Danh sách Blog của Tôi

Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2019

Ngôi Lời đã làm người



Đứng trước biến cố Chúa Giáng Sinh, trí óc con người dường như choáng ngợp vì đối diện với một mầu nhiệm lớn lao vượt quá trí hiểu con người. Các nhà thần học, các nhạc sĩ thường dùng những ngôn từ bóng bẩy, mong diễn tả một phần nào đó sự lung linh, vĩ đại, sâu thẳm của tình yêu Thiên Chúa dành cho loài người và vũ trụ. Thế nhưng, vẫn luôn có đó những người chỉ xem Giáng Sinh là một huyền thoại không có thật hoặc nếu có thì cũng không ảnh hưởng gì đến cuộc đời họ.

Đối với tôi, Đức Kitô là tất cả. Chúng ta vẫn thường nói: đức tin là một hồng ân Chúa ban cho kẻ Ngài yêu thương. Nhiều người ngoại đạo, sống chung quanh chúng ta, vẫn háo hức khi Noel về vì họ xem đây là một lễ hội; có thể họ vẫn đi lễ, vẫn thích xem hoạt cảnh canh thức như một buổi văn nghệ, hòa mình vào đám đông vui vẻ ca hát… nhưng mọi sự chỉ dừng ở đó. Nếu ta có trình bày cho họ thêm về biến cố Con Thiên Chúa đến để cứu chuộc thì họ lại càng cho rằng người có đạo khéo thêu dệt và giàu tưởng tượng. Họ còn thiếu một điều là đức tin, một hồng ân của Thiên Chúa, và có lẽ họ cần thêm lời cầu nguyện của chúng ta. Dưới con mắt một kẻ tin, Đức Giêsu đã nhập thể để ở cùng nhân loại, thì mọi sự hoàn toàn khác, vì Đức Kitô là tất cả: Ngài có mặt trong từng khoảnh khắc và trong từng biến cố lớn nhỏ, Ngài đồng hành với tôi hôm nay và mãi mãi ngàn thu.


Ngày xưa, người ta không đón nhận Đức Giêsu chỉ vì Ngài không giống như đấng mà họ mong mỏi, không giống với nhân vật mà trí tưởng tượng của họ nghĩ ra: xuất hiện trong uy hùng, đến giải phóng dân tộc, biết bao lần họ muốn tôn Chúa Giêsu lên làm vua. Mãi cho đến lúc bị treo trên thập giá, họ vẫn thốt lên: nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy xuống khỏi thập giá để chúng tôi tin. Ngày nay cũng vậy, biết bao người mất đức tin hoặc không tin đạo Chúa vì họ thấy Chúa không có lợi lộc và ảnh hưởng gì đến cuộc sống của họ, không giúp họ thỏa mãn những nhu cầu vật chất. Theo đạo còn bị ràng buộc này nọ, không tin vào đạo nào là một điều may mắn và không bị quấy rầy-mất tự do.


Trong Kinh Thánh, đầy dẫy những chuyện đón nhận Chúa vào ‘nhà’ mình, ở đây chúng ta cùng nhau ôn lại 4 cuộc tiếp đón của thời Tân Ước. Cuộc tiếp đón của Mẹ Maria: sau khi nghe lời thiên thần truyền tin, Mẹ thưa lên: “Này tôi là tôi tớ Chúa, xin hãy làm cho tôi như lời sứ thần truyền”, và Mẹ đã đón nhận Ngôi Lời vào cung lòng của mình. Cuộc đón nhận của Thánh Giuse: khi đã được Chúa cho biết thai nhi nơi Maria là bởi Chúa Thánh Thần, Thánh Giuse đã đón nhận Maria về nhà mình, có nghĩa là thánh nhân đã chấp nhận bước theo thánh ý Chúa. Cuộc đón tiếp thứ ba là của Thánh Gioan tông đồ: sau khi nghe lời trăn trối của Chúa Giêsu “Này là Mẹ con” thì thánh nhân đã đón Mẹ Maria về nhà mình. Cuộc đón tiếp thứ tư là lời được trích từ sách Khải Huyền: “Này Ta đứng ngoài cửa, ta gõ, và hễ ai mở cửa thì Ta sẽ vào cư ngụ trong nhà nó”, biết bao tâm hồn đã mở cửa đón tiếp Chúa vào đời mình, chọn Chúa làm gia nghiệp, chọn ý Chúa hơn là ý riêng mình… họ là những vị thánh của mọi thời đại.


Điều quan trọng nhất trong mầu nhiệm Giáng Sinh là việc đón nhận Ngài vào ‘nhà’ mình, có nghĩa là để cho Chúa Giêsu hiện diện và làm chủ tâm hồn mình, gia đình mình và cả nhân loại. Chúng ta đến chiêm ngắm và tôn thờ Ngôi Hai Thiên Chúa làm người, ca tụng tình thương và lòng thương xót Chúa, nhưng quan trọng hơn nữa là đón nhận Ngài vào trong đời mình và bước đi trong Ánh Sáng trong tư cách là con cái Thiên Chúa. Điều này có nghĩa là chúng ta từ bỏ những hành vi đen tối và bất chính để bước theo Chúa Giêsu, biết quỳ gối xuống để tôn thờ Đấng ban cho chúng ta niềm vui hạnh phúc và bình an.


Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2019

Sống thật với lòng mình




Ông Gioan, vị tiền hô của Đấng Cứu Thế, nói với những kẻ đến chịu phép rửa ở sông Giodan: “Hãy sinh hoa quả xứng với lòng sám hối, đừng tự  hào mình là con cái Abraham, cây nào không sinh quả tốt thì bị chặt, thóc lép thì bỏ vào lửa mà đốt đi”.

Thực tế là có rất nhiều người đến với ông Gioan để chịu phép rửa thống hối, nhưng lòng họ không muốn thay đổi. Họ chỉ diễn trò thống hối để tỏ ra mình đạo đức, nhưng họ không biết mình: đạo đức giả. Bức tranh ngày ấy và hôm nay cũng không khác gì nhau: người ta tâng bốc nhau để ru ngủ nhau: mình thành đạt, mình tử tế, mình đáng ngưỡng mộ và đáng yêu mến. Một sự dối trá được lặp lại nhiều lần dễ biến thành sự thật và tạo thành một ảo tưởng cho cả một tập thể. Dù một người phát biểu thế nào, con người thật của họ vẫn có những sự thật không thể chối cãi như: loài mọn hèn yếu đuối dễ sa ngã lầm lạc, kiêu ngạo, tham lam (danh, lợi, thú). Thế nhưng, biết mình và nhận ra tội mình luôn là một điều không dễ, vì ma quỷ - thế gian và lòng dục đã làm con mắt lương tâm ta mù tối.

Bởi thế, ông Gioan đã phải nói thẳng với dân chúng: hãy dọn đường tâm hồn cho Chúa ngự đến. Khởi đầu cuộc đời rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu cũng nói với dân chúng: hãy hối cải vì nước trời đã gần đến (Mt 4,17). Phép rửa của Chúa Giêsu là phép rửa trong Thánh Thần và lửa, nghĩa là làm cho người lãnh nhận trở nên một tạo vật mới, là con cái Thiên Chúa. Nhưng người Kitô hữu cũng hãy coi chừng: đừng tự hào mình là Kitô hữu mà hãy coi lại chính mình có sinh những hoa quả nhân đức, có sống theo Thần Khí không. Ở phương Tây bây giờ rất nhiều tự xưng mình là Kitô hữu, nhưng họ không còn đến nhà thờ và không có kiến thức về tôn giáo; còn ở VN mình xem ra sinh hoạt đạo còn rất tốt, nhưng đời sống đạo lại tụt lùi thê thảm về đời sống công bằng và bác ái, sống giả dối và lừa lọc nhau, giết người bằng lời nói, trộm cắp, cộng tác vào làm hại tha nhân miễn là có lợi cho mình, lương tâm chai lỳ… Ấy thế mà cứ rước lễ đều đều và rất ít khi xưng tội.

Chúa Giêsu dạy: có thì nói có, không thì nói không, thêm thắt điều gì là do ma quỷ (Mt 5,37). Chúa muốn ta trung thực trong lời nói và trung thực với chính mình: biết mình thế nào. Nhưng để biết mình thế nào thì quả là không dễ, vì tha nhân quanh ta và ma quỷ dễ làm cho chúng ta mang ảo tưởng về chính mình. Muốn biết mình, ta phải tha thiết cầu xin, biết để cho tâm tĩnh lặng, có thái độ lắng nghe để có người dám góp ý – đó là sứ giả Chúa sai đến giúp ta sửa mình. Người chê mình mà chê đúng, đó là bạn ta và thầy ta, phải cảm ơn họ; người chỉ biết khen ta mà không dám nói thẳng lỗi ta, người đó là hiện thân của ma quỷ, vì họ sẽ làm cho ta hư đi vì kiêu ngạo. Ấy thế, mà trong xã hội, nhất là ở VN bây giờ, người ta sống giả dối với nhau vô cùng, như câu nói dân gian: khen trước mặt, trật … sau lưng. Người ta nói một đàng làm một nẻo, người ta tự tô son đánh phấn cho mình và cho các kẻ làm lớn… vì người người đều ưa ngọt và chạy theo thành tích, thành tích dẫn đến kiêu ngạo và kiêu ngạo dẫn đến hỏa ngục.



Hãy hối cải mỗi ngày, xứng với lòng mong ước của Chúa. Mỗi người là cây vả mà Chúa còn chờ thêm một năm nữa xem có sinh quả hay không, nếu không thì rìu đã sẵn dưới gốc và nia đã sẵn để sảy lúa lép vào lửa. Xét lại mình, ở tuổi 20 hay ở tuổi 60 cũng thế, ta cứ xưng mãi  một vài thứ tội, xem ra ta không tiến thêm được mấy bước, nhưng Chúa vẫn chờ ta sám hối, đến với tòa cáo giải để xưng thú tội lỗi. Chúa cần thiện chí và quyết tâm của ta - hơn là thành tích nhân đức. Rất mong các linh mục siêng năng ngồi tòa và giáo dân siêng năng xưng tội, dùng ánh sáng Lời Chúa để huấn luyện lại lương tâm nên nhạy bén và biết phân định thiện ác. Đó là cách chuẩn bị tích cực cho Chúa đến với mình mỗi ngày và trong giờ sau hết.

Thứ Hai, 2 tháng 12, 2019

Năm mới




Năm phụng vụ mới đã bắt đầu với Chúa nhật thứ nhất mùa vọng. Năm phụng vụ được tổ chức với mục đích diễn lại những mầu nhiệm chính của Kitô giáo: chờ đợi Đấng Cứu Thế đến và lại đến (Mùa Vọng), Ngài đến (Mùa Giáng sinh), Ngài đi rao giảng (Mùa thường niên), Ngài chết và phục sinh (Mùa chay – Phục sinh). Để có chút tâm tình chờ đón Chúa đến với trần gian, ngày cánh chung của từng người và ngày tận cùng thế giới, tôi xin viết lên vài suy tư về việc đổi mới tâm hồn trong năm mới này.

- Một thánh nhân từng nói: “Kitô giáo không phải là tập hợp những chân lý để tin, những quy tắc để theo, hay những ngăn cấm. Nhìn theo hướng đó, chúng ta sẽ lầm lạc. Kitô giáo là một Đấng tôi yêu nồng nàn, một Đấng đòi hỏi và nài xin tình yêu của tôi. Kitô giáo là Đức Kitô” (Christus vivit 156). Hãy nhìn lại bản thân mình: chúng ta rất dễ chiều theo tính xác thịt mà xem thường tình bạn với Đức Giêsu, tuy vậy Chúa Giêsu vẫn chờ đợi từng tâm hồn trở về-chừa bỏ những tội lỗi mình quen phạm, vì những tội đó đã làm cho Ngài buồn lòng. Chúa Giêsu đã hy sinh tất cả cho tôi, Ngài đang sống trong tâm hồn tôi và Ngài rất đau khổ khi tôi xúc phạm đến tình yêu bao la của Ngài. Mùa vọng đến, mỗi người chúng ta hãy xem xét lại bản thân mình, quyết tâm chừa bỏ vài tật xấu để củng cố mối thân tình với Chúa Giêsu, người bạn và là Đấng Cứu Tinh của nhân loại. Thêm tuổi đời, nhưng chúng ta đừng để tâm hồn và tình yêu mình già cỗi. Đức Phanxicô nói: Một cuộc sống thiếu vắng tình yêu là một cuộc đời cằn cỗi. Đức Giêsu muốn làm bạn với tôi, nhưng nếu tôi hờ hững với Ngài để chiều theo những đam mê tật xấu, thì Ngài chỉ biết chờ đợi và có khi Ngài gửi tới tôi những ‘tin nhắn’ để giúp tôi cảnh tỉnh. Nếu tôi không nhạy bén để nhận ra những nhắc nhở của Ngài, thì Ngài sẽ tiếp tục gửi những sự khốn khó, thất bại, bất an…



- Cuộc đời mỗi người trên trần gian được ví như người thợ dệt được Chúa mời gọi dệt nên tấm thảm đời mình. Chúa là người chủ đạo cho công trình dệt ‘tấm thảm cuộc đời' này, và con người thường chỉ thấy được mặt trái của tấm thảm mình đang dệt: tấm thảm trông có vẻ lộn xộn với những sợi chỉ rối bù – vốn là những sự kiện xảy đến trong cuộc sống thường ngày – và đây là khía cạnh của cuộc sống vốn làm cho chúng ta cảm thấy chán chường. Thế nhưng, mặt trước của tấm thảm thì lại là một câu chuyện hoàn toàn khác, với những họa tiết tráng lệ, lộng lẫy của nó. Và đó chính là góc nhìn của Thiên Chúa (Christus vivit 198). Mỗi ngày sống là một trang sách mới được mở ra, một khởi đầu cho công việc dệt nên tấm thảm cuộc đời. Hãy kiên trì sống tốt giây phút hiện tại, với tình yêu mến Chúa và tha nhân nồng nàn, tin tưởng phó thác mọi sự cho Chúa định liệu.


Và khi đến giờ từ giã cuộc đời, Chúa sẽ cho từng người chúng ta nhìn lại bức tranh mà mình đã dệt khi sống trên trần. Đây là mặt phải của bức tranh mà bấy lâu ta chỉ thấy mặt trái của nó. Dĩ nhiên người chủ đạo của bức tranh này chính là Thiên Chúa, nên điều đáng ngạc nhiên nhất ở đây là con người nhận ra tình yêu thương Thiên Chúa đã dành cho mình qua từng ngày sống và từng biến cố lớn nhỏ trong đời: Một Người Cha tốt hơn bất cứ người cha trần gian nào!

Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2019

Ông Giêsu ơi


Tiếng kêu của người tử tội được gọi là ‘trộm lành’ từ trên thập giá là một tiếng kêu lạc điệu giữa dòng người đứng nhìn dửng dưng và nhục mạ Chúa Giêsu. Chúng ta cùng nhìn kỹ người trộm lành này, vì sẽ rút được nhiều điều lợi ích cho tâm hồn.

Có thể nói trang Tin Mừng Thánh Luca được đọc trong Lễ Chúa Kitô Vua năm C (Lc 23,35-43) là một bức tranh tổng hợp về lịch sử cứu độ: Đứng dưới chân thập giá Chúa Giêsu có đám đông dân chúng đứng nhìn, các vị lãnh đạo tôn giáo thì ra sức tố cáo để giết chết Ngài  và có anh trộm lành tin nhận Ngài là Cứu Chúa của mình.  Chắc chắn anh này là người đầu tiên được hưởng hoa trái cứu độ do Chúa Giêsu mang lại, nên anh nhận ra Đấng bị treo trên thập giá kia chính là Thiên Chúa Cứu Thế. Nhiều người vẫn chế giễu anh này vì cho rằng đến giờ chết anh vẫn trộm được thiên đàng! Thực ra anh đáng khen và đáng cho chúng ta học hỏi hơn là đáng chê cười, vì anh dám đi ngược dòng đời: mọi người đều hả hê cười nhạo Chúa mà anh vẫn vững tin và xin Ngài dủ lòng thương xót đến mình, anh ta nhận ra Chúa là vua của vũ trụ: “nước Tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 18,36). Con người trong mỗi thời đại, mãi cho đến ngày tận thế, vẫn tái hiện bức tranh này: vẫn có đám đông ra sức loại trừ Thiên Chúa, vẫn có đám đông dửng dưng với tôn giáo, và vẫn có đám đông tin thờ Đức Giêsu là nguồn sống, nguồn hy vọng và vua vũ trụ, nước Người tồn tại đến muôn đời.

Câu nói của Chúa Giêsu với người trộm lành đáng cho ta suy nghĩ: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng”. Chúng ta thường nghĩ: chỉ những ai hoàn toàn trong sạch mới đáng diện kiến tôn nhan Chúa, nên ít ra anh nầy cũng phải trải qua luyện ngục chứ, tại sao Chúa quên hết tội anh, vì trộm cắp bị kết án tử hình thì đâu phải là nhẹ! Ai đó đã nói: trí óc con người không thể hiểu Thiên Chúa là gì, mà chỉ có thể hiểu được Ngài không phải là gì. Đúng rồi, chúng ta không thể hiểu lòng thương xót Chúa, chỉ biết rằng ‘Ngài không biết tính toán, nếu kinh doanh thì chắc chắn là phá sản’ (ĐHY P.X.Nguyễn Văn Thuận). Lời Chúa nói trong sách Isaia: Tội lỗi các ngươi dù có đỏ thắm như vải điều thì cũng được tẩy trắng giống như tuyết, hãy trở về với Ta (Is 1,18).


Suốt mấy tiếng đồng hồ bị treo trên thập giá, người trộm lành này đã nghe và nhìn thấy nhiều điều. Anh biết rằng anh chẳng còn sống được mấy giờ nữa, nên tâm trí anh rất tỉnh táo và suy nghĩ nhiều điều. Anh thấy đám đông toa rập với nhau để nhục mạ ông Giêsu: nổi bật nhất là các vị chức sắc tôn giáo, họ nói những lời vu cáo và khích động dân chúng; còn đám đông thì thụ động đứng nhìn, có phần cảm thương và cũng có phần hiềm khích thù hằn. Ông Giêsu thì quá đau đớn và kiệt sức nên bề ngoài rất thê thảm vì máu thịt bê bết, anh rất cảm kích về những lời Ông nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm; Lạy Cha, Con phó thác hồn Con trong tay Cha”. Chỉ cần nghe những lời trên, lòng anh bị đánh động, anh nhìn thấy một Con Người vĩ đại mang dáng vẻ tầm thường này. Và với sự soi dẫn của ơn Thánh Chúa ban, anh thốt lên: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi”. Đây là một lời cầu xin tin tưởng và khiêm tốn, đáng cho muôn người học hỏi.


Hãy học hỏi thái độ của anh trộm lành để nhận ra dung mạo và hành động của Thiên Chúa nơi những người yếu hèn. Người đời thường nghĩ Thiên Chúa phải uy nghi và hành động của Ngài phải mạnh mẽ, thế mà Chúa Giêsu lại chọn cách biểu lộ hiền lành và khiêm nhường, sống như người phục vụ và cách đăng quang trần trụi trên thập giá: khi nào Ta bị treo lên, Ta sẽ kéo hết mọi người đến với Ta. Hãy học người trộm lành để tin nhận Chúa Giêsu là Cứu Chúa của vũ trụ, vì dưới gầm trời này không có danh nào khác mang lại ơn cứu độ (TĐCV 4,12). Hãy học nơi người trộm lành để kêu xin lòng thương xót Chúa và phó thác đời mình cho Chúa định liệu. Và điều cuối cùng: Ông Giêsu đồng hành với người trộm lành, Ngài luôn đồng hành với mỗi người chúng ta, nhất là trong những lúc gian nan thì chính Ngài cõng ta trên mình, hãy an tâm vì có Ngài luôn sát cánh với ta cho đến giây phút cuối cuộc đời.

Thứ Tư, 20 tháng 11, 2019

Hãy ký thác đường đời cho Chúa



Lời Thánh vịnh nói với ta rằng: Hãy ký thác đường đời cho Chúa, hãy tin tưởng nơi Ngài, và Ngài sẽ ra tay (Tv. 37, 5). Một lời Kinh Thánh khác: Hãy chúc tụng Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, cầu xin Người hướng dẫn bước đường con đi và mọi điều con mưu toan phải ký thác nơi Ngài (1 Pet 5,6)

Có những giai đoạn trong cuộc sống, được gọi là giai đoạn bản lề, con người có những kế hoạch lớn vượt tầm tay mình và họ phải cậy dựa vào sự hộ phù của Chúa. Có thể kể đến giai đoạn tuổi thanh niên, khi chọn lựa một tình yêu, mơ ước một môi trường học tập và sống ở nước ngoài, cũng có thể đó là khi trải qua một căn bệnh hiểm nghèo đe dọa đến mạng sống… Trong những hoàn cảnh đó, con người cầu xin tha thiết: nếu đẹp ý Chúa, xin cho ước nguyện của con được thành sự.

Nếu toại nguyện, ta tạ ơn Chúa và dễ cảm thấy bàn tay Ngài dìu mình từng bước trên đường đời. Nhưng có nhiều lúc sự việc xảy ra không như ta mong muốn, dễ dẫn đến sự thất vọng, cảm thấy như Thiên Chúa ở thật xa và dễ mặc cảm rằng vì ta tội lỗi nên không được Chúa nhậm lời. Đừng để nỗi thất vọng về cuộc sống dẫn đến việc suy giảm lòng tin vào Chúa hoặc có người mất đức tin. Cần có những suy nghĩ tích cực:

Thiên Chúa luôn luôn ở gần: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Chúa Giêsu luôn là người bạn của mỗi tâm hồn, một người bạn chung thủy, quyền năng và tốt lành. Chúa yêu ta không vì công trạng của ta mà chỉ vì lòng quảng đại của chính Ngài: Ngài làm mưa trên kẻ lành người dữ. Chúa Giêsu luôn là một người bạn. Đức Phanxicô nói với người trẻ: “Chúa Giêsu trao ban cho từng người các con một tình bạn chân thành, không bao giờ Ngài rút lại tình bạn đó, Chúa Giêsu vĩnh viễn là một người bạn của các con. Ngay cả khi các con làm cho Ngài thất vọng và lìa bỏ Ngài, thì Ngài vẫn tiếp tục ước muốn điều tốt nhất cho các con và luôn ở gần các con; Ngài tin tưởng các con còn hơn chính các con tin vào mình”.


Tầm nhìn trước mắt và tầm nhìn sâu thẳm. Hãy ký thác đường đời cho Chúa. Thiên Chúa có một kế hoạch cho mỗi cuộc đời. Hãy xác tín điều đó để không vỡ mộng khi sự việc không như ý ta muốn, hãy kiên nhẫn đợi chờ: “Anh em hãy tự hạ dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, Người sẽ cất nhắc anh em lên khi đến thời Người viếng thăm. Mọi lo âu hãy trút cả cho Người, vì Người lo cho anh em” (1pet 5,6). Tầm nhìn của con người giống như tầm nhìn của người cận thị, chỉ nhìn được những vật ở thật gần, còn tầm nhìn của Thiên Chúa mở rộng đến cõi vô biên và liên quan đến phần rỗi mọi người. Trong lúc con người chỉ nhìn thấy cơm ăn áo mặc, tiền tài và điều kiện sinh sống, thì Thiên Chúa nhìn thấu tâm can từng người để dẫn họ đi trên con đường chính lộ - dẫn đến cuộc sống đời đời.



Chúc tụng Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh. Thiên Chúa không bao giờ thua lòng quảng đại của con người.  Chúng ta đón nhận muôn ơn lành mỗi ngày, và đáng ra ta phải cảm ơn Chúa về tất cả những điều đó. Nhưng ngay cả khi chúng ta quên cám ơn Chúa thì Ngài vẫn không bao giờ quên ban ơn những ơn cần thiết. Đó không chỉ là những ơn lành vật chất mà ta có thể thấy được và sử dụng được, mà cả những ơn dẫn đến cuộc sống đời đời. Khi Chúa không ban cho ta những ơn ta tha thiết cầu xin, thì ta buồn lòng. Điều đó là bình thường, nhưng cái nhìn đức tin dạy ta: Hãy chúc tụng Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh.


Dù hoàn cảnh thế nào xảy ra đi nữa, đừng để những ‘sự việc phụ thuộc’ ảnh hưởng đến ‘điều chính yếu’ trong cuộc đời: tình bạn với Đức Giêsu. Hãy để cho lòng mình tự do khi biết nói ‘vâng’ với Ngài và nói ‘không’ với những điều sai trái. Chúa muốn ta tin tưởng phó thác đường đời cho Chúa định liệu và biết tạ ơn Chúa trong mọi điều xảy đến. Điều quan trọng là luôn tiến lên phía trước, trung thành với bổn phận hằng ngày của bậc sống, kiên trì vác thập giá của từng ngày một, và bám chặt hơn vào Chúa Giêsu: “Chúa biết rõ chúng ta cần gì”.

Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2019

Theo Chúa thì được gì?



Thánh Phêrô đã từng hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, này đây chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy”. Ông Phêrô dừng lại ở đó, nhưng mạch văn cho ta biết những chữ tiếp là ‘chúng con sẽ được gì?. Vâng, mừng lễ CTTĐVN là dịp rất tốt để chúng ta đặt lại vấn đề với chính mình: tôi theo đạo thì được gì?

Có đặt lại vấn đề một cách rõ ràng và dứt khoát như vậy, chúng ta mới dám đi ngược dòng và trung thành với Chúa, dù hoàn cảnh nào đi nữa. Để thử thách niềm tin vào Thiên Chúa, các vua quan thường đưa ra sự so sánh một bên là sự yên ổn thịnh vượng và bên kia là mất mạng vì niềm tin vào Chúa. Không ít lần, nhiều tín hữu đã nhát sợ mà chối bỏ niềm tin để được yên ổn. Nhưng rồi, có những người sau đó hối lỗi và đã trở lại trình diện với vua quan để được minh chứng niềm tin vào Thiên Chúa. Chúa không hề hứa cho kẻ theo Ngài được yên ổn, giàu sang, nổi tiếng ... vì những thứ đó đều là phù hoa và không quan trọng. Chúa chỉ hứa được bình an và hạnh phúc, được sống trong vòng tay yêu thương, chịu bách hại bởi người đời, và được hạnh phúc vĩnh cửu ở đời sau. 

Chúa không muốn mọi người phải chịu chết vì đạo, nhưng Chúa đòi buộc mọi người phải trở nên muối men cho đời, làm chứng nhân cho Chúa qua cuộc sống: tôi là những người con cái Chúa. Đã có biết bao người bỏ đạo hàng mấy chục năm trời, vì bất mãn với Chúa hoặc thiếu hiểu biết về đạo, vì niềm tin bị cười nhạo, hoặc muốn được yên thân hay được thăng tiến trong danh vọng và quyền lực. Tuy vậy, Thiên Chúa không bỏ rơi họ, Ngài đánh động họ - một lúc nào đó và họ đã trở về lại mái nhà Giáo hội, nhưng cũng có những kẻ bị hư đi mãi mãi.

Chúa trả lời cho Thánh Phêrô rằng: “chẳng ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ hay con cái hay ruộng đất vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này lại không được gấp trăm … cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau”(Mc 10,28-30). Ở đây, chúng ta khám phá ra một quy luật của Tin Mừng: khi con người chỉ biết tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Chúa, thì Chúa sẽ lo liệu phần còn lại, những điều cần thiết cho cuộc sống nơi trần gian như cơm ăn áo mặc... Chứng từ của Mẹ Têrêxa cũng nói lên điều đó: khi Chúa muốn công việc nào đó được tiến hành thì Chúa gửi phương tiện đến; đến lúc Thiên Chúa muốn, mọi sự sẽ dễ dàng và khi không phải lúc của Ngài thì mọi sự sẽ khó khăn.

Cứ theo sự tính toán bình thường của lý trí, người ta thường chọn cho mình điều có giá trị hơn và từ bỏ điều ít giá trị hơn. Điều đó thường xảy ra trong trường hợp hôn nhân tan vỡ: không ai bỏ gia đình mình nếu không có đối tượng thứ 3 tốt đẹp và hấp dẫn hơn. Ai đó đã xếp loại các giá trị cuộc sống từ thấp đến cao như sau: sự yên ổn vật chất và tinh thần, những giá trị tinh thần và cao nhất là phần rỗi linh  hồn. Theo đó, người ta có thể hy sinh sự yên ổn vật chất cho những giá trị cao hơn như sự tự do, lòng quảng đại, tình yêu quê hương…; và người Kitô hữu sẵn sàng mất mạng sống mình để minh chứng cho sự hiện diện của Thiên Chúa, là Chúa và là chủ của mọi loài, để chọn lấy hạnh phúc vĩnh cửu mai sau.


Đức Phanxicô nói đến hai hình thức ngược đãi các Kitô hữu: “một hình thức là cái chết của các vị tử đạo, còn cách kia được đặt tên là sự ‘ngược đãi lịch sự’ (polite persecution). Lịch sử Giáo hội là lịch sử của các cuộc bách hại, từ các vị tử đạo ở hý trường Colosseum cho tới cái chết thảm của những tín hữu ở Pakistan: các con sẽ bị mọi người ghét bỏ vì danh Thầy. Hình thức đầu của sự ngược đãi là ‘cốt ở việc tuyên xưng danh Đức Giêsu Kitô, đây là hình thức tử đạo cách rõ ràng. Còn hình thức ngược đãi khác ‘được ngụy trang dưới vỏ bọc là văn hóa, là văn minh, là tiến bộ - tôi có thể nói cách châm biếm – là sự ngược đãi lịch sự (polite persecution).

Chúng ta có thể nhận ra cách bách hại thứ hai này khi các nhà lãnh đạo đưa ra những đạo luật không cho con người sống đúng tư cách con cái Chúa, khi họ tước bỏ tự do của con người, nhất là tự do lương tâm. Ai không chấp nhận luật pháp họ đưa ra, ai lên tiếng về những điều bất cập trong hiến pháp… thì bị kết án và ngược đãi lịch sự: mất việc, bêu xấu, loại ra bên lề xã hội”.


Người đời sợ nhất là chứng từ tử đạo, họ muốn dùng hết sức mạnh của mình để chiến thắng, nhưng khi các vị tử đạo sẵn sàng dâng hiến những gì quý nhất ở trần gian vì niềm tin, thì những kẻ hành hình đã thực sự thất bại. Họ đi từ ngạo mạn đến ngỡ ngàng trước một sự thật vượt quá tầm hiểu biết của họ, nhất là khi chứng kiến các vị tử đạo ra đi trong hiên ngang, an bình, tha thứ, cầu nguyện, có sự đồng hành của của Đức Kitô và anh em đồng đạo.

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2019

Hạnh phúc trong tầm tay



Ai đó đã từng nói: Khoảng cách từ chân lý đến quả tim là một câu chuyện. Đúng vậy, chỉ cần kể một câu chuyện là chân lý được sáng tỏ, kẻ đơn sơ hiểu được chân lý cách rõ ràng. Để sống hạnh phúc trên cuộc đời này, tôi xin kể vài câu chuyện, phần tiêu cực trước:

- Có hai người tu hành sống với nhau rất hòa thuận trong một cộng đoàn như những nhà ẩn sĩ. Một ngày nọ người trẻ hơn mới đề nghị với người kia: lâu lắm rồi chúng ta không cãi nhau, hôm nay chúng ta cãi nhau một mẻ cho cuộc sống bớt đơn điệu đi. Người kia nhìn bạn mình một cách khó hiểu và nói: làm sao mà cãi nhau được khi không có lý do? Người trẻ hơn mới đề nghị: Tôi ra phía ngoài kia nhặt một cục đá lớn đem vào giữa sân, nhận là của mình, còn anh thì nói là của anh, thế là chúng ta cãi nhau.
Ừ, cứ thế mà làm. Người trẻ hơn ngồi trên cục đá và hô lớn: cục đá này là của tôi. Người kia hỏi lại: anh căn cứ vào đâu để bảo đó là của anh?- Vì tôi đã nhặt được ngoài kia và tôi đã khiêng vào đây. Người lớn tuổi hơn bèn bảo: vậy nó là của anh rồi, anh cứ giữ lấy… thế là cuộc cãi nhau đã kết thúc.

- Lúc còn nhỏ, khoảng 10 – 11 tuổi, chúng tôi nhập chủng viện, có anh bạn kia thường kể chuyện về gia đình mình, nội dung cứ xoay quanh vấn đề cái tôi, (tôi là): cha tôi, mẹ tôi, em tôi, của tôi. Khoe khoang bản thân là một nhu cầu tâm lý muốn thể hiện, ở những trẻ nhỏ nó thể hiện một cách ngây ngô và tinh vi hơn ở người lớn, nhất là thời đại kỹ thuật số là cơn nghiền Facebook: khoe bản thân mình, của cải mình, tài khéo mình, bạn bè mình, lối sống mình. Điều lạ là càng khoe lại càng thiếu, càng ăn lại càng đói.

- Một chàng trai trẻ gặp một vị tu hành. Chàng trai đầy tư lự, còn vị tu hành rất an bình. Chàng trai cất tiếng: Thưa thầy, con muốn hạnh phúc. – Ta nghe chưa rõ, giấy bút có sẵn đây, con ghi ra giấy. Chàng trai liền ghi: TÔI MUỐN HẠNH PHÚC. Thầy cầm lấy và đọc, liền sau đó thầy lấy bút và xóa bớt chữ tôi, chỉ còn lại 3 chữ; tiếp đó thầy xóa luôn chữ muốn và trao tờ giấy chỉ còn lại hai chữ ‘hạnh phúc’  cho chàng trai. Thế đó, muốn hạnh phúc thì biết bỏ cái tôi và cái muốn của mình, thì hạnh phúc ắt tự đến.


Đó là phần tiêu cực, và đây là vài câu chuyện về khía cạnh tích cực:


- Lòng biết ơn. Thánh I-Nhã coi sự vô ơn như cội rễ của mọi thứ tồi tệ, Ngài viết: “Nếu người ta suy nghĩ về những điều tốt lành của Thiên Chúa, thì trong những điều lầm lỗi tồi tệ nhất phải kể đến là sự vô ơn với những điều tốt lành đáng trân trọng trước Đấng Tạo Hóa là chủ và là Chúa của vũ trụ này…”. Hãy biết ơn cha mẹ, người bạn đời, tha nhân quanh ta, bạn bè… vì những chăm sóc, quan tâm, câu chuyện trao đổi… đều nằm trong chuỗi quan phòng kỳ diệu của Cha trên trời để giúp ta được hạnh phúc và lớn lên.

- Nhận lỗi. Có hai gia đình sống cạnh nhau. Gia đình nhà giàu có dư của cải nhưng lại thiếu hạnh phúc, còn gia đình nhà nghèo lại rất êm ấm. Một hôm anh nhà giàu cất bước sang nhà hàng xóm để tìm hiểu lý do nào mà họ sống rất hòa thuận. Anh mới ngồi một lát thì người con dâu của gia đình đi chợ về, cô bị trợt suýt té; người mẹ chồng vội chạy ra đỡ cô và nói: mẹ sơ ý không quét chỗ nước đọng đó; anh chồng cũng vội chạy ra và xin lỗi vợ vì mình không ra sớm một chút để dìu vợ từ ngoài cổng – đường rất trơn; người con dâu bèn nói: con xin lỗi mẹ, em xin lỗi anh, cũng tại con sơ ý và không cẩn thận nên mới trượt. Người nhà giàu chợt hiểu lý do của hòa thuận là mỗi người biết nhận lỗi về mình thay vì đổ lỗi cho nhau.

Hóa ra để hạnh phúc cũng thật đơn giản: đừng giành giật ‘của tôi’ và bớt nói ‘tôi là’, biết nói ‘cám ơn’ và ‘xin lỗi’ thường xuyên hơn. Một trong những biểu hiện sự vô cảm trong xã hội là khi con người không biết dùng đến hai từ ‘cảm ơn và xin lỗi’ trong cuộc sống.