Danh sách Blog của Tôi

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026

Khoan dung

 



Bài Tin Mừng thứ 3 tuần 26 TN (Lc 9, 51-56) kể chuyện Chúa Giê su và các môn đệ đi lên Giê ru sa lem – chuẩn bị bước vào cuộc thương khó - băng qua vùng Samaria, dân chúng không muốn đón tiếp vì biết trước lộ trình của Chúa, có lẽ các môn đệ đều bực bội vì sự lạnh nhạt đó, hai ông Gio an và Gia cô bê xin Chúa trừng phạt bằng lửa từ trời thiêu hủy họ. Chúa trách hai ông, và Ngài tiếp tục lên đường. Câu chuyện nêu lên cho ta 2 thái độ đối nghịch trong cuộc sống khi đối diện với lỗi lầm kẻ khác: trừng phạt hoặc khoan dung?

Tôi xin kể vài câu chuyện. Ở Mỹ, thời Nam Bắc phân tranh, Abraham Lincoln thuộc phe miền Bắc (Liên bang hay phe Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) Ông là vị Tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ, lãnh đạo phe miền Bắc chống lại lực lượng ly khai chủ nô ở miền Nam. Quân miền Bắc đang thắng thế, vậy mà ông ra lệnh đàm phán, các tướng lãnh ngỡ ngàng vì cho rằng đây là cơ hội ngàn vàng để tiêu diệt kẻ thù, ông trả lời: cách tốt nhất để chiến thắng kẻ thù là biến họ thành bạn mình! Nhiều vị tổng thống đã chọn những người cộng sự thân tín - từng là kẻ trước đây đã đứng phía đối nghịch… khiến chúng ta phải cúi đầu.                                         

Câu chuyện thứ hai tôi kể về Đức Cha Giu se Trịnh Chính Trực. Những ai đã từng sống bên cạnh ngài đều nhận ra phong cách sống của ngài rất hiền hòa và nhân từ: không nóng giận, không kêu ca, không nói chuyện người thứ 3 và nhất là rất nhân ái và tôn trọng người khác, đến nỗi các cán bộ đã gọi ngài là bậc chân tu. Có lẽ đến chết tôi cũng không thể quên chuyện ngài đã không ‘đuổi’ tôi về ngay tức khắc vì tôi đã phá hết mấy chục bụi ‘tiêu trâu’ ngài đã trồng mà không hỏi ý ngài và tôi trồng ‘tiêu sẻ’ cũng chẳng mọc nổi… vậy mà ngài không một lời khiển trách, không trừng phạt, xem như chưa có chuyện gì xảy ra… đó là một hình ảnh đẹp minh họa cho tấm lòng Cha trên trời.

Chuyện thứ 3 tôi muốn kể về cha Phaolô Nguyễn Công Minh. Nét nổi bật của cha là nụ cười hiền lành, mau nghe nhưng chậm nói, chẳng bao giờ khoe mình và nói chuyện người vắng mặt; khi ai đó chưa sẵn sàng nhận trách nhiệm trong cộng đoàn thì ngài động viên và chờ đợi; khi ai đó thiếu khả năng để đảm nhận nhiệm vụ lớn thì ngài bố trí nhiệm vụ nhỏ hơn chứ không loại trừ; khi ai đó từ nhiệm mà muốn làm việc lại thì ngài không vì thành kiến để từ chối… và khi các ngài (Đức cha Giu se và cha Phaolô) mất đi, nhiều người nhận ra một điểm chung giữa 2 vị  là các ngài chẳng có con thiêng liêng, có lẽ là để yêu mọi người công bằng hơn và bớt cậy dựa nơi người đời để trông cậy mọi sự nơi Chúa.

Chúng ta thường có thái độ như hai tông đồ Gioan và Gia cô bê, muốn trừng phạt kẻ làm trái ý mình, kẻ không nhiệt tình với việc đạo, kẻ không tìm hiểu giáo lý và sống theo tinh thần thế gian, kẻ gây chia rẽ trong cộng đoàn… đó là những con dê – trong lúc ta cho rằng mình là con chiên. Nhưng, hãy đọc trong Tin Mừng để thấy rằng Chúa đến để kêu gọi người tội lỗi và Chúa dạy: “Dù ai đó xúc phạm đến anh một ngày đến bảy lần, rồi bảy lần trở lại nói với anh: 'Tôi hối hận', thì anh cũng phải tha cho nó”. (Lc 17, 3-4)… và càng tha thứ và đối xử nhân ái với anh em, bạn càng giống Thiên Chúa và các bậc chân tu một chút!

 

 

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2026

CÂU CHUYỆN VỀ CHA GIUSE TRẦN BÁ HẠNH - MỘT LINH MỤC ĐÃ ĐẠT TỚI CẢNH GIỚI…

 


 


Đây là một linh mục đã về hưu – nay đã về với Chúa, sống rất hài hòa với anh em trong nhà hưu dưỡng, vì họ rất hiểu sự thật của tâm hồn nhau. Tuy vậy, người không hiểu vẫn đặt câu hỏi về sự ‘lập dị’ của cha có liên quan đến sự bất mãn hay không?

Câu trả lời là:…vì Cha đạt tới một cảnh giới mà một người thường không bao giờ hiểu được…Hỉ- nộ- ái- ố… Ngài không còn màng nữa. Ngài chỉ còn một tâm tình vĩnh cứu với Thiên Chúa.

Bởi là vì… bao đớn- đau- vui- buồn- tủi - hờn Ngài đều  - đã đi qua. 13 năm sống trong lao tù, không án - với người thường đó là đau khổ - nhưng với Cha đó là trải nghiệm… Đời một Linh Mục không được cử hành bí tích đó là tuyệt vọng. Nhưng với Ngài đó là hòa mình…

Với người đời đó là đau khổ, là tuyệt vọng nhưng Ngài đã biến nó thành trải nghiệm niềm vui. Và Ngài đã buông bỏ được sự thế gian.

Với người khác được tôn vinh, được ca ngợi… đó là Hạnh Phúc. Còn Ngài chỉ coi đó là sự thế gian. Mà thế gian không có gì là vĩnh cửu. Chỉ có Thiên Chúa là vĩnh cửu. Ngài đã đạt tới cảnh giới khác rồi, không phải cảnh giới của người thường. Do vậy Ngài coi mọi sự của người thường là hư vô…

Có lần, mọi người làm một đêm Thánh Ca với những tác phẩm của Ngài để tri ân Ngài 80 tuổi và 50 năm Linh Mục nhưng khi MC giới thiệu Ngài. Ngài không xuất hiện. Ngài đã về phòng một mình nhâm nhi một ngụm trà để thoải mái và để cảm nghiệm sự đời, mặc cho mọi sự diễn ra bình thường… Ngài ẩn mình khỏi hào quang của nhân gian…

Sự ở đời ai chẳng muốn được tán tụng, được ngợi khen, nhưng với Ngài đó là sự thế gian. Ngài đã buông bỏ được sự đó từ lâu rồi… Điều đó chỉ có những Thánh Nhân mới làm được.. Người đời ít người làm được lắm. Ai cũng muốn được tán dương, tụng ca. Nhưng ngài nghỉ hưu là vĩnh viễnkhông bao giờ xuất hiện trước công chúng nữa. Ai mời Ngài cũng từ chối. Lý do “sức khỏe tớ không ổn; Một lý do đơn giản mà đầy thuyết phục…

 

 Cha đã đạt tới một cảnh giới khác rồi. Buông bỏ sự thế gian và quy về Đức Kitô rồi.

 Có lần Cha đã tâm sự:  Thế gian này vô thường lắm, phũ phàng lắm... Chỉ có Chúa mới là điểm để mình cậy dựa.

 

Lạy Chúa là Cha yêu thương,

Hôm nay, con muốn dừng lại một chút

để nhìn về những năm tháng đã đi qua

và thưa với Chúa một lời thật đơn sơ:

Con tạ ơn Chúa!

Tạ ơn Chúa vì con đã được sống,

được yêu thương, được phục vụ,

được vui, được buồn, được thành công và cả những lần thất bại…

Tạ ơn Chúa vì tất cả những gì con có hôm nay

đều là những món quà con đã lãnh nhận từ Chúa.

Giờ đây, khi bước vào tuổi già,

xin Chúa dạy con biết buông xuống.

Như gương sống của Cha Giuse Trần Bá Hạnh,

xin cho con biết bỏ lại phía sau

những gì không còn cần thiết:

tiếng tăm, tiền bạc, danh dự, những thành công,

những hơn thua và cả cái tôi của chính mình.

Xin cho con hiểu rằng:

đến một lúc nào đó,

điều quan trọng không còn là

“người ta nghĩ gì về con”,

mà là “Chúa nghĩ gì về con”.

 

Không còn cần phải chứng minh mình là ai,

không cần phải được người khác ca tụng,

không cần phải nắm giữ thật nhiều.

Chỉ cần mỗi ngày được thức dậy

và biết rằng Chúa vẫn còn cho con một ngày để yêu thương,

một ngày để cầu nguyện,

một ngày để mỉm cười,

một ngày để tha thứ,

một ngày để làm một điều tốt nhỏ bé cho người bên cạnh.

Lạy Chúa, xin cho tuổi già của con

không phải là một đoạn đời để chờ đợi cái chết,

nhưng là một mùa đẹp để sống gần Chúa hơn.

Xin cho con biết biến căn phòng hưu của con

thành một nơi bình an,

biến những giờ phút thinh lặng thành giờ cầu nguyện,

biến những giới hạn của tuổi tác thành cơ hội tín thác,

và biến những điều con không còn làm được

thành lời mời gọi để con trao lại tất cả cho Chúa.

Xin cho con khám phá ra rằng

thiên đàng không chỉ là nơi con sẽ đến sau cuộc đời này,

mà có thể bắt đầu ngay hôm nay

khi lòng con không còn tham muốn,

không còn oán trách,

không còn hơn thua,

nhưng biết bằng lòng với những gì Chúa ban.

Lạy Chúa,

xin cho con biết sống tuổi già thật nhẹ:

Nhẹ vì biết mình được Chúa yêu.

Nhẹ vì không còn phải giữ lấy tiếng tăm.

Nhẹ vì biết tiền bạc chỉ là phương tiện.

Nhẹ vì biết tha thứ.

Nhẹ vì biết cám ơn.

Nhẹ vì biết trao phó.

Và nhẹ nhất là khi con có thể thưa:

“Lạy Chúa, con thuộc về Chúa.

Những gì con có là của Chúa.

Những gì con đã làm, xin Chúa đón nhận.

Những gì còn lại của đời con,

con xin trao hết vào bàn tay Chúa.”

Xin cho con, trong những năm tháng cuối đời,

không sống với tâm trạng “mình đã mất đi bao nhiêu”,

nhưng luôn nhận ra:

“Mỗi ngày còn được sống là một ngày Chúa còn ban tặng...”

 

 

Và nếu có thể,

xin cho tuổi già của con

trở thành một lời chứng âm thầm rằng:

Có một thứ hạnh phúc rất đẹp

khi con người biết bỏ mọi sự

để giữ lấy một điều duy nhất:

tình yêu của Thiên Chúa.

Lạy Chúa,

xin cho con được sống những ngày còn lại

trong một “thiên đàng nhỏ”:

có Chúa, có bình an, có lòng biết ơn,

có những người thân yêu,

có những người con còn có thể phục vụ,

và có một trái tim ngày càng tự do.

Để rồi, khi Chúa gọi,

con không sợ hãi mà có thể mỉm cười và thưa:

“Lạy Chúa, con đã nhận từ tay Chúa rất nhiều.

Nay con xin trao lại tất cả cho Chúa.

Con xin được về NHÀ – nơi Chúa chờ đợi con” …

Lm Giuse Ngô Mạnh Điệp

Không có gì - vẫn có chỗ



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 “Ai tiếp đón em nhỏ này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy!”.

“Những người cần được phục vụ trên hết là những người cần được đón nhận, những người không thể đáp lại bằng bất cứ điều gì!” - Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Các môn đệ đang nghĩ xem ai là người lớn nhất. Chúa Giêsu không nói người ấy sẽ là ai, phải thế nào; Ngài chỉ đặt một em nhỏ bên cạnh mình. Em nhỏ chẳng có địa vị, cũng chẳng có gì để đền đáp. Vậy mà vẫn được ở bên Ngài - ‘không có gì - vẫn có chỗ’.

“Ai tiếp đón em nhỏ này”. Động từ “tiếp đón” lặp lại bốn lần trong lời Chúa Giêsu: đón em nhỏ là đón Ngài; đón Ngài là đón Đấng đã sai Ngài. Không có ba cuộc tiếp đón tách rời; cuộc gặp này mở sang cuộc gặp kia. Em nhỏ ấy đại diện cho những người yếu hèn, dễ tổn thương, không có tiếng nói. “Nếu tôi không mở cửa lòng cho người nghèo, cánh cửa ấy vẫn đóng!” - Phanxicô.

Cánh cửa ấy trước hết cần mở ngay giữa các môn đệ. Chỗ các ông muốn giành lấy, Chúa Giêsu dành cho người chẳng thể giành. Ngài không bảo các ông rời đi; Ngài cho thấy chỗ bên cạnh mình không thuộc riêng về ai. Muốn ở gần Ngài, các ông phải học ở gần cả người Ngài vừa đón. Đón những người bé nhỏ, chúng ta phải nhường chỗ trong lòng và trong đời mình cho họ, cùng với những nhu cầu thật của họ. Việc ấy xem ra chẳng làm chúng ta lớn hơn; nhưng nơi người bé nhỏ ấy, chính Chúa Giêsu muốn được đón vào.

Chúa Giêsu còn nói tiếp: “Ai tiếp đón Thầy, là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”. Từ một em nhỏ chẳng có gì để trao, cánh cửa mở tới tận Chúa Cha. Không phải em nhỏ dẫn chúng ta đi xa khỏi đời thường để gặp Thiên Chúa; Chúa Cha cho chúng ta gặp Ngài ngay trong việc đón nhận Người Con, Đấng từ cung lòng Chúa Cha xuống với con người. Bởi đó, người bé nhỏ ấy không đứng ngoài mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa: cách chúng ta đón người ấy chạm đến chính Chúa Cha.

Có khi chúng ta sẵn lòng đón một người, nhưng lại không đón điều tốt từ họ khi họ không cùng nhóm với mình. Gioan cũng thế, ông ngăn một người trừ quỷ vì người ấy không cùng đi với các ông. Một lần nữa, các môn đệ muốn giữ quyền định đoạt chỗ của người khác. Chúa Giêsu không đồng ý: “Đừng ngăn cản người ta!”. Chúng ta có thể mở cửa cho một người nhưng vẫn đóng lòng trước điều Chúa đang làm qua họ. “Người biết yêu nhìn thấy nơi người khác một điều tốt mà nhiều người không thấy!” - Fulton Sheen.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã vào thế gian như một Người Con cần được đón nhận, nhưng cuối cùng, người ta lại treo Ngài trên thập giá. Vậy mà từ trên đó, cả nhân loại vẫn ở bên cạnh Ngài, trong lòng Ngài. Anh trộm lành là hình ảnh của chính thân phận mỗi người chúng ta: cả một đời không thể làm lại, chỉ xin được nhớ đến. Anh không được xuống khỏi thập giá; nhưng ngay tại đó, Đức Kitô hứa cho anh một thiên đàng, một tương lai vượt qua cái chết: được ở với Ngài, ‘không có gì - vẫn có chỗ’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, mở lòng con trước người yếu thế, mở mắt con trước điều tốt của anh em, và mở tay đón con khi con chẳng còn gì!”, Amen.

Suy tư:

Các môn đệ ngày xưa và kể cả chúng ta hôm nay vẫn bị một cơn cám dỗ có tên là phân loại: ai là người quan trọng và có tài, là người có công - có tâm và có tầm, ai là người đáng được nhận vào ca đoàn và cộng đoàn giáo xứ, ai là người xứng đáng để làm việc???- Thưa, chẳng ai xứng đáng, chẳng ai có tâm và có tầm cả... vì 'mọi sự tôi có đều là ơn Chúa ban', tôi chỉ là một tội nhân yếu đuối và xơ cứng trong tình yêu, và Giáo hội của Chúa đầy những tội nhân  - dành cho mọi người (Công giáo).

Chúa Giê su vẫn tha thiết cầu xin: "xin cho họ nên một". Ma quỷ luôn rình mò cắn xé sự hiệp nhất của Thân Thể mầu nhiệm Chúa Ki tô bằng nhiều cách: bằng thần học và giáo lý, bằng sự kiêu ngạo và ước mong nổi tiếng, bằng sự phân loại và loại trừ, bằng sự xét duyệt và cấm đoán. Người con Chúa được kêu mời trở nên bé nhỏ trước mặt Chúa và anh em, được dạy rằng: đức khiêm nhường là nền tảng của đời sống nội tâm, rằng lòng thương xót là chuẩn mực trong cách ứng xử với đồng loại và rằng mỗi ngày hãy dành ít phút chiêm ngắm cuộc tử nạn phục sinh của Chúa Ki tô - Ngài đã từng bị vu cáo - loại trừ - giết chết và đã Phục Sinh vinh quang... để mong được nên giống Ngài hơn, mỗi ngày một chút.                                                                                                          

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026

Thay đổi

 



Bài Tin Mừng Chúa Nhật 26 TN A (Mt 21, 28-32) rất dễ hiểu: Chúa kêu mời con người thay đổi cuộc sống – tin vào Ngài và tuân giữ Lời Ngài để được sự sống đời đời. Bài đọc 1 cũng nói: nếu kẻ gian ác bỏ đàng tội lỗi mà sống chính trực công minh thì nó sẽ được sống. Bài đọc 2, Thánh Phao lô mời gọi các tín hữu hãy học cách sống như Chúa Giê su Đấng tự hủy, tự hạ và tự hiến để nên nguồn cứu độ cho loài người. Như vậy, cả 3 bài đọc đều mời gọi chúng ta thay đổi cuộc sống của chính mình để nên giống Đức Kitô.

Có thể nói: Thay đổi là quy luật của cuộc sống. Chúng ta quan sát vũ trụ - chúng không ngừng chuyển động với vận tốc rất lớn và với trật tự đã được thiết lập; rồi thời tiết 4 mùa xuân hạ thu đông cứ vần xoay; trong cơ thể chúng ta mỗi giây qua đi có hàng ngàn tế bào chết đi để cơ thể được tái tạo – và ung thư xảy ra khi những tế bào đáng phải chết lại không chết mà cứ tiếp tục phát triển; Cha mẹ già yếu đi để con cái mình được lớn lên; cây cỏ và súc vật phải hy sinh để trở nên thực phẩm cho chúng ta; con người cũ sống theo thế tục phải chết đi thì cuộc sống bước theo Thần Khí mới sinh hoa kết trái. Khi chọn bậc sống tu trì, đừng nghĩ Chúa đã chọn mình qua một thời gian dài thì cứ vậy mà kiên trì và duy trì, nếu một lúc nào đó ý Chúa muốn mình thay đổi thì phải can đảm bước đi trên con đường mới (ví dụ cha Ân Đức khởi đầu đời tu trong chủng viện Kontum, nhưng rồi Ngài chuyển qua tu dòng khổ tu, Mẹ Tê rê xa  khởi đầu trong dòng tu Loreto nhưng ơn Chúa thúc đẩy mẹ rời dòng cũ để lập nên dòng Thừa sai bác ái, và biết bao người nhờ trải qua một thời gian được đào luyện trong môi trường tu trì - nay dùng chính những điều đã được học để phục vụ trong các giáo xứ).

Những người chịu trách nhiệm giáo dục sợ nhất là những người cố chấp, không chịu thay đổi. Những cuộc hôn nhân thành công hay thất bại cũng chỉ vì 2 chữ ‘thay đổi’: có những điều không được thay đổi như lòng chung thủy – yêu thương -tôn trọng nhau mọi ngày trong suốt cuộc đời… thì lại thích thay đổi; và có những điều phải thay đổi như cách sống quá vị kỷ, gia trưởng, vô ơn, mối quan hệ, áp đặt, đòi hỏi, lười biếng và thiếu trách nhiệm với gia đình… thì lại không chịu thay đổi biến gia đình trở nên ngục tù.

Thời sự Giáo hội Việt Nam khá ồn ào với vụ cha Nam bị chấm dứt mục vụ… nhưng đừng nghĩ rằng mọi sự đã chấm dứt, cửa đã đóng… vì ngày nào còn sống là còn có thể thay đổi và bắt đầu lại và vì ơn thánh Chúa vẫn hoạt động mãnh liệt trong từng tâm hồn. Sự vấp ngã là bình thường, chỉ là bất thường khi ta không chỗi dậy sau khi ngã. Cuộc sống tâm linh của mỗi người cũng phải khởi đầu lại từng ngày: cứ nghĩ lại quá khứ của mình mà xem, có nhiều lỗi lầm ta không thể quên, có những tội mình cảm thấy xấu hổ với lương tâm và với kẻ đã từng va chạm với ta… bởi đó, để sống thanh thản ta phải tập tha thứ cho bản thân, càng ý thức sự yếu đuối của mình ta càng dể tha thứ và bỏ qua cho tha nhân, và nhất là đừng tra vấn Chúa vì những điều không may - vì tư tưởng con người rất hữu hạn trước sự quan phòng của Thiên Chúa.

Sách Gương Phúc dạy: “Người biết rõ mình sẽ tự khinh và không màng tiếng đời ca tụng. Khoa học cao quý nhất chính là khoa tự giác và tự khinh”. Thánh ca Philip dạy ta: “Anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Ki tô, Ngài đã trút bỏ vinh quang cõi trời để mặc lấy phận phàm nhân, chết trên cây thập tự”. Ước gì bạn và tôi, chúng ta đừng học thói đời: khoe khoang bản thân và chê trách tha nhân; hãy siêng nhìn lên thập giá Đức Ki tô để thấy rằng những oan ức và khinh miệt của người đời quá nhỏ nhoi so với sự tỏ lộ vinh quang của Chúa trên thập giá: Chúa đã lặng thinh, tha thứ, dâng hiến đến giọt máu cuối cùng để cho tôi được sống. Hãy xin Chúa thêm sức mạnh để ta thay đổi mỗi ngày nên giống Chúa hơn, nhất là trong sự tự hủy, khiêm nhường và hiền lành.

                  

 

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2026

Thầy là ai

 



Nhân vật Giê su gây nhiều tranh cãi trong lịch sử: một tiên tri, Gioan Tẩy giả sống lại, Đức Ki tô – Con Thiên Chúa hằng sống, và chính câu trả lời sẽ dẫn người ta đến một thái độ sống. Khác với những nhân vật trong lịch sử - người ta chỉ thán phục tài nghệ của họ và cùng lắm tham khảo lời nói của họ, còn nhân vật Giê su thì khác: nếu Ngài là Con Thiên Chúa thì giá máu cứu chuộc của Ngài là vô song và Lời của Ngài có giá trị đem lại sự sống đời đời.

Sau lời tuyên xưng của ông Phê rô: “Thầy là Đức Ki tô - Con Thiên Chúa hằng sống”, Chúa truyền cho các môn đệ im lặng – vì Chúa biết: các ông chỉ mới hiểu vẻ huy hoàng của cụm từ đó mà chưa hiểu được tư tưởng và cách hành động của Thiên Chúa, phải có thời gian – mạc khải dần dần – và phải có ơn soi sáng. Sau biến cố biến hình, Chúa cũng truyền các ông không được nói về điều đã nghe và đã thấy trên núi Tabor cho đến khi Con Người từ cõi chết sống lại.

Sứ điêp: “Con Người sẽ phải chịu nhiều đau khổ, bị các vị lãnh đạo tôn giáo loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ 3 sẽ sống lại” được Chúa Giê su mạc khải nhiều lần, được gọi là điều căn bản của Giáo lý Ki tô giáo. Sứ điệp này cho thấy 2 điều: việc Chúa chịu thương khó là chương trình của Thiên Chúa đã dự liệu từ ngàn đời và việc Chúa sống lại cho thấy giá trị cứu độ mà sự chết chuộc tội mang lại cho nhân loại.

Nhân dịp cha Ân Đức kết thúc cuộc đời nhân thế, chương trình Tin Vui Media cho phát lại buổi nói chuyện với linh mục Ân Đức, một con người rất giản dị, khiêm tốn. Ngài nói: khả năng âm nhạc là món quà trời ban - tự mày mò chẳng có bằng cấp gì, sáng tác nhạc theo đơn đặt hàng – mỗi lần phải năn nỉ Chúa giúp cho, không bao giờ đếm mình sáng tác được mấy bài, nhiều người nhầm rằng cha Ân Đức giỏi – dễ thương – dịu dàng – đạo đức… đúng là phong cách của một người đã đạt đến cảnh vực thần linh.

Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta, dù hoàn cảnh sống của mình thế nào vẫn xác tín rằng: cuộc đời mình nằm trong sự ban bài và yêu thương của Chúa, Chúa ban cho và Chúa cất đi – xin cho con biết tạ ơn Ngài; dù thế nào đi nữa, môi miệng ta vẫn cất lên: Ôi đá tảng của con, chúc tụng Chúa. Amen                                           

 

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

THỂ HIỆN NGÀI HƠN LÀ NÓI VỀ NGÀI

 


 

Lời Chúa Thứ Tư Tuần XXV Thường Niên, Năm Chẵn: 

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)


“Người sai các ông đi”.

“Đây là cách người ta nên rao giảng: thể hiện Chúa Giêsu hơn là nói về Chúa Giêsu. Và chúng ta thể hiện Chúa Giêsu như thế nào? Bằng chứng ngôn của chúng ta!” - Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Có thể nói rất đúng về Đức Giêsu mà vẫn làm Ngài khuất đi. Lời Chúa hôm nay cho thấy: ơn gọi của người môn đệ không phải để người ta nhớ đến mình, nhưng để họ nhận ra Đấng đã sai mình - ‘thể hiện Ngài hơn là nói về Ngài’.

Trước hết, để rao giảng Nước Thiên Chúa, người môn đệ phải ở lại với Đấng khai mở Nước ấy. Luca cẩn thận ghi: “Đức Giêsu tập họp Nhóm Mười Hai lại”. Chuyển động đầu tiên của sứ vụ không phải là đi ra, nhưng là đi vào; không phải lên đường, nhưng là đến gần; không phải nói, nhưng là nhận. Ở lại với Đức Giêsu không nhằm có thêm những điều để nói, nhưng để nhận lấy cách nhìn, cách chạm và cách yêu. Chỉ lúc ấy, người môn đệ mới không trình bày một ý tưởng về Ngài, nhưng để dung mạo Ngài hiện ra nơi mình. “Hãy để ánh sáng của Đức Kitô chiếu toả trong đời sống các bạn!” - Gioan Phaolô II.

Tiếp đến, người môn đệ trở nên trong suốt trước Đấng Sai Đi. Họ ra đi không gậy, không bao bị, không bánh, không tiền. Chính sự nghèo khó của sứ giả thể hiện rõ quyền năng Thiên Chúa. Quyền năng ấy càng sáng tỏ vì những gì họ sở hữu không đủ sức giải thích; điều họ không mang bên ngoài trở thành chứng từ cho điều họ đã nhận bên trong. Trước khi cất lời về Nước Thiên Chúa, cách họ hiện diện đã bắt đầu loan báo Nước ấy. Vì thế, người ta có thể nhận ra Đức Giêsu nơi họ trước cả khi nghe họ nói về Ngài.

Và rồi, người môn đệ phải trung thành với Lời đã nhận. “Đừng thêm thắt chi vào lời Người phán dạy!” - bài đọc một. Cám dỗ của người rao giảng không chỉ là nói sai, nhưng còn là thêm mình vào Lời đến mức người ta nhớ người nói mà quên Đấng đã phán. Lời không cần tô điểm; Lời cần một đời sống. Thánh Vịnh đáp ca gọi “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước!”. Ngọn đèn ấy phải soi bước người môn đệ trước khi soi lối cho người khác. Khi đời sống bước theo Lời, chứng ngôn sẽ nói phần còn lại. “Công việc quan trọng hơn việc nói hay viết về công việc; chính qua những việc thương xót mà tình yêu được biểu lộ!” - Dorothy Day.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ nói Chúa Cha yêu con người; Ngài cho tình yêu ấy một gương mặt và một thân thể. Lời đã trở nên xác phàm; đôi tay chạm người hủi, đầu gối quỳ dưới chân môn đệ, thân mình trao trên thập giá. Khi lời nói lặng đi, cách Ngài chết lại nói về Chúa Cha rõ nhất. Phục Sinh không xoá dấu đinh; Ngài mang chúng vào vinh quang, thể hiện quyền năng của Chúa Cha: tình yêu có tiếng nói sau cùng. Vì thế, ‘thể hiện Ngài hơn là nói về Ngài’ không phải một kỹ thuật rao giảng, nhưng đi theo chính con đường của mầu nhiệm Nhập Thể: điều người môn đệ loan báo phải mang lấy hình hài Đức Kitô trước hết trong đời mình.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết ở lại với Chúa trước khi ra đi; sống điều con loan báo trước khi nói; và để dung mạo Ngài hiện ra qua đời con!”, Amen.

Suy tư:

-Một nhà tu đức đã nói: để có tinh thần nghèo khó thì cuộc sống cũng phải  giản dị, để học được đức khiêm nhường phải biết vui lòng chịu những sỉ nhục và hiểu lầm trong cuộc sống... con người chỉ học được điều này khi đến và ở lại với Thầy Giê su. Hôm nay, Giáo hội mừng kính Thánh Pio 5 dấu, tôi muốn nói đến 2 tình tiết về cuộc đời ngài. Điều thứ nhất, ngài được in 5 dấu thánh trong một lần cầu nguyện và những vết thương đó là dấu chỉ hiếm hoi và người đời xem là một dấu chỉ được Chúa yêu... thế nhưng, ngài luôn muốn dấu kín chúng và không muốn nói về đặc ân đó, Điều thứ hai là: ngài sống đời cầu nguyện và chuyên chăm giải tội, tuy vậy người ta đồn thổi chuyện này chuyện nọ (dấu thánh, quản trị tài sản bệnh viện) khiến Tòa thánh phải điều tra nhiều lần đến nỗi có những lệnh cấm không được tiếp xúc giáo dân trong nhiều năm trời và chịu những ánh mắt thiếu thiện cảm của anh em trong dòng... tuy vậy, ngài vẫn âm thầm chịu đựng mọi sự, dâng lên Chúa như một hiến lễ. Đối chiếu với đời ta, chỉ một chút hiểu lầm - một chút thiệt thòi, ta nói cho mọi người biết để thanh minh thanh nga... chẳng nhân đức tí nào. 

-chính qua những việc thương xót mà tình yêu được biểu lộ!” - Dorothy Day. Lòng thương xót là Danh xưng của Thiên Chúa, và đó cũng phải là phẩm tính quan trọng nhất của người con cái Chúa khi ứng xử với đồng loại, trong mọi trường hợp - không có luật trừ!

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

KHÔNG CÙNG MÁU, VẪN CÙNG NHÀ

 




Lời Chúa Thứ Ba Tuần XXV Thường Niên, Năm Chẵn: 

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)


“Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành!”.

“Đức Maria có phúc vì đã cưu mang Đức Kitô trong lòng, hơn là trong dạ!” - Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Maria là Mẹ Chúa Giêsu trong dạ một lần, nhưng là người nhà của Ngài suốt đời. Lời Chúa hôm nay cho biết, với Ngài, bất cứ ai cũng có thể ‘không cùng máu, vẫn cùng nhà’.

Cánh cửa nhà ấy không mở nếu chúng ta chỉ nghe Lời! Ronald Knox từng chua chát nhận xét: “Hầu như mọi mệnh lệnh của Chúa Giêsu đều không được chúng ta tuân giữ; cùng lắm chỉ được tôn trọng trong lời nói hơn là trong việc làm!”. Nhưng ông nói thêm, có một mệnh lệnh chúng ta luôn luôn thực hành: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy!”. Câu nói vừa an ủi, vừa xót xa: chúng ta vẫn cử hành Thánh Thể, nhưng chưa chắc đã sống đời trao ban của Đấng mình tưởng nhớ.

Chúa Giêsu nối lời nói với việc làm bằng hai động từ: “nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành”. Bản Hy Lạp viết akoúontes và poioûntes - “đang nghe và đang làm”. Cả hai ở thì hiện tại cho thấy đây không phải chỉ một lần nghe, một lần làm, nhưng là một nhịp sống liên lỉ. Chúa Giêsu đặt chìa khoá nhà mình vào hai động từ ấy. Maria là người đầu tiên bước vào: Mẹ nghe, thưa “Xin vâng” và để lời “Xin vâng” kéo dài đến tận chân thập giá.

“Nghe” và “làm” không phải hai điều kiện đặt cạnh nhau. Đó là hai nhịp của cùng một cách sống: khi nghe, Lời Chúa đi vào lòng; khi làm, Lời Chúa đi ra bằng đôi tay, đôi chân. Nghe mà không làm, Lời dừng lại; làm mà không nghe, đôi khi chỉ là ý riêng. Chỉ khi cả hai gặp nhau, Lời mới thành sự sống. Thuộc về Chúa không phải mang thêm một danh xưng, nhưng để Lời Ngài có một cuộc đời, một khuôn mặt nơi chúng ta.

Vậy Chúa đang nói gì với tôi? Bài đọc Châm ngôn trả lời rất cụ thể: “Con người cho lối sống của mình là ngay thẳng, nhưng Đức Chúa thấu suốt mọi tâm can”. Lời Chúa cần ra khỏi mọi mơ hồ để đi vào cuộc sống: “Kẻ bịt tai trước tiếng kêu của người cô thế, đến lúc nó kêu, sẽ chẳng được đáp lời”. Không thể mở tai trước Lời Chúa mà khép tai trước một phận người. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca là một lời cầu tuyệt vời: “Lạy Chúa, trên đường mệnh lệnh Chúa, xin dẫn con đi!”. Chúng ta dễ khen Lời Chúa sâu sắc, nhưng ít hỏi Lời ấy đang đòi mình làm gì. Có những câu nghe đã thuộc, nhưng đôi chân chưa từng bước; có những điều vẫn tuyên xưng, nhưng đôi tay chưa bao giờ chạm tới.

Anh Chị em,

Đức Kitô không dạy chúng ta điều Ngài chưa sống. Ngài lắng nghe Chúa Cha và vâng phục đến tận thập giá; đôi tay, đôi chân chịu đóng đinh, nhưng chính lúc ấy, tình yêu đi xa nhất. Trong Thánh Thể, Ngài không chỉ bảo chúng ta nhớ đến Ngài, nhưng trao chính mình để đời trao ban ấy được tiếp tục. Bấy giờ, tuy không chung huyết thống, chúng ta cùng nhận một tấm bánh, nên một thân thể; và khi ra đi, mang nét người nhà của Chúa Giêsu: ‘không cùng máu, vẫn cùng nhà’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con vẫn ‘làm việc này mà nhớ đến Thầy’; xin đừng để con giữ Chúa trên bàn thờ mà quên đem Chúa vào cuộc sống!”, Amen.