Danh sách Blog của Tôi

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2026

Lên đường

 



Kho tàng chuyện cổ Ấn Giáo kể chuyện về Đức Phật: mỗi ngày Đức Phật gặp gỡ các tín đồ đến để tìm con đường giải thoát, người người đến rồi đi, duy chỉ có một người thanh niên là người định cư ở vùng ấy – cứ mải miết nghe giảng cả năm trời mà chưa tìm được con đường giác ngộ… chỉ vì anh ta không chịu thực hành những lời chỉ dẫn của thầy, không chịu lên đường.

Đức Ki tô giảng dạy những chân lý của trời cao, Ngài không úp mở về con đường để đạt được hạnh phúc đời này và đời sau. Nhưng thử hỏi: đám đông nghe Chúa giảng trong 3 năm trời, họ thán phục về giáo lý của Chúa: vừa cao sâu, như Đấng có uy quyền, đáp ứng mọi câu hỏi họ đặt ra… thế nhưng có được mấy người hoán cải và đổi đời? Người ta chỉ nghe rồi để đấy, không thực hành và không thay đổi cuộc sống, và vì thế Lời Tin Mừng không lớn lên trong đời họ. Có người ví hành trình đức tin giống như một người muốn khám phá ra một vùng đất lạ - một tòa lâu đài, nếu ta cứ nghiên cứu bản đồ và đọc những thông tin mà không lên đường để khám phá thì sự hiểu biết của ta chỉ dừng lại ở lý thuyết, không hề có trải nghiệm và biến đổi nơi tâm hồn (cảm xúc).

Thánh Phaolô bộc bạch cho ta một chút về sự khiêm tốn nơi tâm hồn ngài: “Tôi trở nên mọi sự cho mọi người”. Ngài không tự hào về quốc tịch Roma, mà tự nguyện trở nên nô lệ cho mọi người để mong cứu được một ít người. Ngài không tự hào về tước hiệu tông đồ, về việc rao giảng cũng như thành quả của nó, bởi vì Ngài chỉ làm theo lệnh Chúa và ngài chỉ là đầy tớ của Lời. Nhưng ngài khuyến khích chúng ta: mỗi người đều là tay đua trên con đường phục vụ Đức Ki tô và Hội Thánh, dù phải rán hết sức và phải kiêng khem đủ điều...thì cũng đáng, vì phần thưởng trên trời tồn tại muôn đời.

Bài Tin Mừng Chúa Giê su dạy ta: Hãy luôn thức tỉnh tâm hồn trước khi muốn làm thầy dạy cho ai, trước khi sửa lỗi anh em. Thức tỉnh ở đây là ‘biết mình’, biết thực chất con người mình là tạo vật được Chúa cho sinh ra trên đời, lệ thuộc vào Chúa trong mọi sự, được Chúa yêu thương chăm sóc, được Chúa trao cho sứ mạng truyền giáo, biết những hồng ân Chúa ban và có những vết bẩn đang bám vào chiếc áo trắng của ngày rửa tội, biết giáo lý cơ bản của đạo Chúa là yêu thương anh em như gương Thầy chí Thánh để lại: cúi xuống rửa chân, đến để phục vụ hơn là để được người khác phục vụ, yêu là dám chết cho người mình yêu… Mỗi ngày bạn hãy luôn cầu nguyện: “xin cho con biết Chúa và xin cho con biết con”. Amen.

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2026

Thương xót như Cha

 



Lc 6,27-38

Một bài Tin Mừng khá dài về tình yêu thương anh em – có thể làm chúng ta sợ vì quá siêu. Có thể ghi nhớ 2 câu “Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy có lòng nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ”. Đừng chỉ yêu những kẻ yêu mình, lòng nhân từ biểu lộ nơi: đừng xét đoán và lên án, tha thứ và trao ban – cho đi.

Quả thực, nếu ai trong chúng ta thực hành được 2 câu Kinh Thánh này thôi thì đảm bảo khi chết đi sẽ được phong thánh ngay, nhưng cũng đừng vì thế mà bỏ qua những lời dạy quý báu này, Chúa đòi hỏi chúng ta sống tốt hơn dân ngoại và những người Biệt phái ở điểm thực hành đức yêu thương và cư xử nhân từ với người đồng loại. Một nhà tu đức dạy: Nếu dùng đức yêu thương để đánh giá con đường tu đức của mỗi tâm hồn, thì có thể nói: bao lâu còn sống trên đời là bấy lâu họ còn lỗi phạm đức yêu thương và chưa hoàn hảo.

Ngẫm nghĩ về cuộc đời Ki tô hữu, chúng ta dễ nhận ra rằng: đa số chúng ta sinh ra âm thầm, cuộc sống cũng rất bình thường và chết đi lại càng im tiếng hơn nữa, vậy đâu là giá trị của một cuộc đời Ki tô hữu?- Thưa: để nhận biết, yêu mến và phụng sự Thiên Chúa. Sự nhận biết không nằm ở nhận thức và được rửa tội, mà là hằng ngày bước đi trong đường lối Chúa dạy. Sự yêu mến không nằm ở lời kinh và đi lễ hằng tuần, mà nằm ở chiều sâu tâm hồn có dành trọn cho Chúa không - hay dành cho thế gian. Phụng sự là phục vụ, sống theo sự thúc đẩy của Thánh Thần để mỗi ngày thanh thoát hơn và nhiệt tình với đời sống tôn giáo hơn.

Những lời dạy của Chúa Giê su luôn mang một chiều kích mới mẻ cho từng tâm hồn để giúp họ tiến gần Ngài hơn, danh từ thời đại: Lời Chúa luôn mang tính ‘sát thương’ – đòi buộc tâm hồn ta biến đổi từ từ, hằng ngày, và luôn tiến về phía trước. Ví dụ: tinh thần 8 mối phúc thật, tinh thần tự hủy của Chúa Giê su từ nhập thể, giáng sinh, ẩn dật, truyền giáo, thập giá và phục sinh, ai muốn theo Ta hãy từ bỏ mình vác thập giá mình mà theo Ta, yêu thương và làm ơn cho kẻ ghét mình.

Đừng để lòng mình chai đá đến nỗi Lời Chúa chỉ như làn gió thoảng lay động mà không biến đổi mảnh đất tâm hồn mình nên phì nhiêu. Chúa không đòi chúng ta phải thực hiện ngay mọi chỉ thị của Ngài trong ngày hôm nay, đúng hơn Ngài đánh giá cuộc đời mỗi người ở sự nỗ lực tiến lên mỗi ngày, dù cho ánh mắt người đời chỉ nhận ra nơi ta một cuộc đời quá đỗi bình dị khi ta nhắm mắt lìa đời.

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2026

Mặc tấm áo mới



 Thứ Sáu tuần XXII thường niên

1 Cr 4,1-5; Lc 5,33-39

TGM. Jos Ngô Quang Kiệt

Hôm nay tôi bắt đầu bước vào tuổi 75. Theo Giáo luật tuổi 75 là tuổi được nghỉ mọi nhiệm vụ, mọi công việc. Mở ra một thời kỳ mới. Có nhiều người rất hăng say hoạt động. Nhưng khi nghỉ hưu thì hụt hẫng. Thậm chí có người mau chóng suy sụp và bị đột quỵ.  Lời Chúa hôm nay dạy tôi cách sống thời kỳ mới trong cuộc đời. Thư Côrintô dạy: “Chớ gì thiên hạ coi chúng tôi như những đầy tớ của Chúa Kitô, những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Mà người ta chỉ đòi hỏi ở người quản lý một điều, là phải chứng tỏ lòng trung thành”. Người ta hụt hẫng khi giã từ nhiệm vụ vì quá gắn bó với nhiệm vụ và công việc. Vì nghĩ rằng mình vẫn còn năng lực. Vì nghĩ rằng người khác vẫn cần đến mình. Nhưng thực chất là chính mình cần công việc, cần người khác, cần được công nhận.

Thực ra chúng ta chỉ là người tôi tớ của Chúa. Thánh Tông đồ dạy: điều quan trọng duy nhất của người tôi tớ đó là trung thành. Nhưng ta đặt lòng trung thành sai chỗ khi quá trung thành với công việc. Trung thành chính là trung thành với Chúa là chủ nhân của ta. Và người tôi tớ trung thành thì luôn luôn sẵn sàng cho mọi nhiệm vụ được chủ trao phó. Phải sẵn sàng thay đổi theo ý chủ.

Bài Tin mừng dạy ta phải trung thành như thế nào. Trung thành không phải là khư khư với cái cũ. Nhưng là phải đổi mới theo Chúa. Chúa Giêsu đưa ra hai hình ảnh thật đẹp và ý nghĩa.



Hình ảnh thứ nhất: Tấm áo mới: “Chẳng ai xé áo mới lấy vải vá áo cũ”. Mặc áo cũ quen rồi nên người ta tiếc và muốn giữ lại. Đến nỗi muốn xé tấm áo mới để lấy vải vá vào áo cũ. Cuộc đời của ta, đặc biệt của người đã sống 75 năm, là manh áo cũ. Đã rách nát, tả tơi, tàn tạ. Vậy mà ta cứ gắn bó muốn duy trì con người cũ ấy mãi. Càng già càng khó thay đổi. Đến nỗi cả cái giường cái chiếu không quen cũng không ngủ được.

Chúa Giêsu là tấm áo mới. Nếu ta trung thành với Chúa thì phải cởi bỏ manh áo cũ rách nát đi. Để mặc lấy Chúa là tấm áo mới. Manh áo cũ là con người tội lỗi. Bao nhiêu năm sống ở đời là bấy nhiêu lầm lỗi. Manh áo cũ là nhiệm vụ cũ. Là nhiệm sở cũ. Là những người cũ từng gắn bó với ta và ta gắn bó với họ. Là sức khoẻ tuổi thanh xuân. Là trí khôn minh mẫn thời sung sức. Là những công trình lấp biển vá trời. Đã hư hỏng, mục nát rồi. Tấm áo mới là Chúa Kitô. Là cuộc sống mới. Là siêu thoát mọi giá trị thế gian. Như thư Côrintô dạy: “Đối với tôi, dù có bị anh em hay toà đời xét xử, tôi cũng chẳng coi là gì. Mà tôi, tôi cũng chẳng tự xét xử lấy mình…Đấng xét xử tôi chính là Chúa”.

Đừng xé áo mới để vá vào áo cũ. Đừng bắt Chúa phải làm theo ý ta. Đừng tiếc nuối manh áo cũ rách. Hãy xé toạc áo cũ là cuộc đời xưa cũ. Vất cho xa. Để mặc tấm áo mới là Chúa Kitô.

Hình ảnh thứ hai: Rượu mới. Chúa Giêsu chính là rượu mới. Cuộc đời tôi là bầu da cũ. Bầu da cũ đã lỗi thời. Chỉ chứa được thứ rượu cũ. Rượu cũ là thế gian. Là cuộc đời xưa cũ. Là vinh quang trần thế. Là sướng, khổ, vinh, nhục. Là những giấc mơ danh, lợi, thú. Đã chìm vào quá khứ. Đã nhạt như nước ốc. Đã chua như giấm. Đã hết hương vị. Đã uống cạn rồi. Chúa Giêsu là rượu mới. Tràn đầy sức sống. Toả hương thơm ngất ngây. Là hương vị thiên đàng. Là hương vị tình yêu. Là hương vị hạnh phúc. Nhưng chất rượu mới Giêsu quá mạnh. Bầu da cũ cuộc đời tôi chứa không nổi. Phải thay bầu da mới. Phải trở thành con người mới. Rượu mới thiên đàng cần bầu da từ bỏ trần gian. Rượu sức sống thiêng liêng đòi bầu da siêu thoát trần thế. Rượu tình yêu đòi bầu chứa quên mình. Rượu hạnh phúc phải chứa trong bầu da say mến.



Thay đổi là trung thành với Chúa Giêsu. Từ bỏ con người cũ là trung thành với tình yêu của Chúa. Từ bỏ cuộc sống cũ là trung thành với ơn gọi theo Chúa. Từ bỏ những nết xấu cũ là trung thành với lời mời gọi sám hối của Chúa. Từ bỏ những công việc cũ là trung thành với đức tin vào Tin Mừng.

Và khi từ bỏ manh áo cũ và bầu da cũ để mặc lấy Chúa là manh áo mới và tiếp nhận thứ rượu mới, ta sẽ tràn đầy hân hoan. Như lời Thánh vịnh Đáp ca: “Hãy lấy Chúa làm niềm vui của bạn, Người sẽ cho được phỉ chí toại lòng”.

Thời kỳ mới phải có con người mới. Hãy mạnh dạn vất bỏ manh áo cũ mục nát, bầu da cũ quá khứ. Hãy mặc lấy Chúa Kitô là tấm áo mới. Hãy chuẩn bị bầu da mới để đón nhận Chúa Kitô là chất rượu mới. Rượu tình yêu. Rượu sự sống. Rượu hạnh phúc.

Xin mọi người cầu nguyện cho tôi được biết sống thời kỳ mới trong Chúa Kitô. Trong chiêm ngắm Chúa. Trong cầu nguyện kết hợp. Để tôi được luôn ở bên chàng rể Kitô. Được dự tiệc cưới Nước Trời. Được hân hoan trong hạnh phúc không bao giờ vơi cạn.


CÂU CHUYỆN VỀ ĐAU VÀ HẬN - CÒN ĐAU, NHƯNG KHÔNG CÒN HẬN …



Lm Giuse Ngô Mạnh Điệp 

Cha Vinh đang ngồi soạn bài giảng cho Thánh lễ Chúa Nhật thì điện thoại reo. Đầu dây bên kia là cha quản lý nhà hưu dưỡng linh mục, giọng trầm xuống: Cha Vinh à, cha Bảo yếu lắm rồi, bác sĩ nói có lẽ không qua khỏi tuần này. Ngài có nhắc đến cha, muốn gặp mấy anh em học trò cũ, nếu được thì cha thu xếp lên thăm ngài.

 Cha Vinh cúp máy, ngồi lặng rất lâu trước trang bài giảng còn dang dở. Cái tên cha Bảo vừa vang lên đã kéo cả một khoảng ký ức mười lăm năm trước ùa về, không phải những kỷ niệm êm đềm của đời tu, mà là những đêm cha từng nằm trong phòng nội trú chủng viện, úp mặt vào gối, cố không để bạn cùng phòng nghe thấy mình khóc.

 Ngày ấy, cha Bảo là cha giám đốc ơn gọi, người nắm trong tay quyền quyết định ai được tiến bước, ai phải dừng lại. Cha Vinh, khi đó còn là thầy Vinh, một chủng sinh năm cuối, đã từng bị cha Bảo gọi lên phòng, nói thẳng rằng thầy không có tinh thần vâng phục, rằng thầy thiếu ơn gọi, chỉ vì một lần thầy dám góp ý thẳng thắn trong buổi họp về cách phân chia công việc phục vụ, một điều mà thầy tin là bất công với các thầy nhỏ tuổi hơn. Từ đó, thầy Vinh bị đưa vào một dạng diện theo dõi đặc biệt, bị trì hoãn

chịu chức phó tế một năm so với các bạn cùng lớp, dù không ai đưa ra được lý do rõ ràng nào ngoài những nhận xét mơ hồ, cảm tính. Có những buổi họp, thầy nghe kể lại rằng cha Bảo đã nói về mình trước các cha giáo khác bằng giọng điệu mỉa mai, như thể thầy là một trường hợp cá biệt cần phải dạy cho một bài học.

 Năm ấy, thầy Vinh đã nghĩ đến việc rời chủng viện, không phải vì mất ơn gọi, mà vì thầy kiệt sức trước sự bất công mà mình không có cách nào chứng minh hay biện hộ. Chỉ nhờ một cha linh hướng khác, người đã âm thầm đồng hành, lắng nghe, và khuyên thầy đừng để một con người, dù đang nắm quyền quyết định, trở thành lý do khiến thầy đánh mất tiếng gọi mà thầy tin là đến từ chính Thiên Chúa, thầy mới đủ sức ở lại, đủ sức chịu đựng thêm một năm bị nhìn bằng ánh mắt nghi ngờ, để rồi cuối cùng cũng được tiến chức, dù muộn hơn bạn bè cùng lớp.

 Mười lăm năm làm linh mục, cha Vinh hiếm khi nhắc lại chuyện cũ, ngay cả trong những buổi tĩnh tâm riêng. Cha vẫn dâng lễ, vẫn giảng về sự tha thứ cho giáo dân, vẫn tin mình đã bỏ qua chuyện xưa từ lâu. Nhưng chỉ một cuộc điện thoại báo tin cha Bảo hấp hối, cha mới nhận ra, có một góc trong lòng mình, cái góc ấy chưa bao giờ thật sự được dọn sạch, chỉ là cha đã quen sống chung với nó, như người ta quen sống chung với một vết sẹo cũ, tưởng đã lành nhưng vẫn còn ê ẩm mỗi khi trời trở gió.

 


Cha ngồi trước bàn thờ nhỏ trong phòng riêng, nhìn lên tượng chịu nạn, để cho những cảm xúc lộn xộn trong lòng tự do trào ra, không cố kìm nén như cha vẫn quen làm trước mặt giáo dân.

Có cả sự giận dữ, dù đã nguội bớt nhưng vẫn còn đó. Có cả một câu hỏi cứ trở đi trở lại suốt bao năm: tại sao một người có trách nhiệm đào tạo, hướng dẫn những tâm hồn trẻ bước theo Chúa, lại có thể đối xử bất công với chính học trò của mình như vậy. Và cũng có cả một nỗi thương cảm mơ hồ, khi nghĩ đến hình ảnh cha Bảo bây giờ, một ông già gần chín mươi tuổi, nằm một mình trên giường bệnh, chờ đón cái chết.

 Cha Vinh nhớ lại những năm làm linh mục của chính mình, những lần cha được giao nhiệm vụ đồng hành, hướng dẫn các thầy trong giai đoạn tập sự tại giáo xứ. Có những lúc, khi thấy một thầy nào đó cứng đầu, dám nói ngược ý mình, cha cũng từng cảm nhận trong lòng một cơn bực dọc dâng lên, một cám dỗ muốn dùng quyền của mình để dạy cho một bài học, y hệt điều cha Bảo từng làm với cha. Mỗi lần như vậy, cha lại nhớ đến những đêm khóc thầm năm xưa, và cha tự nhủ, mình sẽ không bao giờ để nỗi đau người khác gây ra cho mình, biến thành nỗi đau mình gây ra cho người khác. Có lẽ, không nhận ra, chính cha Bảo, qua sự bất công của ông, đã vô tình dạy cho cha bài học lớn nhất về cách một người đào tạo không nên làm, và nhờ đó, cha đã cố gắng trở thành một người hướng dẫn khác hẳn, kiên nhẫn hơn, công bằng hơn, biết lắng nghe hơn.

 Nhưng bài học ấy không xóa được vết thương. Cha Vinh hiểu rõ điều đó. Cha có thể đã trở nên tốt hơn nhờ chính nỗi đau ấy, nhưng điều đó không có nghĩa là nỗi đau chưa từng tồn tại, hay cha đã thật lòng buông bỏ được nó.

 Cha quỳ xuống, chắp tay, và lần đầu tiên sau nhiều năm, cha cầu nguyện thẳng thắn về chuyện này, không né tránh, không vội vàng nói những lời tha thứ sáo rỗng mà lòng chưa thật sự sẵn sàng.

 Lạy Chúa, con không dám nói con đã hoàn toàn tha thứ cho cha Bảo, vì nếu con nói vậy lúc này, có lẽ con đang nói dối Chúa và dối chính mình. Con vẫn còn nhớ những đêm con khóc một mình, vẫn còn nhớ ánh mắt nghi ngờ của các cha giáo khác nhìn con suốt một năm trời, chỉ vì lời nhận xét của một người. Con không biết cha Bảo có bao giờ nhận ra mình đã bất công với con hay không, có bao giờ áy náy hay không. Nhưng lạy Chúa, dù lòng con vẫn còn đau, con xin chọn một điều: con không muốn mang oán hận này theo con đến cuối đời. Con không muốn khi cha Bảo nằm xuống, lòng con vẫn còn một góc reo mừng vì ông ấy phải trả giá, hay còn ấm ức vì chưa từng được nghe một lời xin lỗi. Xin giúp con phân biệt được, giữa việc còn đau vàviệc còn hận. Con nghĩ, con vẫn còn đau, lạy Chúa, nhưng xin đừng để con còn hận.




 Cầu nguyện xong, cha Vinh không thấy lòng mình bỗng dưng nhẹ bẫng như trong những câu chuyện đẹp người ta hay kể. Cha vẫn thấy một chút nghẹn nơi ngực, một chút gì đó vẫn còn cứng lại khi nghĩ đến gương mặt cha Bảo năm xưa. Nhưng cha biết mình đã quyết định xong một điều: cha sẽ lên thăm.

Chiều hôm sau, cha Vinh đến nhà hưu dưỡng. Cha Bảo nằm đó, gầy guộc, hơi thở khó nhọc, đôi mắt từng sắc lạnh năm nào giờ chỉ còn là hai hốc sâu mờ đục. Nhận ra cha Vinh, cha Bảo cố mấp máy môi, run rẩy đưa tay ra. Cha Vinh nắm lấy bàn tay khô gầy ấy, không nói được gìnhiều, chỉ ngồi xuống bên giường.

 Cha... xin lỗi... ngày xưa... cha đã không công bằng với con, cha Bảo thều thào, từng chữ đứt quãng vì hơi thở yếu ớt. Lúc đó cha... cứng nhắc quá... cha xin lỗi.

 Cha Vinh cảm thấy nước mắt mình chảy xuống, không kìm được. Đó không phải là những giọt nước mắt của một chiến thắng, của một sự hả hê vì cuối cùng đã được nghe lời xin lỗi chờ đợi suốt mười lăm năm. Đó là những giọt nước mắt của một điều gì đó rất con người, rất thật, khi hai vết thương cũ, một bên là người đã gây ra, một bên là người đã chịu đựng, cùng chảy máu lần cuối trước khi khép lại. Con không giữ gì trong lòng đâu, thưa cha, cha Vinh nói, giọng khàn đi. Con đã cầu nguyện rồi. Con chọn không hận cha.

 Cha Bảo nhắm mắt lại, một giọt nước mắt lăn xuống khóe mắt nhăn nheo, và bàn tay ông siết nhẹ tay cha Vinh, như một lời cảm ơn không thành tiếng.

 Ba ngày sau, cha Bảo qua đời. Trong Thánh lễ an táng, cha Vinh được mời đồng tế, và khi đến phần giảng, cha đứng lên, kể lại đôi điều về người thầy cũ, không tô hồng, không giấu đi những năm tháng khó khăn, nhưng cũng không một lời oán trách. Cha chỉ nói một câu, mà sau này nhiều người trong nhà thờ hôm ấy vẫn còn nhớ mãi:

Có những người thầy dạy chúng ta bằng những bài học đẹp đẽ họ trao cho ta. Nhưng cũng có những người thầy, dù không cố ý, lại dạy ta bằng chính nỗi đau họ gây ra, để ta học được điều ngược lại với những gì họ đã làm. Con xin cảm ơn cha Bảo, vì ngay cả trong sự bất công ngày xưa, ngài cũng đã dạy con một bài học, bài học về việc con không bao giờ muốn trở thành người thầy như vậy với bất cứ ai. Và hôm nay, con muốn nói lời tạm biệt ngài, không phải bằng lòng hận thù con đã từng mang, mà bằng một lời cầu nguyện, xin Chúa đón nhận ngài vào lòng thương xót vô biên của Người, như Người vẫn hằng đón nhận tất cả chúng con, những kẻ yếu đuối và có lúc đã làm tổn thương nhau.  

- Tủ sách dịch Công giào…



Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2026

CẢM THƯƠNG NGƯỜI LẦM LỔI



LINH MỤC IGNATIO TRẦN NGÀ


Suy niệm Tin mừng Mat-thêu 18, 15-20 - Chúa nhật 23 thường niên

Sứ điệp: Yêu thương, cảm thông với những ai lầm lạc và tìm cách dìu dắt họ bước theo đường lối Chúa.

***
Một người mù đang dò đường, đi hơi vội vì trời giông tố và sắp đổ mưa. Ông vô tình xông vào hàng rào kẽm gai bên lề đường, gai móc rách quần áo và da thịt. Những người qua đường thấy vậy thì có những thái độ khác nhau:

- Hạng người thứ nhất là những người không biết ông bị mù nên trách móc: “Người gì đâu mà bất cẩn, dại dột… đường thẳng không đi, lại cứ hàng rào kẽm gai mà xông vào, chắc là đang say xỉn!”
Tương tự như thế, có nhiều người hễ thấy người khác lầm lỗi thì lên án, chửi rủa, trách móc… dù chẳng biết nguyên nhân, chẳng tìm hiểu ngọn nguồn.

- Hạng thứ hai là những người vô cảm vô tâm, khi thấy người người mù lâm nạn như thế, chỉ ngoái cổ lại nhìn rồi thinh lặng bỏ đi.

Tương tự như thế, khi thấy người khác sa vào tội lỗi, nhiều người chọn thái độ im lặng, dửng dưng…
- Hạng người thứ ba là những người tốt bụng, tỏ lòng thương xót, chạy đến hỏi han, khử trùng vết thương, rồi dìu ông ra khỏi hàng rào kẽm gai.

Tương tự như thế, có những người nhân đức, khi thấy người sa vào tội lỗi, họ tìm cách khuyên lơn, dạy dỗ người có tội ăn năn sửa mình.
Còn chúng ta, chúng ta thuộc hạng người nào trong ba thành phần trên đây?
- Một là chỉ trích, phê bình, lên án, trách móc người có tội, mặc dù chưa biết rõ đầu đuôi sự việc thế nào mà cũng “ngứa miệng” phán xét, phê bình người khác.
- Hai là thinh lặng làm ngơ trước những sai lỗi của người khác. Ứng xử cách này xem ra khỏe khoắn, nhẹ nhàng…

- Ba là cảm thương, khuyên lơn, dạy bảo cho người lầm lỗi trở về đàng lành. Đây là việc Chúa Giê-su truyền dạy chúng ta phải làm, qua đoạn Tin mừng Mát-thêu được trích đọc hôm nay, Chúa nói: “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em. Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân. Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội thánh” (Mt 18, 15-17).

Cảm thương người tội lỗi vì họ mù quáng
Người sa vào tội lỗi cũng y như người mù vương vào hàng rào kẽm gai. Họ sa vào tội lỗi vì họ “không thấy đường” chứ không phải vì cố tình cố ý.

Nhà hiền triết Socrate mạnh mẽ khẳng định rằng: “Không ai cố tình làm điều ác.” Đúng vậy, sở dĩ người ta gây ra tội ác là vì không am hiểu, thiếu khôn ngoan, không đủ sáng suốt để phân định đúng sai… Đây cũng là một thứ mù, thường được gọi là mù quáng. Mù quáng còn tai hại hơn mù mắt nhiều lần. Vì thế, họ đáng thương hơn là đáng trách.

Trong cuộc thương khó, Chúa Giê-su không lên án những người phỉ báng, xỉ nhục, hành hung Ngài cách dữ dằn thô bạo và đóng đinh Ngài vào thập giá cách dã man… Trái lại, Ngài thương xót họ vì họ mù quáng, không biết việc mình làm. Thế nên Ngài tha thiết cầu xin Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34).

Lạy Chúa Giê-su,
Xin ban cho chúng con tấm lòng yêu thương và cảm thông sâu sắc đối với những ai lầm lạc, nhờ đó chúng con có thể yêu mến họ chân thành và tìm cách dìu dắt họ bước theo đường lối Chúa. Amen.

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2026

BÀI THI CỦA BÀ GIÁO O'NEILL



Tin Mừng Chúa nhật 23 TN A

 

Lm. Mark Link, S.J.


Chủ đề: “Các Kitô hữu có bổn phận giúp đỡ anh chị em mình làm điều thiện.”

 

Một phụ nữ làm việc ở nhà hàng tiếng tăm nọ từng tuyên bố không theo tôn giáo nào cả, bà nói với một vị linh mục: “Thưa cha, tôi không muốn làm cha thất vọng, nhưng trong số kẻ bê bối nhất tôi từng gặp trong nghề nghiệp của tôi lại có những Kitô hữu rất siêng năng đi nhà thờ.”

Linh mục đáp lại: “Ðúng vậy, trong số các Kitô hữu, không may vẫn có những người tồi tệ, không khác gì trong số những người ngoài cũng có những người tồi tệ như vậy.”

 

Người phụ nữ đáp lời: “Thưa cha, thế thì không phải các Kitô hữu vẫn được xem là đặc biệt hơn sao?”

 

Vị linh mục buồn bã nhìn bà ta nói: “Ðúng thế, đúng thế, họ được xem là phải sống tốt hơn!”

 

Cuộc đàm thoại trên hẳn khiến anh chị em ngạc nhiên.  Các Kitô hữu thường xuyên đi nhà thờ hẳn khác hơn những kẻ không đi nhà thờ chứ?  Chúng ta hãy xem xét ba trường hợp sau:

 

Một người bán vé xe đưa đón ở phi trường nói với một ông bố: “Thưa ông, con trai ông có vẻ trẻ hơn tuổi của nó: ông nên mua nửa vé thôi.  Nếu tài xế có hỏi, ông cứ nói là thằng bé dưới 12 tuổi.  Như thế ông sẽ đỡ tốn vài đola!”  Giả sử anh chị em là ông bố ấy, anh chị em sẽ trả lời người bán vé thế nào? 

 

Rồi một trường hợp khác.  Một bà mẹ bắt gặp đứa con gái 5 tuổi của mình cầm một cây kẹo mà nó ăn cắp sau khi từ siêu thị đi ra.  Giả sử anh chị em là bà mẹ ấy, anh chị em sẽ làm gì?

 

Và đây trường hợp sau cùng.  Giả sử bạn nghe đứa bạn thân nhất của con bạn nói với nó: “Nếu mày cần hỏi bất cứ câu gì trong kỳ thi toán, mày cứ ra dấu cho tao.”  Ðặt trường hợp thằng bé ấy là con của anh chị em, thì anh chị em sẽ cứ tiếp tục đọc báo hay sẽ đặt báo xuống và nói chuyện với cả hai cậu bé?

 

Tôi không biết anh chị em sẽ xử lý thế nào trong những trường hợp như thế, nhưng tôi biết rõ Chúa Giêsu sẽ xử lý thế nào.  Câu trả lời ấy được tìm thấy trong các bài đọc hôm nay.  Cả ba bài đều tập trung vào bổn phận hỗ tương của người Kitô hữu phải có đối với nhau.  Các Kitô hữu không chỉ phải làm điều thiện mà còn phải giúp đỡ kẻ khác làm điều thiện nữa.  Chúa Giêsu bảo các môn đệ: “Các con là muối đất... các con là ánh sáng thế gian...  Ánh sáng các con phải chiếu tỏa trước mặt thiên hạ” (Mt 5 : 13-16).

 

Chúng ta hãy trở lại với ba trường hợp trên.  Câu trả lời của người Kitô hữu đối với từng trường hợp trên như thế nào?  Một kẻ theo Chúa Giêsu sẽ nói gì với người bán vé xe là kẻ đã nói với ông bố nọ: “Ông cứ nói với tài xế xe là thằng bé con ông dưới 12 tuổi?”  Trường hợp này thực sự đã xảy ra ở Chicago.  Ông bố ấy đã trả lời làm sao?  Ông ta bảo với người bán “Tôi rất trân trọng hảo ý của ông, nhưng tôi muốn con tôi thành thật - dù điều đó gây bất lợi cho nó.”  Còn bà mẹ bắt gặp đứa con gái của mình ăn cắp cây kẹo đã xử lý như thế nào?  Ðây cũng là một câu chuyện có thực đã xảy ra.  Tác giả bài viết trong tờ báo Dallas Morning News (Tin tức Dallas buổi sáng) khi thuật lại câu chuyện trên đã nói rằng bà mẹ nọ đã bảo đứa bé trả lại cây kẹo cho vị quản đốc, và ông này nói: “Ôi đừng lo gì chuyện đó.  Nó có đáng gì đâu.  Mỗi ngày, đám nhân viên của tôi ăn cắp nhiều hơn thế nhiều!”

 

Như tác giả bài viết kể lại, đây thực là một câu trả lời khó tin nổi.  Viên quản đốc đã gây cho cháu bé ấn tượng ăn cắp không quan trọng gì nếu chỉ là vật nhỏ mọn.  Thực sự dù là ăn cắp vật lớn hay nhỏ thế nào đi nữa, thì ăn cắp vẫn luôn là điều xấu.

 

Và cuối cùng hãy xét đến trường hợp thằng bạn của đứa con trai chúng ta đồng ý gian lận để giúp đỡ con mình trong bài thi toán.  Jerome Weidman, tác giả cuốn “Hand of the Hunter” (Tay người thợ săn) khi còn bé đã từng can dự vào một trường hợp như trên.  Ông kể lại cách đây 30 năm, ông vào học ở một trường công Nữu Ước.  Bà giáo dạy toán lớp ba của ông tên là bà O' Neill.  Ngày nọ bà ra cho lớp một bài thi.  Khi chấm bài bà nhận ra 12 cậu trai đã trả lời sai một cách giống y như nhau đối với cùng một câu hỏi.  Qua ngày sau, bà yêu cầu 12 cậu bé ấy ở lại lớp sau khi tan học.  Sau đó, không hề kết tội đứa nào, bà chỉ viết lên trên bảng câu này: “Tính chân thực của một người được thể hiện trong những điều mà kẻ ấy sẽ làm - dù biết rằng không ai hay biết.”  Ðoạn bà ghi tên tác giả câu nói trên: Thomas Babington Macaulay.  Weidman viết: “Tôi không rõ về 11 cậu kia ra sao, chỉ có một đứa trong số đó là chính tôi, có thể nói rằng: Ðây là bài học đơn sơ nhưng quan trọng nhất trong đời tôi.”

 

Như thế chúng ta đã thấy ba mẫu người Kitô giáo xử lý như thế nào trong ba trường hợp khác nhau trên.  Ba Kitô hữu này đã lưu tâm đến lời giáo huấn của Chúa Giêsu dạy phải giúp đỡ anh chị em sống cuộc sống Kitô hữu.  Ba Kitô hữu này đã nghiêm chỉnh chấp nhận lời Chúa Phán với Êdekien trong bài đọc thứ nhất hôm nay: “Nếu... ngươi không răn dạy kẻ xấu thay đổi cách ăn ở của nó thì Ta sẽ qui trách nhiệm cho ngươi.”  Ba Kitô hữu này đã nghiêm chỉnh chấp hành lời thánh Phaolô gởi tín hữu Roma trong bài đọc thứ hai hôm nay: “Nếu anh em yêu mến kẻ nào, anh em sẽ không bao giờ làm hại kẻ ấy.”  Và cuối cùng, ba Kitô hữu nầy cũng đã nghiêm chỉnh tuân theo lời Chúa Giêsu trong phúc âm hôm nay: “Nếu anh em ngươi phạm lỗi với ngươi, hãy đến gặp nó và chỉ cho nó biết lỗi lầm của nó.  Tuy nhiên phải làm điều ấy một cách âm thầm giữa ngươi và nó thôi.”

 

Như thế ba Kitô hữu nêu trên đã gây ấn tượng như thế nào cho những người nghe họ nói?  Tôi xin được lập lại điều Jerome Weidman đã nói: “Tôi không rõ về 11 cậu kia ra sao, chỉ biết một đứa trong số đó là chính tôi, thì tôi có thể nói rằng: Ðây là bài học đơn sơ nhưng quan trọng nhất trong đời tôi.”

 

Edmund Burke nói: Chỉ cần những người tốt cứ giữ yên lặng, là điều xấu sẽ phát triển ngay.”

 

Trong những trường hợp trên, ba Kitô hữu nọ đã không giữ yên lặng.  Họ mời gọi chúng ta noi gương họ.

 

Ðể kết thúc, chúng ta hãy cầu nguyện:

 

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con ghi lòng tạc dạ những lời Chúa kêu gọi chúng con đi theo làm môn đệ Ngài:
Các con là muối đất, nếu muối nhạt đi thì lấy gì ướp nó mặn lại được.  Nó chẳng còn ích gì chỉ đáng quẳng ra ngoài cho người ta chà đạp lên đó.  Các con là ánh sáng thế gian, một thành xây trên núi không thể giấu được.  Không ai đốt đèn rồi đặt dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn để soi cho mọi người trong nhà.  Cũng thế, ánh sáng các con phải toả chiếu trước mặt mọi người để họ trông thấy việc các con làm mà ngợi khen Cha các con, là Ðấng ngự trên trời” (Mt 5: 13-16).


Thứ Năm, 3 tháng 9, 2026

ĐƯỢC CẢ - BỎ CẢ

 


Lời Chúa thứ năm tuần 22 TN

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người!”.

“Trời là của tôi, đất là của tôi; mọi sự là của tôi, vì Đức Kitô là của tôi và hoàn toàn cho tôi!” - Gioan Thánh Giá. 

Kính thưa Anh Chị em,

Khi Đức Kitô là của mình và hoàn toàn cho mình, người ta không còn sợ mất điều gì. Phêrô vừa được cả một mẻ cá, lại bỏ mọi sự mà theo Chúa Giêsu - ‘được cả, bỏ cả’.

Sau một đêm trắng tay, Phêrô vừa có mẻ cá lớn nhất đời mình: lưới gần rách, thuyền gần chìm, bạn chài phải đến trợ giúp. Vậy mà khi vào bờ, họ “bỏ hết mọi sự mà theo Người”. Bản Hy Lạp viết panta - “tất cả”. Chính lúc có nhiều để giữ, chữ “tất cả” mới cho thấy sức nặng của nó. Họ không bỏ một đêm thất bại, nhưng bỏ buổi sáng thành công nhất; không rời thuyền rỗng, nhưng rời thuyền đầy. Hoá ra, lưới trống thử lòng tin; lưới đầy thử tự do.

Điều gì khiến Phêrô có thể bỏ như thế? Trước mẻ cá, ông gọi Chúa Giêsu là “Thầy”; sau mẻ cá, ông quỳ xuống thưa, “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!”. Cá nhiều không làm Phêrô mờ mắt; nó làm mắt ông sáng ra để nhận biết Đấng đang ở trong thuyền. Mẻ cá đầy thuyền vẫn quý; Đấng làm đầy đời ông còn quý hơn. “Ai có Thiên Chúa thì chẳng thiếu gì; một mình Thiên Chúa là đủ!” - Têrêxa Avila.

Chữ “tất cả” trở lại trong thư Phaolô: “Tất cả đều thuộc về anh em”, từ thế gian, sự sống, sự chết, hiện tại đến tương lai. Nhưng đỉnh cao không nằm ở chỗ chúng ta có tất cả, mà ở chỗ “anh em thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô thuộc về Thiên Chúa”. Thánh Vịnh đáp ca đưa trật tự ấy về tận nguồn: “Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài!”. Khi biết mình thuộc về Đức Kitô, chúng ta có thể nhận mà không chiếm giữ, sử dụng mà không lệ thuộc, trao lại mà không thấy mình nghèo đi. Phêrô bỏ điều thuộc về ông để đi theo Đấng mà chính ông thuộc về.

Phần chúng ta, thường xin Chúa cho lưới đầy, nhưng ít khi xin đủ tự do trước một mẻ cá lớn. Không phải ai cũng được gọi bỏ nghề, rời nhà hay trao lại công việc; nhưng ai cũng được gọi sống sao để những gì đang có không trở thành sợi dây buộc mình. Tự do không phải là không có gì trong tay; tự do là có thể mở tay khi Chúa gọi.

Anh Chị em,

Nghe Phêrô thưa, “Lạy Chúa, xin tránh xa con!”, Chúa Giêsu làm điều ngược lại. Ngài đến gần và trao cho ông một tương lai: “Từ nay, anh sẽ là người thu phục người ta!”. Trên thập giá, Đức Kitô đến gần nhân loại hơn bao giờ hết, không để kể tội, nhưng để tha tội và thu phục lòng người. Phục Sinh cho thấy Ngài không lấy đi tất cả, nhưng trao chính mình cho từng người. “Không dại gì khi trao điều không thể giữ để nhận điều không thể mất!” - Jim Elliot. Phêrô bỏ lại tất cả không phải để trắng tay, nhưng để bước theo Đấng sẽ trở thành Tất Cả cho đời mình - ‘được cả, bỏ cả’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi lưới con trống, cho con biết tin; khi lưới con đầy, cho con tự do; và khi Chúa gọi, cho con dám bỏ cả mà theo Ngài!”, Amen.

Suy tư:

Trong lịch sử Giáo hội, có những người đang trên đỉnh cao của danh vọng, thu nhập ngất trời, sắc đẹp tuyệt vời, một gia tài đồ sộ và một tương lai sáng lạn... lại bỏ tất cả để đi tu, điều đó gây ngạc nhiên cho xã hội; có những kẻ bỏ một cuộc sống bình thường để dấn thân (chịu khổ) vì những người cùi, tàn tật, nghiện ngập, tù tội... chỉ vì tình yêu dành cho Thiên Chúa, để yêu Chúa Giê su trong người bệnh và được Chúa làm gia nghiệp. Lý tưởng của họ thật cao đẹp và đáng cho chúng ta ngưỡng mộ bắt chước.

Chúa dùng những hoàn cảnh khác nhau để 'quyến rũ' các tâm hồn: có kẻ Chúa cho chứng kiến mẻ cá lạ để họ nhận ra quyền năng của Ngài, có kẻ Chúa cho gặp thất bại và tủi nhục để họ nhận ra sự phù phiếm của trần gian, có kẻ Chúa cho gặp một ai đó - được nghe một câu nói nào đó... đánh động tâm hồn thúc đẩy họ từ bỏ con đường quen thuộc để phiêu lưu theo Thầy.


Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

NHỮNG CÁNH ĐỒNG KHÁC

 

Lời Chúa

Thứ Tư Tuần XXII TN,





Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa!”.

Với tất cả những gì đã qua - tạ ơn; với tất cả những gì sẽ đến - xin vâng!” - Dag Hammarskjöld.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu đã sống trọn hai tâm tình ấy. Ngài rời Capharnaum để đến ‘những cánh đồng khác’; không phải vì đã yêu nơi ấy đủ, nhưng vì tình yêu của Chúa Cha không dừng lại ở một nơi nào.

Đó là một buổi sáng rất dễ khiến người ta muốn ở lại. Chiều hôm trước, Ngài chữa nhạc mẫu Phêrô, rồi đặt tay chữa từng bệnh nhân. Sáng ra, dân chúng tìm đến, cố giữ Ngài lại. Vậy mà Ngài nói, “Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa!”. Bản Hy Lạp viết dei - “phải”; trong Luca, đó là ý muốn của Chúa Cha đã trở thành khát vọng nung nấu tâm hồn Người Con. Cái “phải” ấy không cho phép Ngài dừng lại trong niềm vui của những gì đã qua; Ngài thưa “xin vâng” và cất bước về phía điều chưa biết. “Cuộc đời chỉ có thể được hiểu khi nhìn lại; nhưng phải được sống về phía trước!” - Søren Kierkegaard.

Đám đông nhìn thấy những nhu cầu tưởng như không cùng; Chúa Giêsu nhìn thấy những thành chưa được nghe Tin Mừng. Vì thế, trung thành với sứ mạng không hẳn là làm xong mọi việc tại một nơi, nhưng làm trọn phần được trao trong quãng đời Chúa muốn. ‘Những cánh đồng khác’ không gọi ai lìa bỏ tình yêu cũ; chúng gọi tình yêu ấy lớn lên, trương rộng.

Phaolô cũng dùng ngôn ngữ ấy để đưa Côrintô về sự hiệp nhất. Trước những người nói, “Tôi thuộc về Phaolô”, “Tôi thuộc về Apôllô”, ông tuyên bố, “Tôi trồng, anh Apôllô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên”, bởi “anh em là cánh đồng của Thiên Chúa”. Người trước đi, người sau đến; mỗi người làm phần được trao. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca hoàn tất niềm vui ấy: hạnh phúc của một dân không nằm ở người gieo hay người tưới, nhưng ở chỗ được Chúa ‘chọn làm gia nghiệp’.

Với chúng ta, đến đã khó, đi còn khó hơn. Bởi khi đến, chúng ta chỉ rời một nơi; khi đi, phải rời cả những con người và công trình đã thành một phần đời mình. Chính lòng biết ơn cánh đồng cũ cho chúng ta đủ tự do để thưa “xin vâng” và ra đi. Rời quê, trao việc, lùi lại cho con cái bước tới; ai cũng phải trao lại một cánh đồng. Với người linh mục, lời “Thưa con hứa!” ngày nào trở thành lời tuyên xưng đức tin: cánh đồng thuộc về Chúa - Đấng vẫn cho nó lớn lên cả khi mình không còn ở đó.

Anh Chị em,

Đức Giêsu không chỉ đến các thành khác; cuối cùng, Ngài trở thành hạt giống được gieo ngoài thành. Trên thập giá, mọi sự tưởng như dang dở: môn đệ tan tác, sứ mạng chưa vượt khỏi một miền đất nhỏ, Người Gieo lại bị chôn vùi. Nhưng Phục Sinh cho thấy công trình của Thiên Chúa không kết thúc tại nơi con người tưởng mọi sự đã mất. “Điều ta gọi là khởi đầu thường lại là kết thúc; và kết thúc cũng là bắt đầu!” - T. S. Eliot. Từ sự vùi lấp ấy, chính cuộc ra đi làm nảy sinh ‘những cánh đồng khác’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con tận tâm khi ở lại, tự do khi lên đường và thanh thản vì tin rằng chính Chúa sẽ cho ngày mùa bội thu!”, Amen.

Suy tư:

Bài Tin Mừng và thư 1Cor 3, 1-3 nói với chúng ta vài tâm tình:

-Người Ki tô hữu được mời gọi đóng góp phần mình trong việc mở mang nước Chúa - xây dựng nhiệm thể Chúa Ki tô, người thì đảm nhận việc này kẻ thì việc nọ, việc nhỏ việc lớn tùy khả năng và lòng quảng đại của mỗi người. Thư Thánh Phao lô nói với chúng ta về cơn cám dỗ: cộng đoàn bị cám dõ xếp hạng công trạng, người sứ giả bị cám dỗ bám trụ để an thân - tự phụ và tìm sự vinh vang. Hãy nhớ lời Chúa dạy: khi làm xong mọi việc hãy nói 'chúng tôi chỉ là đầy tớ vô dụng, chỉ làm việc phải làm'. Thánh Phao lô thì dạy: mình chỉ là cộng sự viên của Thiên Chúa, những người tôi tớ giúp cho anh em có đức tin, mình đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho nhưng không. Khi rời nhiệm sở hoặc công việc được giao, người khác sẽ lạnh nhạt với người cũ, đó là chuyện thường, người ta ví 'linh mục như con trâu kéo cày, bao lâu còn được việc thì được trọng dụng, còn lúc đã già yếu - bị quên lãng là lẽ thường.

-Hãy nhớ bài học của Đấng Đáng kính Fx. Nguyễn Văn Thuận: "chọn Chúa chứ không phải công việc của Chúa". Chúa muốn mình ra đi thì Ngài có cách lo cho những chuyện còn lại, “Lạy Chúa, cho con tận tâm khi ở lại, tự do khi lên đường và thanh thản vì tin rằng chính Chúa sẽ cho ngày mùa bội thu!”, Amen.

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2026

NHÀM CHÁN – LỖI CỦA CHÍNH CHÚNG TA

 


Rev. Ron Rolheiser, OMI

 

Năm 2011, quyển sách của tác giả trẻ Bieke Vandekerckhove đã giành giải Sách Thiêng liêng của Năm ở Bỉ.  Với tựa đề, Vị của Thinh lặng [Taste of Silence], quyển sách ghi lại cuộc đấu tranh của cô sau khi bị chẩn đoán mắc bệnh ALS, hay thường gọi là bệnh Lou Gehrig, tình trạng suy thoái thần kinh dẫn đến kết cục là suy nhược cơ thể trầm trọng và sẽ chết không lâu sau đó.  Thật là một chẩn đoán không dễ chấp nhận với một phụ nữ trẻ đầy sinh lực.

 

Nhưng không lâu sau khi bị trầm cảm nội tâm sâu sắc, cô tìm thấy ý nghĩa cuộc đời thông qua suy niệm, thinh lặng, văn học, nghệ thuật, thi ca, và không kém phần quan trọng, là một mối quan hệ cuối cùng đã kết trái thành hôn nhân.  Và thật không ngờ, bệnh tình của cô thuyên giảm, và cô sống thêm hai mươi năm nữa.  Trong nhiều thấu suốt phong phú đã chia sẻ với chúng ta, Bieke có đưa ra một suy tư đáng chú ý về sự nhàm chán.

 

Bàn về sự nhàm chán đang thịnh hành trong thời nay, cô nêu bật một nghịch lý, cụ thể là sự nhàm chán đang tăng mạng giữa chúng ta cho dù mỗi ngày chúng ta đều sản xuất ra đủ loại cải tiến để tránh chuyện đó.  Ngày nay, khi có trong tay các thiết bị công nghệ nối kết chúng ta với mọi thứ, từ tin tức thế giới cho đến ảnh chụp của những người thân yêu đang chơi với con cái họ, chẳng phải chúng ta đã được cách ly khỏi sự nhàm chán hay sao?  Nghịch lý thay, ngược lại thế mới đúng.  Mọi cải tiến công nghệ không xoa dịu nỗi nhàm chán của chúng ta.  Tại sao lại không?  Chúng ta vẫn vật lộn với sự nhàm chán bởi mọi kích thích trong thế giới không hẳn đã có ý nghĩa.  Theo Bieke, ý nghĩa và hạnh phúc không hệ tại nhiều ở chuyện gặp gỡ những người thú vị và khám phá những điều thú vị, mà đúng hơn là hệ tại ở việc hứng thú sâu sắc về những con người và sự vật.

 

Từ thú vị phát xuất từ gốc La Tinh, với hai từ là inter (bên trong) và esse (hiện hữu) và khi kết hợp lại, nghĩa là hiện hữu bên trong sự gì đó.  Mọi sự thú vị với chúng ta khi chúng ta chú tâm đến chúng đủ để thật sự đi vào trong chúng.  Và hứng thú của chúng ta không nhất thiết phải tùy vào khả năng kích thích tự nhiên của sự đó, dù ta vẫn thừa nhận rằng có những sự kiện và cảm nghiệm mạnh mẽ hơn cái khác.  Điều này giải thích sự hứng thú mạnh của ta với những sự kiện thế giới, các giải thể thao lớn, các lễ trao giải, cũng như sự ám ảnh vốn kém lành mạnh hơn với đời sống của những người nổi tiếng.  Có những người, sự vật và sự kiện, tự nhiên thu hút chúng ta hơn và chúng ta muốn ở “bên trong” những cuộc sống và sự kiện đó.

 

Nhưng hầu hết các tin tức thế giới, sự kiện thể thao lớn, các buổi trao giải và đời sống riêng tư của những người nổi tiếng, không phải là chế độ bình thường của ta, không phải là bữa ăn gia đình, nơi làm việc, những buổi đi nhà thờ, những buổi bán hàng từ thiện, lịch sống thường nhật hay những món ta ăn hằng ngày.  Và đây chính là điểm thường khiến ta chịu lấy sự nhàm chán, bởi ta không ở sâu trong hiện thực của những con người và sự kiện đó.  Chính vì thế mà chúng ta thường cảm thấy cuộc sống đều đều, ù lì, và thông lệ.  Nhưng nếu như thế, xét cho cùng, chúng ta đấu tranh với sự nhàm chán, không phải bởi gia đình, nơi làm việc, hàng xóm, giáo xứ, và bạn bè mình không thú vị.  Chúng ta nhàm chán bởi quá bần cùng nội tâm, quá phân tâm hay quá quy ngã, để có thể thật sự hứng thú với những sự đó.  Cảm nghiệm không phải là những gì xảy đến với chúng ta, mà là những gì chúng ta làm với những gì xảy đến với mình.  Enstein đã nói thế đấy.

 

Và Bieke Vandekerckhove cũng nêu bật một nghịch lý khác: Thật nghịch lý khi ta có xu hướng đấu tranh với nhàm chán và trì trệ trong khi ta đang đầy triển nở trong đời, đang khỏe mạnh và làm việc, còn những người như Bieke Vandekerckhove thì mất sức khỏe và chuẩn bị đối diện với cái chết nhưng lại thường thấy sự hồ hởi vui tươi nơi những cảm nghiệm bình thường nhất.

 

Những thấu suốt của Bieke Vandekerckhove rất giống với cảm nghiệm của Rainer Maria Rilke trong quyển Những lá thư gởi Thi sĩ Trẻ [Letters to a Young Poet.]  Như Bieke, ông cũng gợi ý rằng nhàm chán là lỗi của chúng ta, lỗi của một con mắt hờ hững.  Trong những lá thư giữa ông với một thi sĩ trẻ, chàng thi sĩ đã than phiền rằng mình không được tiếp cận đủ với những cảm nghiệm thúc đẩy thi ca, bởi anh sống trong một thị trấn nhỏ nơi hầu như chẳng có chuyện gì thú vị.  Và chàng thi sĩ ghen tị với Rilke, vì ông chu du gần khắp châu Âu và đã gặp đủ mọi kiểu người thú vị.  Với anh, những thấu suốt thi ca của Rilke phần nhiều dựa vào việc được đến những thành phố lớn, gặp những người thú vị, và được những kích thích mà một chàng trai ở thị trấn nhỏ chẳng bao giờ có được.

 

Câu trả lời của Rilke với chàng trai trẻ này đã trở thành câu trả lời kinh điển về vấn đề nhàm chán: “Nếu cuộc sống thường nhật của anh có vẻ nghèo nàn, thì đừng đổ lỗi cho nó, mà hãy bảo rằng mình không đủ thi vị để khơi lên sự phong phú của nó, bởi với người sáng tạo, thì không có sự nghèo nàn và không có không gian nghèo nàn.”

 

Tìm được hứng thú trong đời không hệ tại ở việc chúng ta là ai và gặp ai, nhưng là ở khả năng nhìn sâu vào mọi sự.  Cuộc sống khắp nơi đủ phong phú để cho ta thú vị, nhưng về phần mình ta phải hứng thú trước đã.

 


Suy tư: 

-Sự nhàm chán và sự vô cảm dường như có một sự liên quan mật thiết với nhau. Có thể diễn tả sự vô cảm là sự dửng dưng và không có cảm xúc trước cái đẹp, cái xấu diễn ra trước mắt mình. Chúng ta nhàm chán bởi quá bần cùng(nghèo nàn) nội tâm, quá phân tâm hay quá quy ngã, để có thể thật sự hứng thú với những sự đó. Và quả thực, đó cũng là nguyên nhân của sự vô cảm! Vì quá quy ngã, chúng ta chẳng muốn nghe hết câu chuyện hơi dài người kia đang muốn nói - không muốn gặp người ta nghĩ 'họ chẳng đem lại lợi ích gì'... và cuộc sống của mình và tha nhân cứ nghèo nàn dần đi - từng chút một.

- Để chữa trị sự nhàm chán và để sống có ý nghĩa trong cuộc đời, con người được mời gọi sống đời nội tâm: biết mình, biết người và biết Chúa. Con người thời đại bị nghiện các thiết bị công nghệ và mạng xã hội, hãy sử dụng có chọn lựa và có mục đích. Một số cảnh báo tôi nghĩ là có lý: Đừng dùng chúng để giết thời giờ, đừng biết quá nhiều thứ mà thứ gì cũng sơ sài, đừng lạm dụng AI quá nhiều để mất đi khả năng sáng tạo... và quan trọng nhất là phải duy trì những giờ cầu nguyện, những phút hồi tâm, thói quen tìm hiểu bản văn Kinh Thánh được đọc trong phụng vụ mỗi ngày. Lời Chúa và ơn Thánh Thần sẽ tạo những kích thích nội tâm giúp bạn đi vào chiều sâu của cuộc sống mình đang trải qua, thúc đẩy bạn chia sẻ những điều thú vị của tâm hồn mình cho những người gần gũi hằng ngày.

- Sự công bằng của Thiên Chúa được biểu lộ qua nhiều lãnh vực: nắng mưa trên kẻ lành người dữ, tỷ lệ sinh tự nhiên là bé nam nhỉnh hơn nữ 104/100, không ở đâu thiếu nhân tài, không ở đâu kém điều kiện tạo nên thú vị (interest)... có điều mình có nhận ra và trân trọng hay không.

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026

BIẾT LÀ MỘT CHUYỆN



Lời Chúa Thứ Ba Tuần XXII TN

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Tôi biết ông là ai rồi: ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa!”.

“Hiểu biết về Thiên Chúa là kinh nghiệm đức tin, đồng thời đòi hỏi một hành trình cả về trí tuệ lẫn luân lý: để cho sự hiện diện của Thần Khí chạm đến tận sâu thẳm con người!- Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay thật lạ, lời tuyên xưng đúng nhất trong hội đường ngày ấy lại phát ra từ miệng thần ô uế. Nó biết Chúa Giêsu là ai, nhưng nhất định không để Ngài làm chủ; bởi ‘biết là một chuyện’.

Khi Chúa Giêsu giảng dạy với uy quyền tại Capharnaum, chính thần ô uế đã kêu lên: “Ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa!”. Lời ấy hoàn toàn đúng, nhưng không phải là lời tuyên xưng đức tin. Nó gọi đúng tên Ngài để chống trả: “Ông đến tiêu diệt chúng tôi?”. Nó biết sự hiện diện của Ngài sẽ chấm dứt quyền chiếm giữ của nó trên con người ấy. Hoá ra, nói đúng về Chúa chưa có nghĩa là đã tin vào Chúa.

Trước những lời rành rọt của thần dữ, Chúa Giêsu không đôi co, cũng chẳng thoả hiệp. Ngài cắt ngang bằng một mệnh lệnh: “Câm đi, hãy xuất khỏi người này!”. Ngài không đáp lời thần dữ, cũng không nhận lời nó tuyên xưng; trước mắt Ngài chỉ có một con người phải được trả lại tự do. Ngài buộc nó phải im tiếng, bởi chân lý Thiên Chúa không cần được chứng minh từ miệng lưỡi sự dữ. Thần ô uế vật người ấy xuống giữa hội đường rồi xuất ra mà không làm hại gì. Chúa Giêsu không chỉ nói điều đúng; Lời Ngài còn giải thoát một con người. “Lời Ta phán ra sẽ không trở về với Ta mà không sinh kết quả!” - Isaia 55, 11.

Thế nhưng, con người vẫn có thể khép lòng trước Lời. Vì thế, Phaolô cảnh tỉnh cộng đoàn Côrintô: trở ngại không nằm ở trí óc, nhưng ở con người “không đón nhận”. Tri thức tôn giáo có thể làm một người hiểu biết, nhưng chưa hẳn làm họ thành môn đệ. Phaolô không dừng ở việc biết Đức Kitô từ bên ngoài, nhưng nói: “Chúng tôi biết được tư tưởng của Đức Kitô” - bài đọc một. Bản Hy Lạp viết noun Christou echomen - “có tâm trí của Đức Kitô”: không chỉ hiểu điều Chúa Kitô dạy, người môn đệ còn mang lấy cách Ngài nghĩ, Ngài nhìn và Ngài chọn lựa. Điều ấy phải trở thành con đường người môn đệ bước đi, vì “Chúa công minh trong mọi đường lối Chúa!” - Thánh Vịnh đáp ca.

Capharnaum vẫn có thể tái diễn nơi chúng ta. Có khi, chúng ta nói rất nhiều về Chúa để khỏi phải nghe Chúa nói về mình. Điều còn thiếu không phải thêm một định nghĩa, nhưng một tấm lòng thật sự muốn trở về. “Tôi thà cảm nghiệm lòng thống hối còn hơn là biết cách định nghĩa nó!” - Thomas à Kempis.

Anh Chị em,

Trên thập giá, Đức Kitô không nói thêm lời nào để định nghĩa Thiên Chúa là ai; Ngài trao chính mình. Ở đó, “tâm trí của Đức Kitô” được tỏ bày: hoàn toàn thuộc về Đấng Ngài biết, đến nỗi hiến mình để hoàn tất ý định cứu độ của Cha. Theo Đấng Chịu Đóng Đinh, chúng ta không chỉ nhận ra Thầy, nhưng bước theo Ngài vào vâng phục và tự hiến. Bởi ‘biết là một chuyện’; thuộc về Đấng đã hiến mình cho chúng ta mới là sự sống.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con đã biết rất nhiều về Chúa; xin cho điều con biết đi xuống trái tim, đi ra đôi tay và trở thành từng chọn lựa của đời sống con!”, Amen.


MỤC ĐÍCH CỦA ĐỜI SỐNG

 

 


LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 22 TN A

Lm. Mark Link, S.J.


Vào khoảng 3 giờ sáng ngày 17 tháng Tám, 1999, một trong những trận động đất kinh hoàng nhất đã xảy ra trong lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ.  Nó đã san bằng hàng trăm công trình kiến trúc và làm thiệt mạng hàng ngàn người.

 

Khi động đất xảy ra, một kế toán viên 40 tuổi người Thổ Nhĩ Kỳ là Yuksel Er vừa mới đi ra từ phòng vệ sinh ở lầu ba trong khu chung cư sáu tầng lầu. Bỗng dưng, mọi thứ bắt đầu quay cuồng.  Chính ông cũng lảo đảo và bị rơi vào dòng thác cuốn các đồ vật.  Trong 45 giây tiếp đó tai ông như điếc vì tiếng động mạnh. Và rồi, bỗng dưng mọi sự im lặng một cách ghê sợ. Khi Yuksel tỉnh dậy, ông thấy mình bị kẹt dưới đống gạch vụn trong một vùng thật tối. Trong khoảng cách nhỏ bé đó, ông không thể nào cựa quậy được, chỉ có thể nằm yên ở đó. Trên mình ông và chung quanh ông là những vụn vỡ của tòa chung cư sáu tầng lầu. Lúc đầu ông tưởng là tận thế.  Nhưng khi nghe thấy tiếng rên rỉ ở xa xa, ông biết là một điều gì khác đã xảy ra.

 

Trong bốn ngày liền, ông không ăn uống gì.  Ông dùng thời giờ để cầu nguyện, suy nghĩ về đời sống và tự hỏi đời sống sau khi chết sẽ như thế nào. Lúc đầu, ông còn la lớn kêu cứu.  Nhưng thấy vô ích ông im lặng để dưỡng sức. Ông bắt đầu nhớ đến gia đình, và nhất là đứa con trai 13 tuổi mà ông vừa mới la rầy nó chỉ vài giờ trước trận động đất – vì nó cứ dành máy vi tính của gia đình để chơi “game.”

 

Sau đó vào ngày thứ tư, khoảng một giờ sáng, ông nghe có tiếng gọi quen thuộc.  Chỉ trong vài phút, ông nhận ra tiếng của đứa cháu và thằng con 13 tuổi.  Chúng đào xới đống vụn để lôi ông lên. Khi đứa con trai lôi được ông ra khỏi đống gạch vụn, điều đầu tiên nó nói là, “Bố ơi, con sẽ không bao giờ làm bố giận nữa.”  Ông Yuksel trả lời, “Bây giờ thì không còn quan trọng nữa, vì bây giờ mọi sự sẽ khác biệt.”

 

Sau này, khi ở trong bệnh viện, Yuksel nói với gia đình và bạn hữu: “Đây là cuộc đời thứ hai của tôi.  Tôi sẽ cố gắng tận dụng cuộc đời ấy.”  Và rồi ông khóc.  Giống như tiếng khóc của đứa bé mới lọt lòng mẹ.

 

Trước trận động đất, Yuksel sống với những ưu tiên và mục đích, không khác gì những ưu tiên và mục đích của chúng ta.  Sau cảm nghiệm ấy, các ưu tiên và mục đích của ông thay đổi cách đáng kể.

 

Điều này đưa chúng ta đến bài Phúc Âm hôm nay.  Trong bài Chúa Giêsu nói rằng, “Nếu ai trong các con muốn đến với Thầy, phải từ bỏ mình, vác thập giá của con và theo Thầy.” Ở đó chúng ta cũng thấy Chúa Giêsu cảnh cáo các môn đệ về sự ngu dại khi giành được thế gian nhưng đánh mất điều quan trọng nhất trong tất cả: là sự sống vĩnh cửu ở đời sau. Sau cùng, chúng ta cũng thấy Chúa Giêsu nói: “Con Người sẽ thưởng cho họ tùy theo hành động của họ.”

 

Hãy trở về với câu chuyện của Yuksel.  Khởi đầu tưởng rằng 'trận động đất' là một thập giá nặng nề, nhưng sau cùng lại là một phước lành lớn lao. Nó đã dạy cho ông và thúc giục ông sống thời gian còn lại theo một phương cách xứng hợp với Chúa, và với suy nghĩ của Thiên Chúa chứ không phải của Satan.

 

Cũng giống như trận động đất đã thay đổi cuộc đời ông Yuksel, bài Phúc Âm hôm nay cũng nhắm đến một kết quả tương tự cho chúng ta – tối thiểu cho một số người trong chúng ta.  Có lẽ, như Phêrô, lối suy nghĩ về đời sống của chúng ta trở nên nguy hiểm hơn và càng giống với kiểu cách suy nghĩ của Satan hơn là của Thiên Chúa. Có lẽ, giống như Phêrô, chúng ta đang mất dần ý nghĩa của đời sống: Một đời sống hướng tìm sự vui thú và muốn tránh càng nhiều thập giá càng tốt. Đúng ra, đó là một đời sống để đạt được phần thưởng là sự sống đời đời.  Đó là lối sống trong những năm còn lại của chúng ta ở đời này để giúp chúng ta gặt được phần thưởng là sự sống vĩnh cửu ở đời sau.

 

Rõ rệt hơn nữa là vác thập giá hằng ngày của chúng ta và chấp nhận các thập giá ấy trong tinh thần mà Chúa Giêsu đã chấp nhận thập giá của Người. Một khi chúng ta bắt đầu sống như Chúa Giêsu đã dậy, chúng ta sẽ khám phá ra điều mà Yuksel đã tìm thấy: điều tưởng như một thập giá to lớn lại trở nên một ơn sủng lớn lao trong đời này và đời sau.

 

 



Mấy chục năm về trước, Gene Stallings đã huấn luyện đội banh trường đại học Alabama để thắng được 22 trận và được coi là trường đứng hạng hai về dã cầu (football).  Nhưng không phải biến cố này, mà là một biến cố khác, đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc đời của ông.  Đó là việc sinh hạ đứa con trai, Johnny. Khi bác sĩ nói với ông Stallings rằng Johnny sẽ bị hội chứng Down (chậm phát triển) và có lẽ không sống lâu hơn bốn năm, ông đã ngất xỉu.

 


Ba mươi năm sau, Johnny vẫn còn sống.  Nói về ảnh hưởng của Johnny trong cuộc đời, ông Stallings cho biết: “Cháu rất đặc biệt!  Tất cả sự yêu thương của cháu thì vô điều kiện.  Cháu không đạt được thành tích gì.  Cháu hoàn toàn vị tha.”

 

Trong rất nhiều dịp, ông Stallings tuyên bố rằng cho dù có thể đảo ngược mọi sự và bắt đầu lại với một đứa con không bị bệnh Down thì ông cũng không muốn như vậy.  Ông nói, “Tôi cảm nhận được rất nhiều ơn lành.” Điều mà ông Stallings nghĩ rằng sẽ là một thập giá lớn lao trong đời thì lại trở nên một ơn sủng lớn lao – cả ở đời này và ngay cả ở đời sau.

 

Đây là điều Tin Mừng của Phúc Âm hôm nay dạy: khi chúng ta vác thập giá của mình và theo Chúa Giêsu, điều đó có thể thay đổi cuộc đời chúng ta nhưng sẽ đem lại một bình an và phước lành mà chưa bao giờ chúng ta tưởng tượng nổi hay dám hy vọng – và ngay cả dám mơ tưởng đến.