộp kho báu của Giáo Hội, Thánh Laurensô chỉ vào người nghèo. Câu trả lời ấy đã được ngài đóng ấn bằng máu. Từ đó, Tin Mừng về hạt lúa bắt đầu được sống.

Kính thưa Anh Chị em,

Hạt lúa không sợ mục nát; nó chỉ sợ nằm mãi trong kho. Chỉ khi dám đi vào lòng đất, nó mới có thể sinh nhiều bông hạt. Lời Chúa hôm nay mặc khải nghịch lý ấy: chết không phải để mất, nhưng ‘để được cả đồng lúa’.

“Chết” là điều kiện của sự sinh. Bản Hy Lạp viết menei monos - “ở lại một mình”. Nếu không chết đi, hạt lúa vẫn nguyên vẹn, nhưng trơ trọi; không mất đi, nhưng cũng không bao giờ trở nên nhiều hơn nó. Vấn đề không còn là còn hay mất, nhưng là chấp nhận sự đơn độc hay được gieo xuống để sự sống được nhân lên. Đừng sợ những từ bỏ đớn đau, vì trong tay Đấng Tạo Hoá, tiêu hao luôn là khởi đầu của cả một mùa vàng. “Tôi phải học cách rời bỏ chính mình để tìm lại chính mình!” - Thomas Merton.

Nơi Laurensô, “cho” không còn là một hành vi đạo đức, nhưng là cách Tin Mừng được trao truyền. Gieo ít hay nhiều không còn là chuyện tính toán, nhưng là để ân sủng của Thiên Chúa lan rộng - bài đọc một. Của cải không còn được đo bằng điều giữ lại, nhưng bằng điều con người dám hiến trao; Thiên Chúa không đếm những gì con người cất giữ, nhưng làm lớn lên những gì họ gieo xuống. Người nghèo vì thế không chỉ là đối tượng của lòng bác ái, nhưng trở thành kho báu sống động của Giáo Hội; chính nơi họ, những hạt lúa của lòng quảng đại bắt đầu nảy mầm. Thánh Vịnh đáp ca cất lên: “Phúc thay người biết cảm thông và cho vay mượn!”.

Vậy mà đó lại là điều con người sợ nhất. Chúng ta sợ mất nên giữ lại; sợ thiệt nên co rút; sợ bị lấy đi nên không dám trao. Hạt lúa không mất, nhưng cũng không sinh. Điều nghịch lý là: càng cố giữ, sự sống càng thu hẹp; càng tự bảo vệ, lòng người càng nghèo đi. Chỉ khi dám mục nát, đời người mới có thể trở thành cánh đồng ơn phước. Henri de Lubac từng nhận định: con người chỉ đạt tới sự viên mãn khi biết trao hiến. Đó cũng là lúc hạt lúa bắt đầu thuộc về người khác. Mất mát dưới bàn tay ân sủng không bao giờ là sự cạn kiệt, nhưng là chuẩn bị cho một mùa gặt vĩnh cửu.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ nói về hạt lúa, Ngài chính là Hạt Lúa ấy. Đến từ Thiên Chúa, Ngài tự nguyện đi vào lòng đất của thế gian để khai mở một mùa gặt mới cho nhân loại. Vì thế, thập giá không còn là lời cuối của cái chết, nhưng là nơi sự sống bẻ tung mọi giới hạn của cái chết để sinh sôi. Chỉ khi ở trong Đức Kitô, hạt lúa đời chúng ta mới thôi trơ trọi; chỉ khi kết hiệp với Ngài, mọi mất mát mới có thể làm nên cả đồng lúa. “Hạt lúa là chính Đức Giêsu. Hoa trái là sự sống dồi dào mà Người đã đạt được cho chúng ta nhờ thập giá!” - Bênêđictô XVI.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con cứ giữ mình nguyên vẹn; cho con biết trao đi không tiếc, biết yêu không giữ lại; để đời con cũng trổ sinh những cánh đồng!”, Amen.

Suy tư:

-Có thể nói rằng: một Giáo hội còn có nhiều ơn gọi tu trì và còn có tinh thần tử đạo - dám đổ máu vì chân lý là dấu chỉ rõ ràng của một đức tin sống động. Có người nêu lên một nhận định rằng "các dòng tu ở VN tràn ngập ơn gọi từ miền Bắc, mà văn hóa của miền Bắc có phần thua kém người miền Nam (những người đã một thời trải qua nền Cộng Hòa)". Có thể họ có phần nào có lý, nhưng một vấn đề thực tế khác lại nổi cộm lên: nếu không có ơn gọi từ miền Bắc thì biết đâu nhiều dòng tu đã đóng cửa vì thiếu ơn gọi! Chúng ta xác tín rằng ơn gọi dâng hiến là hoa trái Thánh Thần ban cho Giáo hội, ban cho Giáo xứ và cho đương sự... chúng ta chỉ nên nhìn vào khía cạnh thiêng liêng hơn là phương diện nhân loại, chỉ nên tạ ơn và kính trọng sự quan phòng của Thiên Chúa trong chương trình cứu độ.

-Nói đến Thánh Laurenso là nhắc đến cuộc tử đạo bởi giàn thiêu (bị nướng) với câu nói nổi tiếng : xin lật sang bên kia cho chín đều. Còn Thánh Inhaxio thành Antiokia (tử đạo năm 107) để lại câu nói: tôi là hạt lúa mì của Thiên Chúa, sẵn sàng để răng thú dữ nghiền nát trong đấu trường nhằm trở thành tấm bánh tinh tuyền dâng lên Đức Kitô.

- Ngày nay người ta ngại nói đến hy sinh hãm mình, vì xã hội đề cao tinh thần hưởng thụ - tôn trọng tự do và nhân vị, giữ gìn sức khỏe để có điều kiện phục vụ tha nhân, hy sinh bên trong thì tốt hơn là vẻ bề ngoài... nhưng đừng quên rằng: hy sinh là dấu chỉ rõ ràng của tình yêu, chết cho bản thân và dẹp bỏ ý riêng là con đường Chúa Giê su truyền dạy: "Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mạng sống mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta". Sách tu đức dạy: muốn sống tinh thần nghèo khó thì phải có nếp sống khó nghèo thực sự, muốn sống khiêm nhường thì phải vui lòng chịu những hiểu lầm - nhục mạ; còn tinh thần tử đạo ư? - hãy học Thánh Tê rê xa Hài Đồng: chịu đựng những hy sinh trái ý trong cuộc sống hằng ngày vì lòng yêu mến Chúa và cầu cho các linh hồn.

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2026

LỜI VẪN CHÁY

 


Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa!”.

“Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô!” - Giêrônimô.

Kính thưa Anh Chị em,

Biết Đức Kitô, không ai có thể đứng yên. Một khi đã gặp Ngài, không ai được phép trì hoãn; đón nhận Lời Ngài là phải lên đường. Giữa muôn nẻo - ‘Lời vẫn cháy’.

Thánh Đaminh đã sống đúng chuyển động Tin Mừng ấy. Nơi ngài, Lời trở thành lửa, thôi thúc để lửa ấy cháy lan. Điều thánh nhân tìm kiếm không phải là giữ chân lý cho mình, nhưng để chân lý đến với mọi người. Vì thế, ngài khai mở một lối sống và một Dòng Giảng Thuyết, nơi Lời trở thành gia sản chung của Hội Thánh.

Nguồn mạch của lối sống ấy phát xuất từ chính lời của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay. Ngài đặt con người trước một sự cắt đứt: dứt khoát, không ngoái lại. Bản Hy Lạp viết Apelthōn diángelle - “Hãy lên đường loan báo!”. Apelthōn không chỉ là bước đi, nhưng là dứt mình khỏi điều đang giữ chân; diángelle không chỉ là cất tiếng, nhưng là để Lời tiếp tục đi tới. Người môn đệ lên đường không để mang lời mình, nhưng để Lời Thiên Chúa tiếp tục vang lên.

Lời ấy là Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa - ánh sáng không bao giờ tàn lụi - không được ban để cất giữ, nhưng để tiếp tục soi đường; không dừng lại nơi người đã đón nhận, nhưng luôn tìm đến những người còn chưa được nghe - bài đọc một. Đức Khôn Ngoan không vơi đi khi được trao ban; trái lại, càng trao ban càng làm giàu cả người trao lẫn người nhận. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca mới mời gọi: “Hãy kể cho muôn dân được biết những kỳ công Chúa làm!”.

Nhưng việc loan báo không dừng lại ở đó. Ở đây, Lời không chỉ là điều được biết, nhưng là sự sống. Truyền thống Đaminh cô đọng điều ấy trong một châm ngôn: “Chiêm niệm và trao cho người khác điều mình đã chiêm niệm”. Vì thế, giảng thuyết không phải là lặp lại một chân lý, nhưng để Chân Lý tiếp tục lên tiếng trong đời người rao giảng. Chẳng có ngọn lửa truyền giáo nào không thiêu đốt trước tiên người cầm đuốc. Chỉ khi người loan báo để Lời biến đổi chính mình, Lời mới có thể biến đổi người khác. “Lời Thiên Chúa không chỉ là thông tin, nhưng là một thực tại biến đổi chúng ta!” - Bênêđictô XVI.

Điều thiếu không phải là nhiều lời hơn, nhưng là nhiều con người không để Lời đọng lại trên cuộc đời mình. Có những bài giảng chỉ kéo dài mười phút; cũng có những bài giảng kéo dài suốt một đời người. Khác biệt không nằm ở tài hùng biện, nhưng ở việc Lời đã thật sự trở thành máu thịt của người loan báo. “Người giảng phải uống lấy điều mình sẽ rót ra!” - Grêgôriô Cả.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, Lời không còn chỉ được nói, nhưng đã làm người. Không chỉ công bố chân lý, Ngài là Chân Lý; không chỉ chỉ đường, Ngài là Đường; không chỉ loan báo sự sống, Ngài là Sự Sống. Vì thế, mỗi lần chúng ta để cho Lời biến đổi đời mình, chính Đức Kitô lại tiếp tục lên tiếng giữa thế giới. Trong Ngài, Lời không bao giờ tắt. Dẫu thuận tiện hay không thuận tiện, ai thuộc về Ngài, ‘Lời vẫn cháy’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con sống điều con loan báo và loan báo điều con sống, để ‘Lời Bừng Lửa’ luôn là ‘Lời vẫn cháy’ trong con và qua con!”, Amen.

Suy tư:

Nhiều khi chúng ta thấy ngộp thở khi sống trong một thời đại 'trắng đen lẫn lộn - cỏ lùng nhiều hơn lúa' và ngao ngán trước tình người: sống không theo chuẩn mực đạo đức, không có lòng tự trọng, không thảo hiếu, không tôn trọng của cải người khác, quên lời thề hôn phối (yêu thương, tôn trọng, chung thủy)...

Nhưng đừng quên Lời Chúa: ai yêu mến Thầy thì tuân giữ Lời Thầy. Thầy đem lửa vào trần gian và Thầy ước muốn biết bao cho lửa ấy bừng cháy lên. Ngọn lửa chân lý, ngọn lửa Tin Mừng dẫn đưa con người đến sự sống viên mãn trong Thiên Chúa. Hãy nhớ châm ngôn của dòng Đa Minh: "Chiêm niệm và đem ra áp dụng điều mình chiêm niệm". Biểu hiện rõ ràng của một con người 'còn sống' là sự động đạc: nói nhiều, nói dai và nói những điều tầm phào (tuyệt nhiên không nói về Chúa và rất hiếm khi nói điều tốt lành).. vì muốn thể hiện mình (kiến thức, khả năng, mối liên hệ). Hãy bớt nói những chuyện vô ích và bớt sưu tập những kiến thức vô bổ, tránh chốn ồn ào, siêng năng đọc Lời Chúa và nghiền ngẫm những câu Lời Chúa hoặc những tia sáng mà Chúa gieo vào lòng, có vậy Lời Chúa mới lớn lên và sinh hoa trái trong đời bạn.

Có một nhóm nhà truyền giáo đến vùng đất Ấn Độ để truyền giáo, trải qua một thời gian dài mà kết quả rất khiêm tốn. Một người dân Ấn nói với họ: Các ông không thể truyền đạo ở đây, nếu không trở thành những vị linh sư (là người đã gặp Chúa và chỉ vẽ cụ thể cách gặp Ngài, đừng chỉ nói lý thuyết). Thế giới này không đói thần học mà đói Thiên Chúa, hãy thắp sáng tâm hồn người khác bằng ánh sáng Lời Chúa, thế gian sẽ sáng hơn và lòng bạn cũng sáng hơn.

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2026

CHỐI MÌNH – CÒN TÔI



Xin trích một phần bài chia sẻ của cha Minh Anh:

“Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình!”.

“Càng gạt sang một bên cái chúng ta gọi là ‘bản thân’ và để Ngài chiếm lấy, chúng ta càng thực sự trở nên chính mình!” - C. S. Lewis.

Kính thưa Anh Chị em,

Thiên Chúa không làm ai đánh mất chính mình khi chiếm lấy cuộc đời họ; trái lại, Ngài trả lại cho chúng ta chính con người Ngài đã nghĩ đến từ đời đời. Để tìm lại con người ấy, phải chối bỏ một ‘cái mình’ cũ. ‘Chối mình - còn tôi’ là vậy!

“Từ bỏ chính mình!”. Bản Hy Lạp viết aparnēsasthō heauton - “hãy chối chính mình”. Matthêu thật ý tứ: chính động từ này sẽ trở lại khi Phêrô chối Thầy. Chúa Giêsu không đòi người môn đệ xoá mình, nhưng đòi họ chối ‘cái mình’ muốn chiếm chỗ Chúa. Họ luôn phải chọn: chối cái tôi để thuộc về Chúa, hoặc giữ nó rồi có ngày chối Chúa. “Càng chết đi cho chính mình, con người càng bắt đầu sống cho Thiên Chúa!” - Thomas à Kempis. Con người thật không mất đi; chỉ kẻ tiếm chỗ Chúa phải mất.

Phêrô đã vô tình trở thành kẻ ấy. Bối cảnh dẫn vào Tin Mừng hôm nay cho thấy một nghịch chuyển nơi ông: vừa được chúc phúc vì tuyên xưng: “Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, ông lại bị quở trách. Chỉ trong khoảnh khắc, tảng đá đón nhận mặc khải đã thành đá cản lối Chúa. Sa ngã bắt đầu khi Phêrô giành quyền quyết định Thầy phải là một Đấng Kitô thế nào. Ông không chối danh tước; ông khước từ thập giá, và như thế, khước từ chính Đấng Kitô của Chúa Cha. Vì thế, người môn đệ phải chối một ‘cái mình’ rất đạo đức: nói đúng về Chúa, nhưng không cho phép Chúa khác với điều mình nghĩ.

Suy tư:

-Khi nói về tự do, cũng có 2 cách hiểu trái ngược (giống như sự từ bỏ): tự do theo nghĩa phóng khoáng là muốn làm gì thì làm, thứ tự do này chỉ là một ảo tưởng của trí tưởng tượng, vì đương sự sẽ trở thành nô lệ cho những đam mê và thói xấu, đàng khác để sống cho xứng đáng là con người thì bản thân mỗi người phải tự đưa ra những nguyên tắc sống, và thêm một điểm nữa: đã sống trong xã hội thì phải có luật lệ, quy định, mình có tự do thì phải tôn trọng tự do của người khác.

Còn tự do theo nghĩa thần học là khả năng làm việc lành và tuân theo ý Chúa, tự do này tỷ lệ thuận với tin-cậy-mến: ta càng trưởng thành trong đức tin, đức cậy và đức mến thì ta càng tự do.Để có tự do nội tâm phải chấp nhận rằng mình không hoàn toàn tự do, vì khi sinh ra đời, phần lớn những yếu tố cấu thành con người mình không do mình chọn lựa: quốc tịch, gen di truyền, vóc dáng, màu mắt... và hầu như chúng ta chẳng tự lo liệu cho cuộc đời mình - phải trao phó cho Chúa định liệu.

- Nói đến từ bỏ, ta nghĩ đến những người bỏ thế gian để dâng hiến cuộc đời trong ơn gọi thánh hiến. Thời nay người ta ngại đi tu vì nghĩ đến sự nghèo khó, mất tự do ăn ngủ nghỉ, phải vâng phục, sự độc thân và trinh khiết trọn đời ... đó là những thực tại có thật, những điều kiện vật chất mà người tu trì đón nhận vì tình yêu đối với Thiên Chúa. Bởi đó, người ta quý trọng các bậc tu trì như những hoa trái của Thần Khí, những món quà thần linh mà Chúa ban cho Giáo hội, giáo xứ và gia đình. Đừng bàn tán nhiều đến các đấng bậc, vì đó là người yêu của Chúa, chuyện các ngài cứ để các ngài tự chịu trách nhiệm, còn tôi là ai mà dám xét đoán anh em?

Có một lời đề tặng rất hay cho cuốn sách Gương Phúc: "Nếu bạn có Chúa, thiết tưởng bạn đã đủ giàu".


Suy 


HÃY NHÌN LẠI BẦU TRỜI

 

 



Lm. Mark Link, S.J.


 “Nếu chúng ta cảm thấy khó sống phúc âm, có lẽ do chúng ta không còn nhìn đến Chúa Giêsu.”

 

Có một ông nọ nói: “Tôi cứ nghĩ là càng về già tôi sẽ càng ít bị cám dỗ, nhưng thực tế tôi lại bị cám dỗ nhiều hơn.”  Có một phụ nữ kia nói: “Tôi cứ ngỡ là khi các cháu bé lớn lên tôi sẽ kiên nhẫn hơn, thế mà ngược lại tôi thấy mình nóng tính hơn trước.”  Một thiếu niên nói: “Trước đây tôi cứ nghĩ vâng phục luật Chúa là dễ dàng.  Bây giờ thì tôi lại thấy càng ngày càng khó.”

 

Bạn có lời nói nào tương tự như vậy không?  Bạn có thấy bị cám dỗ thường xuyên không?  Bạn có thấy mất kiên nhẫn với những người thân yêu không?  Bạn có cảm thấy ngày càng khó vâng theo luật Chúa không?  Nếu có, thì bài Phúc Âm Mt 14, 22-32 chắc chắn là một sứ điệp quan trọng đối với bạn.


Câu chuyện dưới đây minh họa điều đó.  Vào lúc mới có thuyền buồm, một cậu bé nọ xin đi biển để học làm thủy thủ.  Một hôm biển có bão, người ta bảo cậu leo lên trên cột buồm.  Leo được nửa phần đầu thì dễ dàng vì cậu cứ đưa mắt gắn chặt vào bầu trời.  Nhưng đến lưng chừng cậu lại phạm một sai lầm.  Cậu nhìn xuống mặt nước biển trong cơn bão thế là cậu bị chóng mặt và sắp sửa ngã xuống.

 

Thấy thế, một thuỷ thủ già liền la to lên với cậu: “Này nhóc, ngước nhìn lên lại bầu trời đi!  Nhìn lên lại bầu trời đi!”  Cậu bé nghe theo lời chỉ dẫn và cuối cùng đã leo lên được an toàn.  Lỗi lầm của cậu bé, giống hệt lỗi lầm của Phêrô trong Phúc âm hôm nay.  Cậu ta đã rời mắt khỏi đích nhắm của mình và đã nhìn xuống mặt biển giông tố giống như Phêrô đã rời mắt khỏi Chúa Giêsu và nhìn xuống mặt biển giông tố.

 

Và điều này thường xảy ra cho bạn cũng như cho tôi.  Lúc đầu chúng ta khởi sự cuộc sống thật tốt đẹp, đôi mắt đăm đăm nhìn vào Chúa Giêsu, nhưng rồi một điều gì đó xảy đến khiến chúng ta rời xa mắt Người.  Chúng ta không còn nhìn vào Chúa Giêsu nữa; thế là chúng ta bị mất thăng bằng, chúng ta bắt đầu chìm xuống.  Tôi xin nêu một ví dụ cụ thể.

 

Trong cuốn sách tựa đề “The Taste of New Wine” (Hương rượu mới), Keith Miller có mô tả một biến cố thay đổi cuộc đời ông.  Biến cố này xảy ra vào mùa hè ngay sau năm thứ nhất đại học của ông.  Ðêm hôm ấy, Keith bị thương nặng vì một tai nạn xe hơi.  Anh nằm sõng soài bên vệ đường suốt một tiếng rưỡi chờ xe cứu thương.  Khi tâm trí hoàn toàn tỉnh táo, anh bắt đầu cầu nguyện.  Ðang khi nằm đó cầu nguyện trong bóng đêm, một cảm giác an bình xâm chiếm con người anh.  Keith viết: “Tôi nghĩ thật xấu hổ biết bao khi khám phá ra quá trễ trong cuộc đời có loại an bình thực sự như thế.  Lần đầu tiên, tôi không biết sợ chết.”  Keith cho biết, lúc đó anh nhận thức được rằng dầu có chết anh cũng sẽ chết trong khi biết mình đã được tiếp xúc với một điều gì đó thân mật và có thực.  Dù điều ấy là gì đi nữa, điều quan trọng là mãi cho đến bây giờ anh mới khám phá ra điều ấy trong cuộc sống của mình.

 

Thế rồi Keith đã thoát được tai nạn đó và bình phục trở lại.  Anh trở lại đại học và được bầu làm chủ tịch hội huynh đệ của lớp đại học năm thứ hai.  Chẳng bao lâu anh lại bị khích động bởi đời sống hào nhoáng ở đại học.  Nghĩa là, Keith đã quay mặt khỏi Chúa Giêsu, Ðấng mà anh đã từng gặp bên vệ đường.

 

Sau khi tốt nghiệp, Keith lập gia đình và làm việc cho một hãng xăng dầu ở Texas.  Nhưng anh đã không được hạnh phúc như anh từng mơ ước.  Một hôm, Keith buồn quá, anh chui vào chiếc xe hơi của công ty rồi vọt đi.  Chạy được một lúc anh cho xe chạy lên vệ đường, tắt máy rồi ngồi thừ ra đó.  Trước đây, Keith luôn luôn tin tưởng rằng luôn luôn có lối thoát cho buồn sầu, chẳng hạn uống vài ly Martini và ngủ một giấc thật say là có thể khởi sự lại vào sáng sớm hôm sau.  Thế nhưng hiện giờ không còn có sáng hôm sau nữa.  Anh ta đã đến bên bờ vực thẳm rồi.  Anh nhìn lên trời cao và la to lên với Chúa: “Nếu Chúa muốn điều gì nơi con thì Ngài hãy lấy đi, con thực tình muốn như thế!”

 

Câu chuyện trên xảy ra cách đây đã nhiều năm.  Tuy nhiên điều xảy ra trong đời Keith vào ngày đó đã không bao giờ rời anh ta nữa.  Hôm đó, không có những tiếng nói mầu nhiệm.  Hôm đó Keith chỉ nhận ra những điều Thiên Chúa muốn nơi chúng ta.  Chúa không cần tiền bạc, thời giờ của chúng ta.  Người chỉ cần ý muốn của chúng ta và nếu chúng ta dâng cho Người ý muốn này, Người sẽ chỉ cho chúng ta cuộc sống mà từ trước đến giờ chưa bao giờ chúng ta thấy, và có thể nói đây là một cuộc tái sinh thực sự.

 

Một lần nữa, Keith lại hướng đôi mắt nhìn vào Chúa Giêsu, và ngay lúc đó, anh lại tìm được sự bình an thâm sâu mà nhiều năm trước đây anh đã khám phá ra trong lúc nằm sõng soài bên vệ đường.

 

Tất cả chúng ta đều đã từng có những cảm nghiệm giống như Keith.  Nhiều lần trong cuộc đời, chúng ta đã cảm nghiệm sự hiện diện quyền năng của Chúa Giêsu.  Tuy nhiên, giống như Keith, chúng ta đã rời mắt mình khỏi Chúa Giêsu, đã bỏ Người để đi tìm những sự vật khác.  Và cũng như Keith chúng ta đã bị mất thăng bằng.

 

Bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta hãy thẳng thắn nhìn vào cuộc sống của mình.  Nếu chúng ta không cảm nhận được sự bình an là niềm vui thiêng liêng mà ta đã từng cảm nhận, thì chắc hẳn là vì chúng ta đã rời mắt khỏi Chúa Giêsu.  Nếu chúng ta đang sắp bị bão tố cuộc đời nuốt trửng, thì có lẽ là vì chúng ta đã rời mắt đi xa Chúa Giêsu.  Bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta quay mắt trở lại nhìn vào Chúa Giêsu.  Bài Phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta cùng nói với Thánh Phêrô: “Lạy Chúa, xin cứu vớt con!”  Nếu chúng ta chấp nhận lời mời gọi của Phúc âm thì tôi có thể dám chắc với các bạn rằng chúng ta sẽ cảm nghiệm được giống như Thánh Phêrô, chúng ta sẽ cảm nhận được bàn tay Chúa Giêsu giơ ra biểu lộ tình yêu đối với chúng ta.

 

Chúng ta không thể cảm nhận điều ấy ngay lập tức và một cách nhiệm mầu, tuy nhiên chúng ta cứ tiếp tục kêu cầu chúng ta sẽ thực sự cảm nghiệm điều ấy, để rồi chúng ta sẽ nói như Thánh Phêrô: “Lạy Ngài, Ngài thực sự là Con Thiên Chúa.

 

Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện:

 

Lạy Chúa, Keith Miller đã gặp được Chúa lúc nằm sõng soài bên vệ đường trong một tai nạn xe hơi.
Ngôn sứ Êlia đã gặp được Ngài trong tiếng thì thầm nơi cửa hang.
Thánh Phaolô đã gặp được Ngài trong chớp sáng trên đường đi Ðamas.
Và Thánh Phêrô đã gặp được Ngài giữa cơn bão biển.
Xin hãy giúp chúng con gặp lại Ngài,
Xin hãy giúp chúng con biết chạy đến với Ngài.
Xin hãy giúp chúng con lại cảm nghiệm được sự hiện diện cứu độ của Ngài trong cuộc sống chúng con.  Amen!

 

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2026

CHE MÀ KHÔNG KHUẤT

 



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Dung nhan Người chói lọi như mặt trời”.

“Thần tính của Đức Kitô không bị lấy đi, nhưng đã bị che phủ!” - Tôma Aquinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những điều càng được che, càng không bao giờ khuất. Tin Mừng hôm nay hé mở nơi Chúa Giêsu một khoảnh khắc như thế: ‘che mà không khuất’.

Cả ba Tin Mừng Nhất Lãm đều thuật lại Hiển Dung. Điều lạ lùng không phải là một lần Chúa Giêsu bừng sáng trên núi; lạ lùng hơn là sau khoảnh khắc ấy, Ngài lại trở về với một dung mạo rất đỗi bình thường. Điều Đaniel chỉ thấy trong thị kiến - bài đọc một - các môn đệ nay được thấy nơi Chúa Giêsu. Nếu Hiển Dung chỉ kéo dài trong chốc lát, thì cả một đời tự nguyện che giấu vinh quang thần linh mới là phép lạ lớn nhất. Mọi phép lạ khác bày tỏ quyền năng của Thiên Chúa; còn Hiển Dung mặc khải một quyền năng còn lớn hơn: quyền năng biết tự che mình vì yêu. Thì ra, che là phong cách của Thiên Chúa.

Nhưng tại sao Thiên Chúa lại chọn phong cách ấy? Phải chăng, nếu luôn hiển lộ vinh quang, con người chỉ còn biết kinh hãi? Ngài không tìm kẻ run sợ, nhưng đợi những người con dám đến gần. Vì thế, Ngài tự nguyện che vinh quang của mình sau một khuôn mặt, một cái chạm, một tấm bánh. Dẫu thế, thần tính của Ngài không hề vơi đi; chỉ có tình yêu trở nên gần gũi. Thì ra, Thiên Chúa che mình không phải để con người khó tìm Ngài hơn, nhưng để con người dám đến gần Ngài hơn. Bởi tình yêu chỉ thật sự đến được với con người khi không làm họ sợ hãi.

Khoảnh khắc ấy đã in sâu vào lòng Phêrô. Nhiều năm sau, ông làm chứng: “Chúng tôi đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người”; “Tiếng đó, chính chúng tôi đã nghe thấy từ trời phán ra” - bài đọc hai. Hiển Dung chỉ diễn ra trong giây lát; nhưng ánh sáng ấy đã đồng hành với Phêrô từ những lần yếu đuối vấp ngã đến ngày hiến mạng vì Thầy. Hoá ra, chỉ cần một khoảnh khắc, Thiên Chúa đã gieo vào lòng con người một ánh sáng đủ soi cho cả một đời. “Đức tin là tin điều bạn chưa thấy; phần thưởng của đức tin là được thấy điều bạn đã tin!” - Augustinô.

Chúng ta thì khác. Thiên Chúa chọn che; con người chọn khoe. Điều Thiên Chúa che là vinh quang của Ngài; điều con người khoe thường chỉ là hư không. Thế mà, chúng ta lại ít muốn học điều làm mình nên giống Thiên Chúa nhất: biết che. Biết che là nghệ thuật của yêu thương; khoe mình chỉ là bản năng của tự ái. Chúng ta che đi lòng trắc ẩn để giữ lại vỏ bọc của kiêu căng; Thiên Chúa che đi vẻ uy linh để tình yêu được trao ban.

Anh Chị em,

Đức Kitô vẫn không đổi. Ngài bước xuống núi; sau Phục Sinh, Ngài ở với Hội Thánh dưới những hình hài bình thường. Hôm nay, Ngài vẫn ẩn mình trong Lời Chúa, nơi các bí tích và nơi những con người bé nhỏ. Đức tin không hệ tại việc tìm một Thiên Chúa rực rỡ, nhưng ở việc nhận ra Đức Kitô đang âm thầm ở rất gần mình. Vì thế, ‘che mà không khuất’ không chỉ là một biến cố trên núi, nhưng là chính phong cách cứu độ của Đức Kitô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết nhỏ lại để tình yêu được tỏ lộ, biết lùi bước để chỉ Chúa trong con được lớn lên!”, Amen.

Suy tư: 

Một người khôn ngoan là người có nhiều góc nhìn khác với cái nhìn của đa số đám đông:

-Để có sự cảm thông với người làm điều ngu xuẩn và khó hiểu, tâm lý học khuyên ta nên đặt mình vào địa vị của người để có sự rộng lượng hơn (hoàn cảnh, giáo dục, điều gì xảy ra trong tâm hồn họ...).

-Chỉ một lần ngoái nhìn về Trái Đất từ không gian bao la cũng đủ để đảo lộn hoàn toàn nhận thức của một con người.  Hiện tượng tâm lý này kinh điển đến mức các nhà khoa học đã đặt tên cho nó: Hiệu ứng cái nhìn tổng quan: những gì con người đang theo đuổi và tranh giành xem ra nực cười và quá nhỏ nhoi.

-Thình thoảng nên viếng nghĩa trang, lò thiêu và suy gẫm về sự chết để buông bỏ bớt những thứ không đáng lưu giữ và để sống ý nghĩa hơn. Cái nhìn về nước trời vĩnh cửu giúp ta nhìn những mất mát của cải - danh vọng và nhìn những bất đồng cách nhẹ nhàng hơn.

-Cái nhìn siêu nhiên: sở hữu được Chúa và chỉ tìm ý Chúa. Sở hữu được là do ơn trời và nỗ lực dấn thân trong cuộc sống, giúp cho các vị tử đạo chấp nhận chịu chết để minh chứng niềm tin và để nên giống Thầy; biết bao thanh niên nam nữ dấn thân trọn đời theo đuổi ơn gọi tu trì, để đáp lại tình yêu Giê su với một con tim không san sẻ; biết bao thiện nam tín nữ chọn Chúa trên hết, dấn thân phục vụ xã hội và con người vì yêu Giê su. 

Thứ Hai, 3 tháng 8, 2026

Cốt lõi sự thánh thiện

 



Cuộc tranh luận của một số Kinh sư và Biệt phái với Chúa Giê su luôn xảy ra với những chủ đề nóng bỏng: Giữ ngày sabat, rửa tay trước khi ăn, quyền tha tội của Thiên Chúa, cách ăn chay, ly dị, kiêng ăn những con vật ‘dơ bẩn’… Cuộc tranh luận này còn kéo dài mãi tới thời Giáo hội sơ khai.

Đoạn Tin Mừng Mt 15,10-14, Chúa Giê su đưa ra một hướng dẫn: “Không phải cái vào miệng làm cho con người ra ô uế, nhưng cái từ miệng xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế”. Câu nói của Chúa gợi lên hai ý tưởng. Ý thứ nhất: miệng là nơi thổ lộ tâm can, Sách Huấn ca 27, 1-7 nói: tựa như người ta sàng sảy lúa gạo, rơm rác sẽ nổi lên, dựa vào lời nói của mình và của người khác, ta nhận ra tốt xấu của tâm hồn họ; ý tưởng thứ hai: Thánh Gia cô bê nói “ai nói mình công chính mà không gò hãm miệng lưỡi mình thì đó là kẻ nói dối”, sách tu đức dạy ta phải tiết chế và giữ gìn con mắt, lỗ tai, miệng lưỡi, cơ hội phạm tội và bạn bè không tốt… vì bản tính con người rất yếu đuối, nhiều khi cách tốt nhất để giữ mình là ‘tẩu vi thượng sách’.

Chúa Giê su luôn nhấn mạnh:sự tinh sạch phải bắt nguồn từ trong tâm hồn (sự ngoại tình, giết người, ghen ghét đã thành sự từ trong tư tưởng). Cha Minh Anh viết: Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng nói tới sự thánh thiện và chữa lành từ trong tâm hồn. Khi cuộc tranh luận còn dừng ở những đôi tay, Ngài lại chạm đến trái timkhi người ta soi xét điều phải rửa, Ngài lại chữa điều đã hỏng. Điều cần được đổi mới không phải một nghi thức, nhưng là trái tim. Bởi lẽ, điều làm con người ra ô uế không phải từ bên ngoài đi vào, nhưng từ bên trong đi ra. Thiên Chúa không sửa hành vi trước, nhưng tái tạo trái tim - cội nguồn mọi hành vi.

Với chúng ta, điều đáng sợ nhất không phải là đổ vỡ, nhưng là không còn tin Thiên Chúa vẫn có thể viết tiếp đời mình - một cuộc hôn nhân, một ơn gọi, một tâm hồn hay cả một đời người. Có những vết thương chúng ta mang quá lâu nên tưởng là tính cách; những thất bại chúng ta chấp nhận quá thường nên tưởng là số phận; những tội lỗi chúng ta giữ quá kín nên ngỡ không còn gì để cứu. “Đau khổ là chiếc vỏ đang vỡ để sự hiểu biết được sinh ra!” - Kahlil Gibran. Chính nơi chúng ta tuyệt vọng nhất về mình, Thiên Chúa lại bắt đầu công trình của Ngài. Với Thiên Chúa, không có cuộc đời nào chỉ còn là tro.

Thiên Chúa tái tạo không chỉ những gì đã sụp đổ, nhưng cả lòng tín thác đã tắt. Đổ vỡ lớn nhất không phải là những gì đã mất, mà là đánh mất niềm tin rằng ân sủng vẫn còn có thể phục hồi mọi sự. “Hy vọng chỉ thực sự là hy vọng khi vẫn hy vọng giữa lúc mọi sự dường như vô vọng!” - G. K. Chesterton.

Thời đại chúng ta đang sống được mệnh danh là thời đại của khoa học kỹ thuật, người ta đề cao tốc độ, hiệu quả, tự lập, tự do… là những thứ ‘bất lợi’ cho Chúa, vì Ngài là Đấng thường im lặng, kiên nhẫn, xót thương và tôn trọng tự do con người. Ngay trong đời sống cầu nguyện của chúng ta, Chúa dạy: “Hãy xin thì sẽ được”, vậy mà hằng ngày chúng ta xin rất nhiều ơn tốt lành như: mưa nắng để mùa màng tốt tươi, được lành bệnh, được bằng an, cho kẻ khác được thay đổi tính nết để được cứu độ, cho nước Chúa rộng lan khắp nơi… vậy mà nhiều khi chẳng thấy gì thay đổi, ta dễ ngã lòng và thậm chí mất lòng tin, có người xin mãi mà không được nên đem tượng Chúa và Mẹ ra phơi nắng cho mà biết!

Xin Chúa gìn giữ chúng con khỏi sa chước cám dỗ, xin cho chúng con biết cậy dựa vào Chúa trong mọi sự: “Ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu thoát” (Mt 24,13)

 

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2026

ĐÚNG ĐƯỜNG

 


Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Cứ đến!”.

“Người chọn nơi bắt đầu của một con đường cũng chọn luôn nơi nó dẫn đến!” - Harry Fosdick.

Kính thưa Anh Chị em,

Mỗi điểm đến đều khởi đi từ một con đường. Lời Chúa hôm nay mặc khải một điều: đến với Chúa Giêsu thôi chưa đủ; điều quyết định là đến ‘đúng đường’.

Matthêu không ngẫu nhiên đặt liền hai câu chuyện Phêrô đi trên mặt nước để đến với Chúa Giêsu và chuyện dân thành Ghenêxarét chạm vào tua áo Ngài. Hai cảnh quay, một mặc khải: đến với Chúa Giêsu có nhiều cách, nhưng chỉ một cách dẫn đến ơn cứu độ. Bản Hy Lạp viết erchomai - “đến”. Với Matthêu, erchomai không chỉ là một chuyển động của thân xác, mà còn là chuyển động đức tin: đến với Chúa theo cách Ngài mở ra. Đức tin không giữ con người khỏi mọi sóng gió; nhưng giữ con người ở lại trên con đường Chúa mở giữa sóng gió.

Phêrô là người đầu tiên bước vào con đường ấy. “Xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài!”. Chúa Giêsu đáp: “Cứ đến!”. Ông bước được không phải vì mặt biển hoá cứng, nhưng vì đã bước trên một lời mời. Chỉ đến khi rời mắt khỏi Đấng đã gọi mình để nhìn vào sóng gió, ông mới bắt đầu chìm. Điều đánh gục Phêrô không phải là biển cả, nhưng là rời khỏi con đường Chúa đã mở. Dân thành Ghenêxarét đến với Chúa Giêsu theo một cách khác. Họ chỉ xin được chạm vào tua áo Ngài. Matthêu kết luận: “Ai đã sờ vào thì đều được cứu chữa”. Điều cứu họ không nằm ở tua áo, nhưng ở Đấng họ đã chạm đến.

Vậy mà không phải lời mời nào cũng đến từ Thiên Chúa. Giêrêmia kể về Khanangia, người hứa hẹn một lối giải thoát thật dễ tin: chiếc gông bằng gỗ sẽ được bẻ gãy; nhưng Thiên Chúa lại cho biết: gông gỗ sẽ nhường chỗ cho gông sắt - bài đọc một. Hoá ra, con đường không do Thiên Chúa mở ra chỉ làm chiếc ách nặng hơn. Thánh vịnh đáp ca, vì thế, không xin một lối thoát dễ dàng, nhưng xin chỉ cho một con đường: “Lạy Chúa, thánh chỉ Ngài, xin dạy cho con!”.

Với chúng ta, người ta hiếm khi lạc đường vì yếu đuối; nhưng thường vì tin nhầm một lối đi. Điều dễ tin chưa hẳn là điều dẫn đến sự sống. Có những lối đi không làm chúng ta xa Chúa ngay lập tức, nhưng từng bước làm chúng ta thôi bước theo Ngài. Đức tin đích thực không dừng lại ở việc tìm đến Chúa, mà là vững vàng tiến bước trên con đường Ngài thương mở lối. “Không có hai con đường, chỉ có một: con đường Thầy đã đi. Người môn đệ không thể tự mở cho mình một lối khác!” - Gioan Phaolô II.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ mở đường cho con người đến với Thiên Chúa; chính Ngài là Đường: khởi đầu và điểm đến của hành trình cứu độ. Từ lời “Cứ đến!” trên mặt biển đến thập giá và vinh quang phục sinh, mọi nẻo đường đều quy về Ngài. Vì thế, nơi Đức Kitô, ‘đúng đường’ không còn là chọn đúng một lối đi, nhưng là gắn trọn đời mình với đúng một Đấng. “Đức tin không phải là bám vào một điều gì, nhưng là thuộc về Một Đấng!” - Hans Urs von Balthasar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết từ bỏ những lối đi dễ dãi; tín thác con đường Chúa mở ra; và mỗi ngày chọn bước trên con đường Chúa Giêsu!”, Amen.

Suy tư: 

Có rất nhiều chuyện xảy ra trong trong cuộc đời Chúa Giê su được các sách Tin Mừng kể lại, chúng vượt tầm trí hiểu của con người và ngoài quy luật vật lý: chỉ 5 chiếc bánh và 2 con cá - nuôi sống hơn 5 ngàn người mà vẫn còn dư 12 thúng, chuyện ông Phê rô đi trên mặt biển đang nổi sóng, việc ông La za rô (chết 4 ngày) sống lại, việc Chúa chịu chết và phục sinh...  Chúng ta gọi đó là phép lạ, vì có các nhân chứng, chúng vượt ra ngoài những định luật tự nhiên và xảy ra ngay tức khắc khi có sự can thiệp của Chúa. Những phép lạ đó đã thực sự xảy ra, - đủ và với mục đích để chúng ta tin rằng: Đức Giê su là Con Thiên Chúa, và nhờ tin vào Ngài mà chúng ta được cứu độ.

Hành trình bước theo Đức Giê su của mỗi người mỗi khác. Chúng ta tiến bước mỗi ngày mà không biết đường còn bao xa và tương lai sẽ thế nào. Nếu biết trước đường mình đi, nhiều khi chúng ta bị nỗi sợ bủa vây. Điều kỳ diệu của Ki tô giáo là: Chúa Giê su không đến trần gian để loại bỏ đau khổ, Ngài mặc cho đau khổ một ý nghĩa cứu chuộc, Ngài đã trải qua gian lao của kiếp người và cái chết tự hiến trên thập giá, Ngài đã phục sinh, và Ngài đồng hành với từng người mỗi ngày. Với niềm xác tín của một em bé trong tay cha mình, bạn hãy học lời cầu của Thánh Phê rô: "Lạy Thầy, xin cứu con với" mỗi lần yếu lòng tin và gặp thử thách. Câu châm ngôn sống của ĐGM giáo phận Ban mê thuột: "Có Chúa cùng hoạt động" (Mc 16,20).