Danh sách Blog của Tôi

Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2026

GIẾT THỪA KẾ - ĐỂ LÀM CHỦ



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Nào ta giết quách nó đi, và gia tài sẽ về tay ta!”.

Khi còn là hoàng tử, Absalom đã âm thầm thu phục cảm tình dân chúng và cuối cùng nổi loạn chống lại Đavít, vua cha. Bi kịch là: người sẽ được thừa kế lại muốn sở hữu ngay điều mình chưa được trao. Và trên đường chiếm đoạt vương quyền, ông đánh mất tất cả.

Kính thưa Anh Chị em,

Muốn chiếm lấy điều chỉ có thể đón nhận như hồng ân là một cám dỗ cổ xưa. Những tá điền trong Tin Mừng hôm nay cũng vậy, “Nào ta giết quách nó đi, và gia tài sẽ về tay ta!”. Đó là một thứ logic của tội lỗi: ‘giết thừa kế - để làm chủ’.

Dụ ngôn xoay quanh người klēronomos - người thừa kế. Trong Kinh Thánh, đó không chỉ là người nhận gia sản, nhưng còn là dấu chỉ của quyền sở hữu chính đáng. Vì thế, các tá điền vừa thấy người con đã biết ngay anh là ai: một chướng ngại. Chừng nào người thừa kế còn đó, họ mãi chỉ là tá điền. Muốn làm chủ, họ phải loại bỏ người thừa kế. Họ muốn chiếm đoạt điều lẽ ra phải đón nhận như quà tặng. Từ Ađam đến hôm nay, con người vẫn nghĩ mình sẽ giàu hơn khi gạt Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời; nhưng càng xa Thiên Chúa, con người càng vong thân. “Ai để Đức Kitô bước vào đời mình thì không mất gì cả; trái lại, người ấy tìm thấy sự sống đích thực!” - Bênêđictô XVI.

Nếu các tá điền gây ngạc nhiên vì lòng tham, thì chủ vườn còn gây ngạc nhiên hơn vì lòng quảng đại. Sau cảnh những đầy tớ bị đánh đập, sỉ nhục và giết hại, ông vẫn sai người con. Theo cái nhìn nhân loại, đó là một quyết định liều lĩnh. Nhưng chính ở đây dụ ngôn hé mở dung mạo Thiên Chúa. Con người luôn muốn giữ lại điều quý nhất; Thiên Chúa lại trao chính điều quý nhất. Nếu các tá điền nói: “Nào ta giết quách nó đi!”, thì Thiên Chúa lại nói: “Ta vẫn sai con ta đến!”.

Nhưng dụ ngôn không kết thúc ở cái chết của người con. “Tảng đá thợ xây loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường”. Con người loại bỏ điều họ cho là chướng ngại; Thiên Chúa lại biến chính điều ấy thành nền móng. Người con bị giết trở thành con đường để kế hoạch được hoàn tất. Thập giá không phải là thất bại của công lý, nhưng là vương quyền của tình yêu. Chính tình yêu ấy mở ra cho con người khả năng được “thông phần bản tính Thiên Chúa - bài đọc một. Vì thế, người tín hữu không sống bằng sự chiếm hữu, nhưng bằng sự tín thác: “Lạy Thiên Chúa, con tin tưởng vào Ngài” - Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là Người Thừa Kế mà các tá điền muốn loại bỏ. Con người ‘giết Người Thừa Kế - để làm chủ’; Thiên Chúa lại trao Người Thừa Kế để chúng ta được làm nghĩa tử. Bi đó, thay vì nắm giữ như các tá điền, người môn đệ học sống bằng sự tín trung. Chỉ người biết đón nhận mới thực sự giàu có. Kẻ sống bằng sự chiếm hữu là kẻ đang nuôi dưỡng một linh hồn nghèo đói. Người biết đón nhận mọi sự như hồng ân sẽ khám phá rằng: điều quý giá nhất trong đời không phải là điều mình sở hữu, nhưng là Đấng mình thuộc về.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giải thoát con khỏi cám dỗ chiếm hữu điều chỉ có thể được đón nhận như quà tặng!” Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

  

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2026

KHÔNG SỢ CHÚA - SỢ ĐÁM ĐÔNG

 



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Chúng tôi không biết!”.

Khi cả nước tuyên thệ trước Henry VIII, công nhận vua là thủ lãnh tối cao của Giáo Hội Anh Quốc, Thomas More vẫn cự tuyệt. Ông chấp nhận mất địa vị, tự do và cả mạng sống hơn là phản bội lương tâm. More hiểu rằng vấn đề không nằm ở sự thật, nhưng ở nỗi sợ.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, các thượng tế, kinh sư và kỳ mục không trả lời câu hỏi của Chúa Giêsu bằng một lập luận, nhưng bằng một câu thoái lui: “Chúng tôi không biết!”. Thực ra, họ biết nhiều hơn điều họ dám nói. Họ ‘không sợ Chúa’, nhưng ‘sợ đám đông’. Vấn đề không nằm ở sự thật, nhưng ở nỗi sợ!

Câu hỏi của các thượng tế xuất hiện ngay sau khi Chúa Giêsu thanh tẩy Đền Thờ, đụng chạm trực tiếp đến trung tâm quyền lực tôn giáo tại Giêrusalem. Khi hỏi Ngài lấy quyền nào mà làm các điều ấy, họ không thực sự tìm kiếm một câu trả lời. Trong Marcô, exousia là quyền bính đến từ Thiên Chúa. Vấn đề là họ hiểu quá rõ hệ quả của câu trả lời ấy. Thừa nhận quyền bính của Chúa Giêsu cũng đồng nghĩa với việc phải xét lại quyền bính của chính mình. Vì thế, vấn đề của họ không phải là thiếu bằng chứng, nhưng là sợ hệ quả của bằng chứng. Giả vờ ‘không biết trước đòi hỏi của Tin Mừng là một hình thức phản bội tinh vi. “Chân lý không được quyết định bởi biểu quyết của số đông!” - Fulton Sheen.

Điều trớ trêu là câu trả lời “Chúng tôi không biết!” lại phát xuất từ những người biết quá nhiều. Họ không thiếu dữ kiện để kết luận, nhưng thiếu can đảm để kết luận. Vì thế, “không biết” ở đây không còn là một tình trạng tri thức, nhưng trở thành một nơi trú ẩn. Họ chọn sự an toàn của dư luận hơn sự đòi hỏi của chân lý.

Từ góc độ Kinh Thánh, nỗi sợ luôn đi theo khát vọng. Con người sẽ bảo vệ điều họ yêu thích và sợ mất nhất. Vì thế, giới lãnh đạo sợ đám đông vì họ đã gắn đời mình với quyền lực và sự công nhận. Trái lại, Thánh Vịnh đáp ca cho thấy một trật tự khác: “Linh hồn con đã khao khát Chúa!”. Khi Thiên Chúa trở thành khát vọng tối hậu, Ngài cũng trở thành nền tảng tối hậu, “Đấng có quyền năng gìn giữ anh em khỏi sa ngã và cho anh em đứng vững” - bài đọc một. Chỉ lúc đó, những nỗi sợ khác mới mất quyền chi phối. Vì nơi nào có nỗi sợ lớn nhất, nơi đó chính là ngẫu tượng bạn đang thờ lạy.

Anh Chị em,

Đức Kitô là phản đề của giới lãnh đạo tôn giáo. Ngài không cần ai xác nhận mình là ai. Khi dân chúng muốn tôn Ngài làm vua, Ngài lánh đi; khi đám đông hô “Đóng đinh nó đi!”, Ngài không thay đổi. Đức Kitô không sống bằng tiếng vỗ tay, cũng không chết vì những tiếng la ó. Ngài chỉ tìm và thi hành ý muốn của Cha. Chỉ khi Thiên Chúa là Đấng chúng ta yêu nhất, bạn và tôi mới thôi ‘sợ đám đông để biết ‘sợ Chúa. “Tôi chết như một bề tôi trung thành của nhà vua, nhưng trước hết là của Thiên Chúa!” - Thomas More.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con núp sau những câu ‘con không biết!’. Cho con đủ can đảm để sống điều con đã biết và làm điều con phải làm!”, Amen.

 Suy tư:

Con người, ai cũng khao khát công bình và chân lý được thể hiện, và mong ước đời mình không phải trải qua những bất công. Chuyện xảy ra trong xã hội đã đành, nhưng ngay trong Giáo hội vẫn xuất hiện những người có đầu óc độc tài muốn mọi người phải tuân theo ý mình và có những người rửa tay theo kiểu ông Philato: không biết, tội chưa lớn đủ, tôn trọng ý kiến tập thể, không can dự vào chuyện nội bộ ... và thế là có nhiều bất công xảy ra ngay trong những cộng đoàn tôn giáo. Tác hại của sự dung dưỡng này rất lớn: chia rẽ, mất lòng tin vào Chúa và các vị đại diện Ngài.

Dù thế nào đi nữa, người theo Chúa phải xác định mỗi ngày: chỉ cần Chúa biết là đủ, Chúa là nền tảng tối hậu của cuộc đời, linh hồn con khao khát Chúa, chỉ sợ Chúa và Ngài thấu suốt tâm can mỗi người.

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

MẶT TIỀN XANH TỐT



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế) 

“Muôn đời sẽ chẳng còn ai ăn trái của mày nữa!”.

Ở Hollywood, có những dãy phố nhìn từ phía trước trông hoàn toàn như thật: ban công, cửa sổ, quán cà phê, khách sạn… Nhưng bước ra phía sau, tất cả chỉ là những tấm phông mặt tiền chống đỡ những khoảng trống.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cũng kể về một cây vả như thế: một thứ ‘mặt tiền xanh tốt’ - rất nhiều lá, nhưng bên trong lại không có trái.

Marcô rất ý tứ khi “kẹp” câu chuyện cây vả vào giữa việc Chúa Giêsu thanh tẩy Đền Thờ - một kiểu Markan sandwich quen thuộc; nghĩa là, cây vả và Đền Thờ soi sáng cho nhau. Điều Chúa Giêsu nguyền rủa không chỉ là một cái cây không sinh trái, nhưng còn là một thứ tôn giáo chỉ còn những tán lá bên ngoài. Đền Thờ đầy người hành hương, đầy nghi lễ và hoạt động, nhưng lại thiếu điều Thiên Chúa tìm kiếm nhất: hoa trái của một đời sống thật. Tắt một lời, có những nơi nhìn rất giống đức tin, nhưng bên trong lại trống sự sống. “Có những Kitô hữu sống như những xác ướp trong viện bảo tàng!” - Phanxicô.

Điều gây ngỡ ngàng là Marcô ghi rất rõ: “không phải là mùa vả”. Nghĩa là, Chúa Giêsu không đến tìm một sản phẩm nông nghiệp đúng mùa, nhưng tìm hoa trái nơi một đời sống giao ước. Trong truyền thống ngôn sứ Do Thái, cây vả thường tượng trưng cho Israel và đời sống tôn giáo của dân Chúa. Vì thế, điều làm cây vả bị nguyền rủa không phải vì nó thiếu lá, nhưng vì nó chỉ có lá. Nó tạo ra dáng vẻ xanh tươi của sự sống, nhưng bên trong lại không có gì để nuôi dưỡng ai. Có những đời sống đạo cũng như thế: ‘mặt tiền xanh tốt’ - lá nhiều, trái ít; rất nhiều hoạt động, rất nhiều mỹ từ tôn giáo đã trở thành sáo ngữ, nhưng không còn hoa trái của hoán cải, của công lý và lòng thương xót.

Phêrô nhắc các tín hữu: “Thời cùng tận của vạn vật gần đến rồi!”. Vì thế, điều quan trọng không còn là vẻ bề ngoài của một đời sống đạo, nhưng là những hoa trái thật của tỉnh thức, yêu thương và phục vụ: “Hãy hết tình yêu thương nhauHãy tiếp đón nhau!” - bài đọc một. Vì sẽ đến ngày “Chúa ngự đến xét xử trần gian” - Thánh Vịnh đáp ca. Thiên Chúa đến xét xử mà không bị đánh lừa bởi những tán lá xanh của một “tôn giáo trang điểm” - thuật ngữ của Đức Phanxicô. Trước mặt Thiên Chúa, điều còn lại không phải là những gì con người phô trương, nhưng là trái trăng mà đời sống họ thật sự sinh ra cho người khác.

Anh Chị em,

Đức Kitô không sống bằng lớp “lá” của danh tiếng hay nghi thức, nhưng sinh trái bằng một tình yêu trao hiến đến tận cùng. Vì thế, theo Chúa Kitô không phải là giữ cho đời mình xanh tốt bề ngoài, nhưng là để đời mình thật sự sinh hoa kết trái cho Thiên Chúa và cho người khác. Tắt một lời, điều Thiên Chúa tìm kiếm không phải là lá, nhưng là trái; Ngài chán ngấy thứ tôn giáo ‘mặt tiền xanh tốt’. Henri Nouwen từng cảnh báo, cám dỗ lớn nhất của con người là trốn sau những công thức tôn giáo để khỏi phải đối diện sự thật của đời mình.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con chỉ sống một thứ tôn giáo trình diễn như phim trường; xin cho con sống một đức tin có thể nuôi dưỡng người khác!”, Amen.

Suy tư: 

-Thánh Phê rô dạy: "Tiên vàn anh em hãy có đức yêu thương, vì tình thương che phủ muôn vàn tội lỗi". Có lẽ hai chữ 'yêu thương' được dùng vào loại bậc nhất trong đạo, vì giới răn riêng của Chúa Giê su là 'các con hãy yêu thương nhau', nhưng còn một vế sau rất quan trọng: như Thầy đã yêu thương các con. Hãy thường xuyên chiêm ngắm cuộc sống và lời dạy của Chúa Giê su để học cách yêu của Ngài: hiền lành và khiêm nhường, tự hủy và cúi xuống để phục vụ, yêu đến hiến mình vì anh em, tha thứ và tìm kiếm những con chiên lạc. Thiên Chúa là tình yêu - một tình yêu thương xót hơn là lên án, Ngài thích lòng nhân hơn là luật lệ cứng nhắc.

-Chúng ta dễ ru ngủ mình bằng những lời dạy thâm thúy, những suy tư rất đúng tâm lý và rất logic... nhưng cách hành động lại nhuốm mùi trần tục: tìm cách tạo phe nhóm, loại trừ hơn là quy tụ, quá nguyên tắc mà không có lòng thương xót, làm việc đạo mà nặng mùi mưu lược thế gian. Chuyện đó vẫn xảy ra trong từng cộng đoàn lớn nhỏ, từng giáo xứ và từng ca đoàn, tạo nên gương mù gương xấu: có những người lãnh đạo lạm quyền mà cứ nghĩ mình đang rán sức duy trì trật tự và sự hiệp nhất; tìm cách loại trừ những ai dám góp ý - chụp mũ họ là những kẻ gây rối...    

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2026

THẾ GIỚI MỞ, TÂM HỒN KHÓA

 



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín!”.

Chưa bao giờ thế giới “mở” như hôm nay: AI, công nghệ kết nối khiến mọi khoảng cách gần như biến mất. Nhưng nghịch lý thay, càng mở ra với thế giới bên ngoài, con người càng khép kín bên trong.

Kính thưa Anh Chị em,

Một chi tiết rất Gioan trong Tin Mừng lễ Hiện Xuống đáng để chúng ta suy nghĩ: “các cửa đều đóng kín”. Đó không chỉ là cánh cửa của căn phòng, nhưng còn là cánh cửa của sợ hãi, thất vọng và cô độc. Không chỉ ngày trước, nhưng cả hôm nay nữa. Vậy mà Chúa Phục Sinh vẫn bước vào chính nơi đóng kín ấy - ‘thế giới mở, tâm hồn khoá.

do Gioan tiết lộ khi cửa phải khoá: “các ông sợ”. Nỗi sợ ấy không chỉ đến từ người Do Thái, nhưng còn từ sự vỡ vụn của những trái tim: họ từng bỏ chạy, từng chối Thầy, từng chứng kiến mọi hy vọng của mình bị đóng đinh. Vì thế, “cửa đóng kín” không đơn thuần là một chi tiết lịch sử, nhưng là hình ảnh của một con tim bị thương đang tự nhốt mình lại. Có lẽ đó cũng là điều đang xảy ra nơi chúng ta hôm nay. “Nỗi cô độc của con người bắt nguồn từ nỗi sợ rằng, nếu người khác biết hết con người thật của mình, chúng ta sẽ không còn được yêu nữa!” - Henri Nouwen.

Điều đáng chú ý là Chúa Phục Sinh không phá cửa để đi vào. Gioan cố ý giữ lại chi tiết ấy để cho thấy: quyền năng phục sinh không huỷ bỏ con người, nhưng đi xuyên qua những gì đang đóng kín nơi họ. Sau đó, Ngài “thổi hơi” trên các môn đệ - động từ enephysēsen gợi lại hơi thở của Thiên Chúa trong trình thuật tạo dựng Ađam. Hiện Xuống không chỉ là một an ủi, nhưng là một cuộc tạo dựng mới. Thánh Thần không đơn giản giúp con người “cảm thấy khá hơn”, nhưng làm họ sống lại từ bên trong.

Sống lại từ bên trong là không còn để mình bị nhốt trong nỗi sợ. Thánh Thần không cất các môn đệ khỏi thế giới, nhưng biến những kẻ từng im lặng và co cụm thành những con người có thể bước ra để “loan báo những kỳ công của Thiên Chúa” - bài đọc một. Điều đã chết nơi họ không phải thân xác, nhưng là lòng can đảm và khả năng yêu thương. Chính nơi những tâm hồn khoá kín ấy, Thánh Thần bắt đầu tái tạo. Thiên Chúa không phá cửa lòng, Ngài chờ một vết rách của hoán cải để bước vào. “Nhờ Thánh Thần, con người được phục hồi về địa đàng!” - Basiliô Cả.

Anh Chị em,

Chưa bao giờ thế giới năng động như hôm nay, cũng chưa bao giờ con người vong thân như hôm nay. Nhiều người vẫn sống, làm việc, kết nối và cười nói mỗi ngày, nhưng đang chết dần trong sợ hãi, cô đơn và chai . Vì thế, phép lạ lớn nhất của Hiện Xuống không phải là nói được nhiều thứ tiếng, nhưng là một con tim tưởng đã chết lại có thể yêu, tin và có thể bước ra khỏi chính mình. Có lẽ, giữa một thời đại ‘thế giới mở, tâm hồn khoá, nhân loại vẫn đang thiếu một hơi thở của Thánh Thần cho linh hồn mình.

Sống mà không có Thánh Thần chỉ là sự tồn tại của những xác chết biết cười!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Thánh Thần, xin mở những cánh cửa khoá phía trong của lòng con; bẻ gãy các chấn song và đưa con ra khỏi mọi chốn tù đày mà không còn luyến tiếc!”, Amen.

 Suy tư: Nỗi cô độc của con người ngày nay (so với ngày xưa, khi truyền thông chưa phát triển) bắt nguồn từ nhiều lý do: sợ người khác biết sự thật về mình - họ sẽ không yêu mình nữa, đề cao tự do cá nhân (không muốn mất thời giờ vì những chuyện mình không thích, có quá nhiều lựa chọn phương tiện giải trí), sự tự mãn về những chuyên môn mình biết và sự nổi tiếng trên mạng... 

Xin Chúa Thánh Thần giúp chúng con sống lại từ bên trong tâm hồn, biết sống chậm lại để biết chờ và cảm thông với sự chậm chạp - yếu đuối của tha nhân trong nhiều lãnh vực, dẹp bớt sự tự mãn nơi mình để giúp người khác vượt qua những nỗi đau họ đang mang nơi thân xác và tâm hồn họ. Amen.

 

Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2026

NÀO AI CHỨA NỔI

 



(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra!”.

“Hãy coi Kinh Thánh như một tấm bản đồ. Nó chỉ đường cho bạn, nhưng bản đồ không phải là hành trình. Muốn thật sự biết một vùng đất, bạn phải lên đường, ở lại và khát khao nó!” - Charles Swindoll.

Kính thưa Anh Chị em,

“Bản đồ không phải là hành trình!”. Gioan kết thúc Tin Mừng của mình bằng một hình ảnh gần như “quá đáng”: nếu viết hết mọi điều về Chúa Giêsu, cả thế giới cũng không chứa nổi sách. Nói cách khác, ngôn ngữ nhân loại chỉ là một chiếc áo quá chật cho mầu nhiệm Đức Kitô - Đấng ‘nào ai chứa nổi’.

Điều Gioan muốn nói không phải là các Tin Mừng thiếu sót, nhưng là mầu nhiệm Đức Kitô luôn vượt quá khả năng chứa đựng của ngôn ngữ. Các nhà chú giải gọi đây là một “hyperbole Gioan” - một kiểu cường điệu thần học Gioan - nhằm mở ra cảm thức kinh ngạc trước sự vô tận của Đức Kitô. Vì thế, Tin Mừng không phải là một “hồ sơ đầy đủ” về Ngài, nhưng là cánh cửa dẫn con người bước vào tương quan sống động với Thiên Chúa. Đó là lý do càng gần Đức Kitô, con người càng thấy mình chưa biết Ngài. Kẻ tưởng mình đã hiểu thấu Thiên Chúa thật ra chỉ đang thờ lạy một ảo ảnh do chính mình vẽ ra. “Nếu bạn hiểu được Ngài, thì đó không còn là Thiên Chúa!” - Augustinô.

Nhưng Gioan không muốn người đọc chỉ đứng nhìn “tấm bản đồ” - thứ có thể chính xác tuyệt đối nhưng không bao giờ thay thế được hành trình. Người ta có thể biết rất nhiều về Chúa Giêsu qua Kinh Thánh, thần học hay sách vở mà vẫn chưa thật sự gặp Ngài. Vì thế, Tin Mừng không nhằm nhốt Đức Kitô trong chữ nghĩa, nhưng dẫn con người đến một cơn khát gặp Ngài qua cầu nguyện, Thánh Thể, đau khổ, tha nhân và đời sống thường ngày.

Chính cơn “khát” ấy đã đẩy Phaolô đi đến tận cùng hành trình của mình. Bị giam lỏng tại Rôma, ông vẫn tiếp đón mọi người và không ngừng rao giảng - bài đọc một. Phaolô hiểu rằng, Đức Kitô không phải một ý tưởng để hiểu một lần cho xong, nhưng là một Đấng để sống, để tìm kiếmthuộc về và loan báo. Nhờ đó, muôn dân “được chiêm ngưỡng thánh nhan” - Thánh Vịnh đáp ca. Và càng chiêm ngưỡng Ngài, con người càng khao khát Ngài hơn. “Chiêm ngắm đích thực Đấng ta tìm kiếm hệ tại ở chỗ không bao giờ ngừng khao khát Ngài!” - Grêgôriô Nyssa.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là dung mạo hữu hình của một Chúa Cha, Đấng cửu trùng không chứa nổi. Ngài đến giữa thế gian không để khép Thiên Chúa vào những trang sách hay khái niệm, nhưng để mở con người ra trước một mầu nhiệm vô tận. Vì thế, theo Đức Kitô không phải là nghĩ mình đã hiểu hết Thiên Chúa, nhưng là mỗi ngày bước sâu hơn vào tương quan với Ngài. Có những người biết rất nhiều về Chúa mà lòng vẫn khô cạn; nhưng cũng có những tâm hồn âm thầm cầu nguyện, yêu thương và đau khổ với Chúa mà lại chạm rất gần trái tim Thiên Chúa. Bản đồ có thể vẽ đúng con đường, nhưng chỉ bàn chân rớm máu mới chạm tới đích đến. Có lẽ, chỉ những ai thật sự khao khát mới bắt đầu bước vào Đấng ‘nào ai chứa nổi’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giữ lòng con đói khát Chúa; cho con biết kinh ngạc khi nhận ra rằng, Chúa còn khao khát con hơn cả con khao khát Ngài!”, Amen.

Suy tư: Ông Phê rô được Chúa hé lộ về tương lai cuộc đời, nhưng ông còn muốn biết về tương lai bạn mình (Gioan) sẽ thế nào? - Chúa trả lời: chuyện tương lai bạn ấy không liên quan gì đến con, phần con cứ theo Thầy. Câu nói của Chúa hướng chúng ta đến 2 từ ‘ơn gọi”.

Chúa gọi ai vào bậc sống nào, vào công việc nào, đó là do Chúa muốn. Kẻ được chọn đừng tự hào vì mình giỏi hơn hoặc xứng đáng hơn người khác, kẻ không được chọn đừng mặc cảm tự ti mình thua kém, mà cho dù thua kém mình cũng phải chấp nhận vì Chúa trao cho mỗi người số nén bạc khác nhau và kẻ nhận nhiều thì sẽ phải trả nhiều hơn. Và điều quan trọng cần nhớ nữa là Chúa ban ơn riêng cho từng công việc và chức vụ - miễn là mình làm việc vì Chúa, tin vào sức mạnh của Chúa. Đừng sống theo kiểu ‘ai sao tôi vậy’, vì Chúa có một kế hoạch cho mỗi cuộc đời: phần con, hãy theo Thầy.

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2026

SAI NHỮNG KẺ MONG MANH

 



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Như Cha đã sai con đến thế gian, con cũng sai họ đến thế gian”.

Ngày kia, Thomas Edison đem về cho mẹ một tờ giấy. Đọc xong, bà ôm con và nói, “Con là một thiên tài; trường này quá nhỏ cho con!”. Nhiều năm sau, Edison mới biết mảnh giấy thật sự viết, “Con bà quá chậm, chúng tôi không nhận!”. Ông đã khóc và viết, “Một người mẹ anh hùng đã biến một đứa trẻ bị loại thành thiên tài!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Nếu có một bà mẹ kỳ vọng vào con, thì Chúa Giêsu càng kỳ vọng vào các môn đệ của Ngài. Họ không chỉ thay đổi thế giới, nhưng còn dự phần cứu độ nó! Tin Mừng hôm nay tiết lộ niềm tín nhiệm đầy nghịch lý ấy: Thiên Chúa không sợ ‘sai những kẻ mong manh’.

Điều đáng kinh ngạc trong Tin Mừng Gioan là Chúa Giêsu không xây dựng Hội Thánh bằng những con người hoàn hảo. Phêrô sẽ chối Thầy, Tôma sẽ nghi nan, các môn đệ sẽ bỏ chạy; vậy mà Ngài vẫn sai họ đi. Động từ Hy Lạp apostellō - “sai đi” - không chỉ mang nghĩa giao nhiệm vụ, nhưng còn diễn tả việc được tham dự vào chính sứ mạng ấy. Vì thế, Kitô hữu không phải là những người mạnh mẽ hơn người khác, nhưng là những kẻ mong manh được Thiên Chúa tín nhiệm và trao phó Tin Mừng.

Thiên Chúa thường gửi đi những con người đủ yếu” cho sứ mạng họ nhận lãnh. Vì thế, sự mong manh không phải điều cản trở, nhưng lại là nơi quyền năng Thiên Chúa biểu lộ. Chúa Giêsu không chờ các môn đệ hoàn hảo rồi mới sai họ; Ngài ‘sai những kẻ mong manh’ giữa yếu đuối và thất bại, để họ học biết cậy dựa vào Ngài. Bình sành có nứt thì Ánh Sáng bên trong mới toả ra“Nếu mục tiêu là sự lệ thuộc vào Thiên Chúa, thì yếu đuối lại là một lợi thế!” - Alistair Begg.

Phaolô hiểu rất rõ sự mong manh ấy. Ông biết “sói dữ”xiềng xích và chống đối chờ mình, nhưng vẫn bước đi. Vì Phaolô không cậy dựa vào sức riêng, nhưng vào “Lời ân sủng” - bài đọc một. Vậy mà giữa một thế giới đầy bất an, Thánh Vịnh đáp ca vẫn có thể reo lên, “Hỡi vương quốc trần gian, nào hát khen Thượng Đế!”; vì Tin Mừng chưa bao giờ được trao cho những kẻ bất khả chiến bại, nhưng cho những kẻ dễ vỡ. Kẻ tưởng mình bất khả chiến bại là kẻ đầu tiên bị loại khỏi cuộc chơi của ân sủng.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là “Đấng được sai đi” đầu tiên - Đấng đã tự nguyện mang lấy mọi mong manh của phận người. Ngài bước vào thế gian không bằng quyền lực, nhưng với một thân xác có thể bị phản bội, tổn thương và đóng đinh. Thế nhưng, chính trong sự yếu hèn ấy, quyền năng cứu độ của Chúa Cha được biểu lộ. Vì thế, theo Chúa Kitô không phải là trở nên bất khả tổn thương, nhưng là dám để đời mình được Ngài sử dụng, ngay trong yếu đuối. Sự thánh thiện không nằm ở chiếc áo không tì vết, nhưng ở bàn chân lấm bùn vẫn dám bước điCó lẽ đó là lý do Chúa Giêsu vẫn tiếp tục ‘sai những kẻ mong manh’. “Thiên Chúa không đòi chúng ta thành công, nhưng để mình được Ngài sử dụng!” - Madeleine Delbrêl.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con không mạnh mẽ như con tưởng; nhưng nếu Chúa vẫn còn tin con, xin cho con đủ can đảm đứng dậy và tiếp tục đi tới!”, Amen.

Suy tư:

-Chúa Giê su xây dựng Hội Thánh bằng những con người không hoàn hảo, đó là một nghịch lý của Tin Mừng. Đầu óc chúng ta khó chấp nhận một người nào đó không học nhạc lý, phụng vụ - tu đức, cách điều hành, những đức tính nhân bản thiết yếu… mà lại làm ca trưởng, và những người có thu nhập cao trong mọi lãnh vực thường là những người có bằng cấp hẳn hoi. Ấy vây, vẫn có những luật trừ và có lẽ Chúa Giê su là người thường dùng luật trừ này nhất: Ngài về trời khi mọi sự đều dở dang, Ngài tín nhiệm bạn và tôi – sai mỗi người làm việc cho Ngài. Điều quan trọng là khiêm tốn nhận biết sự yếu đuối vô dụng của bản thân, nỗ lực bước theo Sự Thật (Lời Chúa) mỗi ngày để trở nên muối, men và ánh sáng cho đời.

-Bài trích sách Công Vụ Tông Đồ (20, 28-38) nói về chuyện có những sói dữ xuất hiện trong Giáo Hội, và bài Tin Mừng nói đến việc các môn đệ bị bắt bớ vì họ không thuộc về thế gian. Vậy mà một ước nguyện của Chúa Giê su là các môn đệ được nên một. Duy trì sự hiệp nhất và bình an quả là một cuộc chiến thật sự cho mỗi Ki tô hữu, vì sự bắt bớ đến từ bên trong cộng đoàn và từ thế gian, Thiên Chúa thường im lặng và không ra tay tiêu diệt mầm mống chia rẽ, thậm chí người con Chúa còn phải tập nhìn nhận là ý Chúa ngay cả những biến cố xảy ra do sự sai lầm của những vị lãnh đạo trong đạo, vì tin rằng: Thiên Chúa cho phép điều sai lầm xảy ra vì Ngài sẽ dùng quyền năng để sinh ra nhiều điều tốt lành hơn. Chúng ta chỉ thấy những hoa trái đó khi Thiên Chúa cho phép và thường là khi đã về bên Ngài.

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2026

VINH QUANG MANG DẤU ĐINH

 


Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Lạy Cha, giờ đã đến! Xin Cha tôn vinh Con Cha!”.

“Không vị thánh nào chọn đau khổ; họ chọn ý muốn của Thiên Chúa, cho dù điều đó có nghĩa là đau khổ!” - Oswald Chambers.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấyChúa Giêsu không chọn đau khổ, Ngài chọn ý muốn của Cha. Và từ đó, thập giá trở thành vinh quang mang dấu đinh.

Với Gioan, Chúa Giêsu không bao giờ gọi thập giá là thất bại; ngược lại, Ngài gọi đó là “giờ tôn vinh”. Doxa - “vinh quang” trong tiếng Hy Lạp - nơi Gioan không diễn tả quyền lực hay chiến thắng theo kiểu thế gian, nhưng là lúc tình yêu Thiên Chúa được tỏ bày trọn vẹn nhất. Vì thế, chính khi bị treo lên thập giá, Chúa Giêsu mới thật sự được “nâng lên”; và chính từ những dấu đinh ấy, vinh quang Thiên Chúa bắt đầu chiếu sáng. Với Hans Urs von Balthasar, chính nơi sự tự huỷ và vâng phục đến cùng của Đức Kitô mà vinh quang Thiên Chúa được mặc khải trọn vẹn nhất.

Thế nhưng, thế gian luôn sợ một thứ vinh quang mang dấu đinh. Con người thích một Thiên Chúa chiến thắng hơn là một Thiên Chúa chịu chết; thích ánh hào quang hơn những vết thương. Vì thế, thập giá vẫn là điều xúc phạm với lý trí và khó chấp nhận với lòng người. Nhưng chính nơi bị lột trần mọi quyền lực, thập giá mặc khải khuôn mặt thật của Thiên Chúa: không thống trị bằng sức mạnh, nhưng cứu độ bằng tình yêu. Vinh quang không có dấu đinh chỉ là thứ trang sức rẻ tiền của thế gian! Có lẽ vì thế, chỉ ai dám yêu đến đau mới bắt đầu hiểu thế nào là vinh quang của thập giá.

Phaolô đã hiểu thứ vinh quang mang dấu đinh’ đó khi ông để mình “bị Thần Khí trói buộc” mà tiến về Giêrusalem - bài đọc một. Ông biết xiềng xích và gian truân đang chờ mình, nhưng vẫn bước đi. Bởi lẽ, với Phaolô, điều quan trọng không còn là bảo vệ bản thân, nhưng là hoàn tất ý muốn của Thiên Chúa. Hành trình của người môn đệ chưa bao giờ là một cuộc dạo chơi trong vinh quang trần thế, nhưng là sự can đảm bước vào bóng tối để làm chứng cho Ánh Sáng. Vì thế, đệ tử của một Thiên Chúa chịu đóng đinh không thể đi tìm một ngai vàng để trị vì. Và khi một con người dám yêu Chúa lớn hơn sự an toàn của mình, thập giá bắt đầu trở thành lời ca tụng. Có lẽ vì thế, Thánh Vịnh đáp ca mới có thể reo lên, “Vương quốc trần gian, nào hát khen Thượng Đế!”.

Anh Chị em,

Đức Kitô hiểu rằng, giờ tôn vinh Chúa Cha không phải là lúc Ngài thoát khỏi thập giá, nhưng là lúc Ngài yêu và vâng phục đến cùng trên thập giá. Vì thế, nơi Ngài, đau khổ không còn là nơi Thiên Chúa vắng mặt, nhưng là nơi tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ mạnh mẽ nhất. Và có lẽ, mỗi khi chúng ta dám chọn ý Chúa hơn ý mình, dám yêu hơn giữ mình an toàn, đời chúng ta cũng bắt đầu mang lấy một ‘vinh quang mang dấu đinh’. Thà mang vết sẹo cùng Đức Kitô, còn hơn mang vương miện cùng thế gian! “Chiều xuống của đời người, chúng ta sẽ bị xét xử chỉ bởi tình yêu!” - Gioan Thánh Giá.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cứu con khỏi thứ vinh quang giá rẻ; dạy con yêu đến quên mình; và cho thập giá đời con cũng biết trổ sinh vinh quang Chúa!”, Amen.