Danh sách Blog của Tôi

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013

Khóc thương cha





Cha ơi, cha thấy đó
Sáng hôm nay, ngày mồng năm tháng 8
Ngàn ngàn người lũ lượt về đây tiễn đưa cha
Là giám mục, linh mục và tu sĩ nam nữ
Là giáo dân từ nhiều giáo xứ gần xa
Nhưng đông nhất vẫn là giáo dân giáo xứ Vinh Hương,
những người mang nặng ân tình với cha gần vài chục năm nay.
Có thể nói giai đoạn đẹp nhất của đời cha đã dành cho Vinh Hương
Chúng con biết cha từ những ngày cha là Tân linh mục,
Lúc cha còn khỏe mạnh, linh hoạt, tài hoa và rất tuyệt vời.
Rồi những ngày cha bắt đầu đổ bệnh, cuộc đời cha héo hắt thêm từng ngày, những liều thuốc cứ tăng dần theo năm tháng.
Tuy bệnh tật cha vẫn luôn bình tĩnh, là con chim đầu đàn trong đời sống tâm linh.
Rồi bệnh tật như giây thừng siết chặt, lấy khỏi cha sức khỏe thể lý và tinh thần.
Cha khổ tâm vì không thể làm điều mình muốn, để săn sóc cho đoàn chiên.
Cha trở nên hy tế thập giá qua từng ngày sống.
Thấy cha bệnh, chúng con thương cha nhiều lắm, nhưng chỉ biết nguyện cầu lòng Chúa xót thương.
Cha trở nên kiệt quệ hơn trong những năm gần đây, từng liều thuốc cha uống phải tính toán chi ly giờ giấc, làm sao để chu toàn những công việc cần thiết của một vị chủ chăn.
Tuy bệnh thế, nhưng cha luôn bình tĩnh, khuôn mặt cha luôn phảng phất nụ cười.
Cuối tháng 6, tiễn cha phó cũ đi và đón cha phó mới về.
Đầu tháng 7 tin vui mừng ập đến, cha lên đường chữa bệnh với phương pháp hiện đại, cha lại một phen lo lắng về khoản chi phí quá lớn, cha ngại làm phiền mọi người. Nhiều người sát cánh bên cha, có dịp thể hiện lòng biết ơn thảo hiếu của tình người với người bạn rất thân tình.
Từng diễn biến của của ca phẫu thuật được kèm theo lời nguyện cầu. Tiếng thở phào khi nghe tin thành công, cha khỏe lên chúng con mừng gấp bội, từng ngày một đợi cha về lại nhà.
Đầu tháng 8 đoàn con mừng thấp thỏm: cha sắp về,
chợt nghe tin cha được Chúa gọi về.
Tuy bỡ ngỡ và bàng hoàng, chúng con dần nhận ra ý nhiệm mầu của Chúa.
Cuộc hiến tế của cha đã đến giờ cao điểm, và tình yêu thập giá đã nở hoa.
Từng nhịp bước cha con song hành cả quãng đường dài,
những nhịp bước có đôi khi khập khiễng.
Nhưng giờ đây khi cha con cách biệt, chúng con hối tiếc vì nhiều khi lỡ nhịp,
làm buồn lòng cha, kém lòng mến Chúa và thiếu tình người.
Thật cảm động vì cha chọn nơi nầy làm quê hương thứ hai,
cả khi sống và bây giờ đã khuất.
Tuy xa lìa thể lý, nhưng tâm linh vẫn gần gũi,
chúng con thương cha và cha lại chuyển cầu cho chúng con.
Tuy cha khuất bóng, nhưng gương sáng cha còn ở lại mãi nơi đây,
cha đã gieo hạt và nay đến mùa gặt hái.
Xin lỗi cha, tạ ơn cha và cầu nguyện cho nhau, cha nhé.
Cầu chúc cha ra đi bình an, đến gặp Đấng Tình Quân lòng cha hằng yêu mến và suốt đời phụng sự.

Những câu chuyện được kể về cha Phaolô Nguyễn Công Minh ]




Những câu chuyện được kể về cha Phaolô Nguyễn Công Minh



Những câu chuyện về đời cha có lẽ có rất nhiều, chúng phản ánh những nhân đức Kitô giáo.  Tôi chỉ biết được rất ít và rất cần sự cộng tác của nhiều người. Chúng ta chia sẻ cho nhau những món quà thiêng liêng cha Phaolô để lại để giúp nhau sống tốt hơn và là những di sản tinh thần để lại cho thế hệ mai sau.

Cha Phaolô là người nhạy cảm về sự phục vụ và giúp đỡ người khác. Có một lần, tôi có việc ở nhà xứ, cha và cô Lệ (người giúp cha chuyện cơm nước) mời tôi uống nước đậu nành. Như thói quen ở nhà, tôi uống xong và đưa ly lại chậu ngâm cùng với vài chiếc ly khác, vì nghĩ rằng đã có cô Lệ. Một lát sau, cha rửa tất cả, và cha bảo: "cô rất dễ bị nấm tay khi tiếp xúc nhiều với nước, mình vẫn thường xuyên rửa chén bát". Tôi còn nghe biết nhiều hôm cha tự pha mì ăn và còn pha cho cô nữa vì cô cũng có lúc mệt nhọc. Cha khen chị Oanh là người hay xếp đặt sách vở trên ca đoàn 1 với một câu đầy triết lý sống: “việc phục vụ không đợi người khác phải nói ra mà còn là biết đoán trước những nhu cầu của họ”. Còn chuyện ngài hôn chân trong nghi thức rửa chân vào chiều thứ năm Tuần Thánh tôi chỉ mới được thấy cách đây chừng 5 năm; lần đầu chứng kiến tôi quá bỡ ngỡ và xúc động; lần thứ hai, tuy không bỡ ngỡ bằng, nhưng hôm đó ngài là cha chủ tế - còn có cha phó Phêrô đồng tế nữa, nhưng cha Phaolô vẫn cử hành việc rửa chân – dù rất bệnh tật, không biết do luật định chủ tế phải cử hành nghi thức này hay ngài giành lấy?
Cha Phaolô rất chăm chỉ làm việc tay chân, một phần phải vận động vì vấn đề sức khỏe, nhưng lý do chính hơn có lẽ là vì muốn nâng đỡ gánh nặng của tha nhân. Nhiều hôm cha tưới hoa và làm việc vặt trong khuôn viên nhà xứ (trong tình trạng bệnh tật) thấy rất tội nghiệp, ông chủ tịch phải can thiệp.
Cha không nói chuyện xấu của người khác và chỉ nói một chút về bệnh tật khi có người hỏi thăm. Nếu có vấn đề gì với ai, cha thường mời họ tới để gặp gỡ trao đổi. Cha không nặng lời với ai trên tòa giảng. Sau thánh lễ, đôi lúc cha cũng góp ý về một vài công việc phục vụ của hội Lêgiô hay ca đoàn với lời lẽ “không được khéo”, nhưng phải thông cảm cho cha vì những năm gần đây cha sống nhờ thuốc và thuốc tây có thể gây nên căng thẳng và ngài đang bị cơn  bệnh không ngừng hành hạ đau đớn.
Cha không loại trừ và kỳ thị ai. Cha rất có con mắt nhìn người khi chọn họ phục vụ trong những đoàn thể, nên đôi khi cha vẫn âm thầm từ chối không gọi một ai đó vào những công việc không phù hợp. Nhưng trên hết, cha rất rộng lượng: những kẻ đã bỏ việc vì bất mãn và bướng bỉnh vẫn được cha âm thầm chờ đợi nhiều năm trời, cho đến một ngày họ hối cải – muốn phục vụ lại thì cha niềm nở đón nhận, vẫn giao phó công việc phù hợp. Trong khi chờ đợi một ai đó đang đắn đo nhận nhiệm vụ, cha không đay nghiến – xì xèo to nhỏ, mà chỉ âm thầm cầu nguyện và không ngừng tác động… không hề nóng nảy hay nặng lời. Đúng là cha làm chủ được bản thân, trở nên nhỏ bé trước mặt Chúa và anh em.
Trí óc cha rất thông minh, nhưng chưa thấy ai bị cha làm cho bẽ mặt vì  lầm lẫn kiến thức và cũng chưa thấy cha khoe khoang mình học ra sao! Giỏi mà khiêm tốn thật khó dường bao. Cha chỉ nói khi cần thiết, nói rất ít và chỉ nói về những công việc mục vụ, chưa thấy cha oang oang nói về một lãnh vực nào đó để chứng tỏ sự uyên thâm của mình. Nếu có nói về người thứ ba thì đó lại là một lời khen ngợi chân thành để khuyến khích họ. Mỗi dịp tết đến hay dịp lễ quan thầy Phêrô Phaolô, trước đây mỗi hội đoàn đều đến mừng tuổi cha với một chút quà, nhưng nhận thấy sự vất vả của giáo dân, cha quyết định: chỉ cần ông chủ tịch đại diện cộng đoàn mừng tuổi hoặc mừng lễ ở nhà thờ với cộng đoàn là được, đơn giản thế thôi.
Khi nói chuyện, cha nhìn thẳng vào mặt người kia với thái độ lắng nghe hết mình, không bao giờ cha ngắt chuyện ai  mà luôn chờ cho họ nói hết câu chuyện. Cái nhìn của cha đôi khi làm nhiều người lúng túng và sợ. Nhiều người nói: cái nhìn chằm chằm là do bệnh tật, nhưng đúng hơn là do sự tôn trọng , tính mẫn cảm, tính khiêm tốn và lòng bác ái sẵn có nơi cha.
Anh Võ có nói một hình ảnh về cuộc đời cha rất hay: “Năm 11 tuổi, gia đình tiễn đưa người con thứ năm dâng mình cho Chúa trong chủng viện. Người con ấy được lãnh sứ vụ linh mục vào 24.8.1995 và được bổ nhiệm làm mục vụ tại giáo xứ Vinh Hương, và để cho bông hồng nên tươi thắm hơn, Chúa đã trao cho cha bệnh tật và dường như khi bông hồng đã trở nên rực rỡ muôn phần thì Chúa đã hái về. Chúa đã cho cha trải qua những thương đau cuộc đời, rất nhiều lần “vỡ mộng” để giúp cha từ bỏ ý riêng: mộng linh mục bay xa trong những lần giải tán 75 và 78, những ngày lận đận vật lộn với cuộc sống để duy trì ơn gọi 78-92, công việc mục vụ tại Vinh Hương trái với ước vọng công việc giáo dục của cha, cơn bệnh càng ngày càng nặng dễ làm con người thất vọng và nổi loạn với Chúa vì tương lai đen tối, ngoài ra cha cũng mang nặng những nỗi khổ tinh thần và những mặc cảm vì mình không chu toàn bổn phận, vì mang ơn nhiều người. Tất cả những đau khổ thể xác và tinh thần đó là để trui luyện niềm tin và tình yêu của Cha với Chúa nên tinh tuyền. Dĩ nhiên, Thiên Chúa không ngừng ban ơn nâng đỡ để cha không thất vọng và vấp ngã, để cha hoàn tất hiến lễ cuộc đời: hoàn toàn tín thác vào Chúa”.
Hôm cha mất, phòng làm việc của cha bị niêm phong lại, đến chiều thì cha quản hạt và cha phó mở ra để tìm di chúc: nguyện vọng của cha được chôn cất ở đâu? Tìm mãi mà chẳng có di chúc gì cả. Ai cũng cảm động, vì cha từ khước luôn cả sự chọn lựa cho mình một nơi an nghỉ sau khi chết. Được biết cha có rất ít con cái thiêng liêng và cũng chẳng có chút tiền bạc, tài sản giá trị nhất của cha bây giờ có lẽ là một chiếc xe Dream. Không di chúc, không tiền bạc và duy nhất một người con thiêng liêng… tất cả nói lên tinh thần phó thác nơi sự xếp đặt và định liệu của Thiên Chúa. Tinh thần nghèo khó và phó thác của cha còn có một khía cạnh tích cực nữa là cha luôn biết cho đi và chia sẻ hơn là vơ vét cho mình.
Thế đó, khi nghĩ về cha Phaolô, chúng ta nên tự hào về một người bạn tốt lành đã kiên trì thể hiện những nhân đức một cách anh hùng: Khiêm tốn, chăm chỉ làm việc, khoan dung và độ lượng, khó nghèo và phó thác, nhạy cảm và sẵn sàng phục vụ anh em.



Thứ Năm, 1 tháng 8, 2013

Đời là giấc mộng




Có những đêm khó ngủ, ta thường có nhiều giấc mộng về những chuyện trong cuộc sống: chuyện tình yêu, chuyện công việc, chuyện va chạm với ai đó, chuyện nguy hiểm đến tính mạng. Những tình tiết của những câu chuyện đó cũng rất phức tạp và gay cấn, chỉ có điều là ta thường bất lực để chạy trốn, nên thường vã mồ hôi khi thức giấc. Tỉnh lại rồi ta mừng vì đây chỉ là mơ chứ không phải thật và ta vẫn an lành.
Cũng nhờ có những giấc mơ hãi hùng đó mà ta nhận ra một sự thật rằng: cuộc đời ta cũng y như một giấc mơ vậy! Tuy cuộc đời ta là thật: ta ăn, ta uống, ta yêu, ta lao nhọc và lo âu…nhưng rồi đến một lúc nào đó phải buông bỏ hoàn toàn để trở về với Đấng Tạo Hóa thì cuộc sống hiện nay của ta dường như là một giấc mơ đã qua.

Sách Giảng Viên đã nói: “phù hoa trên mọi phù hoa. Cuộc đời hết thảy chỉ là phù hoa. Bấy giờ nhìn vào hết mọi việc do chính tôi làm, và bao gian lao vất vả tôi phải chịu, tôi nhận thấy : tất cả chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát ; dưới bầu trời, có lợi lộc gì đâu” (GV 2,11). Tôi nhận thấy rằng trong công việc, con người chấp nhận mọi gian khổ và vận dụng hết tài năng chỉ vì muốn ganh đua với nhau. Nhưng việc đó cũng chỉ là phù vân, là công dã tràng xe cát !(4,4).
Quả đúng như vậy, nếu con người chỉ biết lao nhọc, cưới vợ gả chồng, đặt niềm tin và trọng tâm cuộc đời nơi những sự vật, thì cuộc đời nầy quả là phù vân. Đức Phanxicô nói với giới trẻ phải xét lại xem mình đặt niềm tin nơi đâu, nơi chính mình hoặc nơi của cải chứ không phải là Thiên Chúa. Tôi chắc chắn rằng các bạn không muốn sống trong ảo tưởng một thứ tự do để cho mình bị lôi kéo theo thời đại và những điều thịnh hành nhất thời. Tôi biết rằng các bạn nhắm cao hơn, nhắm đến những chọn lựa chung kết mang lại ý nghĩa trọn vẹn cho cuộc sống. Chúa Giêsu có khả năng cống hiến điều ấy cho các bạn. Ngài là "đường, là sự thật và là sự sống" (Ga 14,6). Chúng ta hãy tín thác nơi Ngài. Chúng ta hãy để cho Ngài hướng dẫn.(Buổi canh thức với các bạn trẻ ở Brasil 7.2013)
Nhà thờ giáo xứ Vinh Hương gắn liền với cây đa cổ thụ. Cây đa là hình ảnh đã đi vào tâm khảm những người đã từng một ngày sống ở Vinh Hương. Đang là mùa thay lá, hàng ngàn chiếc lá  rơi rụng mỗi ngày, làm khổ những người muốn cho quang cảnh nhà thờ sạch đẹp. Tuy nhiên lá cứ rụng như một lời nhắc nhở con người sự trở về lòng đất của thân phận bụi tro, khi đến giờ Chúa muốn – thường là vào lúc ta không ngờ. Những chiếc lá cứ vô tình rơi xuống, những hạt mưa mùa giông bão nhẹ rơi, làm tan nát cõi lòng đoàn con đang đón chờ cha về.

Đừng để cuộc đời chỉ là giấc mơ vì ta đã vỡ mộng khi đến điểm hẹn. Đời chỉ là thực khi nó là hạt mầm được gieo và trổ sinh hoa trái cho mai sau. Để đời không là mơ thì phải có Chúa hiện diện, Chúa đồng hành, Chúa can thiệp: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa”

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

Phòng tĩnh nguyện




Bản tin từ Email của anh Trần Khánh Điệp: “Sáng hôm qua Chúa nhật 28/7/2013, cha quản xứ Châu Sơn, cha Jn. Bùi Quang Đạo đã làm lễ khánh thành "PHÒNG TĨNH NGUYỆN" .
                 Sau Thánh lễ I, cộng đoàn dân Chúa tập trung về Phòng Tĩnh Nguyện, mới được xây dựng theo như mong muốn và đề nghị của ngài khi vừa mới về nhận giáo xứ.... và sáng nay 29/7/2013 khi vừa kết thúc Thánh lễ, là cuộc rước Mình Thánh Chúa về đặt nơi Phòng Tĩnh Nguyện. Các nghi thức rất gọn nhẹ nhưng luôn giữ được sự trang nghiêm sốt sắng.
                 Còn nhớ trước đây giáo xứ Kim Phát (cha Jac. Phạm xuân Lương), giáo xứ Buôn Hồ (cha Phêrô Trương Văn Khoa) cũng đã xây dựng những nhà phòng để bất cứ lúc nào giáo dân cũng đều có thể đến viếng Chúa Thánh Thể. Chúng ta cũng không thể quên những giây phút viếng Thánh Thể Chúa khi còn là các chú Tiểu chủng sinh, những việc làm hằng ngày đó đã ăn sâu vào tâm khảm, đã cho ta sự an bình cho tới tận bây giờ mỗi khi ta đến với Thánh Thể.
                 Phòng Tĩnh Nguyện khá rộng rãi, có chiều sâu, thiết kế đẹp, các vật liệu được sử dụng tạo một bầu khí vừa tôn nghiêm vừa ấm cúng”.

Bản tin tuy đơn sơ nhưng gợi lên một thực tế của các xứ đạo tại Việt Nam: cửa nhà thờ luôn đóng kín vì sợ kẻ xấu nên người giáo dân bỏ mất một thói quen tốt là viếng Thánh Thể. “Phòng tĩnh nguyện” có lẽ là một giải pháp tình thế phù hợp và cần thiết cho nhiều giáo xứ trong tương lai gần. Có người từng đặt câu hỏi: “tại sao nhà chùa luôn mở cửa trong lúc nhà thờ lại đóng cửa im lìm?”

Ai cũng biết, bí tích Thánh Thể là trung tâm của đời sống đạo của mọi Kitô hữu, mọi hoạt động tông đồ đều múc lấy sức mạnh từ Đức Kitô. Chúa Giêsu Thánh Thể luôn khao khát tình yêu của con người, mà cách thể hiện tình yêu tốt nhất là gặp gỡ, chuyện trò, tâm sự và rồi Chúa sẽ mạc khải cho bạn tình con đường nên thánh cũng như tăng thêm sức mạnh giúp họ rũ bỏ những tham sân si không phù hợp với Tin Mừng.
Ngày xưa, khi còn ở trong chủng viện, cứ sau mỗi tiết học thì được giải lao 5 – 10’ và việc viếng Thánh Thể luôn được khuyến khích. Mỗi cộng đoàn tu đều có Chúa Giêsu hiện diện trong một căn phòng thuận tiện, để các tu sĩ đọc kinh thần vụ và thưa chuyện lâu giờ với Chúa Giêsu, Đấng họ tôn thờ. Đó là phòng tĩnh nguyện của cộng đoàn, ở đó có sự hiện diện của vị Vua vũ trụ nhưng cũng là người bạn chân tình của mỗi tâm hồn, nơi Ngài họ tìm được sức mạnh cho từng ngày sống và ý nghĩa cho một cuộc đời tận hiến.
Nếu ta xác tín rằng Thánh lễ là vô giá, vì sự hiến tế của chính Con Thiên Chúa được tái diễn và ơn cứu rỗi được hiện tại hóa cho những người tham dự, thì hãy thu xếp để đến dâng Thánh Lễ hằng ngày bạn nhé, ít là để viếng thăm Chúa Giêsu Thánh Thể vì Ngài luôn mong chờ ta ở đó. Tôi vẫn thường nói với con cái: “Việc có ý nghĩa nhất cho một ngày sống là đi dâng Thánh Lễ”.

Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2013

Dòng sông và cuộc đời




Khi nghĩ về dòng sông, ta thường nghĩ về cuộc đời, vì giữa chúng có nhiều điểm tương đồng. Cả hai đều là dòng chảy, ngày nầy qua ngày khác – năm này qua năm khác, cứ chảy mãi, tuy có thăng trầm và biến đổi nhưng luôn là chính nó.
Dòng sông không biết đâu là nguồn cội, vì một giọt nước không thể chảy ngược để tìm về nơi mình đã xuất phát. Con người không nhận diện được những tế bào đầu tiên của mầm sống được hình thành nơi lòng mẹ của chính mình, không ai đã từng chứng kiến giây phút tạo dựng con người đầu tiên ra sao. Chỉ với sự mạc khải của Thánh Kinh, con người biết Thiên Chúa là nguồn cội của vũ trụ và là cùng đích của muôn loài.
Dòng sông cứ chảy mãi về chỗ trũng và luôn tiến lên phía trước, nó chảy vòng qua những rặng núi, có lúc hòa mình vào những hồ lớn để rồi lại tiếp tục hành trình của riêng mình và mất hút trong biển cả. Đời người cũng vậy, cũng có những gian lao thử thách phải vượt qua để lớn lên, thử thách của tuổi trẻ và tuổi già, thử thách của tình dục nơi mình và hấp lực của những đam mê thế gian, những gian lao vất vả vì cuộc sống, những đớn đau của bệnh tật và cuối cùng là sự chết – một sự trút bỏ mọi thứ ta đã cố công gom góp cả đời để an nghỉ nơi lòng đất mẹ.
Dòng sông có một quy luật nữa là càng ngày càng lớn hơn, vì nó tiếp nhận thêm những thành viên mới, giữa chúng luôn có sự hòa nhập và chia sẻ các yếu tố cấu thành. Để lớn lên, con người cũng phải biết sống vì tha nhân, đón nhận và chia sẻ. Thi sĩ Tagore nói rất chí lý: "Tôi nằm ngủ mơ thấy đời sống là niềm vui. Khi thức dậy tôi khám phá ra rằng, sống là phục vụ. Tôi dấn thân phục vụ và khám phá ra rằng phục vụ chính là niềm vui".
Dòng sông khi ngắn khi dài, nhưng dường như nó không quan tâm đến mục đích tồn tại của mình, nó cứ tưới gội vùng đất nó đi qua - nó cứ reo ca qua từng ngày được là chính nó và nó cũng nhẫn nhục khi đã mất tên gọi nơi biển rộng. Đời người tuy ngắn hay dài đều có nhiệm vụ và ơn gọi và mục đích riêng mà Chúa đã dự liệu,  dù nhiều khi ta chẳng ý thức, vì chính Chúa đã khắc tên từng người trong lòng bàn tay Chúa.

Ông Luther Martin King nói về chiều dài, chiều rộng và chiều cao cuộc đời. Chiều dài cuộc đời thì ai cũng có, đó là quãng thời gian tồn tại của họ trên trần gian nầy với những bận tâm thỏa mãn nhu cầu bản thân. Chiều rộng cuộc đời là mối tương quan với tha nhân và chiều cao cuộc đời là mối tương quan với Đấng Tạo Thành. Một cuộc đời thành đạt và phong phú phải có đủ ba mối tương quan nầy, tựa như 3 cạnh của một tam giác đều. Bạn hãy có những chương trình đủ dài hạn để đưa Thiên Chúa vào đó và đủ rộng lớn để bao gồm thời gian vĩnh cửu.
Dòng sông dù hiền hòa hay giận dữ luôn tiến lên không bao giờ lùi. Đời người dù vắn dài sướng khổ cũng là cuộc hành trình tiến về điểm hẹn ta vẫn chờ mong, nơi Đức Kitô đã dọn chỗ và đang chờ đợi người con trở về nhà, sau cuộc hành trình trong tin yêu và phó thác.

Thứ Năm, 27 tháng 6, 2013

Dòng đời dần trôi…




Sông Sêrêpôk nằm ở phía Tây Trường Sơn, con sông này chảy sang đất Campuchia trước khi nhập vào sông Mê Kông để sau đó con sông lớn này trở lại Việt Nam.  Dòng nước cứ chảy về chỗ trũng như một điều tự nhiên. Dòng nước khi hiền hòa khi lại giận dữ tùy thời tiết và địa hình nó đi qua. Cuộc đời mỗi người và sinh hoạt của một giáo xứ cũng được ví như dòng sông đầy kỷ niệm và dấu ấn của tình Chúa và tình người. Tôi muốn nói tới cuộc chia tay của giáo xứ Vinh Hương với cha Phêrô Cao Tiến Hà và nói tới giáo xứ Đức lệ là nơi cha Phêrô được bổ nhiệm là vị quản xứ tiên khởi.
Năm 1995, thầy Phêrô Cao Tiến Hà đi học ở Đại Chủng Viện Sao Biển Nha Trang, chương trình học chỉ 5-6 năm là hoàn tất, các bạn lần lượt lãnh nhận sứ vụ linh mục, thế nhưng thầy Phêrô bôn ba mãi tới năm 2009 mới bước lên bàn Thánh và được bổ nhiệm là cha phó giáo xứ Vinh Hương. Trong 4 năm sống đời cha phó, dưới sự dìu dắt của cha Phaolô Nguyễn Công Minh, cha Phêrô nay đã trưởng thành để nhận một giáo xứ còn non trẻ với vài năm tuổi. Chắc chắn đây là cơ hội tốt cho cả hai: cha xứ trẻ với đầy nhiệt huyết và đàn chiên cũng quyết tâm cộng tác với vị chủ chăn để đưa giáo xứ hòa nhập với bạn bè bốn phương, cả trong lãnh vực đạo cũng như đời, cho thỏa tình mong ước bấy lâu nay. Còn nhớ ngày lễ mở tay của cha Phêrô ở giáo xứ Kim Mai, cha nghĩa phụ Stephanô Nguyễn Văn Đậu đã giảng: Bí tích truyền chức thánh và ơn của Bí tích này không làm phép lạ ngoạn mục để biến một người bình thường, trong nháy mắt, thành một vị thánh, thành người hoàn thiện, một người tốt lành. Ngày lãnh chức linh mục không phải là đạt đến đích điểm đời tu, nhưng chỉ là bước qua một giai đoạn mới, khởi đầu lên đường đi loan báo Tin Mừng. Ai cũng biết linh mục cũng là con người, nên có rất nhiều hạn chế về mọi mặt và suốt cuộc đời  tận hiến  linh mục luôn phải phấn đấu để trở nên trọn lành. Ý thức thân phận mỏng dòn của mình, cha Phêrô đã chọn khẩu hiệu ‘Hồng Ân của Chúa, đời đời con ca ngợi'. Và hôm nay 27/6/2013, cha nghĩa phụ lại căn dặn: Linh mục là người dẫn dắt người ta đến với Thiên Chúa, xây dựng sự hiệp nhất và yêu thương. Linh mục được trao cho chìa khóa nhà tạm là để nhắc nhở rằng: Thánh Thể là trung tâm đời sống đạo và là nơi linh mục kín múc sức mạnh. Linh mục quản xứ được dẫn ra tháp chuông để nói lên rằng Ngài có bổn phận quy tụ cộng đoàn đến tụ họp cầu nguyện. Linh mục còn được đưa đến tòa giải tội để nói lên rằng ngài được trao cho quyền tháo cởi trong nhiệm sở mình và phải biết cách dẫn con chiên năng đến tòa cáo giải để giao hòa với Thiên Chúa. Ngày 24/6/2013, mừng lễ quan thầy Gioan Baotixita, đoàn con giáo xứ Vinh Hương đã có lời từ biệt cha Phêrô để cha ra đi theo bài sai của đức cha Vinh Sơn. Đã có những giọt ngắn giọt dài vì bùi ngùi thương tiếc, vì những cảm xúc tạ ơn  cũng như xin lỗi nhau, khi những bước chân cha con cùng song hành trong suốt 4 năm trời, dù những bước chân có lúc khập khiễng. Và ngày hôm nay, 27.6.2013, khá đông bà con giáo dân đã tự nguyện đưa tiễn cha về vùng đất mới, cùng dâng thánh lễ để cầu xin ơn Chúa xuống trên cha và bà con giáo xứ Đức Lệ, là con đẻ của Vinh Hương. Xin cho dòng đời cha càng ngày càng trở nên hùng vĩ, lôi cuốn được nhiều tâm hồn về bên Chúa Tình Yêu.

Đến với giáo xứ Đức Lệ, ai cũng nhận thấy sự trưởng thành rõ rệt. Những năm 1960, chỉ có một nhóm nhỏ tìm đến đây lập nghiệp, tựa như những dòng suối róc rách khởi nguồn cho một dòng sông lớn trong tương lai. Thập niên 70, giáo họ Đức Lệ được thành lập, có nhà thờ để cha xứ vào dâng lễ và có tượng thánh Antôn Padua. Đặc biệt từ năm 1997-2012, có cha Isidorô Lê Hướng về giúp giáo họ và tiếp đó đến nay có cha xứ Xã Đoài làm cha quản nhiệm. Thời gian gần đây, giáo xứ Đức Lệ được giáo quyền cũng như chính quyền công nhận và đã có một giáo điểm Đức Hòa. Sự phát triển âm thầm mà mạnh mẽ của giáo xứ Đức Lệ được ví như dòng sông càng ngày càng lớn, tuôn chảy về biển khơi cội nguồn là Thiên Chúa. Nơi dòng sông nầy, muôn sinh linh tìm được môi trường tốt để sống đạo, để minh chứng tình Chúa và thể hiện tình người, họ cùng nhau trẩy hội tiến về đền thánh Giêrusalem trên trời.
Giáo xứ Vinh Hương cũng đang trải qua một giai đoạn có nhiều biến động, tiễn cha phó đi và chỉ vài ngày tới lại đón cha phó Phaolô từ giáo xứ Vinh An về. Thêm vào đó, đầu tháng 7 cha xứ đi Saigon để được bác sĩ giỏi chẩn đoán lại, chuẩn bị cho một cuộc giải phẩu cài ‘chip’ điện tử vào não. Có thể nói lòng người ai cũng cảm thấy nao nao khi dòng sông đi qua vùng thác ghềnh, nhưng tiếng nói của Thầy Giêsu vẫn vang vọng trong ta: “Thầy Đây, đừng sợ, hỡi đàn chiên bé nhỏ”.


Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2013

Lòng yêu mến



Khi ta bị bệnh về mắt, ta buộc phải mang kính và vạn vật biến đổi bởi lăng kính ta mang, từ màu sắc cho đến kích thước. Nếu ta biết nhìn nhận thân phận tội lỗi của chính mình và nhìn ra lòng yêu mến (sự tử tế) của người khác, thì thái độ sống của ta với người người khác sẽ trở nên dễ dàng hơn nhiều.
Quả thật, nhìn ra tội mình là một điều khó và nhìn ra lòng yêu mến của người khác cũng là điều khó. Vua Đavit đã say đắm bà Betsabê nên đã lập mưu giết chồng bà là tướng Uria. Tiên tri Nathan được Chúa sai đến nói với vua về câu chuyện “một người rất giàu đã lấy con chiên duy nhất của một người nghèo để thết đãi bạn…” vậy mà vua Đavit cũng vẫn chưa nhận ra tội mình, vẫn còn cao giọng lên án sự bất công tầy đình kia. Chỉ đến khi tiên tri Nathan phải nói thẳng: “Kẻ đó chính là nhà vua!” thì Đavít mới nhận ra lỗi lầm của chính mình và ăn năn (2 Sam 12,7-10).
Câu chuyện Tin Mừng Luca 7,36-50 kể về một người đàn bà tội lỗi hôm nay cũng có nhiều điều đáng cho ta suy nghĩ. Ai cũng dễ nhận ra ngay rằng người đàn bà đầy tiếng tăm kia là kẻ tội lỗi đáng bị loại trừ khỏi mặt đất mà không nhận ra lòng yêu mến bà đang diễn tả là điều đáng đề cao và là điều đẹp lòng Chúa. Và không ai trong cử tọa hôm ấy nhận ra mình là kẻ tội lỗi.
“Kẻ được tha nhiều thì yêu mến nhiều, kẻ được tha ít thì yêu mến ít”. Trong ví dụ Chúa đưa ra, sự tha thứ của ông chủ là do lòng thương xót, vì cả 2 con nợ đều không có gì để trả. Chúa Giêsu đưa ra nhiều so sánh để ông Simon nhận ra những hành động lạ kỳ đang diễn ra trước mắt: người phụ nữ tưới ướt chân Chúa bằng nước mắt và lấy tóc mà lau, chị không ngừng hôn chân Chúa và xức lên đó dầu thơm quý giá. Và chắc chắn người biệt phái đã phải ‘tâm phục khẩu phục’ trước lý luận của Chúa hôm ấy: chị phụ nữ kia không còn là người tội lỗi nữa vì chị đã được tha rồi, bằng chứng là chị đã biểu lộ lòng biết ơn một cách ngoại thường, ngoài sức tưởng tượng của ông. Câu nói của Chúa gợi lên điều gì cho ta? – Nhiều khi chúng ta không yêu Chúa nhiều là vì ta không nhận ra thân phận tội lỗi và mất cảm thức về tội đã phạm; nhiều khi ta nghĩ tội lỗi là do mình tưởng tượng hoặc tha thứ là chuyện bình thường của Thiên Chúa. Hãy sửa lại điều đó bằng cách năng hồi tâm, đặt bàn tay phải lên tim và nói lời xin lỗi Chúa. Hãy tri ân Chúa nhiều vì quả thực Thiên Chúa tha thứ cho ta nhiều lắm và Ngài không mỏi mệt trong sự tha thứ.

“Tội con được tha rồi!” Lời nói của Chúa với người phụ nữ tăm tiếng hôm ấy đã đem lại bình an cho chị và chứng tỏ quyền năng tha tội của Chúa. Có lẽ không ai trong chúng ta có thể bắt chước được chị phụ nữ ấy: chị đi tìm Chúa để thống hối, chị không thuộc công thức xưng tội nhưng lòng chị đã tràn đầy sự thống hối và quyết tâm sửa đổi đời sống cho phù hợp với giáo lý Chúa dạy, chị khóc nhiều đến nỗi ướt chân Chúa và lấy tóc mà lau, chị còn hôn chân Chúa và lấy dầu thơm mà đổ lên. Ở đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta nhận ra hình ảnh của bí tích hòa giải: ăn năn hối cải và xưng thú lỗi lầm, đó là những điều kiện cần thiết để lãnh nhận ơn tha thứ. Thật đáng tiếc là ngày nay người ta ngại xưng tội, các cha thì ngại ngồi tòa mà giáo dân thì ngại xét mình, việc xưng tội chỉ là việc làm định kỳ 2-3 lần/ năm chứ không phải là việc tắm rửa khi bị bẩn. Ngày nay, người giáo dân được khuyến khích rước lễ (khi không phạm tội trọng) để được hưởng ơn thánh trợ giúp chống lại các cơn cám dỗ; nhưng điều nầy dễ dẫn đến một tình trạng là càng ngày người ta càng thấy tội nào cũng là tội nhẹ và rước lễ theo thói quen. Có một nghịch lý là: nếu là tội nhẹ thì càng nên rước lễ và càng rước lễ thì càng thấy mình không có tội, đúng ra hai bí tích Thánh Thể và Hòa Giải phải luôn song hành. Người ta dễ quên lời nhắc nhở của Thánh Phaolô trong thư 1Cor 11,28-29: “Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình”.
Để kết luận, xin kể một câu chuyện. Một cô giáo tiểu học rất vất vả để điều hành lớp học của mình, vì có một cậu học trò chuyên phá phách trong lớp và chọc ghẹo cô giáo, cậu xem đó như một trò chơi và làm cả lớp không thể học được. Một hôm, cậu thấy cô giáo đang ngồi trầm ngâm ở bàn giáo viên và đang ghi chép gì đó vào một tờ giấy. Cô vội cất tờ giấy vào cuốn sách trên bàn và bảo đó là một lời cầu nguyện nhưng cậu không tin. Dĩ nhiên cậu cũng tìm cách lấy được mẩu giấy đó, nhưng không thể đọc được vì viết bằng ngoại ngữ và chuyện đó cũng chìm vào quên lãng. Hai mươi năm sau, cậu học sinh ấy đã trưởng thành và làm ăn lập nghiệp, cậu đang dự tính cho một vụ làm ăn bất chính lớn, tình cờ cậu lục lọi trong phòng và tờ giấy cũ ngày xưa rơi xuống. Cậu cũng vẫn không hiểu nổi những chữ bí ẩn trong tờ giấy, cậu đưa nó cho cô thư ký và cô ta đã đánh máy lại cho ông chủ lời cầu nguyện của cô giáo năm xưa: “Lạy Chúa, con khổ tâm và cảm thấy bất lực trước người học trò hay phá phách nầy. Với tính khí nầy, cậu ấy có thể là một vĩ nhân nhưng cũng có thể là một kẻ đại bịp. Xin Chúa biến đổi lòng cậu để cậu ấy trở nên một người hữu ích”. Đọc xong lời cầu nguyện trên, cậu như choàng tỉnh khỏi dự án xấu đang mưu tính thực hiện và quyết tâm trở thành một người tốt, vì không muốn phụ lòng ao ước của cô giáo và sau đó cậu đã tìm đến thăm người cô ấy, nay đã là một người già. Người học trò ấy là Theodore Roosevelt, vị tổng thống đầu thế kỷ 20, đã đem nước Mỹ đến cường thịnh. Thế đó, nhìn ra lòng yêu mến mà Chúa và tha nhân quanh ta dành cho ta là điều rất quan trọng giúp ta sống tốt và hạnh phúc trên đời.
(Viết theo bài giảng của cha Phaolô Nguyễn Công Minh)