Danh sách Blog của Tôi

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2026

GIỜ THỨ MƯỜI MỘT – VẪN TÌM


 

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Vì không ai mướn chúng tôi”.

Constantin Virgil Gheorghiu từng ám ảnh người đọc với Giờ Thứ Hai Mươi Lăm - giờ sau giờ cuối, khi mọi cứu thoát tưởng đã quá muộn. Trong thế giới ấy, điều đáng sợ không chỉ là con người không được cứu, nhưng không còn được nhìn như một con người.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay dừng ở giờ thứ mười một. Ngày gần tàn, người ta đã thôi tìm thợ; những con người cuối cùng vẫn đứng đó vì “không ai mướn”. Thế nhưng, giờ tưởng đã muộn vẫn là giờ Chủ Vườn còn đi tìm người - ‘giờ thứ mười một - vẫn tìm’.

Dụ ngôn trải dài một ngày, từ sáng sớm đến chiều tối. Điều lạ là Chủ Vườn không chỉ ra một lần: sáng sớm, giờ thứ ba, thứ sáu, thứ chín, rồi giờ thứ mười một, ông vẫn đi ra. Chưa được ai thuê, những người cuối cùng vẫn chưa bị bỏ qua.

Đáng chú ý, ở lần gọi cuối, không một lời nào về tiền công, không một lời nào về thời giờ; điều còn lại là một lời mời: “Hãy đi vào vườn nho!”. Ân huệ đầu tiên không phải là được tiền, nhưng là vẫn được gọi. Có những lúc điều con người cần nhất không phải là nhận thêm, nhưng được biết mình vẫn còn có một chỗ. Họ đã đứng suốt ngày mà không ai mướn; giờ đây, một lời gọi đưa họ vào. Trước khi trao cho họ điều gì, Chủ Vườn đã trao cho họ một nơi để thuộc về. “Ông đã đích thân gọi họ; ông biết phẩm giá của họ!” - Lêô XIV.

Chủ Vườn đi ra tìm người cũng chính là Mục Tử đi tìm chiên. Bước chân ấy đã vang từ rất xa xưa. Những mục tử Israel chỉ biết chăn chính mình, để đàn chiên tản mác; Thiên Chúa tuyên bố: “Chính Ta sẽ chăm sóc chiên của Ta và thân hành kiểm điểm” - bài đọc một. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca không nói những con chiên tự tìm đường về, nhưng tuyên xưng: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi!”. Hoá ra, điều làm người giờ thứ mười một “chẳng thiếu thốn gì” không vì họ đã có mọi sự, nhưng vì có Đấng đi tìm mình.

Với chúng ta, “giờ thứ mười một” có khi là lúc nhìn lại và tưởng phần đẹp nhất của đời mình đã ở phía sau. Tin Mừng không bảo chúng ta quay lại buổi sáng; chỉ cho thấy ngay ở giờ này, Chúa vẫn đi tìm tôi. “Đối với tình yêu Thiên Chúa, không ai là vô dụng hay vô nghĩa!” - Phanxicô. Những gì chưa thành không có quyền nói lời cuối về một đời người. Có thể chúng ta đã thôi hy vọng vào mình; Ngài thì chưa.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, Thiên Chúa đi đến tận cùng cuộc tìm kiếm con người. Ngài rời vinh quang, đi vào phận người, rồi xuống tận nơi không ai có thể đi xa hơn: sự chết. Trên thập giá, Ngài bước vào giờ tưởng mọi cứu thoát đã quá muộn; chính ở đó, một người trộm lành còn được Ngài gọi vào Nước Trời. Trong mồ, Ngài ở nơi mọi dấu chân đều dừng lại; nhưng cũng từ đó, Ngài trỗi dậy. Phục Sinh cho thấy cái chết có thể chặn bước con người, nhưng không thể chặn bước Thiên Chúa. Nơi tưởng đã hết đường, tình yêu vẫn lên đường - ‘giờ thứ mười một - vẫn tìm’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, vì những gì đã muộn, đừng để con tuyệt vọng; vì lạc lối vô bờ, con tin Chúa vẫn tìm; và dù ở giờ nào, xin cứ gọi con vào!”, Amen.

Suy tư:

-Trong Tin Mừng, có những câu chuyện mạc khải về lòng thương xót của Thiên Chúa mãi đánh động tấm lòng con người, làm ta luôn sững sờ vì quá khác với lòng người. Đấng Đáng Kính Fx. Nguyễn Văn Thuận gọi đó là một trong những khuyết điểm của Chúa 'Ngài không giỏi tính toán' : người trộm lành trên thập giá được Chúa quên hết tội, người công nhân giờ thứ 11 chỉ làm có 1 giờ mà vẫn được trả công bằng với kẻ làm từ sáng sớm, người đàn bà tìm lại đồng bạc bị mất liền kêu bạn bè đến ngay trong đêm và ăn mừng, con chiên bị mất có giá bằng (hoặc hơn) 99 con không bị mất...

-Hai chữ 'lẩm bẩm' nói lên sự so sánh và phân bì. Một trong những điều làm lộ tính kiêu ngạo của con người là phân tích 'tại sao người này được may mắn, kẻ kia gặp tai ương' vì khi xét đoán là ta tự cho mình 'khôn' bằng Thiên Chúa. Đành rằng chúng ta vẫn được dạy rằng: cha mẹ hiền lành để đức cho con, đời cha ăn mặn đời con khát nước... nhưng phải tránh những kết luận trong tư tưởng - trong lời nói 'kẻ này gặp hoạn nạn là do cha mẹ sống không tốt' vì lời này đụng vào lý đoán nhiệm mầu của Chúa, là Đấng lòng người không dò thấu và tư tưởng của Ngài cao rộng như trời mây so với mặt đất. Chúng ta thường không đau khổ vì gặp thất bại cho bằng chứng kiến thành công của kẻ khác.

-Đức Tổng Giám mục Fulton J. Sheen (1895–1979) có một hình ảnh rất dễ thương về thiên đàng. Tôi nghĩ rằng khi đến thiên đàng, có 3 điều ngạc nhiên: điều thứ nhất là những người tôi không ngờ lại có mặt ở đó, điều thứ hai là những người tôi tưởng ở đó lại vắng mặt, và điều bất ngờ lớn nhất là do lòng thương xót Chúa, tôi lại có mặt ở đó.

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2026

NHƯNG GẤP BỘI

 


Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp”.

“Sự sống được trao cho chúng ta; chúng ta sinh lợi nó bằng cách trao ban!” - Rabindranath Tagore.

Kính thưa Anh Chị em,

Giữ lại, sự sống nhỏ đi; trao ban, sự sống lớn lên. Tin Mừng hôm nay còn đi xa hơn: những gì trao cho Chúa tưởng như mất đi. Thế mà không - ‘nhưng gấp bội’; và trên cả gấp bội, còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp.

Cái “gấp bội” bắt đầu từ điều không thể: người thanh niên vừa bỏ đi, Chúa Giêsu nói đến con lạc đà và lỗ kim. Các môn đệ sửng sốt: “Thế thì ai có thể được cứu?”. Họ hiểu, Chúa Giêsu không chỉ nói về người giàu, nhưng đang đánh sập một ảo tưởng: con người có thể tự bảo đảm phần rỗi. Ngài không mở rộng lỗ kim, cũng không thu nhỏ lạc đà; Ngài hướng mắt họ về phía Thiên Chúa: “Đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể được”. Không ai tự bước qua cái không thể; chỉ Thiên Chúa mới đưa họ qua.

Phêrô đã bỏ lưới, nhưng chưa bỏ phép tính: “Phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?”. Chúa Giêsu không trách ông; Ngài mở phép tính ấy đến vô cùng. Bản Hy Lạp viết palingenesia - “thời tái sinh”. Phêrô hỏi phần mình sẽ nhận lại gì ở đời này; Chúa Giêsu đặt trước ông cả một cuộc tạo thành mới. Phêrô kê ra phần mình đã bỏ; Chúa Giêsu cho một đáp số vượt mọi phép tính: một trời mới đất mới. “Gấp bội” không phải là hoàn vốn, nhưng là bước vào sự sống Thiên Chúa đang mở ra, nơi không điều gì đã trao cho Ngài bị mất đi.

Bài đọc Cựu Ước phơi ra một thứ “gấp bội” khác. Nhờ “rất khôn ngoan và có tài buôn bán”, thủ lãnh Tia tích luỹ vàng bạc; của cải càng đầy, lòng ông càng cao. Ông tưởng mình đã vượt khỏi phận người đến mức tự nhận: “Ta là thần!”. Nhưng trước lưỡi gươm của kẻ sát hại, ảo tưởng ấy sụp đổ: ông chỉ là người! Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca xác lập chủ quyền tối hậu của Thiên Chúa trên sự sống: “Ta cầm quyền sinh tử!”. Con người có thể làm cho của cải sinh lợi gấp bội, nhưng không thể kéo dài đời mình thêm một ngày.

Cũng thế với chúng ta. Đôi lúc, trao cho người một giờ, chờ một lời cảm ơn; dâng cho Chúa một điều, lại thầm hỏi sao Ngài chưa bù lại nhiều hơn. Nhưng ân sủng không hoàn vốn. Điều trao đi vượt khỏi kích thước nhỏ hẹp của chúng ta để bước vào sự phong nhiêu của Thiên Chúa: một hy sinh âm thầm có thể giữ ấm cả một gia đình; một đời tận hiến có thể làm chín vàng những cánh đồng mãi ngoài tầm mắt.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, cái ‘gấp bội’ của Thiên Chúa mang hình một thập giá. Trên đó, Ngài mất hết - áo xống, danh dự, cả hơi thở - nhưng vẫn trao mình vào tay Cha. Chúa Cha đã làm cho Ngài trỗi dậy trong một sự sống không còn chết nữa. Một cuộc tạo thành mới bừng lên từ ngôi mộ trống. Thập giá tưởng mất sạch. Thế mà không! Phục Sinh làm phát sinh điều chưa từng có và thực hiện điều loài người không thể. Không chỉ được lại, ‘nhưng gấp bội’: một Người Con trao mình, một nhân loại được đưa về nhà Cha.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con dám trao mà không tính toán; dám mất mà không sợ hãi; và tin rằng trong tay Chúa, mọi hy sinh sẽ sinh hoa kết trái ‘gấp bội!’”, Amen.

Suy tư:

-Đối với Thiên Chúa, mọi sự đều có thể. Chúng ta thường dùng câu này để thêm xác tín trong lời cầu nguyện, nhưng hôm nay cha Minh Anh mở rộng nó đến lãnh vực ơn cứu độ: con người không thể tự bảo đảm phần rỗi. Thiên Chúa thường thanh luyện, Thiên Chúa ban tặng cách nào tùy Người (người công nhân giờ thứ 11).

-Bài đọc 1 rất đáng cho ta ngẫm nghĩ: vua Tia rất khôn ngoan và có tài buôn bán, sinh ra tự cao cho mình ngang hàng với các thần, nhưng rồi sự chết đến. Chúa Giê su nói: các con không thể làm tôi hai chủ, không thể đặt trọng tâm đời mình trên của cải và Thiên Chúa được. 

-Bài Tin Mừng hôm nay thường được dùng trong các thánh lễ truyền chức và khấn dòng: các con đã bỏ mọi sự vì Thầy thì sẽ được lợi gấp trăm ở đời này và được sự sống đời đời. Xin đừng ai ảo tưởng rằng: đời tu rất êm đềm, không phải lo cái ăn cái uống, an bình và hạnh phúc. Điều quan trọng trong đời tu là nên trọn lành trong sự tự nguyện dâng hiến, nên giống Chúa và được chính Chúa làm gia nghiệp cả đời này và đời sau... Dâng hiến mạng sống mình để đáp lại tình yêu Giê su cũng là động lực chính thúc đẩy các thánh tử đạo can trường chịu đổ máu.

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2026

NHỮNG NGHI NGỜ CỦA BÀ LÃO


 

Lm. Mark Link, S.J.

Chủ đề: “Cách thức để triển nở đức tin là thực hành nó, đặc biệt trong việc yêu thương tha nhân.”

 

Một bé gái 6 tuổi đến ăn tại nhà một người bạn.  Khi mọi người ngồi vào bàn, cô bé cúi đầu chờ đợi mọi người đọc kinh ăn cơm.  Chẳng thấy ai đọc kinh hết, cô bé thẹn thùng nói: “Cả nhà giống con chó nhà cháu quá, cứ ngồi xuống là ăn!”

Dân Do Thái cũng nghĩ như thế đối với đám dân ngoại.  Theo họ, dân ngoại xét về mặt thiêng liêng cũng giống như loài chó vì họ hoàn toàn thiếu nhạy cảm đối với Thiên Chúa.  Ðiều này dẫn chúng ta đến chủ điểm quan trọng của bài Phúc Âm hôm nay.

 

Các học giả nhận xét là từ ngữ Hy Lạp mà Chúa Giêsu nói về “lũ chó” trong câu “không nên ném thức ăn cho lũ chó” là một hình thức giảm thiểu.  Nó ám chỉ lũ chó cưng nuôi trong nhà, chứ không phải những con chó rông ngoài đường.  Chúa Giêsu dùng từ ngữ ấy một cách thân ái.  Câu đáp lại của người phụ nữ cho thấy rõ điều ấy.  Có lẽ bà ta vừa mỉm cười vừa nói:


“Những lũ chó cũng được ăn vụn bánh rơi xuống nền nhà chứ!”

 

Nói cách khác, bà ta đang nói với Chúa Giêsu: “Con biết Ngài hiện đang dành ưu tiên cho dân Israel, tuy nhiên trong khi Ngài thiết đãi họ, Ngài lại không thể đẩy cho con chút ít bánh vụn giống như đám nhóc quăng bánh xuống cho lũ chó cưng khi bố mẹ chúng không nhìn thấy sao?”

 

Chúa Giêsu liền trả lời cho bà ta:Bà là người phụ nữ giàu lòng tin!  Điều bà mong muốn sẽ được trao ban cho bà.

 

Thật đẹp biết bao nếu Chúa Giêsu cũng nói như thế về anh chị em.

 

Ðiều này gợi lên một vấn nạn: Tại sao một số người có đức tin mạnh mẽ trong khi số khác đức tin lại yếu kém?  Tại sao lại thấy đó là điều khó khăn?  Và điều đó dẫn đến một vấn nạn còn khó khăn hơn: Nếu đức tin của chúng ta yếu kém thì liệu chúng ta có thể làm gì để củng cố?  Chúng ta hãy xét vắn tắt từng vấn nạn nêu trên.

 

Trước hết, tại sao có những người đức tin yếu kém và có những người đức tin mạnh mẽ?  Ðiều này cũng giống hệt như việc hỏi tại sao có người yếu nhược còn có người lại khỏe mạnh?

 

Một số người có sức khỏe yếu kém là do cha mẹ họ.  Họ thừa hưởng một thân xác eo sèo.  Nhưng cũng có những người sức khỏe yếu kém vì họ chẳng biết chăm sóc sức khỏe cho chính mình.

 

Ðiều đúng cho sức khỏe thể lý thế nào thì cũng đúng cho sức khỏe tâm linh đức tin của chúng ta như thế.  Một số người có đức tin yếu kém là do cha mẹ họ.  Sức khỏe tâm linh được di truyền cũng tương tự như sức khỏe thể lý.  Nếu bố mẹ lạnh nhạt với đức tin của mình thì điều này cũng thường tác động lên đám con cái họ.  Mặt khác, đức tin của chúng ta yếu kém cũng có thể là do chúng ta không chăm sóc nó.

 

Ðiều này dẫn chúng ta đến vấn nạn thứ hai.  Nếu đức tin chúng ta yếu kém bất kể vì lý do gì, chúng ta có thể làm gì để củng cố nó lại?  Ðức tin có thể được so sánh với một bắp thịt.  Nếu chúng ta không chịu luyện tập, bắp thịt ấy sẽ từ từ yếu đi.  Mặt khác, các bạn càng luyện tập, bắp thịt ấy càng mạnh mẽ lên.  Đức tin của chúng ta tương tự như thế.  Nó cũng cần phải được tập luyện.

 

Có nhiều phương cách luyện tập đức tin.  Chúng ta có thể học hỏi và bàn luận về Phúc Âm như hiện chúng ta đang làm.  Chúng ta có thể tham dự thánh lễ mà ít phút nữa chúng ta sẽ cử hành một cách chăm chú hơn.  Chúng ta có thể tập cầu nguyện mỗi ngày để việc cầu nguyện trở thành thói quen.

 

Tuy nhiên, còn một phương cách luyện tập đức tin chúng ta xem ra cực kỳ hữu hiệu.  Cách này đáng được lưu tâm đặc biệt.  Dostoevski có bàn đến nó trong tác phẩm của ông nhan đề: “Anh em nhà Karamazốp” (The Brothers Karamazov).  Trong tác phẩm này, tác giả đề cập đến một bà lão nọ.  Sức khoẻ thiêng liêng của bà đã suy thoái mau chóng theo sức khỏe thể lý.  Ngày nọ bà ta bàn luận vấn đề của mình với vị linh mục già tên là Zossima.  Bà kể cho cha nghe về đức tin yếu kém của bà những nỗi ngờ vực vừa phát sinh, chẳng hạn như: Thiên Chúa có thực sự quan tâm đến vạn vật không?  Có đời sống sau lúc chết không?

 

Linh mục Zossima thông cảm lắng nghe bà và nói: “Chẳng có cách nào minh chứng rõ ràng những điều này, nhưng bà vẫn có thể tin tưởng những điều ấy vững chắc hơn.”  Bà ta ngạc nhiên: “Bằng cách nào?”  Vị linh mục già đáp: “Bằng tình yêu.  Hãy cố gắng yêu láng giềng của bà thật tình.  Càng yêu thương, bà sẽ càng chắc chắn hơn về sự hiện hữu của Chúa và đời sống tương lai sau khi chết.  Càng yêu mến, đức tin bà sẽ càng lớn lên và các nỗi ngờ vực sẽ tiêu tan.  Ðây là điều chắc chắn từng được thử nghiệm và nó đã có kết quả.

 

Linh mục Zossima nói thật chí lý.  Người cho ta thấy điểm quan trọng là: tình yêu và đức tin đi đôi với nhau không khác gì hai đường rầy xe lửa.  Tìm được cái này tức là tìm thấy cái kia.  Ðức tin và tình yêu liên kết với nhau như xác với hồn.  Albert Schweitzer, vị bác sĩ thừa sai vĩ đại, cũng cùng quan điểm như trên trong cuốn sách của ông nhan đề Reverence For Life (Kính trọng cuộc sống).  Ông bàn đến một vài điều đem lại kết quả này như sau:

 

Bạn có muốn tin vào Chúa Giêsu không?  Bạn có thực sự muốn tin Người không?  Như thế bạn phải làm một điều gì đó cho Người.  Trong thời buổi đầy ngờ vực này thì không có cách nào khác đâu.  Nếu vì Người mà các bạn cho kẻ khác cái gì đó để ăn, để uống hoặc để mặc, những nghĩa cử này Chúa Giêsu đã hứa chúc phúc như là làm cho chính Người, thì lúc đó các bạn sẽ thấy rằng mình đã thực sự làm điều ấy cho Người.  Chúa Giêsu sẽ mặc khải chính Người cho các bạn như thể Người vẫn còn sống.

 

Và điều này dẫn chúng ta trở lại với người phụ nữ trong bài Phúc Âm.  Bà đến với Chúa Giêsu là vì kẻ khác, chớ không vì chính bà, Bà đã đến vì tình yêu, đã đến với tư cách một người mẹ đầy lòng yêu thương, tin tưởng.

 

Tôi xin nêu lên một gợi ý.  Tôi tin rằng mỗi bài Phúc Âm khi được đọc trong thánh lễ đều mang theo một ân sủng đặc biệt.  Nếu các bạn là một bậc cha mẹ cảm thấy cần củng cố đức tin của mình, thì hãy bắt chước người phụ nữ trên.  Ngay tuần này, các bạn hãy bắt đầu đến với Chúa Giêsu mỗi ngày đều đặn để kêu cầu Người chúc phúc cho con cái các bạn.  Nếu các bạn là một thanh niên cảm thấy cần củng cố đức tin của mình thì hãy làm điều Dostoevski và Schweitzer đã nói.  Hãy bắt đầu cư xử một cách yêu thương đối với bố mẹ và anh chị em của mình.

 

Và tôi xin chia sẻ thêm một tư tưởng nữa về vấn đề đức tin.  Bất cứ ai dù khỏe mạnh đến đâu cũng phải trải qua những khó chịu bởi vì cuộc sống con người vốn là như thế.  Chẳng hạn, vào ngày buồn sầu trong cuộc sống khi gặp phải cảm nghiệm chua chát, chúng ta thường gây gỗ với mọi người và mọi vật, chúng ta nguyền rủa kẻ thù và than phiền về bạn bè của mình.  Còn vào ngày hưng phấn trong cuộc sống.  Khi chúng ta cảm nghiệm được điều gì hoan hỉ, tự dưng chúng ta cảm thấy yêu mến mọi người và mọi sự.  Chúng ta tha thứ cho kẻ thù và thích tỏ tình thân thiện với bè bạn.

 

Ðức tin cũng rất giống như thế.  Có ngày rất tươi sáng và rất phấn khích, có ngày ảm đạm, sầu thảm.  Khi gặp phải một ngày “tồi tệ” của đức tin, các bạn hãy ghi nhớ câu chuyện có thực sau đây.  Nó sẽ giúp bạn chịu đựng ngày ấy và giữ vững niềm tin của mình.

 

Sau thế chiến thứ hai ít lâu, có một số công nhân lo dọn dẹp sạch sẽ tàn tích của một ngôi nhà bị bom ở Cologne (nước Ðức).  Họ thấy trên một bức tường nhỏ trong nhà, có một bản ghi chú đầy cảm động, hình như một người Do Thái trên đường trốn bọn Quốc Xã đã viết lên đó.  Anh ta dùng tầng hầm của căn nhà để trốn bọn Quốc Xã.  Sau đây là bản ghi chú đó:

 

Tôi tin vào mặt trời ngay cả lúc nó không chiếu sáng.
Tôi tin vào tình yêu ngay cả lúc tôi không cảm thấy nó.
Tôi tin vào Thiên Chúa ngay cả khi Người yên lặng
”...

 

Lm. Mark Link, S.J.

Suy tư:

Đức tin là hồng ân Chúa ban, nhưng đức tin mạnh hay yếu cũng còn tùy thuộc vào việc nuôi dưỡng (chăm sóc một ngọn lửa): học hỏi Kinh Thánh, tham gia phụng vụ (nhất là thánh lễ), thực hành việc yêu thương tha nhân: hãy thực hành những cử chỉ yêu thương nho nhỏ hằng ngày bằng việc chăm sóc người thân trong gia đình, đừng chờ việc lớn để làm - vì chưa làm được việc nhỏ thì đừng mong làm việc lớn! 

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2026

ĐỦ CỚ – VẪN KHÔNG BỎ



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ta sẽ nhớ lại giao ước đã lập với ngươi!”.

“Không phải tình yêu nâng đỡ hôn nhân; nhưng từ nay, chính hôn nhân nâng đỡ tình yêu!” - Dietrich Bonhoeffer.

Kính thưa Anh Chị em,

Con người thường nghĩ tình còn, hôn nhân còn; nhưng có lúc, chính hôn nhân giữ cho tình khỏi chết. Với Thiên Chúa, giao ước đã biểu lộ một tình yêu ‘đủ cớ - vẫn không bỏ’.

Để thử Chúa Giêsu, người Pharisêu hỏi: “Có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không?”. Họ tìm lý do để bỏ; Ngài nêu lý do họ bỏ: “lòng chai dạ đá”. Bản Hy Lạp viết sklērokardía - không chỉ là chai lòng, nhưng là một trái tim đã hoá cứng đến mức không còn đau nỗi đau của người khác. Môsê cực lòng bật đèn ly dị vì sự trơ lì ấy, chứ không biến nó thành ý định của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đưa họ về “thuở ban đầu”: giao ước đã nên “huyết nhục” - đi vào máu thịt. Họ tìm ‘đủ cớ’ để bỏ; Ngài nại hôn ước để giữ. “Tình yêu họ cam kết với nhau lớn hơn bất cứ cảm xúc, tình cảm hay trạng thái tâm hồn nào!” - Phanxicô.

Nếu ai đó có đủ lý do để bỏ, thì người ấy chính là Thiên Chúa. Giữa đồng, Giêrusalem giãy giụa trong máu, Ngài cúi xuống, phủ áo, nhặt về, làm cho nên xinh đẹp. Và Ngài kết ước với nó. Nhưng vừa lớn lên, nó đã cậy sắc mà phản bội Đấng cứu mình. Nó lấy quà tặng để ngoại tình; lấy ân huệ mà phản bội. Vậy mà sau tất cả, Ngài vẫn phán: “Ta sẽ nhớ lại giao ước đã lập với ngươi! - bài đọc một. Con người nhớ lỗi, quên thề; Thiên Chúa tha lỗi, nhớ thề. Vì “Giờ đây cơn giận đã nguôi rồi, và Chúa lại ban niềm an ủi” - Thánh Vịnh đáp ca.

Hiếm khi chúng ta bỏ nhau chỉ trong một ngày. Nhưng “lòng chai dạ đá” đã bắt đầu nhen nhóm khi tôi chỉ biết mình bị tổn thương. Hôn ước không phủ nhận lỗi lầm hay dung túng bạo hành; nhưng cũng không lấy một lỗi lầm để định nghĩa cả một con người. Chúa không hỏi Israel còn gì đáng yêu; Ngài chỉ hỏi giao ước còn ý nghĩa gì. Chúng ta thường chỉ cần người kia hết đáng yêu là lời thề cũng hết nghĩa; đang khi Thiên Chúa lại chưa bao giờ thôi yêu. Vì thế, dù trong hôn nhân hay độc thân vì Nước Trời, mọi ơn gọi đều là học ở lại với Đấng đã gọi mình.

Anh Chị em,

“Tình yêu không biết chiều sâu của chính mình cho đến giờ ly biệt!” - Kahlil Gibran. Trên thập giá, Đức Kitô không nói về lòng trung tín; Ngài trở thành Đấng trung tín. Nhân loại ruồng rẫy, đuổi bỏ và ly dị Ngài; Ngài vẫn ở lại, đi vào tận cùng nỗi đau của kẻ bị bỏ, để không một tội nhân nào ở ngoài giao ước. Máu chảy không đòi báo oán, nhưng trở thành “máu giao ước” thứ tha. Khi sống lại, Ngài trở về không với bản liệt kê tội trạng, nhưng với lời “Bình an cho anh em!”. Thương tích vẫn còn đó; nhưng trong tay Ngài, không còn là chứng cứ kết án, mà là dấu ấn của một tình yêu lớn hơn mọi phản bội - có tên ‘đủ cớ - vẫn không bỏ’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi nhớ lỗi, cho con nhớ lời thề; khi cạn yêu, cho con kín múc sức yêu từ ‘máu giao ước’; khi đủ cớ để bỏ, cho con ở lại như Ngài!, Amen.

Suy tư:

Thảm cảnh ly thân và ly dị dường như càng ngày càng lan rộng đến cả các xứ đạo, có nơi tỷ lệ là 10% (80 cặp trên 800 hộ). Một câu hỏi thường được đặt ra: tại sao thời thế hệ ông bà cha mẹ (thế hệ 1) việc tìm hiểu nhau rất hạn chế - chủ yếu là do mai mối -lấy nhau khi còn trẻ con, vậy mà vẫn chung sống đến đầu bạc răng long; so sánh với thời nay (thế hệ 2 và 3), việc tìm hiểu kỹ lưỡng - trực tiếp gặp gỡ - được học về giáo lý... mà lại xảy ra nhiều đổ vỡ trong hôn nhân đến thế? Nếu nói ma quỷ, cơ hội sa ngã, đam mê, lòng tham... thì thời nào chẳng có?- Thưa, chỉ vì lòng chai dạ đá: một trái tim đã hoá cứng đến mức không còn đau nỗi đau của người khác, người ta mong lấy nhau khi trẻ để cậy nhau khi già.

Chúng ta được mời gọi trở nên hoàn thiện như Cha trên trời, học điều gì nơi Thiên Chúa? - Thưa học lòng nhân từ, Chúa làm mưa làm nắng trên cả kẻ lành và người dữ; học lòng thương xót: Chúa tha thứ và yêu thương Israel dù biết rõ đó là một dân bội phản, Con Một Chúa đã đổ đến giọt máu cuối cùng cho một nhân loại đồng tâm treo Đấng cứu độ lên thập giá; học lòng trung tín, cho dù người mẹ có quên con mình đã sinh thì Ta sẽ không bao giờ quên con - Chúa không bao giờ quên điều đã hứa.

Con người thời đại suy nghĩ và biện minh cho sự cứng lòng và tráo trở của mình "khi không còn tình yêu thì giải thoát cho nhau", các tòa án thường nêu lên lý do 'những bất đồng không thể tháo gỡ' để đưa ra kết luận 'ly dị là điều hợp lý và tốt nhất'. Nhưng dù lý luận thế nào, thì ẩn phía sau là một thất bại của cuộc đời: một sự cứng lòng, con đẻ của ma quỷ, một điều đáng chê trách vì đã phản bội lời thề hứa. 


Thứ Tư, 12 tháng 8, 2026

QUÊN MỚI NHỚ



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Anh em đừng lãng quên những việc Chúa làm!”.

“Không gì giúp chúng ta dễ tha thứ hơn bằng việc luôn nhớ rằng mình đã được thứ tha!” - Lewis B. Smedes.

Kính thưa Anh Chị em,

Khi ký ức về lòng thương xót còn sống, lòng tha thứ sẽ không chết. Muốn nhớ điều đáng nhớ, đôi khi phải biết quên điều cần quên. Thì ra, ‘quên mới nhớ’.

Phêrô hỏi: “Phải tha đến mấy lần?”. Thay vì trả lời bằng một con số, Chúa Giêsu kể dụ ngôn một người đầy tớ vừa được chủ xoá món nợ khổng lồ; nhưng vừa bước ra, anh bóp cổ bạn mình vì một món nợ nhỏ. Khoảng cách giữa được tha và không tha gần như bằng không. Món nợ đã được xoá, trái tim vẫn chưa đổi. Đó cũng là bi kịch của đời sống thiêng liêng: ân sủng có thể đổi đời người, nhưng chỉ tình yêu được cảm nhận mới đổi được trái tim. Điều đã được ban chưa kịp trở thành điều được sống. Bản Hy Lạp viết epnigen - “bóp cổ”, không chỉ là hành vi bạo hành thể xác, nhưng còn là bóp nghẹt sự sống. Khi lòng thương xót không đi vào trái tim, con người bắt đầu làm tắc nghẽn sự sống của nhau.

Êzêkiel gọi đó là căn bệnh của một dân “có mắt để nhìn mà không thấy, có tai để nghe mà không nghe” - bài đọc một. Người đầy tớ thấy rất rõ món nợ của bạn mình, nhưng đã quên lòng thương xót chủ vừa dành cho anh. Thánh Vịnh đáp ca nhắc nhở: “Anh em đừng lãng quên những việc Chúa làm!”. “Hỡi linh hồn, hãy nhớ mọi ân huệ của Thiên Chúa khi nhớ đến mọi tội lỗi của mình!” - Augustinô. Thiên Chúa không xin chúng ta quên quá khứ; Ngài chỉ xin chúng ta nhớ quá khứ dưới ánh sáng của lòng thương xót. Tha thứ không thay đổi quá khứ, nhưng thay đổi quyền lực của quá khứ. Chúa không xoá ký ức; Ngài cứu chuộc ký ức. Chỉ khi còn nhớ mình đã được xót thương, chúng ta mới thôi đếm món nợ của người khác. Thì ra, ‘quên mới nhớ’.

Chúng ta hiếm khi đối xử với nhau như người đầy tớ trong dụ ngôn, nhưng không ít lần vẫn cầm người khác trong những món nợ vô hình. Khi ký ức chỉ còn là những món nợ, nó sẽ làm nghẹt thở không chỉ người khác, mà cả chính mình. Mỗi lần từ chối tha thứ, điều đầu tiên mất đi không phải là tự do của người khác, nhưng là tự do của mình. Không ai có thể sống bằng lòng thương xót khi trái tim vẫn chất đầy những món nợ. Quá khứ không giam ai; chính món nợ chúng ta vẫn đòi nơi quá khứ mới giam cầm chúng ta.

Anh Chị em,

Trên thập giá, Đức Kitô mang lấy mọi món nợ của nhân loại mà không đòi lại một món nào. Từ cạnh sườn bị đâm thâu, Ngài không chỉ tuôn đổ ơn tha thứ, nhưng còn khai sinh một trái tim mới - một trái tim biết tri ân hơn là oán hận. Đứng dưới chân thập giá, chúng ta mới học được điều tưởng như không thể: quên món nợ của anh em để nhớ mãi tình yêu cứu chuộc của Thiên Chúa. “Chỉ khi đặt nền trên sự tha thứ đi trước và khôn dò của Thiên Chúa, con người mới có thể vượt qua những giới hạn của thiện chí mình!” - Hans Urs von Balthasar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

Lạy Chúa, xin cho con chỉ nhớ điều Chúa muốn con nhớ, quên điều Chúa muốn con quên, và giữ lại trong tim điều làm Chúa vui lòng!”, Amen.

Suy tư:

 Đức Phan xi cô dạy: Thỉnh thoảng hãy nhớ lại lịch sử đời mình để biết tạ ơn Chúa vì những ân huệ cụ thể Ngài ban. Đến với Chúa, chúng ta thường xin ơn nhiều hơn tạ ơn. Và chúng ta thường tạ ơn Chúa một cách chung chung: vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương, vì muôn ơn lành Chúa ban, vì mọi điều con có là do nơi Ngài, vì công trình tạo dựng và cứu chuộc, vì Con Một Chúa đã chết và sống lại để mang lại ơn giải thoát cho nhân loại... chúng ta tạ ơn dựa theo công thức mà con tim chẳng mảy may rung động, tại sao? Thưa: những điều trên là điều ai cũng có, và đôi khi ta còn bị cám dỗ nghĩ rằng chúng chỉ  là con đẻ của trí tưởng tượng hoặc suy tư thần học!

Có câu chuyện kể về 2 người bạn trên đường đi khám phá thiên nhiên, họ cãi nhau và anh A đã tát vào mặt bạn mình, Người này lẳng lặng ghi lên cát 'hôm nay, người bạn thân đã tát vào mặt tôi', họ tiếp tục lên đường - và đến một lúc anh B bị rơi vào vùng cát lún, và anh được người kia giúp ra khỏi nơi nguy hiểm, anh lấy thanh gươm và khắc vào đá 'hôm nay, người bạn thân đã cứu mạng sống tôi'. Thế đó, nỗi bất bình được ghi trên cát để gió cuốn đi, còn ân tình phải được ghi lên đá để lưu giữ lâu dài. Chúng ta thường làm ngược lại: nỗi buồn, nỗi oán hận, sự vô tâm, sự xúc phạm được ghi vào nhật ký, đưa lên mạng xã hội, được kể đi kể lại... còn ân nghĩa chẳng có nơi lưu giữ... đời mất vui và đời buồn là thế: phải quên ân oán mới có khả năng nhớ ân phúc mà Chúa và tha nhân đã làm cho mình. Câu chuyện Tin Mừng Chúa kể cũng chính là câu chuyện của mỗi người chúng ta.

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026

Trở nên như trẻ nhỏ

 




Chúa Giê su đã dạy: “Nếu các con không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, các con chẳng được vào nước trời” (Mt 10, 3). Bản Hy Lạp viết mikrōn - “bé nhỏ”: không chỉ người nhỏ tuổi, nhưng còn là người không địa vị, dễ bị coi thường.

Chúng ta thường suy nghĩ về những đức tính của một em nhỏ: phó thác, trông cậy mọi sự từ cha mẹ, yêu mến nhiều, đơn sơ, thật thà… Nhưng chính xác là sự tự hạ: “Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy là người lớn nhất trong nước trời” (Mt 10, 4). Bản tính của con người là thích tự do và tự lập, không muốn cậy dựa vào Thiên Chúa… bởi đó, họ chối từ cả sự hiện diện của Ngài. Chúng ta còn nhớ câu biểu ngữ được gắn trên các xe bus công cộng ở Anh năm 2009: “Có lẽ không có Thiên Chúa, bạn cứ vui hưởng cuộc sống đi!”  Ẩn ý đàng sau câu nói này là ‘Thiên Chúa và lề luật của Ngài làm con người không được sống buông thả và tự do như mình mong ước’. Ngày nay ở Mỹ, người ta thừa nhận công khai là có ma quỷ - hoạt động dưới nhiều hình thức và nhiều tổ chức, có kẻ tôn thờ nó và kẻ khác sợ bị quấy rầy nên kiêng kỵ nhiều thứ. Thế nhưng, niềm tin của nhiều người chỉ dừng ở đó, nếu hỏi họ về Thượng Đế thì họ không muốn bàn đến vì họ không biết rõ - có quá nhiều vị: chúa của Ki tô giáo, của Hồi giáo, của Phật giáo và của đất trời… tốt nhất là không bàn tới. Tại sao nhiều người không muốn nhìn nhận sự hiện diện của Chúa?- thưa vì sự nhìn nhận Chúa đòi buộc họ thay đổi cuộc sống không phù hợp với giáo lý Chúa dạy.

Chúng ta trở lại với 3 từ của bài Tin Mừng hôm nay: AI TỰ HẠ. Trong mục nói về cầu nguyện, cha Anthony de Mello. SJ đã viết: “Sở dĩ ngày nay phép lạ ít xảy ra là vì chúng ta không còn trông chờ phép lạ, không còn tin rằng Thiên Chúa thường xuyên can thiệp vào cuộc sống mình và rằng Thiên Chúa là nhân tố quan trọng bậc nhất trong cuộc sống của mình. Đằng sau bất cứ sự việc nào xảy ra trong cuộc sống, ta phải tin rằng Thiên Chúa đã trực tiếp can thiệp, ví dụ: khi bạn nhức đầu – hãy uống một liều aspirin, nhưng hãy biết rằng: chính Chúa đã giúp chúng ta bào chế ra thuốc và chính Ngài tác động trong khả năng chữa lành hoặc trong dược tính của thuốc aspirin. Sự tự hạ này giúp chúng ta nhìn ra Thiên Chúa đang hoạt động phía sau tất cả những nguyên nhân đệ nhị và bàn tay của Người đang đích thân điều khiển mọi biến cố qua bức màn che là những yếu tố nhân loại”.

Tinh thần tự hạ và bé nhỏ trước mặt Thiên Chúa dạy ta ý thức sự trần trụi của hữu thể mình trước Thiên Chúa, chúng ta mang ơn Chúa trong mọi sự: từ sự hiện hữu, công ơn cứu chuộc, công phúc nước trời… để luôn tạ ơn và phó thác cho Ngài trong mọi điều. Tinh thần tự hạ cũng dạy ta đừng so sánh với người khác, vì chúng ta không biết kế hoạch của Thiên Chúa: Một bà mẹ đông con được hỏi “Trong các con, bà thương đứa nào?”. Bà đáp “Đứa đau yếu, cho đến khi nó khoẻ; đứa đi xa, cho đến khi nó về; đứa bé nhất, cho đến khi nó lớn!”.

Nếu hỏi một em nhỏ: “Tội nguyên tổ là tội gì” thì có lẽ em sẽ trả lời ‘là tội ăn trái cấm’. Câu trả lời không sai, nhưng người lớn sẽ trả lời ‘đó là tội kiêu ngạo’. Con người đã thành người lớn, bởi đó Chúa Giê su dạy ta: “Nếu các con không trở lại mà nên như trẻ nhỏ”. Không phải chỉ có ông bà nguyên tổ, mà ngay cả từng người chúng ta cũng muốn rời bàn tay Thiên Chúa để tự lo liệu cho mình, tự tô vẽ vinh quang cho mình, tìm sự ngưỡng mộ của người đời, tìm sự an toàn nơi của cải, và âm thầm chống lại những gì Thiên Chúa muốn – nhất là những mệnh lệnh được ghi chép bằng chữ trong Kinh Thánh và huấn quyền. Xin thêm đức tin cho con để con biết tự hạ như em nhỏ trong vòng tay cha mẹ, vì con biết rõ ‘mình hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa trong mọi sự’. Amen.

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2026

ĐỂ ĐƯỢC CẢ ĐỒNG LÚA


Ngày 10/8 Lễ Thánh Laurenso tử đạo

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình!”.

Bị buộc phải trao nộp kho báu của Giáo Hội, Thánh Laurensô chỉ vào người nghèo. Câu trả lời ấy đã được ngài đóng ấn bằng máu. Từ đó, Tin Mừng về hạt lúa bắt đầu được sống.

Kính thưa Anh Chị em,

Hạt lúa không sợ mục nát; nó chỉ sợ nằm mãi trong kho. Chỉ khi dám đi vào lòng đất, nó mới có thể sinh nhiều bông hạt. Lời Chúa hôm nay mặc khải nghịch lý ấy: chết không phải để mất, nhưng ‘để được cả đồng lúa’.

“Chết” là điều kiện của sự sinh. Bản Hy Lạp viết menei monos - “ở lại một mình”. Nếu không chết đi, hạt lúa vẫn nguyên vẹn, nhưng trơ trọi; không mất đi, nhưng cũng không bao giờ trở nên nhiều hơn nó. Vấn đề không còn là còn hay mất, nhưng là chấp nhận sự đơn độc hay được gieo xuống để sự sống được nhân lên. Đừng sợ những từ bỏ đớn đau, vì trong tay Đấng Tạo Hoá, tiêu hao luôn là khởi đầu của cả một mùa vàng. “Tôi phải học cách rời bỏ chính mình để tìm lại chính mình!” - Thomas Merton.

Nơi Laurensô, “cho” không còn là một hành vi đạo đức, nhưng là cách Tin Mừng được trao truyền. Gieo ít hay nhiều không còn là chuyện tính toán, nhưng là để ân sủng của Thiên Chúa lan rộng - bài đọc một. Của cải không còn được đo bằng điều giữ lại, nhưng bằng điều con người dám hiến trao; Thiên Chúa không đếm những gì con người cất giữ, nhưng làm lớn lên những gì họ gieo xuống. Người nghèo vì thế không chỉ là đối tượng của lòng bác ái, nhưng trở thành kho báu sống động của Giáo Hội; chính nơi họ, những hạt lúa của lòng quảng đại bắt đầu nảy mầm. Thánh Vịnh đáp ca cất lên: “Phúc thay người biết cảm thông và cho vay mượn!”.

Vậy mà đó lại là điều con người sợ nhất. Chúng ta sợ mất nên giữ lại; sợ thiệt nên co rút; sợ bị lấy đi nên không dám trao. Hạt lúa không mất, nhưng cũng không sinh. Điều nghịch lý là: càng cố giữ, sự sống càng thu hẹp; càng tự bảo vệ, lòng người càng nghèo đi. Chỉ khi dám mục nát, đời người mới có thể trở thành cánh đồng ơn phước. Henri de Lubac từng nhận định: con người chỉ đạt tới sự viên mãn khi biết trao hiến. Đó cũng là lúc hạt lúa bắt đầu thuộc về người khác. Mất mát dưới bàn tay ân sủng không bao giờ là sự cạn kiệt, nhưng là chuẩn bị cho một mùa gặt vĩnh cửu.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ nói về hạt lúa, Ngài chính là Hạt Lúa ấy. Đến từ Thiên Chúa, Ngài tự nguyện đi vào lòng đất của thế gian để khai mở một mùa gặt mới cho nhân loại. Vì thế, thập giá không còn là lời cuối của cái chết, nhưng là nơi sự sống bẻ tung mọi giới hạn của cái chết để sinh sôi. Chỉ khi ở trong Đức Kitô, hạt lúa đời chúng ta mới thôi trơ trọi; chỉ khi kết hiệp với Ngài, mọi mất mát mới có thể làm nên cả đồng lúa. “Hạt lúa là chính Đức Giêsu. Hoa trái là sự sống dồi dào mà Người đã đạt được cho chúng ta nhờ thập giá!” - Bênêđictô XVI.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con cứ giữ mình nguyên vẹn; cho con biết trao đi không tiếc, biết yêu không giữ lại; để đời con cũng trổ sinh những cánh đồng!”, Amen.

Suy tư:

-Có thể nói rằng: một Giáo hội còn có nhiều ơn gọi tu trì và còn có tinh thần tử đạo - dám đổ máu vì chân lý là dấu chỉ rõ ràng của một đức tin sống động. Có người nêu lên một nhận định rằng "các dòng tu ở VN tràn ngập ơn gọi từ miền Bắc, mà văn hóa của miền Bắc có phần thua kém người miền Nam (những người đã một thời trải qua nền Cộng Hòa)". Có thể họ có phần nào có lý, nhưng một vấn đề thực tế khác lại nổi cộm lên: nếu không có ơn gọi từ miền Bắc thì biết đâu nhiều dòng tu đã đóng cửa vì thiếu ơn gọi! Chúng ta xác tín rằng ơn gọi dâng hiến là hoa trái Thánh Thần ban cho Giáo hội, ban cho Giáo xứ và cho đương sự... chúng ta chỉ nên nhìn vào khía cạnh thiêng liêng hơn là phương diện nhân loại, chỉ nên tạ ơn và kính trọng sự quan phòng của Thiên Chúa trong chương trình cứu độ.

-Nói đến Thánh Laurenso là nhắc đến cuộc tử đạo bởi giàn thiêu (bị nướng) với câu nói nổi tiếng : xin lật sang bên kia cho chín đều. Còn Thánh Inhaxio thành Antiokia (tử đạo năm 107) để lại câu nói: tôi là hạt lúa mì của Thiên Chúa, sẵn sàng để răng thú dữ nghiền nát trong đấu trường nhằm trở thành tấm bánh tinh tuyền dâng lên Đức Kitô.

- Ngày nay người ta ngại nói đến hy sinh hãm mình, vì xã hội đề cao tinh thần hưởng thụ - tôn trọng tự do và nhân vị, giữ gìn sức khỏe để có điều kiện phục vụ tha nhân, hy sinh bên trong thì tốt hơn là vẻ bề ngoài... nhưng đừng quên rằng: hy sinh là dấu chỉ rõ ràng của tình yêu, chết cho bản thân và dẹp bỏ ý riêng là con đường Chúa Giê su truyền dạy: "Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mạng sống mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta". Sách tu đức dạy: muốn sống tinh thần nghèo khó thì phải có nếp sống khó nghèo thực sự, muốn sống khiêm nhường thì phải vui lòng chịu những hiểu lầm - nhục mạ; còn tinh thần tử đạo ư? - hãy học Thánh Tê rê xa Hài Đồng: chịu đựng những hy sinh trái ý trong cuộc sống hằng ngày vì lòng yêu mến Chúa và cầu cho các linh hồn.