Danh sách Blog của Tôi

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2016

"Chủ nghĩa duy vật là sai lầm"



Nhà toán học lớn nhất thế kỷ 20: “Chủ nghĩa Duy vật là Sai lầm”( Kurt Gödel)
Tác giả: Phạm Việt Hưng,  viethungpham.com.

Trong bài báo “Kurt Gödel: Chủ nghĩa duy vật là sai lầm”, TS John Spencer viết: “Trong mọi trường hợp, dù bạn đưa ra bao nhiêu lập luận logic chống lại chủ nghĩa duy vật hoặc dẫn ra bao nhiêu ý kiến của các nhà khoa học hàng đầu bác bỏ chủ nghĩa duy vật, cuối cùng nhà duy vật cứng đầu vẫn bỏ ngoài tai”. Rồi Spencer đặt câu hỏi: “Phải chăng Plato đúng khi quy kết các nhà duy vật là ‘những kẻ tệ hại’ hoặc ‘những gã bướng bỉnh ngoan cố’?”. Trong trường hợp này, hỏi tức là đã trả lời
Lược sử tối giản của chủ nghĩa duy vật
Chủ nghĩa Duy vật là tư tưởng và học thuyết cho rằng toàn bộ thế giới hiện thực là vật chất và chỉ có vật chất mà thôi – không tồn tại bất cứ cái gì là phi vật chất hoặc siêu tự nhiên, không có Thần [1], không có phép mầu,… Với chủ nghĩa duy vật, các khái niệm tưởng là phi vật chất như tư tưởng, tinh thần xét cho cùng cũng chỉ là sự biểu lộ của hoạt động vật chất.
Chủ nghĩa duy vật không phải là một hiện tượng mới mẻ. Nó vốn có từ xa xưa, ít nhất từ thời cổ Hy Lạp. Có lẽ ngay từ thời ấy nó đã tỏ ra kém cỏi trong khả năng giải thích thế giới nên Plato, một trong những cha đẻ của nền văn minh triết học và khoa học Tây phương, đã phải phê phán nó một cách gay gắt như đã dẫn trong bài báo của John Spencer nói trên. Đối với Plato, Cái Đẹp (The Beauty), Cái Thiện (The Goodness), Luật Đạo Đức (The Moral Law) là những giá trị phi vật chất nói lên sự hiện hữu của Thần. Nếu không tin Thần đã « thổi » tâm tính tốt đẹp vào con người thì sẽ rất khó giải thích vì sao con người có xu hướng tôn vinh Cái Đẹp, Cái Thiện và Đạo Đức, trong khi mọi tạo vật khác không có ý thức về những giá trị này (Chú ý rằng xu hướng tôn vinh Cái Đẹp, Cái Thiện và Đạo Đức hoàn toàn trái ngược với quy luật “đấu tranh sinh tồn, mạnh được yếu thua” của thuyết tiến hóa Darwin).
Nhưng mặc dù chủ nghĩa duy vật đã có từ xa xưa, nó chưa bao giờ trồi lên mạnh mẽ như từ giữa thế kỷ 19 để trở thành một hệ tư tưởng khuynh đảo xã hội từ đó cho tới nay. May mắn thay, chính khoa học lại cung cấp ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy chủ nghĩa duy vật không phải là một tiến bộ về nhận thức, mà hóa ra mà là một bước thụt lùi. Đó là lý do để giữa thế kỷ 20, đúng vào lúc chủ nghĩa duy vật lên đến tột đỉnh và các nhà duy vật đang ngạo nghễ đắc thắng, nhà toán học trứ danh Kurt Gödel đã hạ bệ nó bằng một tuyên bố chắc nịch: « Chủ nghĩa duy vật là sai lầm ! ».
Mãi đến cuối thế kỷ 20, khi Định lý Bất toàn (Theorem of Incompleteness) của Gödel được thừa nhận một cách rộng rãi thì nhiều người mới bắt đầu giật mình tỉnh ngộ ra để nhìn nhận lại bản chất của chủ nghĩa duy vật. Tại sao vậy ? Vì định lý Gödel chỉ ra rằng chủ nghĩa duy vật, bao gồm logic máy móc và tư duy cơ giới thô thiển, đã tự bịt mắt trước sự thật – thế giới hiện thực rộng hơn thế giới nhận thức ; thế giới nhận thức rộng hơn tư duy khoa học; tư duy khoa học rộng hơn tư duy logic máy móc… Nói cách khác, có nhiều chân lý nằm bên ngoài thế giới nhận thức bằng thực chứng và logic – khoa học duy vật không bao giờ đủ để nhận thức được chân lý đầu tiên, chân lý cuối cùng và chân lý toàn thể. Muốn nhận thức sâu hơn và rộng hơn về thế giới, bắt buộc con người phải sử dụng nhiều phương pháp nhận thức khác nhau để tiệm cận tới chân lý. Những phương pháp nhận thức này tuy khác nhau, nhưng bổ sung cho nhau, trong đó trực giác đóng vai trò định hướng dẫn đường.
Nhà Quảng Cáo

Trực giác là gì nếu không phải ánh sáng của Thần soi rọi vào mỗi con người ?
Albert Einstein là người nhấn mạnh đến trực giác nhiều nhất. Ông từng nói « Tư duy trực giác là quà tặng thiêng liêng… » (The intuitive mind is the sacred gift…). Quà tặng thiêng liêng đó là của ai, nếu không phải của Thần ? Không thừa nhận sự thật này thì làm thế nào để giải thích sự hiện hữu của trực giác ? Computer vượt xa chúng ta về tốc độ và sức khỏe tính toán nhưng chỉ là một gã ngu đần khi đứng trước một vấn đề đòi hỏi trực giác. Chủ nghĩa duy vật không dám phủ nhận trực giác, nhưng nó lúng túng không biết làm thế nào để giải thích trực giác, vì thế nó nói bừa rằng đó là bản năng tự nhiên và nhờ “tiến hóa” mà có. Khái niệm “tiến hóa” là một khái niệm mơ hồ, bởi thực tế không bao giờ có một cơ chế tiến hóa nào có thể kiểm chứng được một cách cụ thể, rõ ràng.
Thực tế, trực giác là một trong những bí ẩn lớn nhất của tự nhiên – khả năng nắm bắt được bản chất sự vật một cách trực tiếp ngay tức khắc không thông qua lý luận. Trực giác có nhiều tầng khác nhau. Ở tầng thấp, một học trò có trực giác tốt sẽ định hướng lời giải của một bài toán hình học nhanh hơn những học trò có trực giác kém. Ở tầng cao, trực giác giúp Isaac Newton cảm thấy có lực hấp dẫn giữa các vật chất có khối lượng, Albert Einstein “nhìn thấy” quy luật tương đối chi phối tự nhiên, Louis Pasteur “cảm thấy” tính bất đối xứng của sự sống,… Ở tầng cao hơn nữa, nó giúp con người “nhìn thấy” những thế giới không nhìn thấy – thế giới siêu tự nhiên, phi vật lý, nơi phương pháp thực chứng và logic của khoa học hoàn toàn bất lực. Vì thế những thầy giáo giỏi không phải là những người truyền đạt giỏi, mà là những người giỏi đánh thức người học, giúp người học tỉnh thức để vận dụng trực giác sẵn có trong tâm mà thấu cảm chân lý, thay vì lý luận chứng minh. Đức Phật và Đức Chúa Jesus là những nhà truyền giảng và đánh thức vĩ đại. Câu nói bất hủ của Chúa Jesus, rằng “Phúc cho ai không thấy mà tin” là một lời đánh thức tất cả những ai muốn tìm chân lý, nhưng rất tiếc là có nhiều người không hiểu, thờ ơ với lời đánh thức đó. Nhưng những người như Kurt Gödel thì không như vậy. Lời nói quả quyết của ông, Chủ nghĩa duy vật là sai lầm, chứng tỏ ông là một người tỉnh thức hơn ai hết – ông phủ nhận chủ nghĩa duy vật và vô thần quyết liệt tới chừng nào.
Thực tế cho thấy ngày càng có nhiều người hiểu Gödel hơn, và do đó ngày càng có nhiều người từ bỏ chủ nghĩa duy vật hơn. Tiến sĩ John Spencer, với tư cách một nhà triết học về vật lý lượng tử, đã ủng hộ Gödel bằng lập luận logic một cách mạnh mẽ đến nỗi phải trích dẫn Plato để phê phán chủ nghĩa duy vật như một thứ triết học tầm thường và ngoan cố. Lập luận của Spencer vừa mang tính khoa học vừa mang tính triết học.
Logic bác bỏ chủ nghĩa duy vật
Trong bài báo nói trên, Spencer lưu ý độc giả rằng : Kurt Gödel tuy không nổi tiếng như Albert Einstein, nhưng đừng quên rằng ông là một trong những nhà toán học vĩ đại nhất thế kỷ 20, và là nhà logic vĩ đại nhất kể từ sau Aristotle; bản thân Einstein trong thời gian làm việc cùng với Gödel tại Viện nghiên cứu cao cấp Princeton đã từng công khai nói với mọi người rằng ông đến Viện nghiên cứu chỉ cốt để gặp gỡ trò chuyện với Gödel, rồi cùng đi bộ với Gödel về nhà; một bạn thân khác của Gödel tại đây là nhà toán học lừng danh John von Newman, một trong những cha đẻ của computer ngày nay.
Vậy điều gì đã làm cho một nhà khoa học bậc nhất như Gödel chối bỏ chủ nghĩa duy vật?
Spencer nói: “Chủ nghĩa duy vật, một thứ triết lý dựa trên tiên đề cho rằng chỉ có vật chất mới là cái có thật, đã trở thành nền tảng cố hữu không thể tranh cãi trong rất nhiều trường phái khoa học chính thống”.
Cái nền tảng ấy đã trở thành một xiềng xích trói buộc, một tảng đá đè nặng lên tư duy khoa học, cản trở tư duy sáng tạo đến nỗi nhà thần kinh học Mario Beauregard đã phải lên tiếng kêu gọi: “Nay đã đến lúc chúng ta phải tự giải phóng mình ra khỏi những xiềng xích trói buộc và những tấm vải che mắt của ý thức hệ duy vật cỗ lỗ sĩ” (It’s now time to free ourselves from the shackles and blinders of the old materialist ideology).
Thực ra những người tài giỏi thực sự không cần phải chờ đợi lời kêu gọi đó. Họ đã tự giải phóng mình từ lâu, đúng như Spencer nhận xét: “Trớ trêu thay, có một sự thật là nhiều nhà khoa học đi tiên phong trong khoa học hiện đại từ vài thế kỷ trước đây cho tới những nhà sáng lập cơ học lượng tử như Max Planck và Werner Heisenberg cũng đều bác bỏ chủ nghĩa duy vật”.
Ủng hộ lời kêu gọi của Mario Beauregard, John Spencer nêu lên một lập luận 9 điểm để bác bỏ chủ nghĩa duy vật:
1.               Các định luật vật lý là nền tảng của tất cả mọi khoa học.
2.               Các định luật vật lý là những quan hệ toán học.
3.               Các quan hệ toán học phụ thuộc vào các con số.
4.               Mọi con số được xây dựng từ 1 và 0 (“2” là 1 + 1, và zero là sự vắng mặt của mọi thứ)
5.               Số 0 bản thân nó là phi vật lý (nó không đại diện cho bất kỳ một vật chất cụ thể nào cả).
6.               Số 1 bản thân nó cũng phi vật lý. Có thể có 1 cái cây, 1 cái ôtô,… nhưng bản thân số 1 không phải cái cây hoặc cái ôtô (số 1 chỉ là một mã hoặc một thông tin).
7.               Vì các số là “cái gì đó” phi vật lý, do đó các định luật vật lý thể hiện hoặc phụ thuộc vào cái gì đó phi vật lý.
8.               Vậy buộc phải đi đến kết luận: hoặc a) các định luật vật lý là có thực nhưng phi vật lý, điều này cho thấy chủ nghĩa duy vật là sai; hoặc b) các định luật vật lý là phi hiện thực, điều này làm cho nền tảng của mọi khoa học trở thành phi hiện thực.
9.               Bất chấp thắng lợi phi thường bề ngoài của khoa học, nếu nền tảng của khoa học là phi hiện thực thì rốt cuộc nó không thể cung cấp bất kỳ cơ sở nào cho chân lý khách quan trong hiện thực, và do đó không thể nói rằng chủ nghĩa duy vật phản ánh chân lý khách quan.
Lập luận trên đã được Spencer phát triển lên một trình độ sâu sắc hơn rất nhiều trong cuốn “The Eternal Law” (Định luật Vĩnh cửu), một cuốn sách tích hợp các tri thức triết học, khoa học và thậm chí cả tâm linh, rất đáng đọc, đã được nhà toán học và vật lý lỗi lạc Roger Penrose đánh giá là một cuốn sách làm cho người đọc cảm thấy “vô cùng khoan khoái” (enormously refreshing). Nhưng bất chấp ý kiến của những người như Penrose, các nhà duy vật vẫn ngoan cố cho rằng ngoài vật chất chẳng có bất cứ thứ gì khác. Spencer than phiền: “Trong mọi trường hợp, dù bạn đưa ra bao nhiêu lập luận logic chống lại chủ nghĩa duy vật hoặc dẫn ra bao nhiêu ý kiến của các nhà khoa học hàng đầu bác bỏ chủ nghĩa duy vật, cuối cùng nhà duy vật cứng đầu vẫn bỏ ngoài tai. Vì thế người ta phải băn khoăn tự hỏi: Phải chăng Plato đúng khi quy kết các nhà duy vật là ‘những kẻ tệ hại’ hoặc ‘những gã bướng bỉnh ngoan cố’?” [0].
Tuy nhiên, sự thật vẫn là sự thật. Sự thật dễ thấy nhất là hầu hết những nhà khoa học giỏi nhất, thâm thúy nhất đều từ chối chủ nghĩa duy vật. Để lập một danh sách những nhà khoa học như thế, xin lấy một nhận định của Louis Pasteur làm tiêu chuẩn: “Một ít khoa học làm ta xa rời Chúa [2]; nhiều khoa học làm ta quay về với Chúa” (Un peu de science nous éloigne de Dieu, beaucoup nous y ramène).
Đó là một nhận định chính xác. Quan sát thực tế, tôi thấy đa số những người có đầu óc khoa học nửa vời, thậm chí tầm thường, thường trở thành những kẻ tự phụ, tưởng mình có thể “thế thiên hành đạo”, bịa ra những lý thuyết giải thích thế giới mà không cần đến Thần; ngược lại những người tài giỏi thực sự lại có thái độ khiêm tốn, biết kinh ngạc thán phục trước những kỳ quan của Tạo Hóa, và do đó tin vào sự hiện hữu của những lực lượng siêu nhiên.
Einstein có lẽ là một nhân vật tiêu biểu nhất cho loại người biết kinh ngạc trước những phép mầu của Tự nhiên, vì thế ông cũng là người nêu lên một công thức chính xác để đo lường tri thức của con người:Ego = 1/Knowledge (Cái tôi = 1/Tri thức) – cái tôi tỷ lệ nghịch với tri thức, tri thức càng ít thì cái tôi càng lớn, tri thức càng nhiều thì cái tôi càng nhỏ.
Người có cái tôi lớn thường không thừa nhận Thần, người có cái tôi nhỏ thường thừa nhận Thần, thán phục Thần. Một người có khiêm tốn hay không, hãy xem anh ta đối xử với Thần như thế nào. Cách đo lường đó hoàn toàn phù hợp với “tiêu chuẩn” của Pasteur nói trên. Vậy dựa trên “tiêu chuẩn” này, xin nêu một danh sách những nhà khoa học vĩ đại nhất mọi thời đại từ chối chủ nghĩa duy vật như sau đây.
NHỮNG NHÀ KHOA HỌC VĨ ĐẠI NHẤT MỌI THỜI ĐẠI CÓ ĐỨC TIN VÀO THẦN
1.Galileo Galilei (1564-1642) :
Việc Tòa án Giáo hội Công giáo La mã năm 1633 kết tội Galileo vì ông ủng hộ thuyết Nhật tâm đã trở thành một vết đen trong lịch sử Công giáo, đánh dấu một cuộc đối đầu không đáng có giữa khoa học và tôn giáo, để lại một hệ lụy vô cùng đáng tiếc cho tới tận hôm nay. Hệ lụy lớn là gây ra một sự hiểu lầm vô cùng tai hại rằng khoa học và tôn giáo là hai hệ thống nhận thức đối đầu nhau và loại trừ lẫn nhau từ trong bản chất. Hệ lụy nhỏ là gây ra sự hiểu lầm lớn rằng Galileo là người vô thần, chống đối tôn giáo. Cả hai hệ lụy đó đều bắt nguồn từ sai lầm của Tòa án Giáo hội năm 1633. Năm 1992, sau 13 năm nghiên cứu lại vụ án Galileo, Giáo hội Công giáo La mã dưới triều đại của Đức Giáo hoàng Jean Paul II đã chính thức sửa chữa sai lầm của 359 năm trước: thừa nhận Tòa án Giáo hội sai và Galileo đúng, khôi phục lại mọi danh dự cho nhà khoa học chính trực Galileo Galilei. Đây là một quyết định dũng cảm, nhân bản, đề cao công lý, thể hiện rõ ý Chúa. Nhân dịp này báo chí thế giới cũng nói nhiều đến Galileo, qua đó cho thấy ông là người có Đức tin vững chắc. Thật vậy, ông tuyên bố: “Chúa được biết đến nhờ những công trình Ngài kiến tạo trong tự nhiên, và nhờ những lời dạy Ngài vén mở trong các kinh sách” (God is known by nature in His works, and by doctrine in His revealed word). Đối với Galileo, khoa học càng làm ông tin chắc vào vai trò sáng tạo của Chúa. Đây, hãy nghe ông nói: “Toán học là bảng chữ cái trong đó Chúa viết về vũ trụ” (Mathematics is the alphabet in which God has written the universe).
2.Isaac Newton (1643-1727) :
Newton nổi tiếng là một người Thiên Chúa giáo ngoan đạo, vì thế ông cũng là người rất khiêm tốn, biết mình bé nhỏ và tầm thường trước Đấng Sáng tạo vĩ đại. Khi được hỏi làm thế nào để ông có thể khám phá được nhiều điều kỳ lạ đến thế, ông nói ông chỉ giống như một đứa trẻ dạo chơi ngoài bãi biển, say mê nhặt những vỏ sò đẹp, và mỗi khám phá của ông giống như một vỏ sò đẹp mà thôi. Khi ông khám phá ra Định luật Vạn vật Hấp dẫn rồi dùng nó để giải thích chuyển động của các hành tinh quanh Mặt Trời, có người chất vấn ông: “Nếu không có chuyển động quán tính của hành tinh theo phương tiếp tuyến với quỹ đạo thì hành tinh sẽ bị hút vào Mặt Trời, vậy chuyển động quán tính ấy từ đâu mà ra?”. Newton đáp ngay: “Đó là cú hích ban đầu của Chúa!”. Ngày xưa thầy dạy vật lý của tôi kể lại chuyện này cho học trò nghe rồi kết luận: “Newton rốt cuộc vẫn là người duy tâm”. Ý thầy chê duy tâm là kém. Lũ trẻ nhỏ chúng tôi đứa nào chẳng tin thầy? Sau này lớn lên tôi mới vỡ nhẽ ra rằng một nhận định sai của giáo dục một khi đã được nhồi nhét vào đầu trẻ em sẽ để lại một hậu quả vô cùng tai hại đối với con người, và điều đó rất khó sửa chữa. Đó chính là tình trạng của thuyết tiến hóa hiện nay. Sau này tự đọc sách, tự suy ngẫm, tôi hiểu ra rằng chỗ thầy tôi chê Newton chính là chỗ để lộ thiên tài của Newton. Thiên tài hơn người tầm thường ở chỗ cảm nhận được cái gì là có thể, cái gì là không thể. Giải thích nguyên nhân đầu tiên là không thể! Nguyên nhân đầu tiên luôn luôn thuộc về Chúa. Tôi dám phát biểu điều đó như một định lý. Sự sống đầu tiên cũng vậy. Thuyết tiến hóa SAI vì nó bịa ra sự sống đầu tiên nẩy sinh từ “nồi soup nguyên thủy”. Hơn 150 năm sau vẫn không làm thế nào mà chứng minh được chuyện bịa này là sự thật. Thay vì thừa nhận chuyện bịa đó đã thất bại, các nhà tiến hóa lại bịa ra những giả thuyết mới, chẳng hạn giả thuyết về “thế giới RNA”, và cứ thế kéo một đám đông khờ dại cả tin đi theo họ. Đám đông này bị cuốn theo đống chữ nghĩa phức tạp hàn lâm mà cứ ngỡ đó là khoa học. Trong khi đó Newton rất tỉnh táo, ông không để cho ai có thể lung lạc được ông. Ông trả lời người chất vấn ông ngay tức khắc bằng một câu trả lời cần thiết nhất, dứt khoát nhất, như một bài học dạy cho người hỏi. Newton biết rõ ai tin Chúa, ai không tin. Hãy nghe ông nói: “Người suy nghĩ nửa vời sẽ không tin Chúa; nhưng người suy nghĩ thấu đáo sẽ phải tin Chúa” (He who thinks half-heartedly will not believe in God ; but he who thinks really has to believe in God).
3.Blaise Pascal (1623-1662) :
Tôi đã thảo luận khá nhiều về Pascal trên tất cả những diễn đàn mà tôi từng tham gia, nhưng chưa bao giờ cảm thấy là đủ, vì nhiều lý do. Một, ông quá vĩ đại để có quá nhiều điều cho hậu thế học hỏi, bàn luận; Hai, ông là người Thiên Chúa giáo có Đức tin mãnh liệt, một nhà khoa học có uy tín lớn bênh vực Thiên Chúa giáo, vì thế ông bị giới vô thần ngấm ngầm chống đối bằng cách che đậy, tảng lờ các công trình của ông về triết học và thần học, sao cho càng ít người biết tư tưởng của ông càng tốt. Chính Pascal cũng biết điều đó. Ông nói: “Người ta khinh thường tôn giáo. Họ thù ghét nó nhưng sợ nó đúng” (Les hommes ont mépris pour la réligion. Ils en ont haine et peur qu’elle soit vraie). Vì thế tôi muốn giới thiệu với mọi người càng nhiều về Pascal càng tốt, nhất là về những gì bấy lâu nay ít người biết. Càng đọc Pascal, tôi càng ngạc nhiên và choáng ngợp vì tầm vóc và chiều sâu tư tưởng của ông. Ông chính là người đầu tiên chứ không phải Kurt Gödel đã thảo luận rất kỹ về tính hạn chế của toán học nói riêng và nhận thức lý lẽ nói chung. Đó là những công trình ông viết về cơ sở của Hình học, trong đó ông chỉ ra rằng không có cách nào để kiểm tra một hệ tiên đề là đầy đủ và tuyệt đối chắc chắn. Từ đó suy ra rằng toán học nói riêng và khoa học nói chung là không đầy đủ và không tuyệt đối chắc chắn. Nhận thức muốn vươn lên cao hơn, phải vận dụng “lý lẽ của trái tim” (la raison du Coeur), Pascal nói, “chính trái tim giúp ta nhận biết Chúa chứ không phải lý lẽ” (C’est le Coeur qui sent Dieu et non la raison). Nếu Gödel có gì khác Pascal, thì đơn giản là ông sinh sau đẻ muộn hơn Pascal gần 3 thế kỷ, và biến những luận điểm triết học khoa học của Pascal thành một định lý toán học không thể tranh cãi: Định lý Bất toàn (Theorem of Incompleteness). Vấn đề này đã được thảo luận kỹ trong nhiều bài viết trên PVHg’s Home: “Lý lẽ của Trái tim” (La Raison du Cœur) ngày 05/12/2013, “LỬA của PASCAL” (PASCAL’s FIRE) ngày 16/12/2013; “VỀ TÍNH BẤT TOÀN: TỪ PASCAL ĐẾN GODEL (On the Incompleteness: From Pascal to Godel)” ngày 28/05/2015. Trong những bài đó, tôi đã trích dẫn một ý kiến của Pascal mà qua đó có thể thấy Pascal đánh giá thấp tư tưởng duy vật như thế nào: “Chủ nghĩa vô thần thể hiện sức mạnh của tinh thần, nhưng chỉ ở một mức độ nhất định mà thôi” (Athéisme marque de force d’esprit, mais jusqu’à un certain degré seulement).
4.Gregor Mendel (1822-1884) :
Mendel là một tu sĩ Công giáo toàn tâm toàn ý, vì thế không có gì phải nghi ngờ Đức tin của ông đối với Thần. Trong cuốn “Các nhà khoa học có Đức tin” (Scientists of Faith), Dan Graves nhận xét về Mendel như sau: “Mặc dù ông đọc Darwin, nhưng ông không chấp nhận nhiều lý thuyết của Darwin, vì ông tin rằng Thần sáng tạo ra thế giới và sự ngẫu nhiên mù quáng không thể là lý do tạo ra thế giới…” (Although he read Darwin, he [Mendel] did not accept many of his [Darwin’s] theories, believing that God had created the world and blind chance could not be responsible for the outcome…) [1]. Chú ý rằng thuyết tiến hóa của Darwin nói rằng sự sống đầu tiên hình thành một cách ngẫu nhiên, mù quáng, vô mục đích từ vật chất không sống. Và đó là điều Mendel không thể nào chấp nhận được! Năm 1966, trong một hội nghị lớn tại Mỹ, các nhà toán học cũng thảo luận về xác suất để sự sống hình thành ngẫu nhiên từ các phân tử không sống. Hội nghị đã đi đến kết luận rằng xác suất này vô cùng nhỏ, nhỏ gần như bằng 0, và do đó sự sống không thể xẩy ra ngẫu nhiên. Nhà toán học Anh Fred Hoyle đặc biệt quan tâm tới thuyết tiến hóa, cũng đi đến kết luận rằng sự sống không thể hình thành từ “nồi soup nguyên thủy”. Mendel rất giỏi toán, không biết ông có nghĩ tới việc tính xác suất để phủ nhận Darwin hay không, nhưng trực giác thiên tài của ông đã đủ để ông bác bỏ Darwin. Xin lưu ý độc giả rằng thông tin Mendel bác bỏ Darwin bị giới tiến hóa che đậy trong hơn 150 năm qua. Hiện nay dưới ánh sáng internet, sự thật ngày càng được sáng tỏ. Từ đó tôi dám nói rằng ai đã thực sự ngưỡng mộ Mendel thì ắt phải bác bỏ Darwin. Trường phái “Darwin mới” (Neo-Darwinism) đã phải vội vàng kết hợp học thuyết di truyền của Mendel vào thuyết tiến hóa, nhưng thực chất đã phản lại chính Darwin, vì quan điểm về di truyền của Darwin hoàn toàn khác với các định luật di truyền của Mendel. Quan niệm di truyền của Darwin tiếp thu từ Lamark là một quan niệm hoàn toàn sai lầm, nhưng giới tiến hóa che đậy sự thật này, giấu nhẹm sai lầm của Darwin. Nhưng không che giấu được những người ham hiểu biết. Chỉ cần vào Google, gõ “what did Darwin learn from Lamark?”, sự thật sẽ lộ ra ngay.
5.Louis Pasteur (1822-1895):
Nếu phải mô tả Pasteur bằng một câu ngắn nhất thì đó là : « Pasteur : Người con ưu tú của Chúa và ân nhân của nhân loại ». Giới vô thần không yêu mến Pasteur, vì ông có Đức tin Thiên Chúa giáo sâu sắc, và vì ông chống thuyết tiến hóa một cách rõ rệt. Tương tự như cách họ đối xử với Pascal, giới vô thần cố làm cho mọi người nhắc đến Pasteur càng ít càng tốt, đơn giản vì càng nhắc đến ông càng làm cho thuyết tiến hóa lộ diện là một lý thuyết ngụy khoa học. Đó là lý do vì sao người ta không tiếc lời ca ngợi Pasteur như cha đẻ của khoa học vi sinh (microbiology) và miễn dịch học (immunology), nhưng người ra rất ít nói đến Pasteur như một nhà khoa học lớn khám phá ra những nguyên lý cơ bản của sự sống. Cụ thể người ta rất sợ nhắc đến hai định luật cơ bản của sự sống do Pasteur khám phá: Định luật sự sống bất đối xứng (thuận tay trái) và Định luật sự sống chỉ ra đời từ sự sống (biogenesis). Lẽ ra những định luật mang tính cơ bản này phải được dạy trong chương trình Sinh học ở trường phổ thông. Nhưng chỉ có những sinh viên đại học chuyên ngành mới được học. Tại sao họ sợ hai định luật đó? Vì cả hai đều phủ nhận thuyết tiến hóa khi thuyết này nói rằng sự sống hình thành một cách tự phát và ngẫu nhiên từ vật chất không sống. Chương trình Sinh học ở trường phổ thông phớt lờ hai định luật cơ bản này và tiếp tục nhồi nhét vào đầu học trò kiến thức sai lầm rằng sự sống hình thành một cách ngẫu nhiên từ vật chất không sống, mặc dù không làm thế nào mà chứng minh được nhận định đó. Khi học trò trở thành người lớn, rất khó để sửa chữa nhận thức sai lầm này, ngay cả khi được trông thấy những bằng chứng rành rành tố cáo sự gian lận của thuyết tiến hóa. Đó là một thảm họa. Tôi tin rằng đến một ngày nào đó, khi thuyết tiến hóa hoàn toàn bị xóa bỏ, công lao của Pasteur sẽ còn được đánh giá cao hơn nữa. Nhưng bản thân ông, ông biết rõ rằng thành công của ông là nhờ có may mắn – ông “có Chúa ở bên trong”. Thật vậy, ông nói: “Người Hy-lạp hiểu được sức mạnh bí ẩn nằm bên dưới sự vật. Chính họ đã cho chúng ta một trong những từ ngữ đẹp nhất trong ngôn ngữ của chúng ta, đó là chữ “enthousiasme” (cảm hứng), chữ Hy-lạp là Εν Θεος , có nghĩa là ‘có Chúa ở bên trong’. Tầm vóc hành vi của con người được đo bởi niềm cảm hứng mà từ đó những hành vi ấy hiện ra. Hạnh phúc thay cho ai có Chúa ở bên trong”.
6.Henri Poincaré (1854-1912) :
Khi còn là học sinh, Poincaré đã được mệnh danh là “con quỷ toán học” (monstre de mathématiques). Ở tuổi trưởng thành, giới toán học gọi ông là « Mozart của toán học ». Tổng kết cả cuộc đời, giới bác học mô tả ông như “the last Universalist” (nhà đại quảng bác cuối cùng), bởi khó có thể tưởng tượng được bề rộng của những mảnh đất toán học và vật lý mà ông đã khám phá ra hoặc đặt chân tới, rồi để lại ở đó những dấu ấn sâu sắc, những di huấn, những tư tưởng, những bài toán khổng lồ cho hậu thế tiếp tục khai phá. Nhà toán học đàn em nhưng cùng thời với ông, Bertrand Russell, người nổi tiếng với Nghịch lý Russell, không tiếc lời ngợi ca Poincaré là “nhà toán học vĩ đại nhất đang còn sống”, bất chấp sự hiện diện của những nhà toán học lớn đương thời khác như David Hilbert,… Có thể quên công trình nào đó của Poincaré, nhưng không được phép quên ông là cha đẻ của Topo Đại số, cha đẻ của Giả thuyết Poincaré, người đầu tiên định hướng cho lời giải tổng quát của Bài toán Ba Vật thể (Problème à Trois Corps), người đặt nền móng cho Lý thuyết Hỗn độn (Theory of Chaos), đồng tác giả của Thuyết Tương đối hẹp, và đặc biệt, một nhà triết học khoa học nhìn xa trông rộng, kẻ thù số 1 của chủ nghĩa toán học hình thức do Hilbert cầm đầu… Chỉ cần ghé qua tiểu sử khoa học của ông, một người trung thực không thể không có cảm giác khiếp sợ trước những công trình sáng tạo vĩ đại của ông, cả về số lượng lẫn tầm vóc khổng lồ về tư tưởng. Một người vĩ đại như thế mà vẫn biết rằng có Thần, và Thần chính là tác giả của những quy luật vũ trụ được diễn đạt bằng ngôn ngữ toán học: “Nếu Thần nói với con người, không nghi ngờ gì nữa rằng Ngài sử dụng ngôn ngữ toán học” (If God speaks to man, He undoubtedly uses the language of mathematics), Poincaré nói [2].
7.Max Planck (1858-1947):
Là cha đẻ của Thuyết Lượng tử, Planck ắt hẳn phải là một nhà tư tưởng. Đối với ông, Thần là nhu cầu tất yếu của cả tôn giáo lẫn khoa học. Ông nói: “Cả tôn giáo lẫn khoa học đều cần đến Đức tin vào Thần để phụng sự cho hoạt động của mình, hơn nữa, tôn giáo cần có Thần ngay từ lúc khởi đầu, khoa học cần đến Thần vào lúc kết thúc toàn bộ tư duy. Đối với tôn giáo, Thần là nền tảng, đối với khoa học, Thần là đỉnh cao nhất của bất kỳ lý lẽ nào liên quan đến vũ trụ quan” (Both religion and science need for their activities the belief in God, and moreover God stands for the former in the beginning, and for the latter at the end of the whole thinking. For the former, God represents the basis, for the latter – the crown of any reasoning concerning the world-view).
8.Albert Einstein (1879-1955):
Einstein nổi tiếng là người hay nhắc đến Thần như Đấng Sáng tạo vũ trụ và tác giả của các định luật vũ trụ. Ông yêu Cái Đẹp và Cái Trật tự say đắm đến nỗi tin chắc rằng Thần bao giờ cũng ngay ngắn rõ ràng mạch lạc đẹp đẽ, Thần không thể chơi trò may rủi ú tim nước đôi lập lờ. Vì thế ông chống đối Nguyên lý Bất định đến cùng, và điều đó làm rạn nứt tình bạn vốn có giữa ông với Niels Bohr. Mặc dù Thần của Einstein không phải là Chúa của Thiên Chúa giáo, nhưng ông cho rằng niềm tin vào Thần của ông, Đấng Sáng tạo, là điều ắt phải có đối với một nhà khoa học. Thậm chí ông coi đó là một tôn giáo đích thực. “Khoa học không có tôn giáo là khoa học khập khiễng; tôn giáo không có khoa học là tôn giáo mù quáng” (Science without religion is lame; Religion without science is blind). Hóa ra Einstein đã phát biểu một chân lý rõ ràng rằng khoa học và tôn giáo rất cần thiết có nhau, bổ sung cho nhau, thay vì loại trừ nhau như chủ nghĩa duy vật tuyên bố. Nói cách khác, Einstein đã mặc nhiên bác bỏ chủ nghĩa duy vật. Ông tuyên bố: “Càng nghiên cứu khoa học tôi càng tin vào Thần” (The more I study science, the more I believe in God).
9.Werner Heisenberg (1901-1976):
Sau khi Einstein và Bohr mất, Heisenberg được tôn vinh như nhà vật lý số 1 của thế giới. Ông đã phạm sai lầm lớn về chính trị khi làm giám đốc chương trình nghiên cứu chế tạo bom nguyên tử của Hitler. Có lẽ việc này để lại trong lòng ông một nỗi hối hận suốt đời. Theo những gì tôi biết, ông là người ngây thơ về chính trị, nhưng ông không phải kẻ ác. Đây là vấn đề thuộc về lịch sử, đáng để cho những ai yêu lịch sử tìm hiểu kỹ. Nhưng về triết học và vũ trụ quan, ông là người vô cùng sâu sắc. Ông nhắn nhủ các nhà khoa học rằng: “Ngụm nước đầu tiên từ cốc nước khoa học tự nhiên sẽ biến bạn thành một người vô thần, nhưng ở đáy cốc Thần đang đợi bạn” (Der erste Trunk aus dem Becher der Naturwissenschaft macht atheistisch, aber auf dem Grund des Bechers wartet Gott). Đối chiếu câu nói này của Heisenberg với câu nói của Pasteur ở trên (mà tôi lấy làm tiêu chuẩn đo lường tri thức của các nhà khoa học), ta thấy hai câu nói giống nhau đến mức có thể nghĩ rằng “Heisenberg nhắc lại lời Pasteur chăng?”. Không! Đó là “tư tưởng lớn gặp nhau!” (Les grands esprits se rencontrent!)
10. Kurt Gödel (1906-1978):
Toàn bộ bài viết mà độc giả đang đọc có thể xem như một bình luận về tư tưởng của Gödel. Có lẽ Gödel là nhà khoa học bác bỏ chủ nghĩa duy vật thẳng thắn nhất, rõ ràng nhất, mạnh mẽ nhất. Chúng ta đã thấy nhiều bậc tiền bối của Gödel có những suy nghĩ rất giống ông, điển hình là Blaise Pascal, hay sau này là Max Planck. Nhưng công lao và thiên tài của Gödel là ở chỗ ông đã biến tất cả những nhận định mang tính triết học bác bỏ chủ nghĩa duy vật thành những định lý toán học không thể tranh cãi được. Thiết tưởng nếu không có Định lý Bất toàn của ông thì không biết những trường phái duy vật và vô thần như Hilbert sẽ còn làm mưa làm gió đến bao giờ. Bài báo “Gödel chứng minh Thần hiện hữu (Gödel proved that God Exists)” trên PVHg’s Home ngày 17/09/2014 đã cung cấp cho độc giả một cái nhìn tương đối đầy đủ về vũ trụ quan và tư tưởng triết học và thần học của Gödel. Nhưng sau khi trình bầy 14 quan điểm triết học của Gödel (nội dung bác bỏ chủ nghĩa duy vật và khẳng định sự cần thiết của Đức tin) bài báo đã kết luận bằng lời của Thánh Thomas Aquinas rằng “Đối với người có đức tin, không cần có sự giải thích nào cả. Đối với người không có đức tin, chẳng có lời giải thích nào là đủ” (To one who has faith, no explanation is necessary. To one without faith, no explanation is possible). Nhận định đó thật chí lý.
Kết
Cuối thế kỷ 19, Friedrich Nietzsche tuyên bố: “Chúa đã chết!”. Tuyên bố này nổi tiếng đến nỗi được coi là cột mốc đánh dấu sự chuyển tiếp của nền văn minh nhân loại từ văn minh hữu thần sang văn minh vô thần, kéo dài hơn một thế kỷ rưỡi nay.
Gần đây Richard Dawkins, một môn đệ trung thành nhất và mạnh miệng nhất của chủ nghĩa Darwin, nhắc lại tuyên bố của Nietzsche dưới một dạng thức nhấn mạnh hơn: “Chúa không chết. Chúa ngay từ đầu đã không bao giờ sống!” (God is not dead. He was never alive in the first place).
Stephen Hawking cũng mạnh miệng không kém. Ông tuyên bố nhân dịp ra mắt cuốn “Grand Design” (Thiết kế Lớn) năm 2013: “Big Bang không cần Chúa” (Big Bang didn’t need God), và “Vì có một định luật như định luật hấp dẫn, vũ trụ có thể và sẽ tự tạo ra nó từ hư không…” (Because there is a law such as gravity, the universe can and will create itself from nothing…).
Rất may, uy tín khoa học của những người như Nietzsche, Dawkins hoặc Hawking không thể so sánh với 10 nhân vật vĩ đại trong bảng danh sách nói trên. Vì thế sức thuyết phục kém. Tuy nhiên những ý kiến này giúp chúng ta chiêm nghiệm câu nói của Thánh Thomas Aquinas. Vậy toàn bộ câu chuyện của chúng ta hôm nay có ý nghĩa gì?
Câu trả lời nằm trong ý kiến sau đây của Nicolas Tesla, một thiên tài kỹ thuật trong thế kỷ 20:
“Quà tặng về sức mạnh tinh thần đến từ Chúa, Đấng Thiêng liêng, và nếu chúng ta tập trung suy nghĩ của chúng ta vào chân lý đó, chúng ta sẽ trở nên hòa hợp với sức mạnh vĩ đại đó. Mẹ tôi dạy tôi tìm mọi chân lý trong Kinh Thánh” (The gift of mental power comes from God, Divine Being, and if we concentrate our minds on that truth, we become in tune with this great power. My mother had taught me to seek all truth in the Bible).
Và Kinh Thánh nói: “Phúc cho ai không thấy mà tin”.
Chú thích:
[1] Thần: Một lực lượng siêu tự nhiên mà nhân loại từng sử dụng nhiều từ ngữ khác nhau để gọi tên, như Phật, Đại Giác Giả, Thượng đế, Đấng Tối cao, Chúa, Đấng Sáng tạo, Jehovah, Allah,, , Bà Mẹ Tự nhiên, Nhà thiết kế vĩ đại…
[2] God: God là một từ tiếng Anh ám chỉ một vị Thần nói chung theo định nghĩa ở chú thích [1]. Tuy nhiên, vì Ki-tô giáo là tôn giáo chính yếu ở Tây Phương, nên khi nhắc đến God, người ta thường mặc định ám chỉ đến Chúa trong tín ngưỡng Ki-tô Giáo. Tuy nhiên trong phạm vi bài viết này, trừ trong các trường hợp cụ thể, chúng ta nên hiểu rộng nghĩa của từ God theo chú thích [1].
Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đại Kỷ Nguyên.
pham viet hung
Giảng dạy: Từng giảng dạy các môn Toán Kinh tế; Cơ học Lý thuyết; Sức bền Vật liệu; Toán luyện thi đại học. Hiện thỉnh giảng Toán cao cấp tại một đại học ở VN.


Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2016

Đối thoại giữa người đàn ông và vị Thần: Cả đời này điều gì thực sự thuộc về bạn?




·                                  

Cuộc đời này có điều gì là thuộc về chúng ta? Của cải, vật chất, người thân, bạn bè…có thuộc về chúng ta không? Hãy cùng xem cuộc đối thoại giữa người đàn ông và vị Thần dưới đây để biết được câu trả lời.
Có một người thanh niên trẻ tuổi vừa mới chết đi thì gặp một vị Thần. Vị Thần mang đến một chiếc hòm rồi đặt ngay trước mặt anh ta.
Vị Thần nói với người người thanh niên: “Được rồi! Chúng ta phải đi thôi!”
Người thanh niên hốt hoảng nói: “Nhanh thế sao? Con còn rất nhiều kế hoạch đang chờ đợi để thực hiện.” 
Vị Thần nói: “Ta thật sự xin lỗi! Nhưng mà không có thời gian nữa rồi!”
Người thanh niên hỏi: “Chiếc hòm trong tay ngài đựng cái gì vậy?”
Vị Thần trả lời: “Đều là đồ đạc của ngươi đấy!”
Người thanh niên ngạc nhiên hỏi: “Đồ đạc của con sao? Ý ngài nói đồ đạc của con là tiền, quần áo…?”
Vị Thần trả lời: “Những thứ đó từ trước đến nay đều không thuộc về ngươi mà chúng thuộc về thế giới!”
Người thanh niên hỏi: “Vậy đó là những ký ức của con sao?”
Vị Thần nói: “Ký ức là thuộc về thời gian, thuộc về những năm tháng…”
Người thanh niên lại hỏi: “Vậy đó là tài năng của con?”
Vị Thần trả lời: “Tài năng là thuộc về hoàn cảnh, môi trường.”
Người thanh niên có chút bối rối rồi hỏi tiếp: “Vậy thì đó là bạn bè người thân của con?”
Vị Thần vẫn lắc đầu nói: “Không! Họ chỉ là những người mà ngươi gặp trong cuộc hành trình này mà thôi!”
Người thanh niên: “Vậy đó có phải là vợ con của con không?”
Vị Thần trả lời: “Không, họ thuộc về tâm tư của ngươi.”
Người thanh niên: “Thế thì nhất định trong chiếc hòm này là thân thể của con rồi!”
Vị Thần: “Không! Thân thể là thuộc về cát bụi.”
Người thanh niên: “Vậy thì con chắc chắn đó là linh hồn của con!”
Vị Thần: “Thật đáng buồn, ngươi sai rồi! Linh hồn của ngươi là thuộc về ta!”

Người thanh niên sợ hãi tràn đầy nước mắt nhìn vị Thần rồi mở chiếc hòm đựng hành lý ra. Đó là một chiếc hòm trống không…! Người thanh niên cảm thấy lòng mình như tan nát ra, hai má chảy dài những giọt nước mắt hỏi: “Vậy con chưa từng có được thứ gì sao?”
Vị Thần thở dài rồi trả lời: “Đúng vậy! Ngươi chưa từng có được bất kể thứ gì cả!”
Người thanh niên: “Vậy chẳng lẽ thực sự chưa có thứ gì là thuộc về con sao?”
Vị Thần nói: “Mỗi một khắc của ngươi! Mỗi một khắc khi ngươi còn sống là thuộc về ngươi!”
Cuộc đời của mỗi người tưởng như dài nhưng thực ra rất ngắn ngủi. Đến lúc quay đầu lại nhìn, chúng ta sẽ phát hiện ra, cuộc đời chỉ như một cái chớp mắt mà thôi. Hãy trân quý và sử dụng chính xác từng giây, từng phút của cuộc đời mình!
 Suy tư (của người viết)
Ngày thứ bảy tuần thánh, ngày của lặng im để chiêm ngắm Con Thiên Chúa đã từng chịu mai táng trong mộ đá, sau một ngày thứ 6 rất ảm đạm vì bị con người khai trừ và tiêu diệt. Nhưng cái chết thập tự không phải là tiếng nói cuối cùng mà là ngày Phục sinh mới có tiếng nói quyết định: Chúa Phục Sinh bảo đảm cho cuộc sống mai hậu của ta, vì Chúa là người cha còn tốt hơn cha mẹ ta muôn ngàn lần.
Sống tốt giây phút hiện tại, sống nhân nghĩa với những người ta gặp trong đời, cư xử tử tế với những người thân yêu qua từng ngày sống, đó là những điều nên làm và nằm trong tầm tay mỗi người.

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2016

Của chùa




Người ta thường dùng từ này để nói đến việc sử dụng một dịch vụ nào đó mà không phải xin phép ai và không mắc ơn ai. Tôi nghĩ đến từ nầy nhân một sự kiện : mình đầu tư ao hồ và chôn dây bơm tưới, đây là công trình của mình vậy mà có kẻ đã tự nhiên sử dụng mà không xin phép, vì lần trước họ đã xin rồi. Tôi nghĩ mỗi lần dùng đến thì phải xin chứ, vì không phải là của chùa mà là có người làm chủ và quản lý nó.

Chợt tôi nhớ đến : cả một công trình tạo dựng mà người ta cũng xem như của chùa, là tự nhiên mà có, vậy mà Chúa cũng không tỏ vẻ khó chịu một chút nào, Ngài vẫn chịu đựng và giàu lòng thương xót. Ngắm nhìn những cảnh vật thiên nhiên đẹp diễm lệ, ngành thiên văn khám phá ra vũ trụ mênh mông với những quy luật chuyển động hài hòa của chúng, ngành sinh học nghiên cứu ra sự tổ chức phức tạp và hài hòa của các cơ năng con người… Khoa học càng tiến bộ, người ta càng khám phá ra nhiều điều kỳ lạ trong thiên nhiên và vũ trụ. Có kẻ thoáng nghĩ đến một Đấng nào đó đã tạo dựng, vận hành và chăm sóc muôn loài muôn vật. Có người tự mãn vì bộ óc con người quá tài giỏi, nhưng thực ra con người cũng mới chỉ dừng lại ở khám phá chứ chưa tiến đến việc tạo nên sự sống, cùng lắm là chỉ ghép mầm sống nầy với mầm sống kia. Các nhà khoa học tìm được thuốc chủng ngừa bệnh nầy thì lại nảy sinh những bệnh dịch mới. Con người cứ loay hoay với việc tìm một hành tinh có sự sống. Nếu có ‘người ngoài hành tinh’ thì sao nhỉ ? Có lẽ nhân loại sẽ đặt lại vấn đề tạo dựng của sách Sáng Thế, và cả vấn đề Ngôi Hai cứu chuộc, khi đó thì các nhà thần học phải đau đầu và người ta sẽ càng thêm lý lẽ để chối từ Thiên Chúa.

Ai đó đã nói : chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa là một điều khó, nhưng chứng minh Ngài không hiện hữu là một điều càng khó hơn. Người ta vẫn thường nhắc đến sự đặt cược của Pascal về sự hiện hữu của Thiên Chúa: Bạn cứ tin Chúa đi, nếu có Ngài thì bạn được tất cả, nhưng nếu không có Ngài bạn cũng chẳng mất gì nhiều trên cuộc đời nầy, chỉ là một ít lạc thú chóng qua và xa hoa trần thế.
  • "Thiên Chúa hiện hữu hay không hiện hữu"
  • Trò chơi ném đồng tiền để xem... mặt sấp hay mặt ngửa.
  • Bạn chỉ có thể chọn một trong hai.
  • Vì vậy, bạn phải đặt cược (không có chọn lựa nào khác).
  • Hãy cân nhắc xem khi đặt cược Chúa hiện hữu bạn sẽ được gì, mất gì. Sẽ có hai tình huống: Nếu thắng, bạn được tất cả; nếu thua, bạn chẳng mất gì.
  • Vậy thì, đừng ngại ngần gì mà hãy đặt cược Chúa hiện hữu. Bạn sẽ có một thế giới vĩnh cửu với cuộc sống hạnh phúc vô hạn ở đó.

Thiên Chúa không thích làm những chuyện kinh thiên động địa mà lại thích hiện hữu trong yên lặng. Ngài không thích ép buộc mà luôn xin phép để can thiệp vào cuộc sống con người, luôn tôn trọng tự do của mỗi người… dễ làm người ta nghĩ rằng Chúa không hiện hữu, vì Ngài chẳng làm gi cả. Cách hành động của Chúa được thể hiện qua cuộc đời Đức Giêsu là hiện thân của lòng thương xót: Chúa đã tự hủy mặc lấy phận người, sinh ra trong nghèo khó, bị xua đuổi và lùng bắt, nai lưng làm việc và sống cảnh nghèo, luôn bị sách hạch về giáo lý, bị kết án oan mà không biểu lộ một tí uy quyền nào. Hãy học nơi Chúa Giêsu bài học khiêm nhường và hiền lành, bài học vâng phục khi tiến bước từng ngày trong cuộc đời nầy. Thiên Chúa là chủ của vũ trụ nầy, hãy thờ lạy và ca ngợi Ngài, yêu mến Chúa với trọn tâm hồn và phó thác cuộc sống cho Chúa định liệu, đó là sự khôn ngoan của trời cao.

Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2016

Người làm công




Đó là cụm từ mà Thiên Chúa không muốn nghe. Vì không muốn nghe, nên người cha trong dụ ngôn ‘người cha nhân hậu’ (Lc 15,11-32) đã không để cho người con hoang thốt ra, dù cậu đã dọn sẵn lời thú tội. Và thật đáng buồn là cụm từ nầy lại được chính người con cả nói ra với đầy đủ lý lẽ.
Khi tạo dựng con người từ thuở tạo thiên lập địa, Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh mình: có tự do và có sự sống đời đời. Loài người không phải là những con robot được lập trình để phục vụ vinh quang cho Chúa, vì thực ra vinh quang Chúa đã dư tràn và những lời ca tụng của vạn vật chẳng thêm gì cho Chúa. Chúa đã tạo dựng con người để họ chia sẻ tình yêu và chung hưởng vinh quang với Chúa, vì bản tính của Thiên Chúa là tình yêu, mà tình yêu là cho đi và đón nhận. Trong tình yêu của Chúa, con người là những hữu thể trổi vượt, có tự do và có ý thức để trao ban và đón nhận những gì nó muốn. Thuở ban đầu, địa vị con người rất cao quý và có mối quan hệ cha con với Đấng Tạo Thành, khiến muôn tạo vật phải ngước nhìn và thèm muốn. Thế nhưng ông bà nguyên tổ đã phạm tội phản nghịch Chúa, họ trốn chạy khỏi tầm mắt của Chúa vì nghĩ rằng mình quá bất xứng, nhưng trong quả tim của Thiên Chúa, họ vẫn mãi là con cái của Ngài. 

Cho dù tội lỗi  có ngập tràn, Thiên Chúa vẫn luôn là người cha không ngừng thương yêu những đứa con mình đã cho sinh ra trên trần gian nầy: con ta đã mất nay lại tìm thấy, đã chết nay đã sống lại. Khi các nhà xã hội phân tích hiện tượng tôn giáo, họ thấy các tôn giáo phát sinh là do nỗi sợ trước những thực tại mà khoa học chưa phân tích được : thần sông, thần núi, trời, thiên đàng hỏa ngục, và họ hy vọng một ngày nào đó khi khoa học tiến bộ thì chẳng còn vị thần nào tồn tại. Chính nỗi sợ và sự mặc cảm đã khiến con người muốn gọi Đấng Tạo Thành là ông chủ và mình chỉ là người làm công. Nhưng Chúa Giêsu đã nhiều lần gọi chúng ta là bạn hữu và là con của Cha trên trời : “Thầy không gọi anh em là tôi tớ, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết (Ga 15,15). Thiên Chúa không thích chúng ta sống như một người làm công với lòng sợ sệt, với một khoảng cách vì bất xứng, không có tình yêu mà chỉ có một sự tính toán xin xỏ ơn huệ. Ngài đã ban cho ta Người Con Một đến gánh lấy muôn tội lỗi trần gian, để muôn người được trở thành con cái Thiên Chúa. Hãy sống tâm tình tri ân Thiên Chúa vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương và sống tốt mối tương giao cha con với Thiên Chúa: thân tình, mặc lấy những tâm tình của Thiên Chúa, biết thương xót  và nên hoàn hảo như Cha trên trời.

Người con cả ở với cha mình dưới một mái nhà nhưng lại không mặc lấy những tâm tình và những vui buồn và thao thức của cha : thương yêu mong chờ kẻ tội lỗi ăn năn sám hối, yêu thương hết mọi người với tình yêu không biên giới. Cậu ta sống với Cha mà cứ tính toán hơn thiệt : mình cho gì và lãnh được gì. Cậu thấy mình cho nhiều hơn là nhận lại và cậu tức tối với em mình vì nó nhận lãnh quá đáng so với tội lỗi nó gây nên. Thế đó, nhiều khi ta cũng tính toán với Chúa khi phụng thờ : ca tụng, tạ ơn là để gạ gẫm Chúa ban thêm ơn, bên cạnh đó ta dễ coi khinh người anh em vì họ tội lỗi hơn mình, thắc mắc tại sao kẻ tội lỗi lại được phồn vinh ? Thánh Phaolô dạy : “Anh em hãy mặc lấy tâm tình từ bi, ôn hòa, nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau và hãy tha thứ cho nhau, nếu người nầy có chuyện phải oán trách người kia. Trên hết mọi sự, anh em hãy có đức yêu thương đó là dây ràng buộc mọi sự hoàn thiện”.

Chúa muốn ta sống tâm tình người con thơ trong bàn tay cha mình.
Vậy :
Hãy phụng thờ Thiên Chúa vì đó là điều chính đáng và xin lỗi Chúa vì những sai lỗi lớn nhỏ trong cuộc sống.
Hãy ca tụng  và tạ ơn Chúa vì tình thương Chúa trải dài qua muôn thế hệ.
Và rồi hãy phó thác cuộc đời trong tay Chúa vì Ngài luôn chăm sóc muôn loài muôn vật.

Khi kể về 3 dụ ngôn của lòng thương xót: con chiên lạc, đồng bạc bị mất và người cha nhân hậu, mỗi dụ ngôn đều được kết luận: “trên trời ai nấy đều vui mừng vì một người tội lỗi hối cải”. Vậy đó, tình thương đã khiến Thiên Chúa thao thức chờ đợi kẻ tội lỗi trở về để ôm họ vào lòng. Ai cũng là tội nhân, là kẻ bất xứng trước mặt Chúa, là người hẹp hòi trước tình yêu bao la của Chúa, và Chúa luôn mong chờ ta thay đổi cuộc sống. Thay đồi để nên tốt hơn qua mỗi ngày sống phải là mối bận tâm lớn của mỗi người trên cuộc hành trình dương gian nầy.

Thứ Bảy, 27 tháng 2, 2016

Thay đổi để tồn tại




Nhiều người nhận định về đất nước Việt Nam là không chịu thay đổi về chính trị, xã hội và văn hóa. Nhiều số liệu thống kê cho biết VN mình đứng thứ hạng cao về phá thai, về ăn nhậu, về hối lộ, hút thuốc, sính đồ ngoại, vô cảm, gian dối thương mại, buôn bán và chế biến những lô hàng thịt đã hôi thối. Có những bản thống kê khác cho biết hằng năm số người VN tìm cách đi ra sống ở ngoại quốc để tránh một xã hội lạc hậu và ô nhiễm thực phẩm là rất lớn: du học, hôn nhân, đoàn tụ, lao động…
Khi nói về hòa bình, thánh giáo hoàng Gioan Phaolô 2 đã nói hòa bình phải bắt đầu từ trong tâm hồn: “nền hoà bình vững bền không phải chỉ là vấn đề đơn thuần của những cơ cầu hay tổ chức bên ngoài. Trên hết mọi sự, nền hòa bình vững bền nầy dựa trên sự chấp nhận một nề nếp chung sống giữa con người với nhau, một nề nếp được ghi dấu bởi sự chấp nhận lẫn nhau và có khả năng tha thứ từ tận tâm hồn con người”. Hòa bình bắt đầu từ trong tâm hồn, cũng vậy sự thay đổi cũng bắt đầu từ trong thâm tâm và từ nhận thức của mỗi người. Khi nói về vấn đề xã hội, có ai đó đã nói: nhiều khi mình cứ hành xử theo cách cũ nhưng lại mong chờ một kết quả khác. Điều tôi muốn nói ở đây là bản thân mỗi người phải góp phần vào sự thay đổi xã hội, giống như người đã soi gương rồi thì phải biết phải làm gì cho khuôn mặt tươm tất đẹp đẽ hơn! Có một bà cụ già vừa qua đời trong tháng qua, tuy chỉ là một người hàng xóm nhưng đã để lại cho tôi một bài học: một hôm tôi đang quét rác trong sân nhà và đổ rác ra ngoài đường, bà đi ngang qua và nói: “con nên đốt rác đi cho sạch môi trường” . Lúc đó tôi hơi bực tức vì tự ái và nghĩ rằng chuyện rác có liên quan gì đến bà ? Nhưng cách sống tích cực của bà đã làm tôi phải suy nghĩ đến bây giờ: mình phải có bổn phận lo cho ích chung, là nhân tố tích cực xây dựng cộng đồng nơi mình sống. Các bản tin thời sự, chương trình Táo Quân cuối năm cứ liên tục đưa ra các sự kiện xã hội mà không có lời giải, tạo nên thói quen nơi chúng ta là cứ tiếp tục loan tin mà không muốn đưa ra một sự thay đổi nào trong khả năng của mình. Câu châm ngôn: Thà rằng đốt lên một ngọn nến còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối. Và lời Kinh Thánh: Điều con không muốn kẻ khác làm cho mình thì mình đừng làm cho kẻ khác. Hãy thử nghĩ mà xem ai cũng lên án những kẻ kinh doanh hàng độc hại, nhưng liệu trong số những kẻ đang âm thầm giết hại đồng bào mình có kẻ cũng là Kitô hữu ?

Ví dụ: người ta nói nhiều về tai hại của thuốc lá đối với bản thân, gia đình và những người hít phải khói thuốc, thế thì tại sao tôi không quyết tâm bỏ dần đi. Người ta nói nhiều về những người (chủ yếu là đàn ông) VN uống mỗi năm đến 3 triệu lít bia, tương đương với 3 tỷ đôla = số tiền thu được từ xuất khẩu lúa gạo của 5 triệu nông dân, vậy tại sao bản thân tôi không giảm uống đi một chút vì thấy sự lãng phí vô lý, đó là chưa nói đến tác hại đến sức khỏe. Có người nhận định rằng: người VN mình sĩ diện, làm gì cũng sợ người ta cười và đánh giá, người ngoại quốc họ thấy gì đúng và hợp lý là họ làm. Thế đó, chính sự sĩ diện đã làm cho xã hội và đất nước không thay đổi và tiến bộ được, ai cũng oằn lưng mà chịu đựng gánh nặng giao tế mà bản thân người đó cũng cảm thấy không hợp lý.
Khi nói về thuyết tiến hóa, ông Darwin  đã đưa ra một quan điểm có tính chất cách mạng: “tất cả các loài sinh vật, từ con kiến cho đến con voi, đều nằm trong vòng chọn lọc của tự nhiên. Những con vật thích nghi với tự nhiên sẽ tồn tại; những con không thích nghi sẽ bị diệt vong” (internet). Giống như cây cỏ 4 mùa thay đổi, tâm hồn con người cũng không ngừng đổi mới tùy theo hoàn cảnh cuộc đời và theo tuổi tác. Mỗi ngày hãy hồi tâm nhằm nhận biết mình để có những thay đổi tích cực. Thánh Phaolô cảnh giác: “Ai tưởng mình đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã”.

Và quan trọng nhất là hãy có lòng nhân từ với anh em, vì tội nhân nào cũng có một tương lai. Đừng mất hy vọng về những người sống quanh ta, những người ta không vừa ý: cha xứ, người xóm giềng khó chịu, người bạn không tốt… vì họ cũng có thiện chí muốn làm người tốt và ước muốn nên trọn lành. Vấn đề là thời gian, cũng như bản thân tôi cũng quyết tâm cải thiện cuộc sống nhưng có nhiều nết xấu vẫn còn tồn tại lâu dài. Thiên Chúa luôn kiên nhẫn với con người, Ngài mời gọi họ sống trong quỹ đạo tình thương và Ngài cứ đứng ngoài cửa để chờ đợi. Đừng vội kết án và nhấn anh em xuống bùn bằng những lời nói xấu, tốt hơn là hãy cầu nguyện cho những người làm ta phiền lòng, rồi một ngày nào đó họ sẽ thay đổi.

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2016

Thương xót như Cha




Đó là khẩu hiệu của năm thánh Thương Xót này. Vì muốn muôn loài muôn vật được chia sẻ vinh quang của mình nên Thiên Chúa đã tạo dựng nên vũ trụ, trong đó có loài người, họ được tạo nên giống hình ảnh Ngài: có tự do, có ngôi vị, có sự sống bất tử. Dù họ sa ngã vì bất tuân, Chúa vẫn rộng tay cứu giúp họ tìm lại được địa vị làm con cái Chúa và khỏi chết muôn đời. Đó là hành động của Thiên Chúa. Còn chúng ta đã hành động thế nào để nên giống Cha trên trời?

Phải thừa nhận rằng việc hiểu được lòng thương xót của Chúa đã là một điều khó, chưa nói đến việc thực hành. Vì Chúa đã nói: Như trời cao hơn đất thế nào thì tư tưởng của Ta cũng vượt trên suy nghĩ của các ngươi như vậy. Và trong tông huấn Dung Mạo Lòng Thương Xót đã nói: “Lòng thương xót là chìa khóa để hiểu những hành động của Thiên Chúa”. Có câu chuyện kể rằng: có một người tu hành cảm thấy những hành động tự hạ, tự hủy và tự hiến của Chúa Giêsu là quá vô lý ! Cha bề trên đưa ra hai ly đầy nước, một ly rất lớn và ly kia nhỏ xíu và một hũ muối. Cha bảo: con hãy múc một muỗng muối đổ vào mỗi ly và nếm xem thế nào. Người học trò nếm ly nhỏ và cảm thấy rất mặn, nhưng ly lớn thì hầu như không mặn tí nào. Cha bề trên mới dạy: khi lòng ta nhỏ hẹp thì thấy những hành động của Chúa Giêsu là quá khó hiểu, nhưng với lòng thương bao la của Thiên Chúa thì những điều kỳ diệu Con Thiên Chúa đã thực hiện cho con người quả là cần thiết để cứu họ khỏi án phạt muôn đời. Sách tu đức dạy ta rằng: Đừng nghĩ Thiên Chúa làm gì để yêu ta, nhưng hãy nghĩ Thiên Chúa thương ta biết bao khi chịu thương khó. Vậy đó, ta hãy năng suy ngắm tình thương Chúa dành cho loài người để mở rộng cõi lòng mình ra hơn với anh em.

Nếu nói rằng ‘Lòng thương xót anh em là quy luật và là thước đo sự trọn lành’, thì ta phải thừa nhận rằng bao lâu còn sống trên cõi đời thì ta còn lỗi phạm về đức bác ái ! Trong đoạn Tin Mừng thứ 2 tuần 2 MC vừa rồi (Lc 6,36-38), Chúa dạy ta phải có lòng nhân từ như Cha. Cụ thể là đừng xét đoán, đừng lên án, hãy tha thứ và hãy cho đi. Hằng ngày thời sự trên truyền hình và internet cứ ra rả những chuyện giết chóc, trộm cắp, hối lộ, mại dâm ma túy, xây tường… làm ta cứ tưởng rằng chẳng còn gì tốt trên thế gian nầy, lo mà thủ thân và thủ thế. Nhưng đừng quên rằng Chúa là chủ của lịch sử, Ngài vẫn hành động, Ngài gửi ông Giuse sang Ai Cập trước để cứu sống nhiều dân tộc và cách riêng là dân riêng của Chúa. Có biết bao thiện nam tín nữ ngày ngày gắng bước trên con đường trọn lành. Mỗi người hãy trở thành một nhân tố tốt trong thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô: “ĐỪNG XÉT ĐOÁN, ĐỪNG KẾT ÁN, HÃY THA THỨ VÀ HÃY CHO ĐI”.