Danh sách Blog của Tôi

Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

Chứng nhân Tin Mừng




Mỗi Kitô hữu là một chứng nhân Tin Mừng, theo cách của mình và trong hoàn cảnh sống của mình. Điều nầy không thể chối cãi, vì là một đòi hỏi của bí tích rửa tội: trở nên muối cho đời và là ánh sáng cho trần gian (Mt 5,13-14). Lệnh truyền ‘đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân” của Chúa Giêsu trước khi về trời có tính cách bó buộc mọi người chứ không phải là một lời khuyên, một điều được phép tự do chọn lựa làm hay không làm (Mt 28,19).
Câu chuyện của chàng dũng sĩ  trong bài “cửa tùng đôi cánh gài” được đăng trên trang lebaotinhbmt.com làm người ta giật mình nghĩ lại mình. Chàng dũng sĩ ra đi để cứu đời giúp người, những ngày đầu chàng rất hăng say diệt trừ yêu quái và thường sử dụng kính chiếu yêu. Thế nhưng mới 7 năm trôi qua thôi mà chàng đã trở nên yêu quái lúc nào không hay, đã từ lâu chàng không còn sử dụng kính chiếu yêu vì thấy những nét quen thuộc của mình nơi mọi người. Câu chuyện gợi cho ta đôi nét về đời sống đạo và sứ mạng làm chứng cho Đức Kitô. Lúc lãnh nhận bí tích rửa tội, người Kitô hữu lãnh nhận chiếc áo trắng với lệnh truyền hãy giữ tâm hồn luôn tinh trắng cho đến ngày trình diện trước tòa Chúa; người Kitô hữu còn được trao cho ngọn nến sáng với lệnh truyền làm chứng nhân cho Đức Kitô. Đặc biệt hơn, bí tích thêm sức kiện toàn ơn của bí tích rửa tội, ban dồi dào ơn Chúa Thánh Thần để ta trở nên chiến sĩ Chúa Kitô ra đi xây dựng Hội Thánh.

Những chàng dũng sĩ trẻ ra đi, lòng hăng say và đầy nhiệt huyết, với kính chiếu yêu là Tin Mừng Đức Kitô, họ phát hiện có nhiều giả trá và nhiều lối sống không phù hợp với lời dạy của Chúa và Giáo hội. Thế nhưng, càng lăn lộn với đời nhiều, họ không còn bực mình về những thói đời, họ dần dần chấp nhận chúng như những điều bình thường: sự dối trá như một điều khôn khéo để sống còn, sự gian dối nơi học đường như một sự thật không thể khác hơn, sự đua đòi vật chất như điều cần thiết để thể hiện bản thân, sự hối lộ như là một thủ tục không cần phải suy nghĩ; sự ngừa thai và phá thai là một lựa chọn tất yếu và nhẹ nhàng cho cuộc sống, ly dị là cách giải quyết cho những cuộc hôn nhân ‘khó chịu’, ai sao tôi vậy: luật pháp cho gì tôi xài thứ ấy…

Đến một lúc nào đó, những chàng dũng sĩ cảm thấy mệt mỏi với đời, họ thấy mình cũng đã nhiễm thói đời lúc nào mà không hay: muối đã nhạt và đèn đã cất ở đáy thùng! Đã từ lâu nay họ không dùng ánh sáng Tin Mừng để đối chiếu cuộc đời. Đọc Tin Mừng thì đọc qua loa, chẳng thấm nổi vào quả tim đã đầy tràn những tham lam và chất chứa nhiều hận thù.

Chàng dũng sĩ thất thểu trở về am để gặp lại sư phụ, tu luyện cho lòng mình được thanh tịnh.
Đừng quá hăng say với sứ mạng cứu đời và giúp người mà quên tĩnh dưỡng tâm hồn, để rồi một khi nhìn lại thì đời ta đã trở nên vô dụng vì đã bị đời đồng hóa: muối đã nhạt và đèn đã hết sáng!

Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

Nếu Chúa muốn …





Cầu nguyện là nhu cầu thiết yếu của đời sống tâm linh. Đức Phanxico nói với chúng ta: Đừng sợ cầu nguyện với Thiên Chúa, vì đó là cuộc nói chuyện với một người bạn. Cầu nguyện có nhiều dáng vẻ: tạ ơn và ca tụng, phó thác và tin tưởng, sám hối và cầu xin. Ở đây, người viết chỉ muốn nói đôi điều về việc cầu xin.

Mang thân phận thụ tạo, con người cần phải xin ơn trợ giúp, vì mình yếu đuối và khả năng có giới hạn. Trong niềm tin tưởng rằng Chúa có khả năng hành động trong mọi lãnh vực trên đời, nhưng ta phải cầu xin thì Chúa mới hành động được, vì Chúa tôn trọng tự do con người. Hằng ngày, ta vẫn thường cầu xin cho con cái biết mau mắn đáp lại tiếng mời gọi của Chúa trong đời mình, cho gia đình mình được may lành hạnh phúc, cho người thân được gặp thầy gặp thuốc, cho người đời bớt gian tham ích kỷ… đó là những lời cầu xin tốt, là ‘điểm tựa’ cần thiết để Chúa bẩy thế giới nầy lên tầm cao của tình yêu. (Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng quả đất lên, Acsimet)

Qua gương cầu nguyện của ông Moisen, Đức Phanxicô nói về cầu nguyện: Đừng nghĩ rằng cầu nguyện là tìm những lời năn nỉ khéo léo làm Chúa mủi lòng và thay đổi ý kiến. Thiên Chúa không thay đổi mà chính lòng ta thay đổi sau khi cầu nguyện. Ông Moisen, vì sợ Chúa phạt dân, đã thân thưa với Chúa về những việc lớn lao Chúa đã thực hiện cho các tổ phụ, Chúa luôn trung thành với lời đã hứa, Chúa thực hiện muôn kỳ công khi đưa dân ra khỏi Aicập, và chắc chắn Chúa sẽ không để cho dân ngoại cười nhạo vì bỏ rơi dân riêng phải chết nơi hoang địa… Cầu nguyện xong, Ông Moisen xuống núi, không phải Chúa mà là chính ông đã thay đổi: gương mặt ông sáng ngời, tràn đầy tin tưởng vào lòng từ nhân của Chúa.

Khi gặp một người xử tệ với ta, hãy cầu nguyện cho họ được quảng đại, và đó là điều cần để Chúa sẽ hành động theo cách Ngài muốn. Khi người anh em gặp hoạn nạn, ta xin cho họ được cảm nghiệm tình thương Chúa trong đời mình và Chúa sẽ có cách: “Cha anh em biết rõ anh em cần gì”. Câu trả lời của ba trẻ bị ném vào lò lửa với nhà vua Ba Tư đáng cho ta suy nghĩ: “Nếu Chúa muốn, Ngài sẽ cứu chúng tôi, còn nếu Chúa không muốn thì chúng tôi cũng không thờ phượng những thần của nhà vua đâu!”. Hãy để cho Thiên Chúa tự do hành động: cách thế và thời gian. Khi nghe tôi nói đến việc cầu nguyện cho một người lương dân được biết sống quảng đại hơn, có anh bạn kia tủm tỉm cười, vì nghĩ rằng người lương dân kia có tin Chúa đâu và Chúa chẳng làm gì được họ. Không phải thế, Chúa là Chúa của mọi người, Chúa làm được mọi sự nếu ta trao phó tự do của ta cho Ngài, và khi cầu nguyện là lúc ta trao cho Ngài sự tự do đó.

Khi gánh nặng chất trên vai ta, ta thường xin Chúa cất bớt gánh nặng đi, nhưng sự thường Thiên Chúa lại thêm sức cho ta vác gánh nặng đó, vì đó là điều cần thiết để niềm tin ta được lớn lên. Con người thường cầu xin cho những nhu cầu vật chất và muốn thấy hiệu quả ngay tức khắc, nhưng Thiên Chúa lại thường ban cho con người những thứ tốt hơn nhiều, dù Ngài có trễ hẹn và không ban điều lòng ta mong ước… thì muôn đời Chúa vẫn trọn tình thương với mọi kẻ tin tưởng nơi Ngài. Thiên Chúa là Đấng quyền năng và không bao giờ bỏ rơi đứa con mình đã sinh ra trên đời: Nếu Chúa muốn, mọi sự đều có thể!

Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

Giuđa Iscariot, con người của định mệnh?




Bước vào cuộc thương khó của Chúa Giêsu, nhân vật được mệnh danh là ‘kẻ phản bội’ nhiều lần được nhắc đến trong các sách Tin Mừng. Ở đây không nhắc đến thân phận và động cơ nộp Thầy của ông ta mà chỉ muốn nói đến một lý luận của nhiều người: ông Giuđa là người được tiền định, là mắt xích quan trọng để cuộc thương khó của Chúa được diễn ra, tội của ông được ca tụng là ‘tội hồng phúc’ vì nhờ đó mà hiến tế thập giá của Con Thiên Chúa được diễn ra tốt đẹp.

Để mở đầu, tôi xin kể lại một bài giảng của một linh mục trong lễ tang của một bà cụ chết ở tuổi 94: “Trong thiệp tang, người ta thường ghi ‘được Chúa gọi về lúc…giờ, ngày… tháng… năm…. Hưởng thọ … tuổi’. Nếu hiểu được Chúa gọi về cách chung chung thì được, vì mọi vật đều trở về bụi đất sau một thời gian tồn tại trên dương thế. Nhưng nếu hiểu một cách cụ thể là đến giờ nọ tháng kia, Chúa mở sổ ra và gạch đúng tên ai thì người đó chết, thì không được đúng lắm. Bà cụ chết ở tuổi 94, vì với ‘gen’ di truyền của bà, với cách giữ gìn sức khỏe và cách sống của bà, hôm nay bà ra đi theo quy luật sinh tồn tự nhiên và là lúc bà trở về bên Chúa.

Cũng một cách tương tự, Thiên Chúa có kế hoạch cứu chuộc nhân trần tội lỗi. Ngài đã chuẩn bị cho kế hoạch nầy cả hàng nghìn năm, và đến thời đến buổi thì Con Thiên Chúa đã xuống trần, chết và phục sinh để chuộc tội cho thiên hạ. Để thực hiện kế hoạch cứu độ, Thiên Chúa mời gọi sự cộng tác của nhiều người, cụ thể là Đức Maria và Thánh Giuse, các tông đồ và các phụ nữ theo giúp Ngài. Con người được mời gọi cộng tác, nhưng họ vẫn còn tự do ưng thuận hoặc chối từ, họ vẫn có công trạng hay mang tội lỗi, dù họ ở mắt xích nào trong chuỗi chương trình đó. Về ông Giuđa Iscariot, Chúa đã nói rõ ràng: “Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người, thà nó đừng sinh ra thì hơn!” (Mt 26,24). Như vậy, giả sử không có nhân vật Giuđa, thì cuộc thương khó vẫn diễn ra, tuy tình tiết có thay đổi. Điều huyền diệu là nội dung Thánh Kinh được Chúa mạc khải cho các tác giả nhân loại, nên có nhiều tình tiết được nói trước cả ngàn năm mà vẫn nên trọn nơi Đức Giêsu: về nơi sinh, quê quán, 4 bài ca về người tôi tớ Giave, bị bán với giá 30đ, không một xương nào bị gãy, bị đâm thâu…  Vì Thiên Chúa nhìn thấu tận tâm can con người, nhìn thấy cả tương lai phía trước, nhưng dù có trông thấy sự phản bội của ông Giuđa thì Ngài vẫn không thể can thiệp vì tôn trọng tự do của con người.

Trong bài ca Exsultet, tội Ađam được ca tụng là tội hồng phúc, vì đã ban cho ta Đấng Cứu Đời. Thực ra, tội Ađam mang lại thảm họa cho nhân loại, nhưng ở đây muốn nói lên công trình tạo dựng mới do Chúa Kitô mang lại quá tuyệt diệu hơn công trình tạo dựng ban đầu: nhờ có tội Ađam mà Thiên Chúa có cơ hội tỏ ra cho con người biết tình yêu vô biên của Ngài. Như vậy, thực chất tội Ađam hay tội Giuđa Iscariot đều là tội vùi dập con người xuống bùn đen, điều hồng phúc là hồng ân cứu độ mà Chúa đã ban cho ta cách nhưng không và đầy tràn chan chứa, đến nỗi con người cảm tạ đến muôn đời cũng không cân xứng.

Thứ Tư, 9 tháng 4, 2014

Tự do và nô lệ




Trong Tin Mừng Gioan, có nhiều chủ đề mang tính đối nghịch nhau hòng nêu bật lên ý nghĩa thần học một cách sâu sắc. Chúng ta có thể kể đến một ít câu chuyện đó: Người đi xin nước uống trở thành Đấng ban phát nguồn sống, người mù tìm được chân lý trong lúc những người thông thái lại mù tịt về nó, người tự do lại đang làm nô lệ cho tội mà không biết.
Thánh Augustinô nói: Nếu bị trói buộc bởi một thể chế hay một tổ chức thì ta còn có thể trốn đi hoặc tị nạn, nhưng khi làm nô lệ cho những đam mê và thói xấu thì không thể tránh được, vì nó ở ngay trong lòng ta. Chúa Giê su nói với ta: “Nếu các ông ở lại trong lời của tôi thì các ông thật là môn đệ tôi, các ông sẽ biết sự thật và sự thật sẽ giải phóng các ông” (Ga 8,31-32).

Nhiều khi chúng ta bị trói buộc bởi niềm tự hào rằng mình là người công chính và là người có đạo mà quên mất lòng nhân hậu của Thiên Chúa và không còn khao khát tìm kiếm chân lý. Chúng ta tự hào về những thành công và tài năng đức độ của mình đến nỗi luôn khoe khoang về mình và nuôi lòng thù ghét những kẻ dám coi thường ta. Lòng tự hào còn chi phối cả động lực sống của ta: “người ta sống để làm gì?”, đôi khi ta nỗ lực làm việc là vì khao khát lời khen của mọi người chớ không phải vì tìm kiếm những của ăn không hư nát, và cuộc đời ta trở nên kém giá trị.
Đã sinh ra đời là phải làm việc để có cơm ăn áo mặc, nhưng đừng để lao động như một gánh nặng trói buộc lên lưng con người. Tôi có đọc đâu đó câu chuyện kể về một người được sinh ra ở Hà Nội, bố anh ta sở hữu một căn hộ với một phòng duy nhất. Anh ước mơ làm giàu để thay đổi cuộc sống. Anh lấy vợ và cả hai có điều kiện để làm việc ở Bulgari. Hai người sinh được hai người con và người vợ chia tay với anh vì muốn trở về, trong lúc anh và hai con còn muốn ở lại nước ngoài. Sau nầy anh cũng trở về, lo dựng vợ gả chồng cho con cái và với số tiền dành dụm, anh đã mua được một căn hộ với hai phòng. Anh ta tự hỏi: cuộc đời chỉ có vậy thôi sao?. Dù ở nhà quê hay thành phố, dù ở Mỹ hay ở Việt Nam, ai cũng quần quật làm việc và lo toan đủ thứ. Lúc trẻ nhiều lo lắng đã đành, mà lúc về già còn có nhiều điều phải lo hơn nữa, lo cả trong giấc ngủ.
Bởi vậy, hãy lặp lại câu đầu tiên của sách giáo lý Địa Phận Vinh:
-                                 Hỏi: Người ta sống ở đời để làm gì?
-                                 Thưa: Người ta sống ở đời để nhận biết, yêu mến và thờ phượng Đức Chúa Trời ở đời nầy để ngày sau được hưởng hạnh phúc với Ngài trên thiên đàng.
Biết được như vậy để chúng ta xếp thời giờ mà lo lắng cho phần rỗi linh hồn, củng cố mối kết hiệp với Chúa Giêsu như là nguồn sống và nguồn hạnh phúc duy nhất của mình. Nhờ vậy, chúng ta trút bỏ gánh nặng cuộc đời cho Chúa định liệu, vì Người lo lắng đến từng người chúng ta.
Đức Bênêdictô XVI nói về tình trạng ‘ngu dốt về giáo lý’ của nhiều người có đạo. Đức Phanxicô nói với chúng ta về tình trạng nhiều người được chỉ đến nhà thờ lúc rửa tội, hôn phối và lúc chết mà không thường xuyên kết hiệp với Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót và không mệt mỏi để tha thứ. Bạn không tin sự ngu dốt giáo lý của con em chúng ta ư?, cứ thử thì biết. Dịp lễ Thánh Giuse vừa rồi, có đứa trẻ đã học xong lớp căn bản 3 (Giáo lý phổ thông của Lm. Võ Tá Khánh) hỏi tôi: “Đức Chúa Trời ngôi thứ nhất tên là gì, có phải là Giuse không, vì có đứa nói với nó như vậy và sách giáo lý chẳng có chỗ nào dạy cho nó biết điều đó. Quá ngỡ ngàng, tôi tự hỏi: sách, người dạy hay người học đã dẫn đến sự ngu dốt nầy. Nếu bạn không tin thì cứ hỏi một em khoảng 15 tuổi: “Năm phụng vụ được bố trí như thế nào?” chắc là cũng ít em trả lời được, dù những điều nầy đã được học từ lâu rồi.

Năm gia đình, một lần nữa chúng ta hãy quyết tâm đọc kinh chung để giáo dục đức tin cho con cái. Nhờ những giờ kinh gia đình, con cái hiểu thêm về Lời Chúa, biết cách lần hạt, thuộc một ít kinh tối thiểu và có những giây phút tiếp xúc với Chúa. Thánh Phaolô nói với chúng ta một nguyên tắc để sống thánh là ‘thống nhất đời sống’: dù ăn, dù uống hay làm việc gì, hãy làm vì lòng yêu mến Chúa và kết hiệp với Chúa. Chính khi làm mọi việc vì tình yêu Đức Kitô, chúng ta được giải thoát khỏi gánh nặng cuộc đời, và chính Lời Đức Kitô sẽ giải thoát ta khỏi sự nô lệ cho các sự vật đời nầy.

Thứ Bảy, 29 tháng 3, 2014

Thiên Chúa ở cùng




Con người luôn sợ phải đi một mình, không có người đồng hành. Dân Do Thái ngày xưa và cả Giáo hội hôm nay luôn bị thử thách về sự hiện diện của Thiên Chúa trong dòng lịch sử: “Có Thiên Chúa ở với chúng ta hay không? Nếu có Thiên Chúa, tại sao chẳng thấy hành động của Ngài khi những kẻ tin Ngài bị đàn áp và khi kẻ ác được hưng thịnh?
Lịch sử dân Do Thái luôn tùy thuộc vào việc tin vào Thiên Chúa hay không. Sau biến cố vượt qua biển đỏ, dân Do Thái tràn đầy tin tưởng vào Thiên Chúa của họ, một Thiên Chúa hùng mạnh và trung thành với mọi lời đã hứa. Thế nhưng cuộc xuất hành quá lâu giữa sa mạc với nhiều gian nan đã thử thách niềm tin của họ rất nhiều, dù có áng mây ban ngày và cột lửa ban đêm luôn đồng hành, dù cho có ông Moisen và hòm bia ở giữa họ, nhưng họ vẫn lẩm bẩm kêu trách và nghi ngờ Thiên Chúa: “Có Thiên Chúa ở với chúng ta hay không?”. Đã có lúc họ đã đúc bò vàng và thờ lạy nó, họ cảm thấy yên tâm vì con mắt phàm nhân luôn nhìn thấy con bò ấy. Khi đã định cư ở đất Canaan, dân Do Thái luôn bị cám dỗ chạy theo các thần mà dân ngoại thờ, dù họ biết rằng giao ước Sinai đã ghi rõ ràng: Thiên Chúa sẽ bảo vệ dân nếu họ trung thành thờ phượng một mình Ngài. Đã có những cuộc trở về với ân tình Thiên Chúa, thanh tẩy tâm hồn và cùng tuyên xưng niềm tin vào Yavê, là Thiên Chúa của các tổ phụ và là Đấng đã làm bao việc kỳ diệu trong lịch sử cho dân Ngài. Nhưng rồi cơn cám dỗ trung thành với lời cam kết Sinai đã không ngừng diễn ra, và đã nhiều lần họ đã phải trải qua cảnh lưu đày.
Trong biến cố Truyền Tin, sứ thần chào Đức Maria với tước hiệu “đầy ơn phúc, có Thiên Chúa ở cùng”. Bao lâu con người không bị tội lỗi chế ngự thì họ được kết hiệp với Thiên Chúa và Thiên Chúa ngự trong lòng họ. Khi ta phạm tội là ta xúc phạm đến Thiên Chúa và anh em, ta tự tách rời khỏi Thân Thể Huyền Nhiệm và làm cho Thân Thể đó trở nên nghèo nàn đi. Người tay sạch lòng thanh, người chuyên chăm tìm kiếm Thiên Chúa qua cầu nguyện và tham dự các bí tích là người diễm phúc vì được kết hiệp với Thiên Chúa và được Thiên Chúa ở cùng.

Những lúc gian nan, con người thường bị cám dỗ tưởng rằng mình đơn côi vác thập giá cuộc đời. Trên Thánh giá, chính Đức Giêsu đã từng thốt lên: “Sao Cha để con một mình?”. Thiên Chúa là người cha luôn bênh đỡ, đồng hành và không bao giờ cho phép xảy đến những gánh nặng mà ta không đủ sức vác: Chúa ban ơn riêng cho từng người tùy hoàn cảnh sống mà họ trải qua.

Quả thực, Thiên Chúa luôn hiện diện và hành động trong vũ trụ nầy, nhưng cách hành động của Ngài khác xa sự tưởng tượng của con người: con người thích phô trương thì Thiên Chúa lại thích ẩn mình, con người thích mọi sự phải được giải quyết nhanh chóng thì Thiên Chúa lại kiên nhẫn, con người thích Thiên Chúa trừng phạt những kẻ gian ác thì Thiên Chúa lại tỏ ra quá nhân từ đến nỗi Ngài cứ làm mưa trên kẻ lành người dữ, con người tưởng rằng Chúa công bình thì Ngài lại không mỏi mệt để tha thứ cho mọi người thành tâm thống hối trở về. Và Thiên Chúa đó luôn đồng hành với ta mọi ngày, mọi hoàn cảnh, đó là sự thật lớn lao mang lại hạnh phúc cho kẻ tin vào Thiên Chúa.

Thứ Tư, 19 tháng 3, 2014

Những người lữ hành trong đức tin




Mừng lễ Thánh Giuse, ngẫm nghĩ về cuộc sống tuy trầm lặng nhưng tỏa sáng nhân đức của Ngài, tôi liên tưởng đến ông Abraham, được mệnh danh là ‘cha của những kẻ tin’. Hai vị mãi là những mẫu gương sáng cho hành trình đức tin của chúng ta.


Lần tìm về Cựu Ước, sau khi tổ tông loài người sa ngã, cả một tương lai đen tối đang mở ra, Thiên Chúa đã hứa ban Đấng Cứu Độ. Hàng nghìn năm đã trôi qua, Thiên Chúa đã quyết định chọn gọi ông Abram trở thành tổ phụ của một dân tộc mới, cái nôi cho Con Chúa nhập thể. Chúa nói với ông hãy rời bỏ quê hương bộ tộc đến vùng đất mà Chúa sẽ chỉ cho, ông được đổi tên là Abraham là ‘cha của nhiều dân tộc’. Ông Abraham ra đi mà không biết mình đi đâu, chỉ vâng theo một lời hứa của một Đấng mà ông cũng chưa biết tên, chuyện của ông chưa từng xảy ra với ai để mà tham khảo. Thật trớ trêu là lời hứa của Đấng ấy là ‘con cái của ông sẽ đông đúc như sao trên trời, như cát dưới biển’, vậy mà cả hai ông bà sống đến tuổi già lão mà chẳng có con… đến nỗi khi hai sứ thần ghé nhà ông bà, một vị bảo ‘sang năm ông bà sẽ có con’ thì bà Sara không thể nhịn cười được vì thấy quá đỗi lạ thường. Sống trong hoàn cảnh dường như lời hứa trở thành ‘vô hiệu’, vậy mà cả hai ông bà chẳng oán trách Chúa, vẫn sống an hòa và vui vẻ tiếp khách đỗ nhà. Đến khi có một mụn con Isa ac thì Chúa lại truyền hiến tế cho Ngài, vậy mà ông vẫn âm thầm vâng lời. Ông Abraham xứng đáng được gọi là cha của những kẻ tin.

Thánh Giuse cũng được Thiên Chúa chọn làm cha nuôi Chúa Giêsu. Đây cũng là một kế hoạch lạ đời, ngoài dự tính của con người và cũng chưa từng có tiền lệ. Ông Giuse đã đính hôn với Maria với ý định thành lập một gia đình như mọi người, thế nhưng Chúa lại mời gọi Ngài bước vào một hành trình cao cả, khai mở  thời đại cứu chuộc: Con Thiên Chúa ra đời. Ông Giuse định tâm rút lui khỏi một dự án mà ông không hiểu, và Ngài đã vui lòng cộng tác vào chương trình của Chúa khi được soi tỏ. Ngài đã âm thầm rút khỏi sân khấu khi vai trò của mình đã hoàn thành. Cuộc đời Thánh Giuse mãi là một huyền nhiệm để ta suy tưởng và học hỏi, dù cả pho sách Thánh Kinh chẳng lưu dấu một lời nào của Ngài. Thánh Giuse là con người trầm lặng, nguyện cầu, hy sinh quên mình, mau mắn đáp lại ý Chúa, phó thác cho sự quan phòng của Thiên Chúa, chăm chỉ làm việc và khiêm tốn phục vụ.


Thiên Chúa có một ý định cụ thể cho từng người được sinh ra, chúng ta xác tín điều đó. Trong cuộc hành trình dương gian, nhiều điều ta không ngờ và không muốn vẫn xảy đến để niềm tin ta được lớn lên. Thánh Phaolô nói nhiều khi ta cứ thích uống sữa và mãi là những trẻ em mà không thích những thức ăn cần thiết cho cơ thể được lớn lên. Noi gương sống đức tin của ông Abraham và Thánh Cả Giuse, chúng ta hãy kiên trì làm mọi việc vì lòng yêu mến Chúa, đừng quá lo lắng sự đời – lo hết phần của Chúa.

Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Ngày quốc tế phụ nữ




Nhân ngày quốc tế phụ nữ, xin chúc mừng các mẹ chị và các em gái, vì xã hội đã muốn mọi người lưu tâm đến quyền lợi và nhân phẩm của phái đẹp. Trong thực tế của nhiều xã hội và của nhiều hoàn cảnh sống, các mẹ chị vẫn phải chịu nhiều thiệt thòi nên phải đấu tranh cho có quyền bình đẳng và được tôn trọng như người nam. Điều đó đúng, nhưng phải hiểu thế nào là bình đẳng?

Nhiều người cho rằng bình đẳng là không có sự phân biệt công việc và quyền lợi, người đàn ông được làm chức vụ gì thì người phụ nữ cũng phải được làm việc đó, ví dụ như người phụ nữ cũng làm được thủ tướng hay tổng thống. Điều đó đúng, vì trên thế giới đang có những phụ nữ làm tổng thống và thủ tướng. Nhưng nếu quan niệm bình quyền là bằng nhau và giống nhau thì có phần không chuẩn, vì Thượng Đế đã tạo dựng hai phái nam và nữ để họ bổ túc cho nhau về cá tính, tình cảm, phái tính và sinh sản. Người phụ nữ còn được phú bẩm cho sự nhạy cảm và khéo léo để giữ gìn hơi ấm trong gia đình và giáo dục con cái. Điều kỳ diệu của Thượng Đế là tạo nên mỗi cá nhân trên hành tinh nầy không ai giống ai để mỗi người biết đóng góp phần mình xây dựng xã hội, điều đó làm cho họ hạnh phúc và làm cho xã hội nên phong phú. Bình đẳng không phải là mọi người hòa đồng mẫu số để trở nên bằng nhau và giống nhau. Có một câu danh ngôn nói rằng: “Sự lãng phí lớn nhất là lãng phí chính mình khi ta cố trở thành giống ai đó”. Thật lãng phí khi người mẹ vì cuộc đấu tranh bình quyền mà bỏ bê tổ ấm gia đình để bôn ba ngoài xã hội, vì nghĩ rằng việc nội trợ là việc của người làm công. Thực ra bất cứ công việc bổn phận nào dù lớn hay nhỏ, nếu được làm với tình yêu thì sẽ mang lại hạnh phúc cho người đó và có công trạng trước mặt Chúa.
Hơn ai hết, trong Giáo Hội do Chúa Kitô thiết lập, ngay từ đầu đã có một sự bình đẳng: mọi người không phân biệt màu da, tôn giáo, phái tính, xuất thân… đều được mời gọi gia nhập cộng đoàn để trở thành những phần tử trong một thân thể duy nhất. Trong cuộc phỏng vấn trên chuyến máy bay trở về từ đại hội giới trẻ 2013, một ký giả hỏi đức Phanxicô về việc truyền chức linh mục cho phụ nữ, đức Thánh Cha trả lời: chức linh mục là để phục vụ chứ không phải là một quyền lợi, Mẹ Maria vẫn có chỗ đứng trổi vượt hơn cả các tông đồ mà không có chức linh mục, chính bà Maria Madala là người đầu tiên đón nhận Tin Mừng Phục Sinh để chuyển tin đó cho các tông đồ, và mới đây đức Thánh Cha nói rằng phải đào sâu hơn nữa nền thần học về các phụ nữ, rằng không thể tưởng tượng được một Giáo hội mà không có các nữ tu để phục vụ trong các nhà thương, các trường học và để cầu nguyện.

Ngoài những vấn đề xã hội, cuộc đấu tranh của chị em còn muốn lôi kéo sự quan tâm của những người ruột thịt trong gia đình, làm sao cho chồng con đánh giá được công sức của mình ‘trăm công nghìn việc’ nơi gia đình và được mọi người yêu mến. Xin tặng chị em câu danh ngôn rất hay: Mỗi người đàn bà đều có một nét quyến rũ kỳ bí, nếu họ không kiêu hãnh và bướng bỉnh (Joanna Ballie). Đúng vậy, bông hoa ‘dịu dàng’ của các mẹ chị luôn mang hương sắc tuyệt vời quyến rũ mọi người, và cũng thật là an ủi cho các bà mẹ là có lẽ khoảng 90% trẻ em kêu cứu đến mẹ như là người thân thiết nhất!