Danh sách Blog của Tôi

Thứ Hai, 21 tháng 4, 2025

TÔI ĐÃ THẤY CHÚA (Ga 20, 11-18)

 



Bà Ma ri a Madala đến mộ và khám phá ra ngôi mộ trống. Chúa hiện ra với bà nhưng bà cứ tưởng là người làm vườn, bà chỉ nhận ra Chúa khi được gọi tên. Sau khi gặp Chúa, bà đi báo tin cho các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa” và bà kể lại những điều Chúa đã nói với bà.

Sứ điệp bà Maria loan báo tuy ngắn nhưng lại đầy đủ nội dung. Bà Maria (và một số nhân chứng Chúa chọn) đã thấy Chúa bằng mắt thịt – còn chúng ta chỉ nhìn thấy Đấng Phục sinh bằng con mắt đức tin. Thư Do Thái nói về ông Moi sen như sau:  Nhờ đức tin, ông bỏ Ai-cập mà không sợ cơn thịnh nộ của nhà vua; ông vững vàng không nao núng, như thể xem thấy Đấng vô hình. Chung quanh chúng ta vẫn có những chứng nhân như thế, đó là các Ki tô hữu nhiệt thành sống niềm tin của mình, có thể họ vô danh - không nổi tiếng, nhưng chỉ Thiên Chúa mới biết lòng tin của họ. Dễ nhìn thấy hơn, đó là các tu sĩ nam nữ và các linh mục, các thừa sai giáo dân và các giáo lý viên… cuộc sống của họ muốn nói với thế giới rằng: Tôi đã thấy Chúa. (Theo thống kê của Giáo hội năm 2016: Dân số thế giới là 7,1 tỷ/ Công giáo là 1,2 tỷ/ Linh mục là 416.000/tu sĩ nam nữ là 736.000)

Có một thực tế là chúng ta dễ mất đức tin khi thấy họ (những thành phần ưu tú trên) sống không đúng với niềm tin, nhưng chúng ta lại dường như đui mù khi cuộc sống của họ nêu bật những nhân đức của Ki tô giáo. Khi phong thánh cho một vị, không phải vì họ không có nết xấu và không phạm tội, nhưng đúng hơn họ biết đứng dậy từ trong những nết xấu của mình và trung thành với Chúa Ki tô cho đến giây phút cuối đời, họ nêu gương sáng về một số nhân đức của Tin Mừng để các tín hữu noi gương. Hãy xin Chúa mở mắt tâm linh để nhìn thấy những điều tốt đẹp mà các nhân chứng Tin Mừng đang chiếu tỏa và biết im lặng trước những điều có vẻ phản chứng, vì có những điều kín ẩn trong tâm hồn tha nhân mà ta không biết; hơn nữa việc xét đoán tha nhân (phân biệt lành dữ) là việc của Chúa và là công việc khó khăn mà ta đừng dại gì rước vào thân, rất dễ mang họa.



Trong những năm gần đây, Giáo phận Bmt thực hiện việc thuyên chuyển các linh mục thường xuyên hơn, nên giáo dân thường có sự so sánh và được hưởng nhiều hương vị trong các hoạt động của các vị mục tử khác nhau. Đó là một điều tốt: giáo dân học sự vâng phục và cộng tác, giáo sĩ học được sự từ bỏ, chấp nhận và phó thác cho Chúa trong công việc tông đồ. Trong một lần gặp gỡ các giáo chức, ĐGM Vinh sơn căn dặn: Đừng quá khắt khe với các linh mục, vì khi chọn con đường tu trì làm linh mục triều, các ứng viên đều có thiện chí muốn rao truyền Tin Mừng, nhưng vì là con người nên có những hạn chế và có thể có những tham sân si; hãy cầu nguyện cho các linh mục để họ được kiên vững trong lý tưởng phục vụ Chúa và phục vụ đồng loại. ‘Người ta’ (những người thích nói xấu các linh mục và con cái ma quỷ) thích bôi nhọ các vị mục tử như phương cách tối ưu để triệt phá Giáo hội: đánh vào đầu rắn, đánh vào kẻ lãnh đạo của một tổ chức; nhưng họ không biết rằng: Giáo hội là của Chúa, và không có quyền lực nào có thể phá hủy được Giáo hội của Chúa Ki tô.

Mỗi ngày sống là một trang sử mới cuộc đời ta, để ta nói với người khác rằng: Chúa đã sống lại, tôi đã gặp Chúa. Hãy khuyến khích người khác khi họ làm điều tốt, và chân thành góp ý về điều chưa tốt. Hãy kể cho người khác ‘phép lạ’ Chúa đã làm cho mình. Điều lạ vẫn xảy ra liên tục trong đời ta, nhưng tại sao ta lại ngại kể ra? Có phải vì Chúa không muốn, vì sợ mất đức khiêm nhường? - không phải thế, vì ma quỷ không muốn và vì ta thiếu lòng tin, vì sợ người khác cười mình ngây thơ! Trong Tin Mừng kể lại chuyện: một người bị quỷ ám được chữa lành, anh muốn theo làm môn đệ Chúa, nhưng Chúa bảo anh “con hãy về, kể cho người khác những gì Chúa đã làm cho con’. Vậy mà chúng ta thường xuyên im lặng không dám nói những việc tốt đẹp Chúa làm cho mình, và thích kể đi kể lại những chyện ‘hiếp, sốc, lộ hàng, ăn quỵt, lừa lọc…, như những đồ đệ trung thành của Sa tan. Hãy học gương bà Ma ri a để nói với tha nhân: tôi đã thấy Chúa và kể lại những điều Chúa đã nói với mình.

Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2025

Ánh sáng Đấng Phục Sinh

 

 



Trong đêm vọng Phục Sinh, Giáo hội long trọng cử hành nghi thức làm phép lửa và làm phép nến Phục Sinh. Một sự tương phản giữa bóng tối và ánh sáng được thể hiện rõ rệt: lửa và nến được làm phép trong sự bao trùm của bóng tối, nhưng khi ánh sáng của nến Phục Sinh được thắp sáng cho nhiều người thì một bầu khí vui tươi tràn ngập cộng đoàn và rồi Thánh  đường bỗng nhiên bừng sáng – cả ánh nến và đèn điện. Điều đó phần nào diễn tả ý nghĩa lớn lao của biến cố Phục Sinh: nếu Chúa không phục sinh thì vạn vật chìm ngập trong chết chóc và bóng tối.

Điều đáng lưu tâm là ánh sáng của cây nến Phục Sinh được lan truyền từ người này qua người khác, từng người một và rồi cả cộng đoàn rực sáng: ngọn nến sáng trên tay mỗi người tượng trưng cho đức tin của từng tâm hồn. Niềm vui Chúa Phục Sinh được ban tặng cho trần gian là một ân huệ nhưng không (do lòng thương xót Chúa, con người không xứng đáng) có thể được ví như vầng dương là trung tâm của hệ mặt trời, nhưng khác với mặt trời luôn chủ động và áp đặt tác động của nó trên vạn vật, niềm tin và niềm vui Chúa Phục Sinh phải được loan truyền cho nhau – từ người này qua người khác… đó là cách Chúa muốn và là một mầu nhiệm vẫn không ngừng diễn ra trên hành tinh này.

Ơn Cứu độ Chúa Giê su hoàn tất qua biến cố chết và phục sinh được áp dụng cho mọi người, không loại trừ một ai, thế nhưng Thiên Chúa chỉ âm thầm mời gọi – tác động, không áp đặt niềm tin vì tôn trọng tự do của con người. Bởi đó, khi sống lại, Chúa không làm những việc kinh thiên động địa, Ngài chỉ hiện ra với những nhân chứng đã tuyển chọn (Cv 10, 40), để rồi họ loan báo và làm chứng cho người khác. Sứ mạng truyền giáo là ơn gọi của mỗi người khi họ chịu phép Rửa: thắp sáng niềm tin cho anh em mình. Ánh sáng Phục Sinh phải thắp lên từ Ngọn Nến Phục Sinh là Đức Ki tô (khác với việc lấy quẹt ga từ trong túi mình bật lên đốt nến cho mình và thắp chuyền cho người khác), điều đó muốn nói với ta rằng: đức tin của ta phải bắt nguồn từ lòng Thương Xót Chúa ban tặng, phải được nuôi dưỡng bởi sự tiếp xúc trực tiếp với Đức Giê su trong các cử hành phụng vụ, gặp gỡ Ngài nơi tha nhân – nhất là những người cùng khổ. Đừng chờ Chúa đến thăm nhà mình và hiện ra với mình, nhưng hãy đón tiếp nhau – mỉm cười với nhau – cảm thông với sự yếu đuối của nhau, hãy ra khỏi nhà và rời khỏi cell phone để thăm một người bệnh hoặc một người già yếu, dù chẳng thú vị gì - nhưng đó là cơ hội để gặp Đấng Phục Sinh. Mỗi cuộc gặp gỡ, người Ki tô hữu hãy nói với nhau rằng: Sự sống đã chiến thắng sự chết, tình yêu đã chiến thắng hận thù, mỗi người là anh em của nhau vì có chung một Cha trên trời, và chúng ta sẽ cùng chung sống với nhau trên thiên đàng.



Lời nguyện của ngày lễ Phục Sinh rất đáng ta thuộc lòng: Xin Cha ban Thánh Thần, làm cho chúng con trở nên người mới, để sống một cuộc đời mới tràn ngập ánh sáng Đấng Phục Sinh. Ánh sáng dẫn đường tâm linh, ánh sáng sưởi ấm cõi lòng. Chúa Đã Phục Sinh, đó là niềm vui của chúng ta. Ngay từ giây phút đầu tiên của sự kiện Chúa Phục sinh, đã xuất hiện tin giả rằng xác Chúa bị đánh cắp, bởi vì người ta không tin được là một kẻ đã chết nay có thể sống lại – và thế gian không muốn đón nhận một chiến thắng của Đấng mà họ đã giết chết cho bằng được. Ma quỷ vẫn không ngừng gieo rắc sự nghi ngờ trong từng tâm hồn và trên khắp thế gian này, chúng lôi kéo tâm trí ta bận tâm đến những điều phù phiếm và tạm bợ để ta sao lãng niềm vui CHÚA ĐÃ PHỤC SINH, ALLELUIA, ALLELUIA.

Thứ Năm, 17 tháng 4, 2025

Tôi vô can

 




Trong vụ án Chúa Giê su, ông Philato để lại nhiều câu nói đáng để ta suy gẫm trong mùa Chay: Ông là vua ư? Tôi vô can trong vụ đổ máu người này, Sự Thật là gì?

Trong khuôn khổ bài viết ngắn này, chúng ta dừng lại ở câu nói “Tôi vô can” kèm theo đó là việc rửa tay công khai, chứng tỏ bàn tay của ông không dính máu trong vụ án này. Sau khi đã tìm nhiều cách để tha Đức Giê su mà không được, ông tạm bằng lòng với việc rửa tay vì cho rằng ‘đã hết cách’. Đó là tâm trạng của kẻ ngoài cuộc, của việc phủi trách nhiệm, chọn sự an toàn cho bản thân hơn là hướng về sự thiện và bảo vệ công lý.

Đó cũng có thể là tâm trạng của mỗi người chúng ta khi suy gẫm về cuộc thương khó: chúng ta tri ân Chúa vì đã đổ máu đào và hiến mạng sống vì yêu loài người, nhưng dường như phần đóng góp của ‘tội tôi’ vào cái chết đó là không rõ ràng – nếu không muốn nói là tôi vô can, vì sự kiện Con Thiên Chúa nhập thể và chịu chết đã xảy ra cách đây gần 2000 năm rồi. Trong mùa Chay và trong suốt Tuần Thánh, chúng ta tiếp xúc với những bản văn Kinh Thánh nói về cuộc tử nạn và phục sinh của Đức Giê su, ngắm 15 sự Thương Khó, đọc lại những suy niệm của các nhà tu đức và thần học… chúng ta hiểu rất rõ lý do và ý nghĩa của Thập giá – một tình yêu dâng hiến của Con Thiên Chúa, nhưng dường như tâm hồn chúng ta vẫn lạnh ngắt và khó nhỏ ra một giọt nước mắt ăn năn: vì tội tôi đã đóng đinh Con Thiên Chúa vào thập giá.

Trở lại với câu chuyện hai môn đệ trên đường Emaus, dù đã tiếp xúc với những bản văn Cựu ước và cả những tiên báo của Chúa Giê su về cái chết và phục sinh, nhưng lòng họ chẳng hiểu gì cả trước những diễn tiến của mầu nhiệm tử nạn và phục sinh, họ buồn bã rời bỏ Giê ru sa lem. Chúa Giê su xuất hiện, trích dẫn Thánh Kinh để họ hiểu ý nghĩa của các biến cố vừa xảy ra, lòng họ bừng cháy và họ nhận ra người bạn đồng hành là Chúa Giê su. Thế đó, đôi mắt trần không thể nhìn thấy điều thiết yếu (Exupéry, nhà văn Pháp), dù chúng ta có nỗ lực đọc nhiều tài liệu để tìm cách hiểu và yêu Đấng Cứu Chuộc hơn thì trí óc ta chỉ tìm thấy một mớ kiến thức cũ, còn tâm hồn dường như bị đóng băng trước một mầu nhiệm. Một vị hồng y già nói với các linh mục: “Tôi đã từng nói và viết nhiều về vấn đề đau khổ của con người, nhưng bây giờ tôi nghiệm ra mình chẳng hiểu gì về nó cả”. Khi đi thăm bệnh nhân, nhất là những bệnh nan y và những hoàn cảnh bi ai, có lẽ chúng ta chỉ nên hiện diện để động viên họ và nói ít về đau khổ - vì ta chẳng hiểu gì nhiều.



Lạy Chúa Giê su Thập Tự Giá, chúng con suy gẫm và tích cực tham dự phụng vụ trong suốt mùa Chay 2025, và hôm nay là Thứ Sáu Tuần Thánh, kỷ niệm cuộc Thương Khó Chúa chịu vì chúng con. Xin Chúa biến đổi lòng con, để con ý thức ‘vì tội con mà Chúa đã chết để con được sống’, để thấy rằng con không vô can trong việc Chúa hiến tế trên thập giá. Lạy Chúa, xin ơn Thánh Linh soi dẫn trí khôn, biến đổi con tim để con yêu Chúa nhiều hơn, lòng bừng cháy hơn trước hành động cao đẹp mà Chúa đã dành cho con – vì chỉ Thần Khí mới làm cho sống động những hành vi của MỘT THIÊN CHÚA TÌNH YÊU trong trái tim chai đá của con. Amen.

Thứ Năm, 10 tháng 4, 2025

Tại sao các ngươi tìm giết Ta?

 




Bài Tin Mừng của Thánh Gio an 10, 32-42 vẽ nên một cuộc tranh luận cốt lõi về cái chết của Chúa Giê su. Chúa hỏi thẳng dân Do Thái: Ta đã cho các ngươi thấy nhiều việc tốt đẹp Chúa Cha đã giao cho tôi làm, vì việc nào mà các ông đòi ném đá tôi? Họ trả lời: Chúng tôi ném đá ông không phải vì một việc tốt đẹp, nhưng vì một lời nói phạm thượng, ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa.

Chúa Giê su đã nhiều lần tuyên bố mình là Con Thiên Chúa, Chúa trưng ra bằng chứng là các việc Ngài làm minh chứng cho loài người biết nguồn gốc Thiên Chúa của mình: các phép lạ, quyền tha tội, cái chết và phục sinh. Ông Gioan đã làm chứng và nhiều người đã tin vào Đức Giê su “vì mọi lời ông Gio an nói về Người đều đúng”. Trong Tin Mừng có kể lại 2 lần tiếng Chúa Cha xác nhận từ trời cao: “Này là Con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng”, một lần khi Chúa chịu phép rửa ở sông Giodan và lần khác khi Chúa biến hình trên núi Tabor. 

Đọc lại các trình thuật Tin Mừng kể về cuộc thương khó Chúa, chúng ta nhận thấy hai điều: Chúa Giê su chủ động dâng hiến mạng sống để thi hành kế hoạch cứu chuộc mà Cha đã định – Chúa khẳng khái tuyên bố trước tòa Phi la tô rằng: "Tôi là vua, nhưng nước Tôi không thuộc về thế gian này"; điều thứ hai là dân Do Thái thù ghét Chúa Giê su đến cực độ, phải giết bằng giá nào – ghét hơn Ba ra ba.




Chúng ta tự hỏi: tại sao Chúa Giê su bị ghét đến như vậy? Có hai lý do: lý do thứ nhất là giáo lý của Chúa đi ngược với tham sân si của người đời và lý do thứ hai là Chúa Hằng Hữu. Niềm tin vào Chúa Giê su đòi buộc con người phải thay đổi lối sống để bước theo một con người – đặt dấu chân mình trên dấu chân Chúa Giê su, tuân giữ Lời Người dạy, mà Đấng ấy lại Hằng Hữu – nghĩa là còn đang sống bên cạnh ta và biết rõ mọi việc ta làm… nên cách tốt nhất là khai tử đạo Ki tô, vì dường như nó cản trở con người thỏa mãn dục vọng của mình - để vui hưởng cuộc đời. Có người nhận xét: Người ta không ghét Đức Phật, Đức Khổng hay Ông Mahômet. Một ít người bị ghét lúc sinh thời như Neron, Hốt Tất Liệt, hay Bismark. Nhưng ngày nay, còn có ai nghĩ đến ghét họ nữa! Chẳng còn ai đe dọa xúc phạm mộ Neron. Cũng chẳng còn ai sỉ mạ Bismark nữa. Họ chết là hết bị ghét. Cả Hoàng Đế nước Đức, sau thế chiến thứ hai, bị nhân dân và thế giới sỉ nhục, nay cũng không còn ai ghét nữa. Sự thù ghét đối với mọi người đã tiêu tan, mà sao đối với Chúa Giêsu vẫn tồn tại? Đâu là lý do? Đó là do giáo lý Chúa dạy ngăn cản thị dục người ta và Ngài Hằng Hữu. 

Hằng Hữu (I Am Who I Am) mang rất nhiều ý nghĩa: tự mình mà có (Tự hữu), Là Alpha và Omega (không có khởi đầu và kết thúc), Thiên Chúa luôn hiện diện và hành động trong hiện tại . Còn các vĩ nhân và mỗi người chúng ta chỉ là hiện hữu, hiện hữu thì rất khác: được sinh ra trong thời gian.




Lịch sử Ki tô giáo đã chứng minh Lời tiên báo của Chúa Giê su: “Nếu thế gian ghét các con thì hãy biết rằng họ đã ghét Thầy trước, và vì các con không thuộc về thế gian”. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 đã nói: “Tôi thà ngàn lần thấy một Giáo hội bị bách hại còn hơn một Giáo hội thỏa hiệp”. Xin trích một đoạn ngắn bài viết của ĐTGM FULTON SHEEN:  “Tôi hân hạnh thuộc về một Giáo Hội người ta ghét. Đã hẳn, kẻ nhận biết bản tính thần linh của Giáo Hội thì yêu Giáo Hội. Nhưng, kẻ tưởng Giáo Hội là lỗi thời, lạc hậu, dị đoan, ma thuật thì ghét Giáo Hội. Kẻ chịu ơn thiêng liêng của Giáo Hội, thì mến Giáo hội như người Mẹ vậy. Thế gian đối xử với Giáo Hội y hệt như đã đối xử với Đức KiTô. Ngài cũng được yêu mến, nhưng cũng bị ghét bỏ. Không có ai được quí trọng như Ngài, nhưng cũng không có ai bị khinh dể như Ngài”.

Ngày nay thế gian không thể đóng đinh Chúa Ki tô thêm một lần nữa thì họ quay sang thù ghét Giáo hội là hiền thê của Ngài. Có thể nói dù ở Đông hay ở Tây, thuộc thể chế chính trị nào, người ta vẫn không ưa và tìm cách tẩy chay ảnh hưởng của Ki tô giáo trên xã hội, đó là một sự thật mà Chúa chúng ta đã trải qua, và hãy hãnh diện vì được thuộc về Chúa Ki tô. Thánh Phao lô đã thốt lên: “Tôi coi mọi sự là thua thiệt trước mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Ki tô, Chúa tôi”.

Thứ Ba, 8 tháng 4, 2025

Ta Là Đấng Hằng Hữu ( I Am Who I Am)

 



Chúng ta đã gặp cụm từ này từ rất sớm ở trong Kinh Thánh - trong sách Xuất Hành (3, 14), khi Chúa tự giới thiệu Danh của mình cho ông Moi sen. Còn ở trong Tin Mừng Gioan, cụm từ này mang một hương vị mới: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu và biết Tôi không tự mình làm điều gì, Tôi chỉ nói điều Cha truyền (Ga 8, 28).

Thật đối nghịch với suy nghĩ của loài người, khi phạm nhân bị đóng đinh vào thập giá – một hình phạt ô nhục, thì điều rõ ràng nhất xảy đến là cái chết thảm khốc. Nhưng trên bình diện Thần học, cái chết của Chúa Giê su là biểu hiện của một tình yêu dâng hiến để cứu sống cả nhân loại. Chúng ta gặp hình ảnh này trong sách Dân Số (21, 8): Dân Do Thái phản loạn, họ kêu trách Chúa và Moi sen; Chúa cho rắn độc cắn chết nhiều người; Chúa truyền cho ông Moi sen đúc một con rắn đồng treo lên một cây cột, hễ ai bị rắn cắn mà nhìn lên rắn đồng thì được cứu sống. Thật là một hình ảnh tiên trưng đầy đủ ý nghĩa cho hình ảnh Chúa Giê su bị treo trên thập giá, một biểu hiện rõ ràng của THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU, ĐẤNG HẰNG HỮU. Chúa Giê su nói: “Khi nào Ta bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta”. Đó là giờ Chúa được tôn vinh, trở nên giá cứu chuộc, mọi dân nước được trở thành con cái Thiên Chúa.

Trong Tin Mừng Gioan, nhiều lần Chúa Giê su nói đến “giờ” Con Người được tôn vinh, một ám chỉ sự vĩ đại của sự hiến tế thập giá, giá chuộc tội, biểu hiện của Tình Yêu: Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban cho họ Người Con Một. Ai đó đã từng nói: Đối nghịch của tình yêu không phải là hận thù, ghét bỏ mà là sự bỏ mặc, không đếm xỉa đến. Tình yêu Chúa Giê su dâng hiến cũng thường bị loài người xem thường mặc kệ, không quan tâm và đó là một sự xúc phạm làm buồn lòng Chúa. Điều đó cũng dễ hiểu: nếu người cha, mẹ, bạn bè liều mạng sống mình để cứu ta khỏi một cái chết rõ ràng, vậy mà ta lại không cho đó là một sự hy sinh. Có câu chuyện kể: Một chiếc thuyền gặp nạn và lật úp, khoảng 40 người bị hất tung xuống dòng nước sâu, trong số hành khách đó có một vận động viên bơi lội – anh bơi ra vào khoảng 20 lần và cứu được khoảng 25 người – sau đó anh bị vọp bẻ vì quá rán sức và mang thương tật suốt đời, thế nhưng điều đáng buồn là trong 25 người được cứu đó không một ai trở lại để nói một lời cảm ơn anh. Những mạc khải của Chúa Giê su cho thánh Faustina cho thấy Chúa rất buồn lòng khi con người không màng chi ơn cứu độ mà Chúa mang lại, và chuỗi kinh lòng thương xót cứ lặp đi lặp lại những lời tôn kính hy tế Mình và Máu của Con rất yêu dấu Chúa, và là những lời kinh rất đẹp lòng Chúa: LẠY CHA HẰNG HỮU, CON XIN DÂNG LÊN CHA MÌNH VÀ MÁU, LINH HỒN VÀ THẦN TÍNH CON RẤT YÊU DẤU CHA LÀ ĐỨC GIÊ SU KI TÔ ĐỂ ĐỀN VÌ TỘI LỖI CHÚNG CON VÀ TOÀN THẾ GIỚI. VÌ CUỘC KHỔ NẠN ĐAU THƯƠNG CỦA CHÚA GIÊ SU KI TÔ, XIN CHA XÓT THƯƠNG CHÚNG CON VÀ TOÀN THẾ GIỚI.




Chúa Giê su nói rõ: “Nếu các ông không tin là Tôi Hằng Hữu, các ông sẽ mang tội mình mà chết”. Con rắn đồng trong sa mạc được treo lên, nhưng chỉ những ai nhìn lên thì mới được cứu. Chúng ta cũng vậy, chỉ khi tin rằng: Đức Giê su là Đấng từ trời xuống, cái chết của Ngài có giá cứu chuộc, gắn bó cuộc sống mình với Ngài thì mới được cứu sống. Tin Mừng Gioan 19,37: “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu”. Chúa cho con người được đóng góp phần mình vào giá cứu chuộc của Chúa, dù ít ỏi vì là phần của một tạo vật, thì cũng trở nên giá trị khi hòa với hy lễ của Con Thiên Chúa. Chúng ta phải tạ ơn Chúa vì hồng ân này, và Chúa mời gọi ta: khi gặp đau khổ và trái ý, hãy nhìn lên thập giá Chúa để múc lấy sức mạnh, vì Chúa đã từng trải qua những khổ nhục và Chúa cùng đi với ta.

Thứ Bảy, 5 tháng 4, 2025

Hãy trở về

 



Chúng ta hầu như thuộc lòng những chi tiết về câu chuyện kể về ‘Người phụ nữ ngoại tình’ (Ga 8, 1-11), đến độ khó tìm được một vài tình tiết có thể đánh động lòng mình.

Xuyên suốt những câu chuyện trong Tin Mừng, các kinh sư và biệt phái đã tranh luận với Chúa Giê su nhiều vấn đề: sạch và dơ, vi phạm luật sa bat, nộp thuế cho Rô ma, quyền tha tội, luật nào trọng nhất, tẩy uế đền thờ… nhưng hầu như là những vấn đề trừu tượng (lý thuyết). Lần này, họ đưa đến một nhân chứng là người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, luật Moi sen truyền ném đá, còn Chúa dạy sao? Họ chắc mẩm lần này Chúa không thể tránh được cái bẫy của họ, vậy mà Chúa Giê su đã làm cho họ ngạc nhiên, lẩm bẩm ra về - để người phụ nữ ở lại, lòng đầy tức tối – trái ngược với sự tự tin khi họ kéo đến. Chúng ta nhận ra rằng: Chúa luôn điềm đạm, chậm nói và chậm phản ứng, hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Từ lúc sinh ra, cuộc sống ẩn dật, những va chạm khi đi rao giảng, khi môn đệ chậm tin và phản bội, khi bị tra tấn và đóng đinh, khi bị sỉ nhục… Chúa luôn thể hiện mầu nhiệm tự hủy và không mất bình tĩnh.

Câu nói của Chúa Giê su thật đáng suy gẫm: Ai trong các ngươi vô tội, hãy ném hòn đá đầu tiên đi. Khuynh hướng kết tội và ném đá tha nhân là dựa vào bầy đàn. Nếu ai đó ném hòn đá đầu tiên thì người khác sẽ hùa theo để ném những hòn đá tiếp theo. Chúa Giê su giúp họ nhớ lại một sự thật mà con người thường lãng quên: không ai là vô tội trước mặt Thiên Chúa. Vào thập niên 70 của thế kỷ trước, có một vị linh mục đã tưởng tượng: nếu tội mỗi người hiện lên trên trán thì đố ai mà dám ngẩng mặt lên để kết án người khác. Chúng ta thường khắt khe với sai lỗi của anh em là vì 2 lý do: tưởng rằng mình giỏi hơn và tốt lành hơn người khác. Càng sống trong môi trường phải cạnh tranh để tồn tại, người ta phải để ý đến kỹ năng sống, nếu không sẽ bị quy tội gây xáo trộn nơi công sở và mất việc như chơi. Nhưng trong những sinh hoạt đạo đức, chúng ta cũng phải năng xét mình lại để nhận ra những cách cư xử gây bất hòa với người khác như: vạch lá tìm sâu, góp ý thiếu tế nhị làm mất uy tín nhau, tranh luận về những thứ vụn vặt và danh từ, người kia tự chịu trách nhiệm và thực ra họ không hỏi ý kiến ta. Mạng xã hội đã rất tâm lý khi thiết kế nút like và thống kê lượt người tương tác và theo dõi, nhờ vậy tác giả cảm nhận được sự đồng thuận và thêm động lực để an tâm với cách hành xử của mình, nhưng hãy cẩn thận vì nút like có thể được ví như ‘hòn đá đầu tiên’ được ném đi.




Hãy trở về với Cha để mãi sống trong ân tình. Nội dung mời gọi sự trở về được ví như sợi chỉ đỏ xuyên suốt cả bài Tin Mừng. Khi thấy đám đông bừng lên sát khí muốn giết chết người phụ nữ phạm tội, Chúa Giê su cúi xuống viết trên đất – dù bị hỏi dồn dập – từng giây phút trôi qua nặng nề. Lòng Chúa buồn vì sự kênh kiệu và hợm hĩnh của đám đông, Chúa mời gọi họ lắng đọng một chút để biết mình. Khi không thể giữ im lặng lâu hơn, Chúa nói: “Ai trong các ngươi vô tội, hãy ném hòn đá đầu tiên đi”. Câu này phải được vang vọng lại trong suốt cuộc đời ta, giúp ta dè dặt hơn khi đối xử với anh em. Thỉnh thoảng chúng ta nên nhớ lại những tội lỗi mình đã phạm trong quá khứ để nhắc mình rằng: Tôi thật yếu đuối, và Chúa đã tha tội tôi quá nhiều – vì nếu Người chấp tội thì tôi đã tiêu đời lâu rồi. Đám đông hôm ấy, từng người một, đã nhận ra mình cũng là kẻ có tội, nên họ âm thầm rút lui. Chúa Giê su nói với người phụ nữ: “Ta không kết tội chị, chị hãy về và từ nay đừng phạm tội nữa”. Đây là lời mời gọi hãy thay đổi đời sống phù hợp với lề luật Chúa và được sống trong ân tình của người con cái Chúa.

Mùa Chay đã gần kết thúc, lời mời gọi ta trở nên giống Chúa Giê su hiền lành và khiêm nhường trong lòng và đừng kết án anh em càng trở nên khẩn thiết hơn. Hãy để tâm hồn mình lắng đọng đôi chút để nhận ra những biểu hiện của lòng kiêu ngạo, tự mãn, ích kỷ … đang làm cho tâm hồn ta bất an và chật chội để đón nhận ân tình Chúa muốn rộng ban cho ta.

 

Chủ Nhật, 30 tháng 3, 2025

Về nhà

 



Sau một loạt tội lỗi đã phạm: đòi chia gia tài, bỏ nhà ra đi, phung phá tài sản, ăn chơi sa đọa, người con thứ vẫn không hề nghĩ đến tình cha khi trở về nhà, động cơ chính của anh là vì quá túng đói và cơ cực, đành bất đắc dĩ trở về. Trong một giờ học giáo lý, khi kể lại dụ ngôn ‘người cha nhân hậu’, từ đầu cho đến lúc người con thứ cất bước trở về nhà, người GLV mời các em ‘mô tả tưởng tượng’ phản ứng của người cha trong đời thường? – Một em phát biểu: ông ta cầm sẵn một cây roi mây đã cất sẵn và dằn cho thằng con hư hỏng một trận ra trò, đuổi cổ ra khỏi nhà, không có cha con gì hết.

Nói vậy để chúng ta thấy rằng: không ai dò thấu cõi lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Ông tha thứ vô điều kiện cho nhân loại - là những đứa con đi hoang. Nhưng tự trong thâm tâm của người cha là một sự trả giá rất đắt: ban cho họ Người Con duy nhất của ông - hiến mình làm giá chuộc tội cho thiên hạ. Khi người Con yêu bị treo trên thập giá, đám đông dân chúng chờ xem ‘phạm nhân Giê su’ thốt ra những lời nguyền rủa độc địa – trách trời trách đất, và họ sửng sốt khi nghe 7 lời di ngôn rất dịu dàng, đẹp nhất là lời tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”. Cả người con thứ, cả người anh cả, và tất cả nhân loại đều bỡ ngỡ vì tấm lòng nhân hậu của người cha khi ông đón tiếp đứa con đi hoang trở về nhà, Người không mệt mỏi khi tha thứ. Thánh Kinh còn diễn tả: Tội các ngươi dù có đỏ như son, Ta cũng sẽ làm cho nên trắng như tuyết; có thắm tựa vải điều cũng trở nên trắng như bông.




Ai đã từng một lần đi xa nhà, đều nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn với một niềm da diết linh thiêng, và niềm vui vỡ bờ khi được trở về bên cạnh những người thân yêu, dù còn sống hay đã khuất. Đừng nghĩ rằng người con thứ hư hỏng ngay từ giây phút đầu, chắc chắn anh đã có những ước mơ và muốn thực hiện ước mơ đó, nhưng chẳng may thất bại và anh không mặt mũi nào mà nhìn lại người cha, anh ân hận – không thể tha thứ cho mình và rất tủi nhục khi bước chân về nhà. Ai trong chúng ta cũng đã từng phạm tội, đã đi hoang xa nhà và xa tình thương bao bọc của Thiên Chúa, hãy nhớ lời Chúa Giê su: “Các thiên thần trên trời vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn hối cải hơn là vì 99 người công chính không cần hối cải”. Chúng ta thường không nhận ra tội mình, dễ nhầm tưởng rằng mình công chính, nên ngại đến với tòa giải tội để trở về với Cha mình và hiệp thông lại với Hội Thánh. Thật đáng mơ ước là cả các linh mục và giáo dân có chung nỗ lực là siêng năng lãnh nhận bí tích hòa giải hơn, vì có như vậy thì lương tâm ta mới nhạy bén hơn với tội, và điều này rất đẹp lòng Chúa.


 

Xin cho con tin vào tình thương Chúa để trở về với Chúa mỗi lần con xúc phạm đến Chúa và anh em. Và Có một điều con phải thầm nhắc lại mỗi ngày: Thiên Chúa là cha nhân từ, luôn mong chờ được con đón tiếp vào tâm hồn, để rồi Chúa sẽ dùng bữa tối với con và bao phủ con bằng muôn hồng ân chan chứa.