Danh sách Blog của Tôi

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2020

HÔN NHÂN, MỘT TẶNG PHẨM CỦA THIÊN CHÚA

 



(Xin ghi lại một bài giảng trong thánh lễ hôn phối rất tuyệt vời)

Ngắm trời xanh tay Chúa sáng tạo, hiểu ý nghĩa và sự kết hợp nhiệm mầu của 2 người nam nữ trong bí tích hôn phối, con người phải cất lời tạ ơn Thiên Chúa, vì những việc kỳ diệu Chúa đã làm.

Á Thánh Anre Phú Yên đã để lại một câu nói đáng nhớ: “Hãy lấy tình yêu đáp lại tình yêu, hãy đem sự sống đáp đền sự sống”. Câu nói này không chỉ áp dụng cho mối quan hệ giữa con người với Thiên Chúa, nhưng còn có thể mượn phần đầu ‘Hãy lấy tình yêu đáp lại tình yêu’ như là châm ngôn sống cho đời đôi lứa. Người bạn đời sống bên ta thể hiện bao cử chỉ yêu thương hằng ngày, trong nhiều năm, và có lẽ cả đời, thế nhưng ta có nhận ra không? Hay đó là chuyện đương nhiên và bình thường? – Nếu có nhận ra, bạn hãy lấy tình yêu đáp lại tình yêu.



Một trong những đóng góp của Giáo hội Công giáo vào giá trị của hôn nhân là xác định sự bình đẳng của nữ giới và xác định rằng  tình yêu lãng mạn (tự do luyến ái) là yếu tố bền vững của định chế hôn nhân. Nếu bạn không tin những điều trên thì có thể tìm đọc kỹ hơn trong tác phẩm “Điều vĩ đại của Kito giáo’. Trong thế giới La Hy thời đó, vị thế của người phụ nữ và giá trị của hôn nhân bị xem thường, nhưng dựa vào Kinh Thánh, Giáo hội đã khẳng định rằng : người đàn bà là trợ tá - bình đẳng với người đàn ông; ơn gọi hôn nhân cao đẹp vì là hình ảnh của Đức Kito yêu Hội Thánh, yêu đến hiến mình cho Hội Thánh nên xinh đẹp.

Người ta thường nhắc lại câu nói rất thâm thúy của tình yêu hôn nhân: Mình với ta, tuy hai mà một; ta với mình tuy một mà hai. Điều thâm thúy ở đây là nói lên sự bình đẳng, hỗ tương, hiệp nhất trong những điều quan trọng trong cuộc sống. Tuy vậy họ vẫn giữ được sự độc lập cần thiết, vẫn là hai cá tính, vẫn là hai cái tôi tìm cách chung sống bên nhau, với nhau, lâu dài đến trọn đời. Có một câu khác nữa: Yêu nhau là cùng nhìn về một hướng, cha chủ tế còn thêm: Yêu nhau là dù có nhắm mắt lại, hai người vẫn nhìn thấy một vấn đề nào đó, nghĩa là cùng có một bận tâm chung.

Không ai hoàn hảo cả. Bạn đừng tưởng sống với một vị thánh mà hạnh phúc  và dễ dàng đâu. Khi được hỏi đột xuất trong một thánh lễ hôn phối ‘Điều cần thiết để duy trì tình yêu lâu bền là gì?’, cô dâu đã trả lời: đó là sự tin tưởng nhau. Cha chủ tế hỏi thêm: điều gì giúp cho 2 người tin nhau? - thưa đó là sự đối thoại! Đúng vậy, nếu không đối thoại, 2 người sẽ không hiểu nhau, tâm hồn ngày càng xa nhau,càng ngày càng không muốn mở miệng trao đổi tin tức vì dễ sinh ra hiểu lầm nhau. Nếu cần, 2 vợ chồng tìm một địa điểm thích hợp hoặc vào phòng đóng cửa lại để trao đổi những vấn đề cần thiết, tìm cách giải quyết vấn đề.

Dù có tìm hiểu nhau kỹ và lâu bao nhiêu đi nữa, 2 người nam nữ đi đến hôn nhân trong tình trạng lên đường, và có thể nói : cho đến già, họ cũng không thể hiểu hết được nhau, nên dĩ nhiên cuộc sống của họ sẽ xảy ra xung đột, có khi chửi nhau và giận nhau. Điều quan trọng là cách vượt qua những xung đột. Cha chủ tế đưa ra lời khuyên: Hãy xin lỗi nhau. Dù người vợ có sai lỗi, người chồng cũng nên xin lỗi trước, vì thực ra không ai đúng hoàn toàn, và đừng nghĩ rằng ai sai thì lo mà xin lỗi – còn tôi đúng thì sao phải xin lỗi. Khi người chồng xin lỗi thì người vợ sẽ đáp lại bằng tình cảm dạt dào, không thiệt gì đâu.

Trong hôn nhân, có những điều phải giảm và có những điều phải làm cho tăng thêm. Phải giảm bớt sự nóng nảy và thẳng tính quá. Hai điều này nói lên rằng phải biết kiềm chế (tự chủ), sự thật thà là điều đòi buộc của tư cách làm người, nhưng ‘sự thẳng tính quá’ muốn nói đến những lời ta nói ra phải có sự chọn lựa: lựa lời, lựa lúc, lựa người mà nói; còn sự nóng tính bộc trực thì lợi ít hại nhiều trong mọi mối quan hệ. Điều phải tăng thêm là sự quan tâm và những sinh hoạt chung với nhau, vì trào lưu của xã hội hiện đại là mỗi người rút lui vào vỏ ốc của mình bằng các thiết bị truyền thông.

Để kết luận, xin mượn một câu Kinh Thánh : “Ngài giận trong giây lát, yêu thương suốt cả đời”. Vợ chồng có giận thì hãy kíp làm hòa trước khi mặt trời lặn, kẻo ma quỷ thừa cơ lợi dụng. ‘Xây dựng một gia đình hạnh phúc, nên thánh bằng đời sống hôn nhân qua lý tưởng hiến thân phục vụ’, đó là những chỉ tiêu lớn cho một cuộc đời thành công và hạnh phúc, bởi đó có xảy ra bất hòa thì phải tìm cách hóa giải nó hơn là xé ra to, bỏ qua chuyện nhỏ vì chỉ tiêu lớn . Vợ chồng có giận thì giận trong giây lát, nhưng yêu thương suốt cả đời là vậy.

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2020

Tiệc Nước Trời

 



Chúa  Giê su được mời dự tiệc ở nhà một người Biệt phái, ở đó có một người thốt lên một câu rất hay “phúc thay ai được mời dự tiệc Nước Thiên Chúa’ và nhân tiện đó, Chúa kể cho nhân loại nghe câu chuyện những kẻ được mời dự tiệc nước trời (Lc 14,15-24).

Khi dùng cụm từ ‘tiệc Nước Thiên Chúa’, có lẽ người kia muốn nói đến hạnh phúc thiên đàng, vì người Biệt Phái là những người tin có sự sống đời đời. Chúng ta  có thể hiểu thêm ý nghĩa của cụm từ trên còn có ý nghĩa là ơn cứu độ Chúa Giê su mang đến, là đời sống Giáo hội, bữa tiệc đó đã được bắt đầu ngay ở trần gian khi ta được làm con cái Chúa, được giải thoát khỏi vòng nô lệ tội lỗi.

Ai trong chúng ta cũng nghĩ như người đã phát ngôn kia: ‘phúc thay ai được mời dự tiệc Nước Thiên Chúa’. Trong Tin Mừng, Chúa Giê su thường làm chúng ta tỉnh ngộ khi đưa ra những phản đề. Và hôm nay Chúa kể về sự từ khước bữa tiệc Nước Trời vì những lý do rất trần tục và bất kính với chủ tiệc. Đời sống ân sủng của người con cái Chúa, được sống trong thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô là một hạnh phúc lớn lao, thế nhưng nhiều người đã để vuột mất vì những lý do trần tục là danh lợi thú, là thỏa các đam mê (đam mê của con mắt, của xác thịt và lòng kiêu hãnh về của cải).

Cha Cantalamessa đã phân biệt ‘chuyện khẩn cấp’ và chuyện ‘cần thiết’. Có những chuyện cần thiết (quan trọng) trong cuộc sống nhưng thường bị bỏ qua; và có những chuyện khẩn cấp (phải làm ngay) nhưng thật ra lại là những chuyện ít giá trị. Người Kitô hữu phải có sự phân biệt giữa những chuyện khẩn cấp và chuyện cần thiết, phải xếp giá trị ưu tiên theo nhãn quan bữa tiệc Nước Thiên Chúa. Có những chuyện làm chúng ta bận tâm và tiêu hao nhiều năng lượng và thời gian nhưng giá trị của nó chỉ là phàm trần, trong lúc lại lơ là những việc mang đến giá trị vĩnh cửu là được hưởng hạnh phúc thiên đàng.

Tháng các linh hồn đã về, là thời gian chúng ta đặc biệt cầu nguyện cho các Đẳng linh hồn, là dịp chúng ta nhìn đến ý nghĩa đời người, là dịp chúng ta làm chứng cho niềm tin về sự sống đời đời. Chúng ta cùng suy nghĩ về hai điều: con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, và tội là gì?

Hình ảnh Thiên Chúa? – Thiên Chúa là Đấng vô hình, và ‘giống hình ảnh Chúa’ là muốn nói: con người có lý trí, ý chí, tự do, có linh hồn bất tử. Vì có lý trí và có tự do, nên con người có quyền chọn tốt chọn xấu và chịu trách nhiệm về hành vi của mình, chọn làm theo ý mình hoặc theo ý Chúa, chọn điều phàm tục hoặc  dự tiệc nước trời.



Tội là gì? – thưa tội là từ khước ơn cứu độ của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Tình Yêu. Ngài tạo dựng con người để họ được chia sẻ vinh quang của Ngài. Khi con người sa ngã, Tình yêu đó mang thêm sắc diện Lòng Thương Xót: Ngôi Hai làm người, chết và sống lại, để mang lại ơn cứu độ cho loài người. Chỉ những ai đón nhận ơn cứu độ qua việc tin nhận Đức Kitô, chỉ những ai biết ăn ngay ở lành (dù họ chưa rửa tội), chỉ những ai chết trong tình trạng sạch tội trọng, chỉ những ai biết ăn năn hối cải trong giây phút cuối đời mới được vào dự tiệc Nước Trời. Nhiều người nói: người công giáo sướng thật, cứ phạm tội cho lắm rồi xưng tội là  sạch sẽ, kể cả những tội trộm cắp giết người, làm hại người khác cách này cách khác… Không phải thế đâu! Ăn năn hối cải và xưng tội thì được sạch tội, điều đó đúng, nhưng còn phải đền trả nữa chứ, không đền trả đời này thì đền ở đời sau nơi luyện ngục, vì chỉ những ai hoàn toàn trong trắng mới được vào dự tiệc Nước Trời



Chẳng ai trong chúng ta tự tin rằng mình hoàn toàn trong trắng để dự tiệc Nước Trời mai sau mà không phải trải qua tình trạng thanh luyện. Bởi đó, hãy nỗ lực và biết cậy dựa vào ơn Chúa để sống tốt giây phút hiện tại, sống tốt từng ngày, phần còn lại chỉ biết cậy dựa vào lòng Chúa xót thương. Và hãy luôn cầu nguyện cho các Đẳng linh hồn, nhất là những người thân thuộc của mình.

Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2020

ƠN GỌI NÊN THÁNH

 


 


Khi mừng lễ các thánh nam nữ trên trời, chúng ta hân hoan cảm tạ Thiên Chúa đã làm nên những điều kỳ diệu trên cuộc đời các Thánh. Điều đó là đúng, nhưng tự thâm tâm, chúng ta thường nghĩ: tôi không nên thánh được, tôi tầm thường quá, tôi tội lỗi quá! Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói : ơn gọi nên thánh không loại trừ một ai, đó không phải là đặc ân dành riêng cho một nhóm người được tuyển chọn.

 

 


Khi đám đông hò reo “Santo Subito” vào ngày an táng Đức Gioan Phaolô II, 8.4.2005, họ thực sự muốn nói gì? – Họ muốn hô to lên rằng: nơi Karol Wojtyla, họ thấy một con người đã sống thực với Thiên Chúa và đã sống với con người. Ngài là một tội nhân đã cảm nhận được lòng thương xót và sự tha thứ của Chúa. Ngài là một vị tiên tri và là thầy dạy những điều đúng đắn cho người đương thời và thế hệ kế tiếp. Ngài nhìn ngắm chúng ta, yêu mến chúng ta , đã tiếp xúc với ta, đã chữa lành và ban cho chúng ta niềm hy vọng. Ngài bảo ta đừng sợ. Ngài chỉ cho ta cách sống và yêu, biết cách tha thứ và cách chết. Ngài dạy ta biết ôm lấy thập giá trong những trường hợp nguy kịch nhất của cuộc đời, vì biết rằng thập giá không phải là câu trả lời cuối cùng của Thiên Chúa.

 

Một người được tuyên phong là Thánh không phài là một công bố về sự toàn hảo. Không có nghĩa là người đó không có sự bất toàn, mảng tối, sự điếc và tội. Không phải là họ trong trắng dưới cái nhìn của Vatican. Phong Thánh hoặc Á Thánh cho ai là muốn nói rằng một người nào đó gắn bó đời mình với Thiên Chúa, hoàn toàn tin tưởng vào lòng nhân từ của Chúa từ nhân, họ bước đi với sức mạnh và quyền năng của Chúa, tin tưởng vào những điều bất khả, yêu kẻ thù và những người ngược đãi mình, tha thứ giữa những bất hạnh và bạo lực, hy vọng vượt ngoài mọi hy vọng, và làm cho thế giới nầy tốt đẹp hơn.

 

Người Thánh là người làm cho tha nhân quanh mình nhận ra rằng có một sức mạnh và một tinh thần có khả năng chuyển hóa đời họ, sức mạnh nầy không phải thuộc thế giới nầy mà là ở bên cạnh cuộc đời. Mỗi vị Thánh hé lộ cho ta nét đại cương của sự cao thượng và thánh thiện mà mỗi người được mời gọi hướng tới, họ cho ta nhận ra khuôn mặt Thiên Chúa trong khi  ta đang trên đường lữ hành trần thế. (phần in nghiêng là trích của cha Rosica, CSB)

 

ĐHY Fx. Nguyễn Văn Thuận nói: “Đừng nghĩ rằng làm thánh là suốt ngày đọc kinh, mà quan trọng là chu toàn bổn phận, chu toàn bổn phận là giấy thông hành để vào nước trời”. Thân phận con người là mỏng dòn yếu đuối, Chúa biết điều đó và Chúa đã không lầm khi dựng nên tôi, Ngài ước mong tôi biết ăn năn sám hối và quyết tâm làm lại cuộc đời mỗi ngày.

 

Chúng ta hãy nghe một vài mẩu đối thoại xảy ra ở cửa thiên đàng. Chúa nói với một người đàn ông rằng: ‘Con khá lắm! vì đã không bỏ Ta khi Ta già nua bệnh hoạn, vẫn chăm sóc và yêu thương Ta hằng ngày, dù Ta run rẩy, vô dụng, xấu xí’. Chúa nói với một người đàn bà vừa lìa thế: ‘con cũng rất tốt, đã không bỏ Ta khi Ta lâm bệnh nặng, vẫn chung thủy dù Ta bất tài nhiều tật, vẫn chăm sóc Ta từng ngày với những công việc nội trợ vô danh để giữ hơi ấm cho gia đình’. Chúa nói với một người trẻ: ‘Con hãy vào đây với Ta, vì con đã biết vâng lời và ngoan hiền với Ta trong nếp sống gia đình, đã chăm chỉ với bổn phận hằng ngày vì yêu Ta’. Và Chúa cũng nói với một số người khác: Hãy cút khỏi mặt Ta, hỡi những kẻ làm điều gian ác!

 

Ma quỷ thường rỉ tai ta rằng: mày không làm thánh được đâu, vì mày đã phạm tội nhiều và sẽ còn tiếp tục phạm tội dài dài, mày xấu xa lắm, xa Chúa lắm. Sự bối rối và mất lòng trông cậy làm tiêu  hao năng lực thiêng liêng của ta rất nhiều. Hãy nhớ lời Chúa Giê su dạy: muốn vào nước trời thì ta phải trở nên như trẻ nhỏ: sống đơn sơ và tin tưởng Thiên Chúa, luôn tìm vâng theo ý Ngài trong mọi sự - kể cả sự chết.

 

 

Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2020

Thiên Chúa là tình yêu


Không biết đã từ bao giờ, từ trong tâm thức, người có đạo luôn nghĩ rằng theo đạo là phải làm điều này, tránh điều nọ... Nghĩ như vậy thì đi đạo trở thành một gánh nặng, nặng đến nỗi có nhiều người đã bỏ đạo.

 Đúng hơn, theo đạo là bước vào một cuộc tình. Có bao giờ ta thấy không thích gặp người mình yêu? Hãy thay đổi não trạng: Thiên Chúa đã yêu tôi trước, Ngài là người cha tốt lành, Ngài lo lắng cho tôi mọi điều và mong chờ tôi đáp lại tình yêu đó.

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2020

Ai xin thì được

Lời Chúa nói rõ ràng: ai xin thì được, ai tìm thì thấy, ai gõ thì sẽ mở cho (Lc 11,9-10). Chúng ta có thể hiểu ngược lại: ai không xin thì không được! Dĩ nhiên trong nghĩa ‘tương đối’, vì Cha trên trời vẫn làm mưa trên kẻ lành người dữ, kẻ ý thức cũng như kẻ không tin Ngài, kẻ xin cũng như kẻ không xin.

Ở đây, Chúa muốn nói với chúng ta rằng Thiên Chúa ban nhiều ơn lành tùy theo lòng trông cậy của chúng ta. Mặc dù Thiên Chúa luôn đi bước trước trong việc tìm kiếm con người, nhưng Chúa cũng đòi hỏi sự cộng tác, sự nỗ lực của con người: phải đưa tay gõ, cất bước tìm và lên tiếng xin. Có câu chuyện kể rằng: có một người là thành viên của nhóm sinh hoạt đạo đức, nay bỗng dưng bỏ bê việc cầu nguyện. Người hướng dẫn tìm đến nhà để tìm hiểu nguyên do và được người kia cho biết là chán cầu nguyện vì nghĩ rằng: Chúa là Đấng quyền năng nên Ngài biết hết những nhu cầu của con người trước khi họ kêu xin, Chúa là Đấng tốt lành nên Ngài sẽ lo liệu điều tốt nhất cho từng người dù họ có xin hay không, Chúa có một kế hoạch cứu độ cho toàn thể vũ trụ nên những điều ta xin trái với kế hoạch đó thì không bao giờ thành tựu, vì những điều ta xin không thay đổi được kế hoạch vĩnh cửu của Chúa. Người thầy mới kể một câu chuyện: thầy có một người bạn làm ruộng, thửa ruộng rất tốt và thu hoa mầu rất nhiều, thế mà nay anh bạn ấy biếng nhác bỏ bê nên ruộng toàn cỏ dại, lý do là anh bạn ấy nghĩ rằng: Chúa biết tôi có nhu cầu về lương thực, Chúa là Đấng quyền năng nên không cần sự góp tay của con người, Chúa là người cha nhân lành nên tôi không cần làm nữa, cứ để Chúa lo liệu. Người học trò thấu hiểu ý nghĩa của câu chuyện, đã thưa lại: Vâng, con sẽ đến tham dự các buổi sinh hoạt đạo đức của nhóm, vì con đã hiểu ra ‘Thiên Chúa là Đấng tốt lành, nhưng con người cũng phải cầu nguyện và góp phần của mình để kế hoạch của Chúa được thành tựu’.
Vấn đề cầu nguyện cũng là một vấn đề then chốt trong giáo lý Kitô, vì ‘chính nhờ Người, với Người và trong Người’ mà chúng ta hiện hữu và hành động. Ấy thế mà ai trong chúng ta cũng cảm thấy nỗi cay đắng vì Chúa thường không nhậm lời mình xin. Chúng ta cùng ôn lại vài điều các nhà tu đức đã dạy về việc cầu nguyện. Hãy xác tín rằng: Chúa đã nhậm lời ta xin. Chúa nói rằng cha mẹ trần gian tuy là ác (so với Chúa) mà còn biết lấy của lành mà cho con cái, thì Chúa sẽ kíp ban Thánh Thần (ơn trợ giúp) cho mọi kẻ kêu xin. Sau khi xin bất cứ điều gì, ta có thể dâng lời tạ ơn Chúa vì Ngài đã ban ơn, tuy vậy hãy để cho Chúa tự do về thời gian và cách ban ơn. Thường chúng ta hiểu phép lạ là điều xảy ra khi Thiên Chúa làm theo ý con người nhưng phép lạ cũng thường xảy ra khi con người chiều theo ý Chúa. 

Đừng ra hạn cho Chúa (Gđt 7,30-32) và cũng đừng ép Chúa phải ban ơn này ơn nọ, tốt hơn là xin cho ý Chúa được thể hiện trong biến cố này và xin cho mình biết vui lòng đón nhận ý Chúa. Cha Cantalamessa nói: mỗi lần đọc kinh lạy cha, đến câu ‘xin cho ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời’, chúng ta thường cúi đầu xuống và có một nỗi sợ mông lung nổi lên trong thâm tâm rằng Chúa sẽ làm mình khổ, chúng ta quên rằng Thiên Chúa là Cha nhân lành luôn muốn điều tốt đẹp nhất cho từng người con cái mình. Thiên Chúa ban ơn tùy lòng trông cậy của ta. Theo thời gian và kinh nghiệm đức tin, chúng ta thường kém lòng trông cậy và dẫn đến kém lòng tin, mà lòng trông cậy là điều kiện cần thiết để Chúa ban ơn.

 Nhiều lần Chúa nói với ta là phải trở nên như trẻ nhỏ biết đơn sơ tín thác mọi sự cho cha mẹ định liệu, không so đo tính toán và không kể công hay cậy quyền. Đọc trong Tin Mừng khi kể về những phép lạ Chúa làm, Chúa thường nói ‘con tin sao thì được vậy’, cũng may mà không có ai kém tin đến nỗi không được lành. Khi trở về thăm quê hương Nagiaret, Chúa Giêsu chỉ thực hiện một vài phép lạ nhỏ, vì dân chúng ở đó không tin.

 Thiên Chúa ban ơn tùy lòng thương xót của Chúa chứ không theo công trạng của con người. Điều này làm cho chúng ta an tâm, vì ai trong chúng ta cũng là những tội nhân và bất xứng với muôn ơn lành Chúa ban. Điều quan trọng là phải có lòng tin, hoặc của người xin ơn hoặc của người can thiệp. Dĩ nhiên chúng ta vẫn thường đi đến những địa danh và nhờ đến những người có ơn nghĩa với Chúa thì ân ban thường được dồi dào hơn, điều đó cũng là bình thường vì ở đó niềm tin được biểu lộ mãnh liệt hơn.

 Đức tin và đời sống đạo của ta được nuôi dưỡng bằng lời cầu nguyện, có thể nói ngược lại: một người sa ngã và sống tầm thường là vì họ đã bỏ cầu nguyện lâu ngày. Bởi đó trau dồi đời sống cầu nguyện thật là quan trọng. Chúa dạy ta phải kiên trì cầu nguyện, tin tưởng mãnh liệt rằng việc Chúa muốn và khi Chúa muốn thì mọi sự đều có thể xảy ra, kể cả những điều con người không dám mơ và chưa từng nghĩ đến. Dù thế nào đi nữa thì bạn hãy vững tin vào Chúa và dám cất lời tạ ơn Ngài: ‘tạ ơn sự sống dẫu không may, tạ ơn sự chết dẫu không hay, tay Chúa an bài giữ gìn chẳng ngơi’ (lời bài hát). Lạy Chúa, xin ban Thánh Thần cho chúng con, giúp chúng con mỗi ngày biết làm tươi mới lại niềm tin và tình yêu với Chúa. Amen.

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2020

Phân chia gia tài



Người VN mình thường để lại toàn bộ gia sản của mình cho con cái, do vậy thường xảy ra những bất hòa trong gia đình về chuyện chia không đều, đứa nhiều đứa ít. Khác với người tây phương, con cái thường chỉ nhận một số tài sản vừa đủ để khởi nghiệp, không quá nặng nề vào việc phân chia gia tài và thậm chí muốn tự lập để khẳng định mình.

Đọc lại dụ ngôn Người Cha nhân hậu (Lc 15,11-32), chúng ta mới thấy nghịch lý của Tin Mừng: người cha cư xử với đứa con hoang đàng với lòng thương xót, vượt xa lẽ công bằng. Sự thường người VN mình chia đất đai cho con cái đứa nhiều đứa ít tùy công trạng và tình cảm, tùy mong ước sự phụng dưỡng của nó lúc về già, tùy nó là con cả hay con thứ- con trai hay con gái… và việc phân chia gia tài này thường để lại những bất bình lớn, đến nỗi đến lúc cha mẹ sắp chết mà có những đứa con không thèm gặp, lúc đau ốm không thèm nhìn và anh em đối xử với nhau tệ hơn người dưng, vì sự uất hận về sự không công bằng đã che khuất tầm nhìn của tình thương xót, của tình huynh đệ - máu mủ. 

Niềm hạnh phúc của các bậc cha mẹ là con cái mình yêu thương đùm bọc nhau trong cuộc sống, và trước khi nhắm mắt cũng thường dặn dò con cái như thế. Nhưng thật khó để yêu thương khi anh em có những mâu thuẫn về gia tài! Vì khi đó những người trong cuộc thường dựa vào lẽ công bằng như họ nghĩ: nó đã được chia rồi, nhưng nó đã làm tiêu tán, bây giờ nó rán chịu, chúng tớ chẳng có lỗi gì! Ở đây, chúng ta phải đọc lại Tin Mừng: đứa con thứ đã phung phá hết tài sản của nó mà vẫn được cha đón nhận, trong lúc người anh thì nạnh kẹ và loại trừ. Cũng may là chỉ có một người anh cả, còn như trong gia đình ấy có 5 người anh thì người cha cũng khó mà xoay xở cho êm đẹp! 

Có lẽ nhiều người trong chúng ta đã từng chứng kiến cảnh một người cha mẹ hấp hối nhiều ngày, muốn nhắm mắt xuôi tay mà không ‘đi’ được, dường như đang uất hận và trăn trở một điều gì đó. Cũng có thể là do diễn tiến bình thường của quy luật sinh học, nhưng cũng có thể là còn điều gì đó vướng mắc, nhất là về tình cảnh của những đứa con mình đã đứt ruột sinh ra. Có những điều khi khỏe mạnh đã không giải quyết được theo lẽ công bằng nhân loại, thì đến lúc này làm sao giải quyết được, may ra sự khắc khoải của họ có khơi dậy được lòng thương xót chăng? Cũng giống như sự hiện diện của những người nghèo quanh ta được xem như cơ hội để lòng trắc ẩn được trỗi dậy, như cơ hội để ta hành thiện.


 

Gia tài cha mẹ để lại nên được xem như miếng bánh (món quà), anh em chia nhau mà ăn. Nếu chẳng may một đứa bị sẩy chân thất bại hoặc do lười biếng, bài bạc … anh em ruột thịt cũng nên vì tình thương cha mẹ mà nghĩ lại mà tìm cho nó một giải pháp, để cha mẹ có thể yên lòng nơi chín suối. Chúng ta muốn Thiên Chúa cư xử với mình với lòng thương xót thì hãy cư xử thương xót với nhau: ai sống làm sao Ta sẽ xử cho như vậy. Nói vậy, nhưng có đứng vào hoàn cảnh đó mới thấy khó mà đưa ra một giải pháp mang tính cách mạng như Tin Mừng đòi hỏi, phải có tiếng nói ‘tiên tri’, ân lộc của tổ tiên và thật nhiều ơn Chúa mới đủ sức lay động nhiều con tim, chuyển hóa những ‘tính toán của công bằng’ thành ‘chia sẻ của tình thương’.

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2020

Vua Hê rô đê tìm cách gặp Đức Giêsu


 

Đọc câu Tin Mừng Lc 9,9 chúng ta nhận ra rằng đây là một cái kết lửng: nhà vua có thực sự muốn gặp Đức Giê su không? Mục đích tìm gặp là gì? Và chính cái kết lửng này gây ra một sự phản tỉnh cho chính chúng ta. 

Nếu vua Hê rô đê thực sự muốn tìm gặp Đức Giê su thì quá dễ, vì suốt 3 năm trời Chúa đã giảng dạy công khai khắp đất nước Do Thái, vậy mà trong đám đông nghe Chúa, không thấy xuất hiện khuôn mặt Hê rô dê, hoặc giả như ông có đến nhưng không gặp được hạt giống Lời Chúa. Mãi đến ‘giờ’ của Chúa Giê su, ông được quan Phi la tô chuyển Đức Giê su đến mà xét xử, nhưng ông chỉ nhận ra ông Giê su là một ‘người dại, chẳng biết gì’, nên ông trả phạm nhân về lại cho quan Phi la tô. Đây là một cái kết buồn cho cuộc đời vua Hê rô đê, kẻ đã có cơ duyên gặp cả Gio an Tẩy Giả và Chúa Giê su. Như vậy, sau vụ án Chúa Giê su thì chúng ta đã nhận ra rằng vua Hê rô dê tìm cách gặp Đức Giê su chỉ để thỏa tính tò mò, khác xa với sự tìm gặp của các mục đồng hoặc của Ba vua, là những người tìm đến với hài nhi Giê su để thờ lạy. Câu chuyện của vua Hê rô dê cũng là câu chuyện của biết bao nhiêu người, họ tìm hiểu tôn giáo nhưng không gặp được Đức Giê su như Đấng khơi nguồn sự sống, bởi lòng họ đầy những ‘lo lắng sự đời’, nên Lời Chúa đã bị chết ngạt.

Đối nghịch với thái độ hời hợt trên, Chúa Giê su đã gặp biết bao tâm hồn nhiệt tình: đã gặp Ngài là họ bỏ hết mọi sự để sống chết với Ngài. Có thể kể đến các tông đồ, chỉ trừ Thánh Gioan, họ đã có vợ con và nghề nghiệp, nhưng đã bỏ mọi sự mà theo Chúa Giêu su đến chết để làm nhân chứng cho Ngài. Người đời sợ nhất là chứng từ tử đạo, nên người đời thường bôi nhọ các Đấng bằng cách vu cáo cho họ những lý do phàm tục: đốt thành Ro ma, phản quốc... và bêu xấu các Ngài những tội lỗi xấu xa mà chính họ phạm phải. Nhưng chính những kẻ kết án các vị tử đạo đều biết rõ: các Đấng bị giết vì không chịu thờ lạy các bụt thần, vì không chịu chà đạp Thánh giá Chúa Kỉ tô. 

Tôi cứ bị ám ảnh mãi một chứng từ mà tác phẩm ‘Tự do nội tâm’ đưa ra. Đó là chứng từ của Etty Helisum. Cô này là người Do Thái, chưa lãnh bí tích rửa tội nhưng được biết đến giáo lý công giáo qua một người bạn Do Thái khác. Trước khi xuống tàu để di chuyển về trại tập trung ở Đức đã có một lời cầu nguyện như sau: “Lạy Chúa, con biết rằng con đang đi đến một địa điểm chết chóc, con biết bao gian lao khủng khiếp đang chờ con ở đó, nhưng Chúa không thắng được con đâu. Dù xảy ra chuyện gì, con vẫn vững tin vào tình thương Chúa và trông cậy mọi sự nơi Ngài. Ký tên Etty Helisum”. Cô viết như thế, cô bỏ miếng giấy vào một lọ thủy tinh dán kín và thả xuống biển và sau này người ta đã nhặt được chứng từ tử đạo của cô. 

Hầu hết chúng ta đều được cha mẹ lo liệu cho rửa tội từ nhỏ, chúng ta không vất vả tìm kiếm đức tin, và chúng ta chỉ tìm cách hiểu biết thêm về Chúa Giêsu theo tuổi đời lớn khôn. Chúng ta dễ bị một khiếm khuyết lớn là không có mối liên hệ cá vị (riêng tư) với Chúa Giê su như một người bạn, như một người thầy và như Đấng khơi nguồn sự sống. Chúng ta dễ nghĩ rằng theo đạo là đọc kinh, là giữ các giới răn để đừng phạm tội để rồi khi chết là được lên thiên đàng, chúng ta dễ quên rằng: Chúa Giê su ngày ngày vẫn gõ cửa tâm hồn ta, mong chờ ta mở cửa lòng mình để Chúa và tôi trải qua một cuộc tình nồng thắm như ‘thuở ban đầu của đôi trai gái’.

 Đừng nghĩ rằng: điều cốt yếu của đời sống đạo là cố gắng chu toàn lề luật và những bổn phận để không bị Chúa phạt, nhưng là yêu Chúa một cách nồng nhiệt như em thơ với cha mẹ mình: tin tưởng mọi sự, phó thác mọi sự và để Chúa dìu mình đi từng ngày trên cuộc đời. Mỗi ngày tôi phải cố gắng tìm gặp Chúa bằng cách khám phá ra rằng; Chúa đang hiện diện trong lòng tôi, rằng tìm kiếm ý Chúa là điều quan trọng nhất, rằng cách cư xử tốt đẹp nhất với tha nhân là cư xử với tình thương, và rằng: tôi không đơn côi, tôi được Chúa tha thứ quá nhiều và ban ơn quá dư tràn, nên tôi không ngừng ca tụng Chúa – yêu mến Chúa và yêu anh em như lòng Chúa mong ước. 


 

Tiên tri Isaia có nói: "Hãy tìm Chúa khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người ở kề bên" (Is 55,6). Vậy là có lúc con người không còn cơ hội gặp Chúa? - Đó là lúc cuộc đời họ kết thúc, lúc ấy họ không còn lập công và cũng không còn phạm tội, đó là lúc Thiên Chúa đưa ra kết luận cuộc đời họ đáng thưởng hay đáng phạt. Hãy nghĩ đến ngày tận số mà chấm dứt hận thù, nhớ mình sẽ phải hao mòn và phải chết mà trung thành giữ các điều răn (Huấn ca 28,6).