Danh sách Blog của Tôi

Thứ Hai, 12 tháng 5, 2025

Nếu ông là Đấng Ki tô?

 





Chúa Giê su là con người của lịch sử, điều đó đã được ghi lại trong các sách Tân ước, ngoài ra một vài sử gia Do Thái và Ro-ma đương thời cũng ghi lại những dấu vết liên quan đến nhân vật Giê su trong sử liệu của Đế quốc. Câu hỏi: ‘Ông Giê su là ai, có phải là Đấng Cứu độ không’ là một câu hỏi quan trọng – được dân Do Thái và con người mọi thời thắc mắc, vì chính câu trả lời sẽ định đoạt lối sống cho từng người. Bởi đó, trong 3 năm rao giảng Tin Mừng, Chúa Giê su luôn tìm cách giúp con người nhận ra sự thật về Ngài.

Ngoài 2 lần được tiếng từ trời xác nhận “Con là Con Ta yêu dấu”, Chúa Giê su luôn tự khẳng định: Ta từ trời mà đến, Ta với Cha là một, Ta không nói hoặc làm gì mà không phải do Cha truyền, các việc Ta làm nhân danh Cha đã làm chứng về Ta. Chúng ta dừng lại ở mệnh đề cuối để ngẫm nghĩ xem những việc đó là việc gì?

Trước hết, đó là những mạc khải về nước trời. Chúa Giê su khẳng định: chỉ có Con Người là Đấng từ trời mà đến, nên biết những chuyện trên trời và dân chúng nhận ra Chúa giảng dạy như kẻ có uy quyền; Chúa thường dùng dụ ngôn để diễn tả những mầu nhiệm nước trời và chỉ có kẻ Cha lôi kéo mới có thể hiểu được, còn kẻ khác lại cười nhạo và bỏ đi. Những phép lạ Chúa làm như: chữa lành bệnh tật, hóa bánh ra nhiều, xua trừ ma quỷ, người nghèo được rao giảng Tin Mừng, người chết sống lại… là để Thiên Chúa được tôn vinh. Khi làm phép lạ ở Ca na, chữa người mù từ khi mới sinh, cho ông Lazaro sống lại, Tin Mừng thường có câu kết: là để Thiên Chúa được tôn vinh (để dân chúng nhận ra Con Người).

Cao điểm nhất là cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Giê su là một minh chứng của tình yêu Thiên Chúa. Cuộc thương khó của Chúa Giê su đã ‘hoàn tất nhiều Lời Kinh Thánh’ được báo trước trong Cựu Ước, nổi bật nhất là hình ảnh con chiên hiền lành câm lặng bị đem đi xén lông, Người tôi tớ đau khổ gánh lấy tội của muôn người - bị hành hạ đến nỗi không còn hình dạng người, việc sát tế Chiên vượt qua, họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu, Tôi đã thấy nước từ bên phải đền thờ chảy ra, không một cái xương nào của Ngài bị gãy...

Một nhà tu đức đã nói: Con Thiên Chúa đã đến trần gian để cứu chuộc nhân loại, chúng ta có thể chia công trình cứu độ làm hai phần: phần chủ động là từ khi nhập thể cho đến hôm tiệc ly, Chúa chủ động rao giảng và chữa lành… và phần thụ động (passif, passio, patient – thụ động, thương khó, bệnh nhân), các động từ đều ở thế thụ động, Chúa bị bắt – bị đánh đòn, bị đóng đinh. Không thể nói phần chủ động hay thụ động quan trọng hơn trong chương trình cứu chuộc, chỉ biết rằng Chúa Giê su yêu thương con người khi ban phát muôn ơn lành hồn xác và ban Lời Hằng sống, và Ngài mang lại ơn giải thoát khi trải qua những cực hình trong niềm tín thác vô biên vào Cha để rồi sống lại vinh quang.



Noi gương Chúa Giê su, cuộc đời mỗi người cũng phải trải qua nhiều gian khổ để học biết lẽ khôn ngoan: mình từ đâu mà đến, sẽ đi về đâu, sống để làm gì, Đức Giê su là ai – là Thiên Chúa hoặc là con người… Giáo hội dạy ta rằng: Đức Giê su là Thiên Chúa làm người, là căn nguyên ơn cứu rỗi cho kẻ tin vào Ngài. Trong sách Công vụ nói: “Chính tại Antiokia mà lần đầu tiên các môn đệ được gọi là Ki tô hữu”. Chữ hữu ở đây không phải là có, mà là bạn cùng chí hướng, Ki tô hữu là bạn của Đức Ki tô (từ điển Công Giáo). Mỗi người chúng ta là bạn của Đức Ki tô, điều đó không mới vì Chúa Giê su đã từng nói: Thầy không còn gọi các con là tôi tớ, nhưng là bạn hữu, vì tôi tớ không biết việc chủ làm, các con là bạn hữu của Thầy vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha thì Thầy đã cho các con biết (Ga 15, 15).

Điều cần ghi nhớ là hãy sống thân tình với người bạn Giê su. Thật hạnh phúc khi được trở thành bạn hữu của Chúa Ki tô, một người Bạn trung thành và tốt lành đến độ hy sinh mạng sống vì ta. Hãy sống tình thân hữu với người Bạn Giê su, đừng chỉ bằng lòng với những lời kinh sáo rỗng và một thánh lễ mỗi tuần; cần phải chuyện trò thường xuyên-đơn giản và thân tình như khi ta nói chuyện với bạn bè, hãy đến thăm Ngài nơi Thánh Thể thường xuyên hơn. Hãy có những thao thức của Bạn Giê su: tìm kiếm ý Thiên Chúa, làm giãn cơn khát tình yêu, cơn khát mọi người được hưởng ơn cứu độ. Đóng góp phần ít ỏi của mình vào chương trình cứu độ, không chỉ bằng những hoạt động nhưng còn bằng những phần bị động: chịu hiểu lầm, bệnh tật, vất vả, nhiều nỗi sợ của kiếp người… được hiến dâng vì tình yêu. Triều đại Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo 2 kéo dài 26 năm, thời gian cuối đời rất bệnh tật nên nhiều người nói về việc từ nhiệm, ngài trả lời: “Chúa Giê su không xuống khỏi thập giá”, ý ngài nói: tôi lãnh đạo Giáo hội bằng đau khổ và bằng ơn Chúa. Tôi còn nhớ ngay trong lễ tang của ngài, dân chúng ở quảng trường Thánh Phê rô hô lớn: “Santa subito” (Phong thánh ngay), ngài nổi tiếng không chỉ vì có nhiều tông huấn quan trọng nhưng còn vì là ‘một con người trải qua nhiều đau khổ: xuất thân từ một Giáo hội đau khổ, bị mổ xẻ nhiều lần và bệnh pakison hành hạ lâu năm, nhiều chỉ trích trong vai trò lãnh đạo Giáo hội... nên tiếng nói của ngài toát lên sức thuyết phục rất lớn.



Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2025

Ta thí mạng sống Ta vì đoàn chiên

 



Chỉ trong một đoạn Tin Mừng ngắn thôi (Ga 10, 10-18) mà Chúa Giê su đã nhắc lại đến 5 lần điệp khúc ‘Ta thí mạng sống Ta vì đoàn chiên’, như vậy đây là một điều rất quan trọng mà Chúa muốn ta ghi nhớ và tìm hiểu. Chúng ta thử tìm hiểu câu nói trên một cách kỹ lưỡng để nhận ra rằng: mỗi lần Chúa nói một ý khác nhau.

Lần đầu tiên, Chúa giới thiệu: “Người chăn chiên tốt chính là Ta, Ta thí (trao đổi, liều mất) mạng sống vì đoàn chiên, để chiên được sống dồi dào”. Chúa so sánh người chăn chiên xấu và người chăn chiên tốt. Người chăn thuê thì không dám liều chết để bảo vệ mạng sống chiên mà tìm cách thoát thân, lợi dụng đoàn chiên hơn là lo cho chiên được phát triển. Lần thứ hai, Chúa nói: “Như Cha biết Ta và Ta biết Cha và Ta thí mạng sống vì đàn chiên”, Chúa Cha có một kế hoạch cứu độ và Chúa Giê su chấp nhận kế hoạch này vì lòng yêu mến Cha và vì sự cấp thiết của nó: Chúa Giê su phải chết để cứu nhân loại. Lần thứ 3, Chúa nói: “Vì lẽ này mà Cha yêu mến Ta, là vì Ta thí mạng sống mình để rồi lấy lại”, vì sự vâng phục của Người Con thì Chúa Cha lại yêu mến Con hơn nữa, đặt Ngài làm Đấng Cứu độ và ngự bên hữu ngai Thiên Chúa (Cv 7, 55). Lần thứ tư, Chúa nói: “Không ai cất mạng sống Ta được, nhưng chính Ta tự mình thí mạng sống Ta”. Cái chết thập giá không phải là kết quả của mưu đồ chính trị và là sự xui xẻo của những tình huống không lường trước (ngoài tầm kiểm soát), nhưng là sự dâng hiến chủ động của Con Thiên Chúa. Lần thứ 5, Chúa nói: “Ta có quyền thí mạng sống Ta”, Lm. Nguyễn Thế Thuấn chú giải: Chúa Ki tô có trong mình sự sống Cha đã thông cho, Ngài được xử lý theo ý định Cha, một cách hoàn toàn tự do.

Chúa Nhật 4 PS được gọi là Chúa nhật Chúa Chiên Lành, Giáo hội dành để cầu nguyện cho ơn Thiên triệu linh mục và tu sĩ, là những người dâng hiến đời mình để phục vụ giáo hội và nhân loại. Những người theo đuổi ơn Thiên triệu linh mục và tu sĩ được mời gọi sống theo gương Chúa Giê su, người mục tử nhân lành, Đấng yêu mến Chúa Cha nên đến để thi hành ý muốn Cha, dâng hiến đời mình để đàn chiên (dân Chúa) được sống dồi dào. Một nhà tu đức đã phân tích: khát vọng của ‘con tim hoàn toàn thuộc trọn về Chúa’ được thể hiện qua lý tưởng tử đạo và tu trì, nhưng lý tưởng này chỉ dành cho một số người, còn đa số người giáo dân được Chúa mời gọi bước vào sự từ bỏ thụ động khi họ già đi như một tu viện: họ bị tước bỏ đi những nhu cầu tình dục, sức khỏe giảm sút - sở hữu cạn kiệt...đến độ tùy thuộc mọi sự nơi con cháu hoặc xã hội, họ trở nên tự do (không bị ràng buộc) để có thể dâng hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa – cả mạng sống và cả cái chết.


                                                    

Con đường tu trì không bao giờ là con đường dễ dàng và nhẹ nhàng, và thực ra chẳng có gánh nặng nào là nhẹ - với thời gian. Hãy cầu nguyện nhiều cho các linh mục và tu sĩ, là những người đầu tàu trong các sinh hoạt Giáo xứ, là những vị đứng mũi chịu sào trong những phong trào kỳ thị và bách hại tôn giáo vẫn xảy ra hằng ngày khắp nơi trên thế giới. Đừng có thói quen xoi mói các linh mục và tu sĩ, vì như vậy thì có ai dám đi tu. Đừng đòi hỏi quá cao: các vị phải là gương mẫu trong các nhân đức và hoạt động, trong lúc mình là giáo dân thì lại ù lỳ và không có tinh thần cộng tác. Dù sao thì các linh mục và tu sĩ là những ánh sao lấp lánh trên bầu trời, là chứng nhân cho sự hiện diện của nước trời mai sau, vì nếu không tin rằng có nước trời mai sau, thì ai dám từ bỏ - đi ngược dòng đời và theo đuổi một Đấng vô hình như các Ngài? Chỉ cần các linh mục vắng nhà một tuần thôi, đời sống đạo của một giáo xứ đã rời rạc rồi. Tạ ơn Chúa vì các linh mục và tu sĩ vẫn hiện diện mỗi ngày bên cạnh chúng con, thật ấm lòng. Amen   



Thứ Ba, 6 tháng 5, 2025

Ta là bánh trường sinh

 



Thánh Gioan dành cả chương 6 để nói về Bánh trường sinh. Mở đầu với sự kiện Chúa Giê su làm phép lạ hóa bánh ra nhiều cho hơn 5.000 người ăn no, sau đó Chúa truyền cho các môn đệ lên thuyền sang bờ bên kia, hôm sau dân chúng đi tìm Chúa và gặp Ngài ở Capharnaum và Chúa nói với họ: các ngươi tìm Ta không vì dấu lạ mà vì được ăn bánh no nê, hãy tìm kiếm của ăn không hư nát: tin vào Con Người để được sống muôn đời, phần kết của diễn từ về Bánh Hằng sống là nhiều người bỏ đi vì họ thấy Lời Chúa quá chướng tai, và Thánh Phê rô tuyên tín: “Bỏ Thầy thì chúng con biết theo ai vì Thầy có những lời ban lại sự sống đời đời”.

Những lời Chúa nói về Bánh trường sinh được hiểu một cách rõ ràng về bí tích Thánh Thể, là lương thực nuôi sống linh hồn Ki tô hữu. Nhưng chúng ta phải hiểu bánh trường sinh trong một chiều kích rộng lớn hơn: Chúa Giê su là Bánh hằng sống từ trời xuống, ai tin nhận Ngài thì được sống muôn đời; Toàn bộ con người Chúa Giê su (nhập thể, cuộc sống ẩn dật, lời rao giảng, việc tử nạn - phục sinh) là ‘Bánh trường sinh’ nuôi sống nhân loại, mọi việc Chúa làm có giá trị cứu rỗi cho trần gian vì là của Con Thiên Chúa.

Khi mới bước vào lãnh vực truyền thông Ki tô giáo, có anh bạn chia sẻ về kỹ thuật viết bài như sau: “một bài viết hay phải có dàn bài ảo trong dàn bài thực”. Anh bạn đó chỉ ghi nhớ và truyền đạt lại lời anh nghe được từ Đức cha Vinh sơn, chính anh cũng không thể cắt nghĩa và không viết mẫu được. Thế nhưng đến hôm nay, khi đọc lại Tin Mừng Gioan, tôi khám phá ra thánh nhân đã thực hành kỹ thuật này từ xưa rồi và viết rất tuyệt hảo, ví dụ  khi nói về việc tái sinh ở chương 3, nước hằng sống ở chương 4 và Bánh hằng sống ở chương 6... Chúng ta cùng khám phá những tình tiết ở chương 6 này, ‘dàn bài ảo và dàn bài thực’ tương ứng với nhau và quyện vào nhau - tựa dòng nhạc 2 bè của bản tình ca: dân Do Thái đi bè trầm - những thực tại thuộc về đất (dàn bài thực); còn Chúa Giê su đi bè cao - nói về những thực tại cao siêu trên trời (dàn bài ảo). Cơn đói của đám đông khiến Chúa chạnh lòng thương nên đã làm phép lạ cho trên 5.000 người được no thỏa; nhân loại lầm than đói khát chân lý và tình thương và Chúa Cha đã ban cho họ Người Con yêu dấu, Đấng đến để ban cho họ lời hằng sống và máu cứu độ. Dân chúng đổ xô tìm kiếm Chúa, không vì tin vào dấu lạ của Lời Chúa dạy, nhưng vì để được no nê bánh vật chất; trong lúc Chúa mời gọi hãy tin vào Ngài là Bánh trường sinh đem lại sự sống muôn đời. Dân chúng chỉ nhìn Chúa bằng nhãn quan trần thế, là con ông Giu se và là một người làng Nagiaret; Chúa lại tự giới thiệu: Ta là Đấng từ trời mà đến để thực hiện công trình cứu độ và sẽ trở về trời là nơi mình đã phát xuất. Dân chúng nói tới man na là bánh từ trời xuống mà cha ông họ đã ăn và đã chết (phần xác); còn Chúa Giê su lại nói rằng chỉ có Ngài là Bánh đích thực từ trời xuống, ai ăn thì không bao giờ phải chết (phần hồn)… Đến đây thì bản song ca đã đến hồi kết, bánh Trường sinh đòi phải có sự chọn lựa: tin hay không tin.



Nếu bạn và tôi có mặt trong cử tọa hôm ấy, có lẽ chúng ta cũng bỏ đi như nhiều môn đệ, vì Chúa mạc khải những thực tại cao siêu về nguồn gốc thần linh của mình, trong lúc đám đông đối chiếu những lời đó với thân thế và nguồn gốc nhân loại của Chúa mà họ biết rõ … nên  họ thấy lời Chúa nói thật chói tai và sống sượng. Thế nhưng, sau 2000 năm, chúng ta hiểu biết lịch sử cứu độ và được Chúa Thánh Thần soi dẫn, chúng ta muốn tuyên xưng như Thánh Phê rô: “Lạy Thầy, bỏ Ngài chúng con biết theo ai, Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời”.

 

Thứ Bảy, 3 tháng 5, 2025

Thầy biết con yêu mến Thầy

 



Trong Tin Mừng ông Phê rô được nhắc đến nhiều lần: ông là một trong 3 môn đệ thân tín được chứng kiến những sự kiện quan trọng của Chúa, ông thay mặt anh em để tuyên xưng: “Thầy là Đức Ki tô, Con Thiên Chúa Hằng sống”, ông đã thề chết để bảo vệ Chúa, đã theo Chúa vào dinh Cai pha và chối Chúa 3 lần, vào buổi sáng Phục sinh ông đã chạy đến mộ Chúa và chứng kiến sự kiện ngôi mộ trống. Đoạn Tin Mừng Ga 21, 15 -19 là một đoạn Tin Mừng đặc biệt nói về ông Phê rô, qua đó nói về phẩm chất người lãnh đạo Giáo hội.

Câu hỏi đầu tiên ‘con có yêu mến Thầy hơn các anh em này không?’ là một câu hỏi đặc biệt hơn, vì hai lần kia Chúa chỉ hỏi: “Con có yêu mến Thầy không?” Chúng ta dừng lại ở câu hỏi đầu tiên để thấy rằng: Chúa đòi hỏi ông Phê rô phải đặt tình yêu Chúa trên mọi sự và và trên mọi người. Điều giáo lý căn bản này đã được các môn đệ trả lời với các vị lãnh đạo tôn giáo Do Thái: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người phàm”. Tình yêu Chúa phải nằm ở vị trí cao nhất và là nguồn mạch cho các mối quan hệ tình yêu nhân loại. Có người bảo: Chúa Giê su yêu nhân loại đến nỗi bằng lòng chịu chết trên thập giá, điều đó đúng, nhưng trước hết và cao hơn hết, Chúa Giê su yêu Chúa Cha nên đã vâng lời Chúa Cha trong chương trình cứu độ nhân loại. Các Ki tô hữu cũng như vậy, họ nhận biết Thiên Chúa là Đấng Tạo dựng mọi loài và an bài mọi sự, nên họ kính mến Chúa trên hết mọi loài và hơn mọi người – kể cả cha mẹ, ân nhân, vua chúa, vợ chồng và con cái… Và chính vì không ‘sùng bái’ cá nhân mà biết bao cuộc bách hại tôn giáo đã xảy ra. Tình yêu Chúa là nguồn mạch phát sinh và là khuôn mẫu cho tình yêu nhân loại: mọi người trên trần gian là anh em vì có chung một người Cha trên trời, tri ân cha mẹ là người cộng tác với Chúa để sinh thành và dưỡng dục ta, vợ chồng yêu thương và vâng phục nhau theo mẫu gương Chúa Ki tô hiến mình vì Hội Thánh. Con người học nơi Thiên Chúa sự trung tín, sự tha thứ, sự trao ban quảng đại, lòng thương xót...

Trong đời sống đạo, chúng ta dễ hiểu sai câu hỏi của Chúa Giê su “con có yêu mến Thầy hơn các anh em này không?” như một sự so sánh: ông Phê rô, để được đặt làm người lãnh đạo, phải yêu Chúa nhiều hơn các tông đồ khác. Người lãnh đạo Giáo hội không phải là người tốt nhất, giỏi nhất, tin mạnh nhất và yêu Chúa nhiều nhất… Sự so sánh của con người luôn khập khiễng, nhất là về những thực tại thiêng liêng và trừu tượng, đàng khác sự so sánh thường đưa đến sự ghen tị và kiêu ngạo hơn là giúp ta thăng tiến hơn trên đường nhân đức, vì thế chúng ta nên loại trừ sự so sánh trong đời sống đạo: ai phục vụ nhiều hơn, ai đáng được lên thiên đàng, ai đạo đức hơn… Một nhà tu đức đã nói: sự khiêm tốn là điều ta phải thường xuyên cầu xin, nhưng đừng bao giờ tạ ơn vì có nó. Câu chuyện người biệt phái và người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện đã nói lên chân lý đó.  Báo chí có nhiều bài viết về Đức Phan xi cô để nêu lên những gương sáng của ngài, tôi ghi nhớ một vài chi tiết và câu chuyện về ngài: Khi được bầu làm Giáo hoàng, trước khi ban phép lành đầu tiên, ngài đã xin mọi người cầu nguyện cho mình; câu nói nổi tiếng: tôi là một tội nhân; cử chỉ đáng nhớ: rửa chân và hôn chân các tù nhân; lời khuyên cho các gia đình: hãy luôn dùng 3 từ xin phép- xin lỗi-cảm ơn; bát đĩa có thể bay nhưng đừng để cơn giận qua đêm; ngài luôn gần gũi với người nghèo và dạy: khi giúp đỡ người nghèo nên đụng chạm và nhìn vào mắt họ, mỉm cười với họ - họ hiểu dù thuộc ngôn ngữ khác.



Có câu chuyện kể: Một người nọ trong giấc ngủ mơ mình đứng trước một tòa lâu đài, có hai cánh cổng –cánh cửa bên phải dành cho người có đức tin mạnh mẽ- còn bên kia là người đức tin hời hợt – anh ta đẩy cửa bước vào cánh cửa bên phải; đi tiếp thì lại có hai cánh cổng: bên phải dành cho người sống đức tin tích cực – còn bên kia dành cho người sống hời hợt, anh chọn cánh cổng bên phải và đi tiếp; lần nữa lại có hai cánh cổng: bên phải dành cho người sống bác ái và trung thành với Giáo hội còn cánh cửa bên kia dành cho người không quan tâm nhiều đến Giáo hội và công việc bác ái và anh ta lại chọn cánh cửa bên phải, anh đi tiếp và bỗng con đường dẫn anh đến một khoảng trống vô định và một lò lửa khổng lồ ở bên dưới… anh toát mồ hôi và tỉnh giấc. Thế đó, lòng kiêu ngạo dễ dẫn ta đến hỏa ngục. Dù bạn tham gia phục vụ Giáo xứ nhiều năm trời, dù bạn tham gia nhiều đoàn thể đạo đức, dù bạn chọn con đường tu trì, làm việc bác ái nhiều và đọc kinh nhiều… mà không có lòng mến Chúa, chỉ làm vì hư danh thì coi chừng vô ích. Mọi sự ta có là ân huệ Chúa ban, kể cả hạnh phúc thiên đàng. Đừng nghĩ những ân lộc ta có như tài năng, của cải, sự tôn trọng của tha nhân, niềm vui và sự bình an trong cuộc sống … là do đạo đức của mình và Chúa ban cho vì mình xứng đáng, nếu bạn tin như vậy thì đã cướp mất vinh quang của Thiên Chúa rồi đó.

Câu trả lời của Thánh Phê rô làm chúng ta cảm động: “Lạy Thầy, Thầy biết mọi sự, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Câu nói này biểu lộ một sự yếu hèn của phàm nhân dễ sa ngã và sự thông biết mọi sự của Thiên Chúa. Chính sự xác tín rằng ‘Chúa thấu biết mọi sự’ đã dẫn đến một sự bằng an trong tâm hồn ta: dù cho người đời vu oan giáng họa, lòng tôi vẫn an tâm, vì có Chúa biết và Chúa lo liệu; vì Chúa thấu suốt mọi sự nên ta phải giữ tâm hồn được trong sạch khỏi những mưu toan gian ác và ghen ghét trả thù. Lòng yêu mến phải biểu lộ trong hành động: siêng năng đến nhà thờ và cầu nguyện để biểu lộ tình yêu với Chúa; yêu người cũng phải biểu lộ bằng sự gần gũi và chăm sóc nhau. Thánh Gioan tông đồ nhắc: anh em đừng yêu bằng đầu môi chóp lưỡi, hãy cho kẻ đang đói những nhu cầu thiết yếu họ đang cần – thay vì chỉ nói: chúc anh được bình an.

Thứ Tư, 30 tháng 4, 2025

Giải mộng

 



Ngày lễ Thánh Giu se thợ, có lẽ có nhiều bài đọc được phép sử dụng trong phụng vụ. Sáng nay, cộng đoàn Giáo xứ Vinh Hương được nghe bài đọc 1 (Sáng Thế chương 39-41) và Bài Tin Mừng (Mt 1, 18-25) nói về hai ông Giu se. Cả hai ông Giuse có một điểm chung là tài giải mộng, đọc những giấc mơ.

Ông Giu se của thời Cựu ước là một người con của con ông Gia cop, người có tài giải mộng từ nhỏ, được cha yêu quý hơn các anh nên bị ghét và bán sang Ai cập.Vua Ai cập có hai giấc mơ: có 7 con bò béo xuất hiện, và sau đó có 7 con bò gầy yếu , những con sau này nuốt chửng 7 con bò béo mập; giấc mơ thứ hai là có 7 bông lúa trĩu hạt, liền sau đó 7 bông lúa gầy đã nuốt chửng 7 bông lúa mẩy kia. Các phù thủy cả nước được triệu tập đưa ra nhiều suy đoán nhưng không làm nhà vua thỏa mãn và một vị cận thần giới thiệu ông Giuse cho vua Pharaon. Ông Giu se giải mộng như sau: Cả hai giấc mơ chỉ là một, sẽ có 7 năm được mùa và tiếp đó là 7 năm mất mùa, nhà vua nên tích trữ thật nhiều lúa thóc để cứu nhiều dân tộc, và nhà vua đã cho xây nhiều kho lẫm khắp đất nước, đặt Giu se làm tể tướng với lệnh truyền: “Hãy đến cùng Giu se”. Qua nhân vật Giu se, chúng ta thấy chương trình của Chúa thật diệu kỳ, con người chỉ thấy điều trước mắt mà không thấy gì sau đường chân trời: Chúa đã gửi Giu se sang Ai cập như một người tôi mọi là để cứu sống cả một dân tộc Israel.

Ông Giu se của thời Tân ước là bạn của Đức trinh nữ Ma ria, là người cha nuôi Chúa Giê su. Ông Giu se xuất hiện như một nhân vật phụ trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Ông đã đính hôn với Đức Maria như một cặp vợ chồng bình thường, nhưng rồi Chúa cho ông hiểu Chúa cần sự đóng góp của ông cho một chương trình lớn hơn: Người con nuôi mang dòng họ Đavit của ông, Mẹ Maria có một nơi nương tựa vững chắc trước pháp luật, để ứng nghiệm lời Kinh Thánh về một trinh nữ sẽ sinh con mà vẫn còn trinh khiết. Chúa không hề hiện ra bàn bạc trước với Thánh Giu se mà chỉ ‘gợi ý’ qua những giấc mơ, điều lạ là khi tỉnh dậy, ông Giu se liền mau mắn thực hiện ý muốn của Chúa. Tin Mừng kể lại 4 gợi ý của Chúa: Đừng ngại đón Ma ri a về nhà làm vợ, vì hài nhi trong bụng là Con Đấng tối cao; Mau đưa hài nhi trốn sang Ai Cập; Đưa hài nhi về; Đừng về Bê lem mà về làng Na gia ret. Chắc chắn cuộc sống của Thánh Giu se còn có nhiều giấc mơ khác nữa nhưng không được ghi lại. Qua cuộc đời Thánh Giu se, chúng ta nghiệm ra Ngài là Người Công Chính, có nghĩa là có sự gắn bó mật thiết với Thiên Chúa, nhạy bén với những gợi ý tốt của Chúa, và thánh nhân đã hoàn thành nhiệm vụ của mình như một người đầy tớ tốt lành và trung tín của Thiên Chúa. Từng ngày một, Thánh nhân trở nên một cây bút chì dễ bảo trong bàn tay Chúa để Chúa vẽ gì tùy ý Ngài; và khi kết thúc cuộc đời, chắc chắn thánh nhân đã ồ lên kinh ngạc khi thấy chương trình hành động của Chúa thật tuyệt vời không sao kể xiết. Tôi đã từng có cảm nghiệm không bao giờ quên về một ‘dự án’ trong gia đình, từng sự kiện một diễn ra một cách rời rạc, nhưng Chúa cho chúng tôi thấy một cái kết ngoài dự tính của mình, Chúa được ví như chủ nhân của dự án, còn chúng tôi chỉ là những diễn viên bình thường thôi.

Lời Chúa mời gọi: ai muốn theo Ta, hãy vác Thập giá mình hằng ngày mà theo. Nghề nghiệp nào cũng có những điều phức tạp và nặng nề đến nỗi nhiều khi ta muốn bỏ gánh xuống và đôi khi rùng mình khi một ngày mới bắt đầu. Áp lực cuộc sống khiến nhiều người nghĩ đến đi du lịch một lát, có người tìm cách xả stress cách nào đó, nhưng có người bị cám dỗ đến việc quyên sinh. Đừng nghĩ rằng người có nhiều áp lực là cảm thấy cuộc sống nặng nề, mà cả những người vô công rồi nghề, có người trên đỉnh cao danh vọng và ê hề của cải cũng cảm thấy một sự trống rỗng và vô nghĩa của cuộc sống. Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi có Chúa hiện diện và đồng hành. Ngày lễ kính Thánh Giu se Thợ, Giáo hội mời gọi ta xem lao động như cơ hội nên thánh, chính lao động rèn luyện con người nên dũng cảm, vì chính Chúa Giê su dù là Con Thiên Chúa cũng phải trải qua đau khổ để học biết thế nào là vâng phục. Điều thứ hai là cần học tài giải mộng của Thánh Giu se: những gợi ý tốt đẹp của Chúa được gợi ý trong lương tâm con người, qua một bài giảng, qua một câu chuyện từ cuộc sống, hoặc một câu nói của ai đó… hãy cẩn thận cất giữ những gợi ý tốt, đừng để nó lọt sàng và đem ra thực hành, đó mới là đầy tớ khôn ngoan và trung tín của Chúa.

Thứ Ba, 29 tháng 4, 2025

Đấng cứu chuộc

 



Câu Tin Mừng Ga 3, 18 nêu bật một chân lý căn bản của Ki tô giáo rằng Đức Giê su là Đấng Cứu Chuộc nhân loại: “Như Moi sen đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời”. Người ta phân biệt cứu độ, là cứu vớt qua – từ bờ này qua bờ kia; còn cứu chuộc là bỏ ra một cái gì đó để lấy lại cái đã mất (từ điển Công Giáo 500 mục từ).

Qua cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Giê su, chúng ta được giải thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi, được trở thành con Thiên Chúa và được sự sống đời đời… chúng ta tuyên xưng Chúa Giê su là Đấng Cứu độ duy nhất và là Đấng cứu chuộc nhân loại. Nhưng trong đầu óc chúng ta hầu như chỉ nghĩ đến việc cứu rỗi phần hồn mà ít nghĩ đến một điều khá quan trọng khác: Chúa Giê su sống lại là một bảo đảm chắc chắn rằng thân xác chúng ta cũng sẽ được sống lại khi Chúa muốn (ngày tận thế, ngày Chúa Ki tô đến lần thứ hai trong vinh quang). Thời Chúa Giê su, phái Saduseo cũng không tin việc thân xác con người sẽ sống lại, họ đưa ra câu hỏi với Chúa Giê su: có một người đàn bà lấy 7 anh em ruột (theo luật Do Thái) mà không để lại mụn con nào, bà ấy là vợ ai trong ngày kẻ chết sống lại? Thời chúng ta cũng vậy, nhiều người tin rằng linh hồn (hồn thiêng) vẫn tồn tại cách nào đó, nhưng thân xác thì có lẽ tiêu tán luôn. Cũng vì lý do nào đó mà thời Giáo hội VN bị bách hại đạo, nhiều vua chúa đã nghĩ đến việc phân thây vứt xuống sông cho cá ăn, đầu thì bỏ vào cối giã nát rồi vứt xuống sông…Tôi nghĩ có hai lý do, một là họ muốn cười nhạo niềm tin vào việc thân xác sống laị của Ki tô giáo, hai là họ muốn xóa luôn vết tích còn lại của một con người – khỏi ai tưởng nhớ.

Thánh Phao lô đã suy luận: Đức Giê su đã sống lại từ trong cõi chết, vậy sao có người lại nói thân xác người ta sẽ không sống lại? Quả là nói gở, vì nếu thân xác người ta không sống lại thì Đức Ki tô cũng đã không sống lại. Và  trong  thư 1 Tx 4,16 : “Khi hiệu lệnh ban ra, khi tiếng Tổng lãnh Thiên thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống, và những người chết trong Đức Kitô sẽ sống lại trước tiên”. Vào thế kỷ trước, trong Giáo hội đã có việc tranh luận về việc hỏa thiêu: Giáo hội không chấp nhận việc hỏa thiêu để cười nhạo (thách thức) niềm tin vào việc sống lại của thân xác, nhưng chấp nhận việc hỏa thiêu như một giải pháp chôn cất bình thường của xã hội - chờ ngày được phục sinh. Đối với Chúa, dù thân xác ta trở về bụi đất, đốt thành tro rải xuống sông, tiêu tán trong bụng cá, dù tàn tật … thì chỉ một cái thổi hơi của Thần Khí, tất cả sẽ sống lại trong một thân xác sáng láng vinh hiển, kết hợp lại với linh hồn để được hạnh phúc hay để bị kết án đến muôn đời. Chúng ta gặp hình ảnh này trong sách tiên tri Ezekiel: Một cánh đồng xương khô, tiên tri được lệnh của Chúa để tuyên sấm, sau lời tuyên sấm – các xương khô đó chuyển động – các gân và thịt mọc ra và trở thành một đạo binh đông đảo (Ed 37, 7-10).



Niềm tin vào việc thân xác sống lại và có đời sau rất quan trọng, nó sẽ quyết định đến thái độ sống của chúng ta trên trần gian này: cuộc sống trên trần gian là để chuẩn bị cho cuộc sống mai hậu. Người Công giáo tôn trọng các phần mộ, tro cốt đã hỏa táng vì tin rằng thân xác loài người ngày sau sống lại. Nhưng chính niềm tin đó cũng dạy chúng ta cách thảo hiếu với người đã khuất: không chạy theo thói đời như phô trương phần mộ, hoặc một số tập tục nuôi mả bằng thức ăn vật chất… mà tập trung vào những hy sinh, cầu nguyện, xin lễ cho người đã khuất; vì sau cái chết thân xác con người sẽ đi vào mục nát - chờ ngày phục sinh.

Thánh Phao lô nói: “Anh em không biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Kitô sao?” (1 Cor 6,13-15) . Thánh ca Colosê ca tụng: Đức Ki tô là trưởng tử giữa mọi loài thụ sinh, Ngài là đầu của thân thể mình là Hội Thánh (Cl 1, 18-20). Theo suy luận thần học, thì Đức Ki tô là trưởng tử của một đoàn anh em đông đúc là chúng ta - những kẻ tin vào Ngài, Ngài sống lại vinh hiển thì em út cũng được chia sẻ sự sống lại như vậy; hình ảnh cùng một thân thể thì lại càng dễ hiểu hơn nữa. Như vậy ca mừng Chúa đã phục sinh, chúng ta hân hoan vì được trở thành những tạo vật mới, linh hồn sẽ trở về nhà Cha trong ngắn hạn; và trong dài hạn, cả thân xác cũng sẽ sống lại hiển vinh, cùng với hồn được chiêm ngưỡng vinh quang Chúa đến muôn ngàn đời. Amen

Thứ Bảy, 26 tháng 4, 2025

Niềm tin vào Chúa Phục Sinh

 



Sự kiện Chúa Giê su chịu tử nạn và Phục Sinh nằm ở trung tâm của niềm tin Ki tô giáo: ai tin thì được cứu rỗi, ai không tin thì không được hưởng ơn cứu độ. Trong lịch sử 2000 năm nay, không thiếu những kẻ không tin vào Đức Giê su là Thiên Chúa thật và là người thật, dẫn đến việc họ không hiểu đúng cái chết chuộc tội của Con Thiên Chúa; và càng nhiều người không chấp nhận sự sống lại của Chúa Giê su, dẫn đến cái chết trầm luân vì sự cứng lòng: họ được ví như người chết khát bên đập nước.

Trong mùa Phục Sinh, chúng ta đào sâu đến sự kiện Chúa Giê su sống lại. Hai sự kiện được kể là bằng chứng phục sinh là ngôi mộ trống và việc làm chứng của những người đã được gặp Chúa (trực tiếp và trong đức tin). Cả hai sự kiện đều khó tin và khó xảy ra nếu không có một quyền lực từ trên cao. Khi Thánh Phaolô đến thành Athena, ở đó có bàn thờ kính ‘Thần vô danh’, ngài giảng cho họ về Đấng tạo dựng trời đất, đã sai Con mình đến trần gian để mạc khải những mầu nhiệm nước trời, đã chết để chuộc tội, và đã sống lại… Nghe đến việc người chết sống lại thì họ lắc đầu cười nhạo và rút lui; điều đó chứng tỏ rằng: vấn đề Chúa Giê su sống lại rất khó tin và khó chấp nhận cho người mọi thời, kể cả hôm nay. Trong những bài giảng đầu tiên của Thánh Phê rô cho người Do Thái, ngài đã nêu bật vai trò và vị trí của Chúa Giê su: Thiên Chúa đã tôn vinh Đức Giê su làm Chúa và là Đấng Ki tô, và ở dưới vòm trời này không có Danh nào khác mang lại ơn cứu độ.

Trong tuần bát nhật vừa qua, chúng ta được nghe khá đầy đủ những lần hiện ra của Đấng Phục Sinh. Có một dàn bài tổng quát cho những lần hiện ra: thân xác phục sinh của Chúa không lệ thuộc vào không gian, Chúa mang nhiều dáng vẻ khác nhau nên các môn đệ không nhận ra ngay, có lúc tưởng là thấy ma – chỉ khi Chúa tỏ ra một dấu chỉ nào đó thì họ mới nhận ra; tuy thấy Chúa rồi nhưng họ vẫn ở lại trong sự sợ hãi; Chúa Giê su thổi hơi và ban Thánh Thần cho họ và sai họ ra đi trở thành nhân chứng của Chúa Phục sinh. Chúng ta nhận ra rằng: Chúa tràn đầy lòng thương xót  khi hiện ra với các môn đệ: Chúa bỏ qua những yếu đuối của họ trong cuộc thương khó, Chúa không chấp sự cứng lòng tin của họ khi tưởng Chúa là ma, Chúa không trách khi họ sợ hãi tụ họp trong phòng kín… Vì Chúa đã trở nên người phàm và tên của Chúa là Lòng Thương Xót.

Tuy vậy, dường như hoạt động Thánh Thần chưa mãnh liệt – phải đợi đến lễ Ngũ Tuần thì Giáo hội mới thực sự hồi sinh: các nhân chứng mạnh dạn làm chứng, những ơn chữa lành – nói tiếng lạ - những mẻ cá 5.000 -7.000 linh hồn chỉ trong một ngày. Thời đại chúng ta đang sống được xem là là thời đại của Chúa Thánh Thần, nhưng có người lại nói thời đại này là thời đại hậu Ki tô giáo, có nghĩa là đạo Chúa đã lỗi thời và đang giẫy chết. Nhiều khi chúng ta cũng có cảm tưởng rằng những dấu lạ và những ơn chữa lành không mấy khi xảy ra nữa, nhân loại chìm ngập trong hận thù, đau khổ và chiến tranh, sự ích kỷ và lối sống hưởng thụ dường như đè bẹp những giáo huấn yêu thương bác ái của Tin Mừng, người xấu nhiều hơn người tốt. Người có cái nhìn bi quan thì thích ở lại trong sự buồn thảm của chiều thứ 6 tử nạn hơn là bước đi trong ánh sáng của Chúa Phục sinh.

Tình trạng 'lúa và cỏ lùng chung sống cho tới mùa gặt' nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa, để niềm tin của mỗi người được trui luyện. Ngay trong ví dụ lúa và cỏ lùng, chúng ta nhận ra sự lạc quan của Thiên Chúa: dù có những hạt rơi trên đá sỏi, bên vệ đường, trong gai góc… bị thất bại và lãng phí, tuy nhiên vẫn có những hạt rơi vào đất tốt và trổ sinh hoa trái dồi dào. Mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa cũng diễn ra như vậy: việc chọn người cộng tác, việc Chúa rao giảng trong thời gian quá ngắn và thành quả chẳng bao nhiêu, cái chết và phục sinh còn nhiều tranh cãi thì Chúa lại rời bỏ địa cầu để lên trời. Nếu một công trình nhân loại mà tổ chức như vậy thì chỉ có thất bại, nhưng Cứu Chuộc là công trình của Chúa, Giáo hội là thân mình của Chúa và sức mạnh thực sự của cánh đồng truyền giáo là Chúa Thánh Thần. Trải qua biết bao thăng trầm và bắt bớ trong suốt lịch sử 2000 năm nay, Giáo hội vẫn trường tồn dù trong tay chẳng có sư đoàn bộ binh nào cả, và Giáo hội đó sẽ muôn đời kiên trung, như lời xác tín của chính Chúa. Cha Kim Long có viết bản nhạc ‘Chúa không lầm’: “Chúa không lầm khi Ngài đành hy sinh, để rồi nhìn con không đáp tình, vì Chúa đã biết từ ngàn xưa: còn mang thân thể nặng nề, là còn luôn mê mải trần thế. Nhưng lòng Chúa quá bao la, dù cho bao phen con yếu đuối, thành tâm xin ăn năn sám hối, là Ngài lại thứ tha”. 




Câu tuyên xưng đức tin của Thánh Tô ma đáng cho chúng ta ghi nhớ: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con”. Mục đích cao nhất của Giáo dục Kitô giáo là giúp cho người khác nhận ra sự thiện tối thượng của cuộc đời là Thiên Chúa: Một người dù có rất ít của cải nhưng có niềm tin vào Chúa thì được kể là người giàu có, vì có Chúa là có tất cả. Niềm vui của người Ki tô hữu bắt nguồn từ việc được làm con cái Chúa, được Chúa yêu thương, nâng đỡ và đồng hành trên con đường tiến về quê trời. Sức mạnh của Chúa Phục Sinh là có thật và mãnh liệt, giúp ta thắng vượt những nết xấu nơi bản thân, và đóng góp phần nhỏ nhoi của mình vào việc làm chứng nhân cho Chúa.