Danh sách Blog của Tôi

Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2020

AI CŨNG CẦN MỘT VÒNG TAY ÔM
(nguồn langthangchieutim@gmail.com) 


Genny gửi đi dòng text cuối cho Dick, bạn trai và cũng là đồng nghiệp của cô ở sở cảnh sát Dallas, khi bước đến gần căn apartment của cô ở lầu 3.  Lúc ấy khoảng gần 10 giờ đêm.  Cô về muộn hơn mọi ngày sau ca trực kéo dài suốt 14 tiếng...  Một ngày đầu tuần khá mệt mỏi và nhức đầu vì những chuyện lỉnh kỉnh chẳng đâu vào đâu.  Cô cần nghỉ ngơi để lấy lại sức.

Khi vừa tra chìa khóa vào ổ khóa cửa phòng, Genny cảm thấy có điều gì bất thường.  Cô luôn cẩn thận khóa cửa, tắt đèn mỗi khi rời nhà.  Cửa dường như không khóa, cô xoay nhẹ tay nắm cửa, cánh cửa mở he hé.  Genny khẽ giật mình, đặt tay lên báng súng như một phản xạ tự nhiên.  Ánh đèn vàng từ bên trong hắt ra.  Genny suy nghĩ thật nhanh.  Ngoài Dick ra, không ai biết chỗ ở của cô.  Kẻ nào đã đột nhập vào phòng cô?...  Genny rút súng, lùi lại một bước, tay giơ cao khẩu súng ngắn, chân đạp mạnh vào cánh cửa.
“Đứng yên tại chỗ.  Giơ tay lên!”  Genny hét lớn.

Cửa mở toang.  Cô trông thấy một gã đàn ông ngồi dựa lưng trên ghế sofa, hai chân duỗi thẳng, tay cầm vật gì đó.

“Bỏ ngay cái đó xuống.  Giơ hai tay lên!”  Genny nắm chặt khẩu súng bằng cả hai tay, mũi súng chĩa thẳng về phía kẻ lạ mặt.

Trước mắt cô là gã đàn ông da màu lạ hoắc.  Gã mặc quần short, tay cầm vật gì lấp lánh cô không nhìn thấy rõ.  Gã chồm người dậy, nhìn chòng chọc vào cô.

“Giơ hai tay lên!  Bỏ cái đó xuống ngay, nếu không tôi bắn.”  Genny quát lên và lùi lại một chút, hai tay vẫn nắm chặt khẩu súng.

Gã đàn ông đứng bật dậy, dáng cao lớn, khệnh khạ̣ng.

“Hey! Hey! Hey!”  Gã trợn mắt, xăm xăm bước về phía cô.

“Đoàng! Đoàng!”  Genny nổ liền hai phát.  Gã bật ngửa ra sau, nằm ngay đơ, đầu gối lên thành ghế sofa.

Suốt những năm hành nghề cảnh sát, Genny vẫn được đồng nghiệp thán phục về tài thiện xạ, đã bắn thì không trật vào đâu được.  Cô từ từ bước qua cửa, men sát theo vách tường rồi lọt hẳn vào phòng trong lúc hai tay vẫn không rời khẩu súng, hai mắt vẫn chăm chăm nhìn xuống thân hình bất động dưới chân sofa.  Gã da màu nằm im không nhúc nhích, máu loang trước ngực.

Genny đảo mắt một vòng, nhìn quanh.  Và, chỉ trong một vài giây, trong ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn phòng khách, cô nhận ra điều gì khác thường...  Cô lắc lắc đầu mấy cái cho thật tỉnh táo.  Genny bỗng lạnh sống lưng.  Cô thấy chóng mặt, rồi khẩu súng trong tay rớt xuống lúc nào cô không hay.

Đây không phải là căn apartment của cô.  Cô đã vào nhầm phòng.

Genny vội quỳ xuống bên người đàn ông.  Gã nằm ngửa, hai mắt mở lớn, trợn trừng...  Bàn tay phải mở ra cho thấy vật trong tay gã là chiếc muỗng nhôm.  Một ly kem ăn dở và hộp kem mở nắp ở trên chiếc bàn thấp cạnh sofa.  Máu vẫn loang trên sàn nhà...

Genny ngồi bật dậy, hoảng hốt...  Cô đã làm gì vậy?  Cô đã giết người.  Rồi Genny lại quỳ xuống, đặt tay lên ngực gã...  Cô nhớ tới những thao tác CPR từng ứng dụng.  Vô ích, viên đạn trúng ngay tim.  Dưới chân cô đã là một xác chết.  Cô nhìn lại bàn tay mình.  Máu.  Genny cố trấn tĩnh, gọi số 911 trước khi gieo mình xuống chiếc sofa mà người đàn ông đã ngồi trước đó ít phút…

Tiếng tivi ở góc phòng phát đi bản tin về vụ cướp ở đâu đó.  Genny nghe tiếng lao xao và tiếng chân người từ ngoài hành lang...

*********************************************

Phiên tòa bước sang ngày thứ 5, dự trù sẽ đưa ra phán quyết chung thẩm.  Genny trông hốc hác, hai mắt trũng sâu vì thiếu ngủ.  Cô phải trả lời nhiều câu hỏi từ công tố viện.  Trả lời câu hỏi đầu tiên, Genny nói cô không biết gì về Bruce, người hàng xóm đã thiệt mạng vì hai phát súng nghiệt ngã của cô đêm ấy.  Người thanh niên da màu chết bất ngờ, không hiểu được vì sao mình phải chết.

Bruce ở lầu số 3, trong căn phòng ngay bên dưới phòng của Genny ở lầu 4.  Anh là nhân viên kế toán của một công ty tài chánh.  Bruce kém cô ba tuổi, là một thanh niên hiền lành và tốt bụng, hay giúp đỡ người khác.  Ngoài công việc ở sở, anh là thành viên của Hội đồng Mục vụ Giáo xứ tại một nhà thờ ở địa phương trong nhiều năm.

Công tố viên muốn cô diễn lại trình tự mọi chuyện xảy ra vào hôm ấy, và phóng ra liên tiếp những câu hỏi như không để cô có thì giờ đắn đo suy nghĩ.

“Chuyện gì làm cô không tỉnh táo hôm ấy?”

“Tôi không rõ. Có thể tôi đã làm việc quá sức.  Tôi đã làm đến hơn 14 tiếng thay cho người bạn trong sở nghỉ bệnh.”

“Còn gì nữa?”

“Tôi về muộn, khá mệt mỏi sau một ngày dài làm việc.  Từ lúc xuống xe ở parking, tôi vừa đi vừa text message với người bạn cùng sở nên không nhận ra mình đang ở lầu 3 chứ không phải lầu 4.”

“Mỗi phòng đều có tấm biển ghi số phòng gắn trên cửa, cô không nhìn số phòng?”

“Không,” Genny lắc đầu.  “Phòng tôi ở dãy bên tay phải, cạnh phòng cuối cùng của hành lang.  Rất dễ nhận biết, tôi cứ đi thẳng tới đó.”

“Khi mở cửa phòng, cô không nhận ra đấy không phải là phòng mình?”

“Không,” Genny lắc đầu.  “Đèn không đủ sáng.  Cách bài trí nơi phòng khách khá giống với phòng tôi.  Bộ sofa cũng gần như cùng một kiểu, một màu.”

“Cô nghĩ gì và phản ứng thế nào vào lúc ấy?”

“Một kẻ lạ nào đó đột nhập phòng mình.  Tôi rút súng ra.  Tôi cần phản ứng thật nhanh, nghề nghiệp dạy tôi như vậy.”

Công tố viên không hỏi tiếp.  Phòng xử chìm trong im lặng vài phút.

“Cô nghĩ gì trong đầu khi nổ súng vào người đó?”

“Tôi sợ,” Genny trả lời, giọng run run.  “Tôi yêu cầu anh ta đứng yên và giơ tay lên đến mấy lần, nhưng anh ta bỗng hét lớn “Hey, hey, hey!” như bị kích động và sấn về phía tôi.  Tôi nghĩ anh ta sẽ giết mình.  Tôi không còn cách nào.  Bắn chậm thì chết.”  Genny khóc nức lên...

Nhiều tiếng lào xào...  Bà thẩm phán Tammie nhìn Genny chăm chú, khẽ gật gù.

“Tôi ngu ngốc quá...!” Genny nói trong tiếng nấc.  “Tôi muốn được trừng phạt.”

“Cô nói tiếp đi, rồi sao nữa?  Mọi người vẫn đang nghe cô.” Thẩm phán Tammie lên tiếng.

“Tôi thấy mình thật xấu xa, kinh tởm.”  Genny nói nhỏ, cúi gầm mặt.  “Tôi thù ghét tôi mỗi ngày.  Tôi biết mình sẽ không bao giờ tìm được một ngày bình yên trong suốt phần đời còn lại.”

Genny sẽ nhận bản án chung thẩm hôm nay.  Việc xét xử và nghị án có khuynh hướng bất lợi cho cô trong bối cảnh khá căng thẳng do những đợt biểu tình phản đối tình trạng bạo hành của cảnh sát đối với người da màu gần đây vẫn chưa lắng xuống.  Công tố viện có vẻ muốn cáo buộc tội sát nhân cho cô hơn là ngộ sát để làm dịu bớt những làn sóng phẫn nộ.  Trong suốt phiên xử Genny tránh cái nhìn từ phía những người thân của Bruce.  Cô tin là họ căm ghét cô và chỉ muốn cô phải chịu bản án nặng nhất.

Công tố viện đề nghị bản án 28 năm tù giam, bằng con số tuổi của Bruce vào ngày sinh nhật của anh ta trong tháng này nếu như anh còn sống.  Genny đã lấy đi những năm tuổi đẹp nhất của anh ta và cô phải trả lại đúng số năm ấy.

Sau nhiều giờ nghị án của bồi thẩm đoàn, Genny sau cùng nhận phán quyết chung thẩm là 10 năm tù giam và có thể xin được ân xá sau 5 năm ngồi tù.  Những nguời thân trong gia đình nạn nhân được phép lên tiếng.  Alice, mẹ của Bruce, chỉ sụt sùi kể lể, không nói được gì nhiều.  Beck, ông bố, lắc lắc đầu tỏ dấu không muốn lên tiếng.  Mọi người hướng về Ben, em trai của Bruce, người nói những lời sau cùng.  Chàng trai 18 tuổi, mặc bộ vest đen chỉnh tề, đeo kính trắng, khuôn mặt có nét từa tựa ông anh cậu.

“Tôi không ghét chị, cho dù chị đã làm chúng tôi phải xa lìa Bruce.”  Ben cất tiếng sau ít giây im lặng.  Cậu đưa mắt về phía Genny, nói chậm rãi.  “Tôi thực lòng mong muốn những điều tốt lành cho chị.  Tôi cũng không muốn chị phải vào tù một ngày nào.  Và tôi tin là Bruce, anh tôi, cũng muốn như vậy.  Tôi hiểu Bruce hơn ai hết.  Anh ấy rất mau quên và dễ tha thứ, anh ấy không muốn chị phải vào tù đâu.  Anh ấy chẳng oán ghét ai bao giờ, và cũng chẳng muốn làm ai buồn khổ.  Những gì tôi nói ra đây là những điều tôi học được từ Bruce.  Giá như anh ấy có ở đây thì anh ấy cũng sẽ nói giống như tôi vậy.  Việc đã rồi, chị đâu có muốn như thế, phải không?  Chẳng ai muốn như thế cả.”

Ben ngừng lại. Phòng xử không một tiếng động.  Mọi người im lặng, chờ nghe cậu nói tiếp.  Ben nhìn thật lâu vào đôi mắt Genny đỏ hoe.

“Anh ấy chắc chắn tha thứ cho chị.  Chị cũng cần tha thứ cho chị.”  Ngừng một chút, Ben nói tiếp, “Nếu chị không làm được vậy, chị hãy tìm đến với Chúa.  Một khi chị biết lỗi và hối lỗi thì Chúa sẽ tha thứ cho chị.  Phần tôi..., tôi cũng tha thứ cho chị.”

Ben lại ngừng một chút, rồi cậu hướng cái nhìn về bà thẩm phán Tammie.

“Liệu tôi có thể dành cho chị ấy một cái ôm không?”

Không có tiếng trả lời.

“Tôi có được phép ôm chị ấy không?”  Ben hỏi lại lần nữa, giọng khẩn khoản. “Tôi được phép chứ? Xin cho tôi...”

“Được,” bà thẩm phán nói, sau ít giây bối rối.

Ben rời bàn, bước xuống.  Phía bên kia, Genny đưa mắt nhìn viên cảnh sát bên cạnh cô.  Anh ta đứng lặng yên, không nói năng gì.  Cô bước ra khỏi hàng ghế tiến về phía Ben.  Khi tới gần Ben, cô dang rộng cánh tay, lao vào ôm chầm lấy cậu.  Hai cánh tay cô quấn chặt cổ cậu.

Mọi người nghe rõ tiếng khóc nức lên của hai người.

Ben ôm lấy tấm lưng Genny, hai bàn tay cậu xòe rộng xoa xoa, vỗ dọc lưng cô.

“Em tha thứ cho tôi?”  Genny thì thầm.  “Tôi không nghe lầm chứ?  Tôi muốn được nghe lại một lần nữa.  Xin làm ơn...”

“Tôi tha thứ cho chị.”  Ben khẽ nói. “Bruce muốn tôi làm việc đó.  Anh ấy và tôi tha thứ cho chị.”

Genny áp mặt vào ngực Ben.  Cô buông lỏng đôi tay, rồi cô lại ôm chặt lấy Ben lần nữa.

“Thế còn những người khác trong gia đình em?”

“Tôi không rõ, tôi tin mọi người rồi sẽ tha thứ cho chị.”  Ngừng một chút, Ben nói, “Tin tôi đi, khi tìm đến với Chúa, chị sẽ được bình an thôi.  Hãy can đảm lên, chị hứa với tôi đi.”

“Tôi hứa, tôi hứa...” Genny nghẹn lời.  Khuôn mặt cô đầm đìa nước mắt.

“Peace be with you,” (chúc chị được bình an) Ben thì thầm lời cuối trong lúc chậm rãi buông cô ra.

Không một ai trong phòng nghe được họ nói gì.  Viên cảnh sát dìu Genny về lại chỗ ngồi.

Ben quay nhìn Genny trong một thoáng trước khi rời phòng xử.

Ted, luật sư biện hộ cho Genny, chìa tay bắt tay bố của Ben khi hai người cùng bước ra ngoài hành lang.

“Cậu bé này tốt hơn chúng ta rất nhiều, bản thân tôi phải học nhiều ở cậu.  Chỉ có chiếc ôm ấy mới chữa lành được những vết thương.”

“Đúng thế,” Beck khẽ gật gật đầu.

Rồi ông quay nhìn con trai mình đứng phía sau, đưa ngón tay cái lên.  Hai bố con cùng bước xuống những bậc thang cấp của tòa án.

“Vậy là xong,” Beck siết chặt vai cậu, nói. “Bố cám ơn con.  Bố yêu con, Ben.  Bây giờ Bố cảm thấy nhẹ nhõm.  Tạ ơn Chúa, giờ đây Bố Mẹ vẫn có con bên cạnh.  Tất cả rồi sẽ qua đi.  Chúng ta cần phải sống.  Mọi người cần phải sống.  Chúng ta không để bất cứ thứ gì đè nặng trái tim mình.”

Ben im lặng, cậu cũng nghĩ như bố.

“Mỗi người một phần số,” Beck nói tiếp. “Chúng ta không làm khác đi được, nhưng chúng ta có thể làm nhẹ bớt phần nào những gánh nặng.  Ai cũng cần một vòng tay ôm.”

Ben vẫn im lặng.  Cậu hít sâu và thở ra một hơi dài.  Cậu cũng cảm thấy nhẹ nhõm như bố.

Chiều xuống dần.  Hai bố con sánh đôi bên nhau.  Beck lại bóp nhẹ mấy cái vào vai Ben.  Và ông choàng hẳn tay qua vai cậu, rồi khoác vai cậu bước đi thân mật như hai người bạn.

“Bố nói đúng,” Ben thầm nghĩ. “Ai cũng cần một vòng tay ôm.”

(Phỏng theo bản tin báo The Dallas Morning News, 2/10/2019)


Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2020

Niềm vui phục vụ



Nếu nói Thánh Gioan Tẩy Giả là vị thánh của mọi thời đại, luôn hợp thời thì không phải là quá đáng, vì chỉ cần trích dẫn 3 câu nói của Ngài được bài Tin Mừng hôm nay nhắc tới (Ga 3,20-30): Chẳng ai nhận được gì nếu không do Trời ban cho, bạn của chú rể thì vui mừng vì nghe tiếng chú rể, Người phải lớn lên còn tôi thì nhỏ lại... thì cũng đủ cho thấy linh đạo của thánh nhân luôn hợp thời.

Chúa Giêsu đã từng nói về ông Gioan, người anh họ của mình, rằng: “Trong các người nam được sinh ra, không có ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả”. Còn ông Gioan thì lại nói: “Chúa Giêsu là Đấng phải đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người”. Trước trận đấu hôm qua (10.01,2020), hai ông HLV đội tuyển UAE và VN cũng có những lời đề cao đối thủ, nhưng trong lòng mình - ai cũng quyết tâm dành phần thắng. Giữa Chúa Giêsu và ông Gioan thì không phải như vậy! Nếu lòng không trong sáng và không thánh thiện thì giữa hai vị đã có một cuộc giao đấu nảy lửa chứ chẳng chơi. Vì theo kiểu người đời, hai vị tranh cử một chức vụ cao trọng trong xã hội thì sẽ tự đề cao mình và bới lông tìm vết đối phương, kể cả vu cáo, để hạ nhục. Bởi đó, hãy học nơi Thánh Gioan Tẩy Giả những bài học rất cao đẹp.

Bài học thứ nhất: khiêm tốn nhận biết thiên ý: Chẳng ai nhận được gì nếu không do Trời ban cho. Chúa là Đấng Tạo Dựng trời đất và là Đấng Cứu độ muôn loài. Người điều hành lịch sử lịch sử cứu độ và lịch sử nhân loại theo ý định của Người. Thánh Phaolô cũng nói: Mọi sự ta có là do bởi ơn Chúa ban, bạn lãnh nhận mọi sự từ nơi Chúa, sao lại tự hào như thể là không lãnh nhận? Ơn riêng Chúa ban cho mỗi người là để phục vụ cộng đoàn. Thánh Gioan đã nhận biết mình chỉ là vị tiền hô, là bạn của chú rể, nên đã hăng say giới thiệu Đức Giêsu cho dân chúng và cho các môn đệ, đến độ hy sinh mạng sống vì sứ mạng dọn đường cho Đấng Cứu Thế. Áp dụng thứ nhất: Chúa Giêsu đã nhiều lần cảnh cáo rằng nhiều hành vi đạo đức và hoạt động của ta là có động lực thấp hèn, để được người đời ca tụng hơn là vì Danh Chúa cả sáng. Áp dụng thứ hai: Đừng an phận, hãy nhớ Lời Chúa "Chúa đã ban cho ai nhiều thì sẽ đòi lại kẻ ấy nhiều hơn".


Bài học thứ hai: vui mừng vì chú rể. Làm sao lòng ta vui được khi có sự ghen tị? Thánh Phaolô nói: Anh em hãy vui với người vui, khóc với người khóc, nghĩa là phải có sự đồng cảm và lòng quảng đại. Chúa Giêsu là chú rể đã kết ước với Giáo hội là hiền thê của Người, Thánh Gioan Tẩy Giả đã có tinh thần khiêm tốn để có niềm vui cứu độ, vui mừng vì sự xuất hiện của chú rể, vì Thiên Chúa đã thực hiện lời đã hứa từ ngàn xưa. Óc bè phái đã gây nên sự chia rẽ giữa các dân tộc, các giáo hội, các dòng tu, các giáo xứ và các cá nhân với nhau… vì sợ kẻ khác trổi vượt hơn mình, nổi tiếng hơn và được kính trọng hơn. Hãy học tinh thần vui mừng luôn trong Chúa: Miễn là Đức Kitô được vinh danh, vì hoạt động của Chúa Thánh Thần luôn phong phú "Gió muốn thổi đâu thì thổi, không ai biết Gió từ đâu tới và đi đâu". Mẹ Têrêxa có một câu nói nổi tiếng: "phục vụ đem lại niềm vui", ta có thể đảo ngược lại: nếu đời tôi kém vui là vì thiếu tinh thần phục vụ. Nhiều người chán nản vì gia cảnh, nhưng họ bất ngờ tìm lại được niềm vui sống khi quan tâm đến những người khốn khổ khác; còn kẻ khép kín lòng mình, gặm nhấm nỗi khổ mình thì sẽ rơi vào tuyệt vọng.

Người phải lớn lên, còn tôi thì nhỏ lại. Đây không phải là câu khẩu hiệu (slogan) mà phải đem áp dụng vào cuộc sống. Xã hội từ xưa đến nay luôn đề cao sự tiến bộ, tự do và nhân quyền. CĐ Vaticanô 2 đề cao vai trò giáo dân trong hoạt động tông đồ không những trong lãnh vực truyền giáo mà cả trong lãnh vực quản trị và các tổ chức tông đồ giáo dân. Chúng ta luôn thấy có những ‘nhân vật’ hết lòng vì Giáo hội (ở cấp giáo phận, giáo xứ, hội đoàn, các tổ chức bác ái từ thiện), đến mức như ‘điên dại’: mất giờ, nghèo túng, tiếng ra tiếng vào. Những vị này xuất hiện như những vì sao sáng để khích lệ chúng ta biết bỏ đi một chút tự do để dấn thân trong các hoạt động vô vị lợi, đừng trở nên ‘những điện tử tự do’: thích thì làm không thích thì bỏ, không bị ràng buộc để tự do sống theo ý mình. Hãy góp phần nhỏ bé của mình để cho tập thể lớn lên, Giáo hội phát triển và Danh Chúa cả sáng.

Mỗi người chúng ta là một cành hoa nhỏ được góp mặt trong vườn hoa Giáo hội. Mỗi người có đặc sủng và hương sắc riêng, nhưng đều hạnh phúc vì được Chúa yêu thích và mong muốn. Hãy tỏa hương bằng niềm vui được làm con Chúa, được góp phần nhỏ bé của mình cho Chúa Giêsu được lớn lên nơi lòng mình và trong môi trường mình sinh sống. Và điều quan trọng nhất trong cuộc đời là hãy giữ mối liên lạc với Chúa Giêsu, hãy luôn thầm thì với Người lời kinh được các Giáo phụ dạy: Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin thương xót con.

Thứ Tư, 8 tháng 1, 2020

Thiên Chúa đã yêu chúng ta trước



Thánh Gioan Tông Đồ đã khẳng định một sự thật mà nhiều khi chúng ta đã hiểu sai : Thiên Chúa đã yêu chúng ta trước (1Ga 4,19). Chúng ta dễ thường nghĩ : theo đạo là chọn yêu mến Chúa và phụng sự Chúa ở đời này, để sau này được thưởng công trên thiên đàng.

Theo kiểu suy luận này thì phần chủ đạo là con người và Thiên Chúa là Đấng ban ơn trợ giúp chúng ta vượt qua những nghi nan và những gian nan để trung thành với Chúa cho đến trọn đời. Đúng ra, chúng ta phải xác tín rằng: Thiên Chúa lãnh phần chủ đạo trong cuộc đời chúng ta, nhất là trong đời sống đức tin của ta. Thiên Chúa đã yêu mỗi người bằng một tình yêu muôn thuở, đã xếp đặt để tôi hiện hữu, đã âu yếm chăm sóc cuộc đời tôi và dìu tôi vào huyền diệu của tình yêu với Ngài. Mọi công việc tôi làm từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa, phần nỗ lực của tôi chỉ là nhỏ bé.

Có câu chuyện kể rằng: Hai người bạn chơi thân với nhau, một hôm họ chia tay nhau lên đường để tìm kiếm điều quý giá nhất trong cuộc đời, hẹn ngày tái ngộ nơi làng quê. Người thứ nhất vừa rảo quanh các thành phố vừa suy nghĩ: trên trần gian này có gì là quý giá hơn kim cương? – Thế là anh đã tìm kiếm được một viên kim cương rất lớn, anh trở về làng và chờ đợi người bạn. Còn người kia thì nghĩ: trên đời này, có gì quý giá hơn chân lý? – Thế là anh rảo quanh nhiều tu viện để tầm sư học đạo. Anh chìm đắm trong nguyện cầu và suy tư, nhưng dường như vẫn chưa thỏa mãn được khao khát về chân lý… Đến một hôm, anh ngao du sơn thủy, thấy giữa một hồ nước mênh mông phẳng lặng, có đàn vịt con đang bơi lội quanh một con vịt mẹ, bầy con thì cứ chạy tứ phía vui đùa và thích khám phá, con vịt mẹ vất vả tìm kiếm bao bọc từng đứa con được an toàn. Anh này chợt mỉm cười, một nụ cười thỏa mãn vì đã hiểu được chân lý: con người mải đi tìm Thiên Chúa, nhưng thực ra Thiên Chúa luôn đi bước trước để tìm kiếm con người, lo liệu cho từng đứa con được hạnh phúc.

Sách Sáng Thế kể rằng con người đã phạm tội khi nghi ngờ tình Chúa, họ nghe theo lời con rắn nói rằng: Chúa không cho họ ăn cây giữa vườn vì Ngài biết ngày nào họ ăn trái ấy thì họ sẽ thông biết như Thiên Chúa. Không phải thế, Chúa biết rằng: ngày nào con người không còn biết mình là thụ tạo – luôn tùy thuộc vào Đấng Tạo Hóa trong mọi sự, thì ngày ấy họ sẽ trần truồng vì vong thân (đánh mất chính mình). Từ tội Adam cho đến hôm nay – và mãi cho đến tận thế, tội lỗi vẫn luôn xảy ra khi con người chối bỏ sự hiện diện và chối bỏ lề luật Thiên Chúa truyền. Luật Chúa ban cho con người dưới nhiều hình thức: luật tự nhiên, Thánh Kinh, Thánh truyền và giáo huấn Giáo hội.


Là Kitô hữu, chúng ta đã tin nhận Thiên Chúa là khởi nguyên và tận cùng của vũ trụ, là Đấng Tạo dựng càn khôn và là Đấng Cứu Chuộc, cho con người được quyền trở thành con cái Thiên Chúa. Thế nhưng, chúng ta dễ quên rằng: Chúa vẫn chăm sóc tôi từng ngày. Việc lãng quên này khiến chúng ta  nghĩ đi đạo là đến nhà thờ đọc kinh – mà quên sống đạo; việc thiếu niềm tin vào tình thương Chúa khiến chúng ta ít cầu nguyện xin mọi ơn lành – mà đức tin lại là điều kiện cần thiết để Chúa làm phép lạ; việc thiếu niềm tin vào một Thiên Chúa quyền năng, gần gũi từng đứa con thơ khiến chúng ta co mình lại trong đủ thứ âu lo về cuộc sống – trong lúc Chúa vẫn dạy ta đừng lo lắng về cơm ăn áo mặc, mà hãy cầu nguyện và phó thác mọi sự cho Ngài; việc thiếu niềm tin khiến chúng ta mặc cảm về tội lỗi và sự bất xứng của mình, khiến chúng ta ngại cầu nguyện trực tiếp với Chúa - trong lúc Chúa yêu tôi vì tôi là chứ không phải vì việc tôi làm.

Lạy Chúa, điều quan trọng nhất trong cuộc đời chúng con là luôn tin vào tình thương Chúa dành cho từng người con cái Chúa: một tình yêu bao la và đi bước trước, không mệt mỏi khi tha thứ, cá biệt và không đòi điều kiện, mãnh liệt và cụ thể, trổi vượt không gian để vươn tới vĩnh cửu là thiên đàng. Xin cho con tin vào tình Chúa mà dấn bước đời con, mà luôn cầu nguyện không mỏi mệt – cả khi gian nan ngập tràn, cả khi Chúa ẩn mặt và tâm trí con mù tối… thì con vẫn tin rằng điều đang xảy ra là điều tốt nhất mà Cha nhân lành đã dự liệu cho phép xảy đến. Xin cho con luôn tin rằng Chúa có một kế hoạch cho mỗi cuộc đời. Amen.


Thứ Ba, 7 tháng 1, 2020

Ơn gọi hôn nhân


Xin ghi lại một bài giảng rất có hồn trong một lễ hôn phối. Thiên Chúa đã tạo dựng con người có nam có nữ và Thiên Chúa chúc phúc cho tình yêu của họ. Kinh Thánh dạy rằng: Điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly.

Sau khi tạo dựng muôn loài muôn vật, Thiên Chúa đã dựng nên Adam như tột đỉnh của công trình tạo dựng và trao quyền làm chủ trái đất. “Con Người ở một mình không tốt”, Thiên Chúa rút chiếc xương từ cạnh sườn Adam để tạo nên người đàn bà, cho làm bạn với Adam và cả hai gắn bó mật thiết với nhau – trở nên một xương một thịt. Tuy vậy, loài người đã phạm tội khi tìm kiếm hạnh phúc ngoài Thiên Chúa, kéo theo sự đổ vỡ của tình nghĩa vợ chồng - tình nghĩa anh em, mối liên lạc với vạn vật. Có thể nói cạnh sườn Adam đã bị tổn thương vì tội lỗi.


Đức Giêsu là Cứu Chúa, đã xuất hiện khi đến thời đến buổi. Chúa đến để phục hồi những gì đã đổ vỡ, phục hồi công trình sáng tạo đã bị thương tổn: tình nghĩa với Thiên Chúa, tình nghĩa vợ chồng và đặt vạn vật dưới chân Người. Khi bị treo trên thập giá, một tên lính đã lấy ngọn giáo đâm thủng cạnh sườn Người: cạnh sườn Chúa bị tổn thương đã chữa lành cạnh sườn Adam xưa. Chúa Giêsu đã nâng hôn nhân lên hàng bí tích – hôn nhân Kitô giáo là một ơn gọi, là hình ảnh của tình yêu Chúa Giêsu dành cho Giáo hội. Đức Kitô yêu Hội Thánh bằng một tình yêu trao hiến để Giáo hội được sống dồi dào, viên mãn.

Một cô gái yêu người con trai có đạo vì cô cảm mến những điều tốt đẹp nơi những giáo lý cô học và nhiều điều tốt ở người yêu, và cô đã nhập đạo. Tuy vậy, sau đó cô gặp một vài khúc mắc về đạo: tại sao người chồng của cô không sống đạo, không chung thủy, mẹ chồng còn ủng hộ những hành vi lăng nhăng đó, tại sao cô xin nhiều điều mà Chúa không nhận lời??? – Người đạo gốc phải ý thức rằng: mỗi Kitô hữu phải là một nhà truyền giáo, Chúa đem một người tân tòng vào cuộc đời mình thì mình phải là người đầu tiên có trách nhiệm giới thiệu Chúa bằng một lối sống ‘biết điều’: gương mẫu và tốt lành như Cha trên trời. Người đạo gốc phải là người chủ đạo trong những buổi đọc kinh gia đình và trong sinh hoạt đạo, phải biết tôn trọng niềm tin của họ hàng bên vợ và cư xử đúng mực với các mối liên hệ xóm giềng – gia tộc hai bên. Sống biết điều và tử tế, đó là truyền giáo.

Cuộc đời con người được ví như cuộc hành trình với những ngọn đồi thoai thoải nối tiếp nhau. Ngày đôi bạn kết đôi để thành lập một gia đình mới là họ cùng nhau chung lối chung đường, cùng giúp nhau nên thánh – có con cái điểm tô cho gia đình của họ. Muốn hạnh phúc, họ phải cầu xin sự trợ giúp của ơn Thánh để có thể noi gương quảng đại hiến thân của Chúa Kitô mà sống biết điều với nhau, yêu thương và tôn trọng nhau – từng ngày cho đến suốt cuộc đời.

 (Ghi theo bài giảng của cha Phaolô Lưu Văn Phan)

Thứ Ba, 31 tháng 12, 2019

Mẹ suy đi nghĩ lại trong lòng



Ngày lễ Mẹ Thiên Chúa, chúng ta dừng lại ở câu Kinh Thánh tuy rất ngắn gọn nhưng lại súc tích về ý nghĩa này, vì nó chứa đựng cả một triết lý sống – đủ cho cả một đời người được hạnh phúc và giàu ý nghĩa đạo đức.

Mẹ Maria được tuyên dương là hòm bia Thiên Chúa với hai ý nghĩa: Mẹ đã cưu mang Lời nhập thể là Đức Giêsu và Mẹ đã lưu giữ Lời Thiên Chúa nơi tâm hồn qua việc suy đi nghĩ lại trong lòng những điều Thiên Chúa đã hứa và đã thực hiện cho mình và cho nhân loại. Mẹ là người vừa được chúc phúc vì đã nghe và giữ Lời Thiên Chúa – vừa vì dạ đã cưu mang và vú đã cho Con Thiên Chúa bú mớm.

Các sách Tin Mừng nói rất ít về Mẹ. Chúng ta đọc thấy nơi bài ca Magnificat một vài tâm tình của Mẹ: “Hồn tôi tán dương Chúa Đấng cứu chuộc tôi, vì Chúa đã nhìn đến phận hèn tớ nữ Ngài, đã làm cho tôi biết bao điều kỳ diệu.Tình thương Chúa trải qua từ đời nọ tới đời kia, dành cho kẻ kính sợ Người”. Mẹ ca ngợi Chúa vì hai lý do: Chúa đã thực hiện lời đã hứa ban ơn cứu độ cho nhân loại và đã đoái nhìn đến mình là một nữ tì hèn mọn, tất cả là vì tình thương Chúa. Mẹ cất lên bài ca này khi tuổi đời còn phơi phới và lúc bình minh ơn cứu độ.

Nhìn lại cuộc đời Mẹ, chúng ta thấy chẳng suôn sẻ tí nào, có thể nói là quá giông bão nữa: Mẹ là một thiếu nữ đã đính hôn để chuẩn bị đời hôn nhân thì được mời gọi mang thai bởi phép Chúa Thánh Thần, Mẹ sinh con trong thiếu thốn và chịu sự ruồng bỏ của người đời, phải trốn qua Ai cập, sống ẩn dật nghèo khó nơi làng Nagiaret, Mẹ đã trở thành góa bụa, Con Mẹ bị từ khước – bị ghét bỏ và bị giết chết. Hình như sau này Mẹ càng suy đi nghĩ lại những biến cố cứu độ này, không biết tâm tình Mẹ ra sao? Các sách Tin Mừng không ghi lại một bài ca nào nữa? Hay là Mẹ đã thất vọng về cuộc đời mình và về lịch sử cứu độ?

Chúng ta thử đặt lại vấn đề như vậy để làm nổi bật sự cao vời thánh thiện của Mẹ là Đấng ‘đầy ân phúc và được Thiên Chúa ở cùng’. Các sách Tin Mừng chỉ ghi lại những nội dung cần thiết để củng cố lòng tin của các tín hữu, nên dù không nói nhiều về Mẹ thì chúng ta cũng hiểu được là Mẹ luôn là người lĩnh xướng bài ca tạ ơn giữa cộng đoàn tín hữu tiên khởi và ngày nay giữa triều thần thiên quốc. Cả cuộc đời Mẹ luôn là người biết suy niệm, sống nội tâm, biết ngợi khen Chúa và không ngừng xin vâng trong sự khiêm tốn của một tạo vật trước Đấng Tạo Thành nên mình. Người có niềm tin luôn nhìn thấy muôn vàn phép lạ xảy ra hằng ngày, trong lúc người không tin thì chẳng thấy điều gì là lạ hết. Cha Anthony the Mello đã nói: Con người không thể nào có hạnh phúc, trừ phi họ gặp được những nguồn mạch sự sống ở nơi sâu thẳm trong tâm hồn họ.



Có thể nói Mẹ đã sống hạnh phúc vì đã hoàn thành sứ mạng đời mình, dù đời Mẹ chẳng suôn sẻ và chẳng dễ dàng và cũng không nổi tiếng. Hãy học nơi Mẹ việc suy đi nghĩ lại để thấy ân phúc mình đã nhận là những ơn gì? – Ơn được làm người, được làm con cái Chúa, ơn được cộng tác vào sứ mạng cứu độ, ơn lành từ xưa đến nay: tạ ơn sự sống dẫu không may, tạ ơn sự chết dẫu không hay – tay Chúa an bài giữ gìn chẳng ngơi. Câu nói cuối cùng của Mẹ trong Tin Mừng: "Người bảo gì, các anh hãy làm theo" nói đến thái độ lắng nghe và thực hành Lời Thiên Chúa.

Thứ Năm, 26 tháng 12, 2019

Lòng cao thượng




Cha Minh Anh đã có một lời cầu nguyện rất đẹp: “Lạy Chúa, trong chuyến bay cuối cùng, không ai được mang theo bất cứ một thứ gì kể cả hành lý xách tay, trừ lòng cao thượng. Xin cho con học biết cao thượng như Chúa, như thánh Stêphanô và đó cũng là ý nghĩa của lễ Giáng Sinh”. Nhưng chúng ta tự hỏi: để có lòng cao thượng, con người phải học ở đâu và phải học trong bao lâu?

Tôi chợt nghĩ đến những nấc thang đầu tiên mà con người phải bước để tiến đến lòng cao thượng này. Bản năng sinh tồn dạy con người phải giành giật nhau để sống (cá nhân chủ nghĩa), thế nhưng hoàn cảnh sống buộc con người phải liên đới với nhau để chống chọi với thiên nhiên để tồn tại, có thể nói sự liên đới là bước tiến đầu tiên của tình yêu. Chính Thượng Đế đã gieo mầm liên đới và tình máu mủ trong từng cá thể nhân loại. Tuy vậy, từ các xã hội sơ khai cho đến xã hội hiện đại, tình trạng 'sơ khai' về tình yêu tồn tại rất lâu dài nếu không được thuần hóa bởi giáo lý của Cựu Ước và lề luật của Đức Kitô: “không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người thí mạng mình vì bạn hữu. Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”. Lòng tha thứ và quảng đại hiến thân là bước tiến cao nhất trong tình yêu, do lề luật Kitô dạy và có ơn Thánh trợ giúp.

Trong đêm canh thức Giáng Sinh, lịch sử cứu độ đã nói lên rằng: sau khi con người phạm tội, họ xa lánh Chúa, vợ chồng đổ lỗi cho nhau, anh giết em, con người đồng lõa phạm tội chống lại Chúa (tháp Babel). Chuyện cũng đang xảy ra như vậy ở xã hội hiện đại: ngoại tình, ly dị, phá thai, buôn người, khủng bố, kỳ thị… Nếu nói tình liên đới là bước tiến đầu tiên của tình người thì cũng có thể nói: con người tiến hóa lùi khi làm hại người khác như giết người, phỉ báng, vu khống, làm chứng gian, trộm cắp, hối lộ, ức hiếp người cô thân… Ấy thế mà họ vẫn không biết mình, cứ tưởng mình công chính và tốt bụng. Trong mỗi tâm hồn cuộc chiến vẫn không ngừng tiếp diễn giữa lòng cao thượng và sự ích kỷ. Ngay cả những người có đạo cũng phải duyệt xét lại lòng mình để lòng cao thượng được vươn cao hơn sự ích kỷ - thu lợi cho bản thân mà không biết nghĩ đến người khác.

Tình trạng gian dối và tham lam chỉ có thể được cải thiện nhờ giáo dục và niềm tin. Trong một xã hội mà nền giáo dục không được chắp cánh bởi niềm tin vào tôn giáo thì lý trí không đủ sức chống đỡ tòa nhà luân lý và tình liên đới sẽ bị tụt lùi. Là những bậc cha mẹ, giữ cho tâm hồn con cái sống quảng đại và liên đới với người khác, không gian dối và sống có lý tưởng là một điều khó, vì có nhiều cạm bẫy bao quanh môi trường sống của chúng ta. Là Kitô hữu, chúng ta chiêm ngắm cuộc sống của Chúa Giêsu mỗi ngày và đón nhận ơn thánh để có thể tiến bước trên con đường yêu thương.


Vì tình yêu, Chúa Giêsu đã yêu nhân loại mà không đòi điều kiện, yêu không còn giới hạn, yêu trong lòng phó thác cho Cha định liệu và tha thứ cho kẻ giết mình. Thánh Stêphanô đã phác họa lại những nét chính của tình yêu đó: "Lạy Chúa, xin đón nhận linh hồn con, xin đừng chấp tội họ". Thánh Gioan Tông đồ được mệnh danh là môn đệ Chúa yêu, nghĩa là người yêu Chúa một cách nồng nhiệt, thánh nhân đã không chịu thua Phêrô về tình yêu -Thánh Gioan đã chạy nhanh hơn và đến mộ trước. Người ta bảo: nhường gì thì nhường chứ trong tình yêu thì không có chuyện nhường nhịn; thế nhưng, đọc truyện các thánh thì nhiều vị không chịu nhường ai cả, mà muốn mình là kẻ yêu Chúa nhiều hơn hết, như thánh Têrêxa Hài Đồng và thánh Faustina. Chúng ta cũng vậy, hãy nguyện yêu Chúa thật nhiều, làm mọi việc vì tình yêu và đừng để những công việc hay tổ chức ta tham gia làm tình yêu nơi mình bị thui chột. Các thánh tử đạo Việt Nam đã chết trong an bình, nguyện cầu và tha thứ cho các kẻ hành hình.


Vào lúc cuối đời, chúng ta bị xét xử về tình yêu. Hành trang về trời chỉ là tình mến Chúa và tình yêu tha nhân. Hãy nghĩ đến cùng đích đời mình, hãy nghĩ đến gương tha thứ và cao thượng của các bậc thánh nhân để sống hào hiệp và rộng rãi hơn với tha nhân - qua từng ngày sống mãi cho đến ngày lìa thế. Hãy nhớ lời Chúa: anh em đong đấu nào thì sẽ được trả lại bằng đấu ấy.

Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2019

Ngôi Lời đã làm người



Đứng trước biến cố Chúa Giáng Sinh, trí óc con người dường như choáng ngợp vì đối diện với một mầu nhiệm lớn lao vượt quá trí hiểu con người. Các nhà thần học, các nhạc sĩ thường dùng những ngôn từ bóng bẩy, mong diễn tả một phần nào đó sự lung linh, vĩ đại, sâu thẳm của tình yêu Thiên Chúa dành cho loài người và vũ trụ. Thế nhưng, vẫn luôn có đó những người chỉ xem Giáng Sinh là một huyền thoại không có thật hoặc nếu có thì cũng không ảnh hưởng gì đến cuộc đời họ.

Đối với tôi, Đức Kitô là tất cả. Chúng ta vẫn thường nói: đức tin là một hồng ân Chúa ban cho kẻ Ngài yêu thương. Nhiều người ngoại đạo, sống chung quanh chúng ta, vẫn háo hức khi Noel về vì họ xem đây là một lễ hội; có thể họ vẫn đi lễ, vẫn thích xem hoạt cảnh canh thức như một buổi văn nghệ, hòa mình vào đám đông vui vẻ ca hát… nhưng mọi sự chỉ dừng ở đó. Nếu ta có trình bày cho họ thêm về biến cố Con Thiên Chúa đến để cứu chuộc thì họ lại càng cho rằng người có đạo khéo thêu dệt và giàu tưởng tượng. Họ còn thiếu một điều là đức tin, một hồng ân của Thiên Chúa, và có lẽ họ cần thêm lời cầu nguyện của chúng ta. Dưới con mắt một kẻ tin, Đức Giêsu đã nhập thể để ở cùng nhân loại, thì mọi sự hoàn toàn khác, vì Đức Kitô là tất cả: Ngài có mặt trong từng khoảnh khắc và trong từng biến cố lớn nhỏ, Ngài đồng hành với tôi hôm nay và mãi mãi ngàn thu.


Ngày xưa, người ta không đón nhận Đức Giêsu chỉ vì Ngài không giống như đấng mà họ mong mỏi, không giống với nhân vật mà trí tưởng tượng của họ nghĩ ra: xuất hiện trong uy hùng, đến giải phóng dân tộc, biết bao lần họ muốn tôn Chúa Giêsu lên làm vua. Mãi cho đến lúc bị treo trên thập giá, họ vẫn thốt lên: nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy xuống khỏi thập giá để chúng tôi tin. Ngày nay cũng vậy, biết bao người mất đức tin hoặc không tin đạo Chúa vì họ thấy Chúa không có lợi lộc và ảnh hưởng gì đến cuộc sống của họ, không giúp họ thỏa mãn những nhu cầu vật chất. Theo đạo còn bị ràng buộc này nọ, không tin vào đạo nào là một điều may mắn và không bị quấy rầy-mất tự do.


Trong Kinh Thánh, đầy dẫy những chuyện đón nhận Chúa vào ‘nhà’ mình, ở đây chúng ta cùng nhau ôn lại 4 cuộc tiếp đón của thời Tân Ước. Cuộc tiếp đón của Mẹ Maria: sau khi nghe lời thiên thần truyền tin, Mẹ thưa lên: “Này tôi là tôi tớ Chúa, xin hãy làm cho tôi như lời sứ thần truyền”, và Mẹ đã đón nhận Ngôi Lời vào cung lòng của mình. Cuộc đón nhận của Thánh Giuse: khi đã được Chúa cho biết thai nhi nơi Maria là bởi Chúa Thánh Thần, Thánh Giuse đã đón nhận Maria về nhà mình, có nghĩa là thánh nhân đã chấp nhận bước theo thánh ý Chúa. Cuộc đón tiếp thứ ba là của Thánh Gioan tông đồ: sau khi nghe lời trăn trối của Chúa Giêsu “Này là Mẹ con” thì thánh nhân đã đón Mẹ Maria về nhà mình. Cuộc đón tiếp thứ tư là lời được trích từ sách Khải Huyền: “Này Ta đứng ngoài cửa, ta gõ, và hễ ai mở cửa thì Ta sẽ vào cư ngụ trong nhà nó”, biết bao tâm hồn đã mở cửa đón tiếp Chúa vào đời mình, chọn Chúa làm gia nghiệp, chọn ý Chúa hơn là ý riêng mình… họ là những vị thánh của mọi thời đại.


Điều quan trọng nhất trong mầu nhiệm Giáng Sinh là việc đón nhận Ngài vào ‘nhà’ mình, có nghĩa là để cho Chúa Giêsu hiện diện và làm chủ tâm hồn mình, gia đình mình và cả nhân loại. Chúng ta đến chiêm ngắm và tôn thờ Ngôi Hai Thiên Chúa làm người, ca tụng tình thương và lòng thương xót Chúa, nhưng quan trọng hơn nữa là đón nhận Ngài vào trong đời mình và bước đi trong Ánh Sáng trong tư cách là con cái Thiên Chúa. Điều này có nghĩa là chúng ta từ bỏ những hành vi đen tối và bất chính để bước theo Chúa Giêsu, biết quỳ gối xuống để tôn thờ Đấng ban cho chúng ta niềm vui hạnh phúc và bình an.