Danh sách Blog của Tôi

Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2025

Thầy mang lửa vào trần gian

 



Lối văn Thánh Luca thường dùng là kể chuyện, nhưng hôm nay Thánh nhân lại ghi lại những lời tâm huyết và sâu sắc của Chúa Giê – thường thấy trong Tin Mừng Gioan: “Thầy mang lửa vào trần gian, phải chi lửa đó cháy bùng lên, lòng Thầy khắc khoải biết bao đến giờ chịu phép rửa” (Lc 12, 49-50).

Lửa mà Chúa Giê su nói tới là gì? – là Tình yêu, là ơn cứu độ, là Chúa Thánh Thần. Chúa Giê su nói đến một sự khắc khoải vì đây là một việc hệ trọng sống còn và là một việc khó khăn. Tin Mừng Gioan thường nói đến ‘giờ’, là điểm hẹn – giờ tự hiến – giờ Con Người được tôn vinh- giờ tử nạn và phục sinh… và trước khi trút hơi thở cuối cùng, Chúa thốt lên: “Mọi sự đã hoàn tất”. Đọc đoạn Tin Mừng Luca hôm nay, lòng chúng ta bùng cháy một sự thương cảm: Chúa Giê su mong muốn ngọn lửa tình yêu bùng cháy trên địa cầu này. Hai người yêu nhau phải là người bạn tâm giao của nhau, hiểu những khao khát – thao thức và sự tinh tế trong tâm hồn của nhau: "Thầy gọi các con là bạn hữu, vì những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha thì Thầy đã cho các con biết" (Ga 15, 15).

Đoạn Tin Mừng Luca mạc khải một chân lý quan trọng: Có sự sống đời đời. Vì nếu không có sự sống đời đời thì Chúa Giê su không khắc khoải đi đến một cái chết ô nhục, vô nghĩa. Cái chết của Chúa Giê su là cần thiết để chuộc tội, bởi đó có một sự hợp lý (logic) trong công trình cứu độ, từ việc chuẩn bị (báo trước) lâu dài trong Cựu Ước, trong việc nhập thể - rao giảng – nhiều lần Chúa nói về Cuộc tử nạn và phục sinh (điều mà chẳng ai muốn nghe vì khó hiểu, vì sợ). Bởi đó, thư Do Thái dạy: “Hãy noi gương đám đông nhân chứng vây quanh, hãy cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi trói buộc. Hãy kiên trì trong cuộc đua của mình, dán mắt vào Chúa Giê su, Đấng là khởi nguồn và là cùng tận đức tin của chúng ta” (Dt 12, 1-4).



Có một câu hỏi được đặt ra: Chúa Giê su là Hoàng Tử Bình an hoặc là người mang gươm giáo và chia rẽ?- Thưa là cả hai, Chúa là Hoàng tử Bình An vì Ngài là Đấng Cứu Chuộc – hòa giải con người với Thiên Chúa và mọi người trở thành anh em của nhau, nhưng đàng khác Ngài lại đòi buộc con người phải đưa ra chọn lựa dứt khoát đứng về phía Thiên Chúa hay Sa tan – gây nên chia rẽ từ trong tâm hồn và gia đình mình. Đứng trước sự kiện Đức Giê su, con người phải đưa ra chọn lựa: một là tin tất cả, hai là không tin gì cả. Nếu tin tất cả: Ngài là Con Thiên Chúa làm người để cứu độ nhân loại, Lời Ngài nói là sự thật – là chân lý, là Lời từ trời mạc khải con đường cứu độ. Nếu không tin: Giê su là nhân vật tưởng tượng hoặc cùng lắm thì chỉ là con người xuất hiện trong lịch sử– nhưng được thêu dệt những tình tiết siêu việt tưởng tượng.

Có lúc tôi tưởng rằng: lý tưởng phổ quát của người Ki tô hữu là ‘nên hoàn hảo như Cha trên trời’, nhưng các nhà tu đức dạy rằng: Lý tưởng phổ quát nhất của con người là làm vinh danh Chúa và rao truyền tình yêu của Ngài... vì trước lúc về trời, Chúa Giê su truyền dạy: "Các con hãy đi khắp muôn dân, rao giảng Tin Mừng, rửa tội cho họ nhân danh Cha, Con, Thánh Thần, dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã dạy" (Mt 28, 19). Lệnh truyền làm sáng danh Chúa được thể hiện nơi Thánh Don Bosco: “Da mihi animas, coetera tolle – Xin cho tôi các linh hồn, còn mọi sự khác cứ lấy đi”. Thánh Don Bosco muốn nói  đến đối tượng ưu tiên của sứ mệnh của Ngài là phục vụ con người, cách riêng những người nghèo đói, khuyết tật, mồ côi, bị bỏ rơi bên lề xã hội.  Châm ngôn của dòng Tên là: "Ad Majorem Dei Gloriam", có nghĩa là "Vì vinh quang lớn hơn của Chúa".

Nhà tu đức dạy: Đối nghịch của tình yêu không phải là hận thù và ghét bỏ, mà là bỏ mặc, không quan tâm. Ngọn lửa tình yêu đã thiêu đốt quả tim Chúa Giê su, thúc đẩy Ngài chấp nhận thi hành kế hoạch Chúa Cha đã muốn: Con Thiên Chúa tự hủy và tự hiến, yêu con người đến tận cùng. Hình ảnh cụ thể nhất là quả tim Chúa bị đâm thâu và Hội Thánh được sinh ra từ vết thương tình yêu đó... thế nhưng, con người thường hững hờ! Đám đông Dân chúng đã nhìn Đấng họ đã đâm thâu một cách bàng quan, dù tai họ đã nghe một tiếng kêu tha thiết được vang lên từ trên thập giá: "Ta Khát". Chúng ta hãy chiêm ngắm và thờ lạy Đức Giê su khổ giá - là cội nguồn và cùng tận của ơn cứu chuộc mà Thiên Chúa đã ban tặng cho nhân loại.

Thứ Tư, 13 tháng 8, 2025

Maximilianô Kolbe

 


(Sưu tầm. Nguồn: Tgp Saigon)

1.      ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ

 

Cha Maximilianô Kolbe sinh tại Zdusnka Wola, nước Balan, ngày 8-1-1894. Năm 1907, nhập học tại chủng viện dòng Phanxicô, được gởi qua học ở Roma. Ngày 28-04-1918, thụ phong linh mục. Là một tông đồ nhiệt thành về lòng sùng kính thánh mẫu Maria, Cha Kolbe đã tích cực cổ võ lòng tôn sùng ấy đặc biệt bằng báo chí (Nguyệt san “Người hiệp sĩ của Đức Mẹ Vô Nhiễm”) phát hành một lần tới một triệu số năm 1938) và bằng một trung tâm thánh mẫu. Năm 1930, cha qua Nhật và thành lập một trung tâm tương tự. Năm 1936, cha trở về Balan.

 

Ngày 1-9-1939, quân đội Đức của Hitler tấn công Balan, mở đầu cho cuộc thế giới chiến tranh thứ II. Mười ngày sau, mật vụ Đức bắt giam cha Maximilianô Kolbe gần ba tháng. Được trả tự do, cha trở lại đời sống hoạt động tông đồ cho đến ngày 17-2-1941, thì bị bắt lại. Và lần này cha bị giam ở trại tập trung Auschwitz, nơi đã từng tiêu diệt 6 triệu người Do Thái và vô số những người khác trong các phòng hơi ngạt. Cha Kolbe cũng chết tại đó.

 

30 năm sau, ngày 17-10-1971 tại thánh đường Phêrô, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã long trọng phong cha lên hàng chân phước. Tại buổi lễ này người ta thấy có sự hiện diện của cụ Giasowniczek, người mà trước kia cha Maximilianô Kolbe đã chết thay cho.

Rồi ngày 10-10-1982 Đức Gioan Phaolô II đã phong Ngài lên bậc hiển thánh.

 

2.      CHỨNG NHÂN ANH DŨNG

 

“Hôm ấy là ngày 30/7/1941, trong nhà giam số 14 tại trại tập trung Auschwitz, nơi mấy tháng trước đó, một nhóm tù nhân vừa được dẫn tới, trong đó có cha Maximilianô Kolbe, tu sĩ dòng Phanxicô Balan. Hôm ấy thiếu mất một tù nhân. Các tử tù biết rằng cứ một tù nhân đào thoát là hai mươi tù cùng trại phải nhịn ăn cho đến chết. Đêm ấy không ai trong khu nhà giam chợp mắt được. Mọi người đều sợ hãi, mặc dù nhiều lúc họ vẫn mong chờ cái chết đến để giải thoát họ. Chết dưới làn đạn, có lẽ còn chịu được, nhưng chết đói chết khát thật là một cái chết kinh sợ nhất. Từ căn nhà hành hình, phát ra những tiếng la rú rùng rợn. Đêm ấy, cha Kolbe lo an ủi đồng bạn và giải tội cho những ai cần.

 

Sáng hôm sau khi điểm danh, tên cai ngục đã báo tin người ta đã không tìm lại được kẻ đào thoát. Cả trại 14 đứng im như trời trồng và hồi hộp chờ án lệnh. Viên cai ngục dừng lại trước hàng những tù nhân và tuyên bố: “Mười đứa trong tụi bay sẽ chết thay nó. Lần sau sẽ là 20 đứa”. Tuyên bố xong hắn ta chậm rãi đi ngang qua hàng đầu, có vẻ suy nghĩ, rồi nói : “Tên này... tên này... tên này. Tất cả 10 người. 10 người bị tử hình”. Lúc đó một trong số những người ấy kêu lên: “Ôi vợ tôi, các con tôi!”. Những người còn đứng trong hàng ngũ thở ra nhẹ nhõm.

 

Nhưng rồi một chuyện bất ngờ xảy ra: Có một người tù không thuộc nhóm những người bị chỉ định, mạnh dạn bước ra khỏi đám người đang xếp hàng im lặng trong sợ hãi, nhìn thẳng vào người cai ngục. Tên này kinh ngạc lùi lại một chút rồi hô to: “Đứng lại!”

Cha Maximilianô Kolbe dừng lại trước mặt y. Thế rồi một cuộc đối thoại chưa từng nghe đã diễn ra. Một cuộc đối thoại điên khùng mà những người sống sót đã kể lại thật chính xác:

- Xin ông cho phép tôi được chết thay cho một trong những người bị lên án này!

Viên cai tù kinh ngạc nhìn cha.

- Anh là ai ?

- Là một linh mục công giáo.

- Anh muốn chết thế cho ai?

- Người này. Cha Kolbe chỉ vào người vừa mới la khóc.

- Tại sao?

- Bởi vì đời tôi không còn giúp ích gì mấy. Trong khi ông này còn có gia đình.

Viên cai trại suy nghĩ, rồi đưa tay ra hiệu đồng ý. Cha Kolbe nhập bọn với đám tử tội.

 

Một phút im lặng. Không ai hiểu rõ sự việc vừa xảy ra.

Các tù nhân bị lột hết quần áo, nhốt vào một căn hầm. Kể từ giây phút đó, người tù không còn gì để ăn và điều kinh khủng là không có gì để uống nữa.

Trước kia căn nhà hầm này luôn vang lên những tiếng kêu la thảm thiết. Thật là một địa ngục nhỏ. Nhưng lần này có cái gì đã thay đổi. Mấy người lính Đức quốc xã rất đỗi ngạc nhiên. Đám tử tù cầu nguyện và ca hát. Vẫn có tiếng rên rỉ, nhưng không còn là những tiếng kêu tuyệt vọng nữa.

Ngày thứ 12, tức ngày 14-08-1941 cửa phòng giam đói được mở ra. Mọi người đều đã chết, trừ một mình cha Kolbe, với đôi mắt vẫn sáng dù thân mình tàn rũ. Cha ngồi giữa đất, đầu tựa vào tường, thân mình ngay thẳng và khuôn mặt rạng rỡ. Viên cai ngục bắt ngài đưa tay ra và chích cho một mũi thuốc độc ân huệ. Vị linh mục chết ngay. Họ đưa xe đến xúc xác ngài và các bạn tù đem đi. Như bao nhiêu người khác, xác cha bị hoả thiêu trong lò và nắm tro tàn bị ném tung trong gió bốn phương.

 



3.      THAY CHO LỜI KẾT

 

Đây là lời của Đức thánh Cha Phaolô VI

“Lịch sử sẽ không thể quên được trang sử ghê tởm này (của thời Đức quốc xã) nhưng giữa sự kinh hãi, người ta vẫn không thể không nhận ra những tia sáng tố giác bóng tối và đồng thời lướt thắng bóng tối. Một trong những tia sáng ấy, và có lẽ là tia sáng rực rỡ hơn hết, được ban cho chúng ta trong khuôn mặt tiều tụy và bình thản của cha M. Kolbe, vị anh hùng luôn bám chắc vào một niềm hy vọng nghịch lý nhưng có suy nghĩ. Tên tuổi Ngài mãi mãi lớn lao và sẽ nhắc nhở cho ta thấy rằng giữa những con người khốn khổ, vẫn có thể tồn tại những năng lực và giá trị luân lý phong phú biết bao!” (Bài giảng của Đức Phaolô VI…)

 

LỜI BÌNH

Thánh Tê rê xa Hài Đồng và Thánh Maximilianô Kolbe rất được yêu mến vì linh đạo của các Ngài rất gần gũi với đời thường của mọi Ki tô hữu, dù ở bậc sống nào. Cuộc tử đạo của Thánh Maximilianô Kolbe rất giống với cái chết của Chúa Giê su: tự nguyện, tha thứ, hy sinh tính mạng vì bạn hữu: tử đạo vì lòng mến.Trong một xã hội đề cao vật chất và hưởng thụ vẫn có những bông sen nở ra, tươi sáng và không tanh mùi bùn, có điều là bạn còn nhận ra nét đẹp của lòng cao thượng nữa hay không? – Đó là những hy sinh âm thầm của người bạn đời vẫn ngày ngày chu toàn bổn phận với tình yêu mến, đó là những người chọn con đường tận hiến, đó là các người đảm nhận những công việc trong giáo xứ… Sự hy sinh của họ đã âm thầm kích thích lòng quảng đại nơi người khác, vì việc tốt có khuynh hướng lan truyền.


Thứ Ba, 12 tháng 8, 2025

ĐẤNG Ở GIỮA

 



(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế) 

Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ!”.

Mỗi khi phải trả lời cho ai đó xúc phạm mình, Lincoln thường viết một lúc hai lá thư. Lá thứ nhất với những lời lẽ nặng nề được viết xuống như trút giận; sau đó, ông xé vụn và viết lá thứ hai. Thư này từ tốn, tế nhị và kín đáo. Người ta hỏi tại sao ông có thể làm được như vậy? Tổng thống trả lời, “Có một Đấng ở giữa chúng tôi!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cũng nói đến một ‘Đấng ở giữa’ những người nhân danh Chúa Giêsu; một Đấng đang nâng đỡ, bảo toàn, để họ có thể cùng nhau cầu nguyện, hát khen, “Xin chúc tụng Thiên Chúa. Người là Đấng bảo toàn mạng sống con!” - Thánh Vịnh đáp ca.

Môsê - “tôi trung”, “người bạn”, “được nghĩa” với Chúa - về với tiên tổ, “Ông được mai táng trong thung lũng ở miền đất Môáp. Cho đến ngày nay, không ai biết mộ ông ở đâu!” - bài đọc một. Không thành vấn đề Môsê có vào Đất Hứa hay không, mộ của ông mất hay còn; điều quan trọng vẫn là một ‘Đấng ở giữa’ ông và con cái Israel. “Sự vĩ đại không nằm ở chỗ ta kết thúc ở đâu, mà ở chỗ ‘ai’ vẫn bước đi nhờ ta!” - Howard Schultz. Môsê không vào đích nhưng dẫn Israel đến sát bờ Đất Hứa.

Tin Mừng cho thấy điều tương tự, “Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ!”. Đây là một lời hứa ‘táo bạo’, đầy cảm hứng! Lời này tiết lộ Chúa Giêsu muốn chúng ta cầu nguyện với người khác, với Hội Thánh; và “người khác” tuyệt vời nhất chính là Ngài. Qua đó, Hội Thánh hiệp nhất lời cầu của mình với lời cầu vĩnh cửu, duy nhất của chính Chúa Kitô. Điều này được thực hành rõ nét nhất trong phụng vụ thánh mà chóp đỉnh là Hy Tế Tạ Ơn. “Thánh Lễ là khoảnh khắc Trời ôm đất và Chúa ôm lấy từng người!” - Fulton J. Sheen.

Như vậy, bất cứ khi nào chúng ta nên một với nhau - dù không ở bên nhau - để cầu nguyện, Chúa Kitô vẫn ở giữa chúng ta. Kỳ diệu thay, Ngài không ở đó cách thụ động nhưng luôn tích cực, biến đổi và mang lại sức sống. Chúng ta không được phép đánh giá thấp các cuộc tụ họp này, cũng không đánh giá thấp sức mạnh biến đổi của ân sủng, bất kể các buổi cầu nguyện đó ‘nhỏ’ đến mức nào! “Không có buổi cầu nguyện nào, Thánh Lễ nào nhỏ đến mức không lay động cõi trời!” - Fulton Sheen.

Anh Chị em,

“Có Thầy ở đấy, giữa họ!”. Mỗi khi cầu nguyện, chúng ta cùng nhau, cùng Chúa Kitô, cùng Hội Thánh dâng lên Cha Trên Trời lời ca khen và cầu cho mọi nhu cầu xác hồn cho thế giới, cho Hội Thánh và cho mình. Ý nghĩa biết bao khi cùng nhau cất cao Kinh Lạy Cha - ‘ma trận’ của mọi lời cầu - trong Thánh Lễ hoặc trong những buổi ‘hẹn hò’ để cầu nguyện trực tuyến với những người khác trên thế giới. “Trong mỗi Thánh Lễ, trung tâm không phải là chúng ta, mà là Đấng đang ở giữa chúng ta!” - Bênêđictô XVI. Tuyệt vời! Tất cả đều mang một giá trị nhất định như chính Ngài - ‘Đấng ở giữa’ - đã hứa!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, trong mỗi Thánh Lễ, cho con không bao giờ quen với sự thật: Chúa đang ở đây, giữa chúng con hầu con biết run sợ - một sự run sợ thánh thiện!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế) 


Lời bình:

- Một dấu hiệu rõ ràng nhất chứng tỏ lòng đạo đức là một người có siêng năng cầu nguyện với cộng đoàn hay không, có năng tham dự thánh lễ hằng ngày không?

- Một dấu hiệu rõ ràng nhất tỏ ra một người có đức tin sống động là người đó có nghiêm trang khi ở trong nhà thờ, nhất là nhà thờ đó có Mình Thánh (biểu hiện là có đèn chầu), và nhất là khi Mình Máu Chúa hiện diện trong Thánh Lễ. Có người nói chuyện quá nhiều, đứng ngồi vặn vẹo, nhìn ngang ngó dọc: mình đã không cầu nguyện – còn làm người khác khó cầu nguyện.

- Một người tử tế được dạy rằng: Hãy làm những cử chỉ giao tiếp một cách có ý thức, đừng làm cách hời hợt… một cái bắt tay, một câu thăm hỏi, một cái gật đầu, một nụ cười. Trong phụng vụ có thể phân ra hai loại bái chào: cúi đầu và cúi mình, ta cúi đầu chào các tượng thánh và chúc bình an, ta cúi mình sâu khi bái chào Thánh Thể: trước đây thường bái gối, nay thường bái sâu – nếu buông tay thì hai đầu bàn tay phải chạm đầu gối. Đừng làm ngược lại: có người chúc bình an mà lại bái sâu, người khác bái chào Thánh Thể mà chỉ cúi đầu! Hãy thể hiện đức tin và sự ý thức qua những cử chỉ và thái độ nơi thờ phượng, vì có Chúa Giê su là chủ nhà đang hiện diện.

 

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2025

Hóa nên như trẻ nhỏ (Mt 18, 3)

 



Câu trên được trích từ bản văn được dùng trong Phụng vụ. Để hiểu thêm, chúng ta cùng đọc thêm bản văn của nhóm PVGK: Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ. Một bản dịch tiếng Anh viết: Unless you change and become like children. Điều này muốn nói với chúng ta rằng: chúng ta phải thay đổi vì chúng ta không còn giữ được tinh thần trẻ thơ – đã là người lớn: không còn tự hạ và khiêm tốn, tưởng rằng mình có thể lo liệu cho mình – kể cả việc nên thánh. Và Chúa Giê su xác quyết: Người lớn nhất trong nước trời là kẻ tự hạ và trở nên như em nhỏ này.

Xin trích một vài tư tưởng của Đức Phan xi cô trong Thông Điệp Dilexit nos (Người đã yêu thương chúng ta). Thông điệp này bàn về việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giê su, trái tim thường được dùng để diễn tả tình yêu. Thông điệp nhắc đến tên nhiều vị Thánh – nêu lên trọng tâm thờ phượng Ki tô giáo cốt ở việc tự hủy (ý thức sự hư không của mình) và tín thác hoàn toàn vào tình yêu của Thiên Chúa.

Chúa Giê su đã nhiều lần hiện ra với Thánh Margaret Marie Alacoque (năm 1673-1675) và đã mạc khải cho Thánh Nữ: tình yêu cháy bỏng vô bờ bến của Ngài dành cho nhân loại, loài người lại vô ơn và thờ ơ với tình yêu Chúa và với bí tích Thánh Thể, Chúa hứa ban những ơn lành cho ai tôn thờ Thánh Tâm Chúa. Thánh Claude de La Colombière (người cổ võ những mạc khải trên) nhấn mạnh rằng: việc chiêm ngắm trái tim Chúa Giêsu, nếu chân thực, sẽ không gây ra sự tự mãn hay sự tự tin phù phiếm vào những kinh nghiệm của chính chúng ta hay những nỗ lực con người, mà đúng hơn đó là sự phó thác hết mực vào Chúa Kitô.

Khẩu hiệu giám mục của Đức Hồng y John Henry Newman “Cor ad cor loquitur” (Trái tim nói với trái tim) cho chúng ta thấy, đối với ngài, cuộc đời làm người Kitô hữu phải khắc ghi ước nguyện được sống kết hiệp với Trái Tim Chúa. Các vị thánh nhắc chúng ta một điều: việc chiêm ngắm tình yêu vô biên Thiên Chúa dành cho nhân loại rất quan trọng - chính đáng và mang lại nhiều ích lợi cho tâm hồn, việc thờ ơ với tình yêu Thập giá và Thánh Thể là điều làm buồn lòng Chúa, nhưng điều quan trọng nhất là Cor ad cor loquitur: lòng kề lòng, trái tim Chúa và quả tim ta hòa điệu với nhau, tình yêu đáp lại tình yêu.



Charles de Foucauld, khi chưa làm linh mục, thường được người chị thúc giục đến viếng Thánh Thể, ngài đã được đánh thức để có nhận thức thâm sâu về tình yêu của Chúa Giêsu như là điều cốt yếu của tu đức, và tập trung vào lòng sùng kính trái tim Chúa Giêsu, nơi ngài gặp được lòng thương xót vô biên. Tình bạn của ngài với Chúa Giêsu, từ trái tim đến trái tim, không phải là một lòng đạo đức riêng tư. Nó đã truyền cảm hứng cho cuộc sống khắc khổ mà ngài đã sống ở Nadaret, xuất phát từ mong muốn bắt chước Chúa Kitô và trở nên đồng hình đồng dạng với Người.

Thánh Tê rê xa Hài Đồng viết: Con thấy rằng chỉ cần nhận ra sự trống rỗng của mình và phó thác chính mình như một đứa trẻ trong vòng tay của Chúa”. Công trạng không cốt ở làm nhiều hay cho đi nhiều, mà đúng hơn, cốt ở đón nhận. Khi mười lăm tuổi, Têrêsa có thể nói về Chúa Giêsu như là Đấng “có trái tim đập cùng nhịp với trái tim tôi. Hai năm sau, khi nói về hình ảnh trái tim của Chúa Kitô đội mão gai, Têrêsa đã viết trong một lá thư: “Chị biết rằng em không nhìn Thánh Tâm như mọi người khác. Em nghĩ rằng Trái Tim của Phu Quân chỉ là của riêng em, cũng như trái tim em là của riêng Người, và vì thế em nói chuyện với Người trong sự riêng tư của cuộc trao đổi lòng kề lòng thú vị này, trong khi chờ đợi một ngày được chiêm ngưỡng Người mặt đối mặt”. Lòng sùng mộ ấy, liên quan nhiều đến tình bạn và sự tín thác hơn là cậy dựa vào những hy sinh của mình.


Một nhà tu đức nói: Nhân đức mà con người phải luôn cầu xin và không được tự hào vì có nó, là sự khiêm tốn. Tôi dám chắc là ai trong chúng ta đều phải xưng tội kiêu ngạo trong mỗi lần xưng tội, nhưng đừng ngã lòng, vì lòng thương xót Chúa còn lớn lao hơn bất cứ tội lỗi nào của con người. Thánh Tê rê xa nói tiếp: “Nếu tôi đã phạm tất cả mọi tội ác, thì tôi cũng luôn có cùng sự tín thác; tôi cảm thấy rằng toàn bộ núi tội lỗi ấy sẽ giống như một giọt nước ném vào lò lửa cháy rực. Hãy nhìn một đứa trẻ vừa quấy rầy mẹ mình… Nếu nó đến với mẹ, dang rộng đôi tay nhỏ bé, mỉm cười và nói: ‘Mẹ hôn con đi, con sẽ không làm thế nữa đâu’, liệu mẹ nó có thể không dịu dàng ôm chặt nó vào lòng và quên đi trò nghịch ngợm trẻ con của nó không? Đành rằng bà biết đứa con bé bỏng của mình sẽ lại làm thế vào lần tới, nhưng điều đó không quan trọng; nếu nó lại nắm lấy trái tim mẹ, nó sẽ không bị trừng phạt”. Ước mong bạn và tôi biết siêng năng chiêm ngắm tình yêu Chúa Giê su – biểu hiện bằng quả tim bị đâm thâu trên thập giá, tôn thờ tình yêu đó, hòa nhịp đập với quả tim Chúa, để biết trở nên trẻ thơ tự hạ trong tình yêu Chúa. Amen

 

 

 

Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2025

Đức tin

 



Thư Do Thái nói với chúng ta: “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không trông thấy” (Dt 11, 1). Bài đọc 1 nói về niềm tin của dân Do Thái: họ mong chờ và tin tưởng vào đêm vượt qua mà Chúa đã hứa, họ biết rằng Ngài là Đấng trung tín (Kn 18, 6). Và bài Tin Mừng nói với chúng ta: Hãy tỉnh thức đợi chờ ngày Chúa đến đưa ta về với Ngài, đừng mê mải sự đời và đừng chè chén say sưa (Lc 12, 32-48). Ba bài đọc nhắc đến những hình ảnh sống động về đức tin: cuộc hành trình sa mạc của dân Chúa, niềm tin của tổ phụ Abraham, quê hương trên trời, kho tàng, chủ trở về.

Chúng ta nhận ra rằng: cuộc hành trình sa mạc của dân Chúa là hình ảnh sinh động của cuộc hành trình về trời của Dân tộc mới và của từng tâm hồn. Cuộc hành trình kéo dài 40 năm, có gian nan - thử thách - thiếu thốn - nản lòng và nổi loạn, có Chúa hiện diện và đồng hành, có chăm sóc và dường nuôi... chỉ những người trẻ được sinh ra trên đường hành trình mới được vào đất hứa, còn những người già – được sinh ra trên đất Ai Cập - vì đã lẩm bẩm kêu trách Thiên Chúa – kể cả ông Moisen vì thiếu lòng tin đập đến 2 lần lên tảng đá Mê ri ba... đều không được vào đất hứa. Thật ra xét về địa lý, cuộc hành trình (khoảng 1.000.000 dân và đoàn súc vật) chỉ cần vài năm là đến đất hứa, nhưng 40 năm là cần thiết để tinh luyện đức tin. Cuộc hành trình dương gian của từng tâm hồn, kẻ dài người ngắn, có Chúa ẩn hiện, có lời hứa: “Cha anh em vui lòng ban nước trời cho anh em”, có gian nan để niềm tin cậy mến của ta được vững vàng sắt son.

Ông Abraham được gọi là cha của kẻ tin. Ông được Chúa mời gọi rời bỏ quê cha đất tổ đến một vùng đất Chúa sẽ ban làm gia nghiệp, trở nên tổ phụ của một dân tộc đông đúc. Ông ra đi khi tuổi đã già, không biết mình đi đâu, đến gần 100 tuổi và vợ đã gần 90 mà chưa có mụn con, sinh được I sa ac, đứa con Chúa xác nhận là để nối dõi – vậy mà Chúa truyền sát tế cho Chúa - ông vẫn vâng lời vì nghĩ rằng Chúa có quyền năng cho người chết trỗi dậy (Dt 11,19).

Nhiều người nghe nói đến thiên đàng hỏa ngục thì cười chê và cho rằng đó là chuyện mê tín dị đoan, còn chúng ta thì biết rằng: Ki tô giáo là đạo mạc khải và Kinh Thánh là bức thư tình Thiên Chúa gửi cho con người, chứa đựng những chân lý mà lý trí tự nhiên chỉ hiểu được phần nào thôi, và nhiều chân lý không thể chứng minh bằng phương pháp khoa học được – phải nhường chỗ cho đức tin. Bởi đó, Chúa Giê su đã nói: “Nếu các con không trở nên như trẻ nhỏ thì không thể vào nước trời”(Mt 18,3). Trẻ nhỏ có nhiều đặc điểm như đơn sơ, trong trắng, thật thà, tin tưởng... nhưng quan trọng nhất là khiêm hạ, tin cậy, phó thác cho Thiên Chúa. Có thể nói rằng: Một Ki tô hữu mà không tin vào sự mạc khải của Chúa trong Kinh Thánh thì không còn gì để nói!



Quê trời là quê thật của chúng ta, trần gian là cuộc hành trình tiến về quê trời. Ngày chào đời là ngày đứng ở vạch xuất phát, mỗi ngày sống ta tiến thêm một bước và ngày lìa đời là ngày ta tiến về miền đất hứa. Người ta nói: một người phải xác định nghề nghiệp và định hướng mục tiêu cuộc đời trước tuổi 40,  vậy mà có nhiều người, dù tuổi đời dần trôi, mãi vẫn không xác định được lý tưởng cuộc đời, đó là một điều đáng buồn. Họ loay hoay với việc du lịch, mê mải sự đời, chè chén say sưa, danh vọng và lạc thú... chúa tể của họ chỉ là cái bụng. Lý tưởng của người Ki tô hữu là: nên hoàn hảo như Cha trên trời (tha thứ như Chúa đã tha cho mình, quảng đại trao ban như Chúa, trung tín như Chúa, và yêu thương như Chúa).

 Xin Chúa ban cho con Đức Khôn Ngoan hằng ngự bên tòa Chúa để Ngài dạy con biết tìm kiếm những sự cao siêu trên trời, dạy con vững lòng tin cậy vào Chúa là Đấng tín trung và giàu lòng thương xót, dạy con biết đếm tháng ngày mình sống – tâm trí được khôn ngoan – mỗi ngày sống là một chuẩn bị tích cực cho ngày hội ngộ với Đấng Tình Quân nơi quê trời. Amen

 

Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2025

Than trách

 



Đọc sách Dân số 11, 4-15, chúng ta thấy một bức tranh ảm đạm mở ra trước mắt: dân chúng tụ tập nơi cửa lều để than trách vì đời sống kham khổ nơi hoang địa chỉ có bánh Manna ăn đến nhàm chán - thiếu thịt-hành tỏi và cá như thời ở đất Ai Cập, ông Moi sen thì xin cho được chết còn hơn phải nghe dân than trách và phải mang gánh nặng chăm lo cho dân, còn Chúa thì nổi giận.

Trong giao ước Sinai mà Chúa đã ký kết với dân Israel, Thiên Chúa hứa che chở bao bọc dân riêng, còn dân cam kết trung thành thờ phượng một mình Thiên Chúa và tuân giữ lệnh truyền của của Ngài. Thế nhưng, bất cứ cuộc hành trình nào cũng có thử thách. AI định nghĩa: “Thử thách là những tình huống khó khăn, phức tạp hoặc có yếu tố rủi ro mà con người phải đối mặt và nỗ lực vượt qua để đạt được mục tiêu, phát triển bản thân hoặc giải quyết vấn đề. Thử thách có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau và đòi hỏi sự nỗ lực về trí tuệ, tinh thần, và sức mạnh. Thử thách thường là những tình huống không dễ dàng, đòi hỏi sự kiên trì, nỗ lực và khả năng giải quyết vấn đề”. Sách Dân số vẽ nên một bức tranh dường như đi vào ngõ cụt, cuộc xuất hành mang dáng vẻ thất bại, nhưng sau đó Chúa đã ban cho dân thịt chim cút và nước để nuôi sống họ… mãi cho đến ngày họ bước vào đất Canaan và dùng thổ sản của đất hứa thì không còn bánh và thịt từ trời nữa. Đó là một hình ảnh sinh động diễn tả sự chăm sóc dưỡng nuôi Chúa dành cho dân riêng trong suốt hành trình sa mạc.



Cuộc hành trình sa mạc nói lên cuộc hành trình dương gian của Hội Thánh trong giao ước mới, và cuộc hành trình của từng tâm hồn trên đường về trời. Chúa Giê su xuất hiện như Moi sen mới giảng dạy, chữa lành và nuôi sống đoàn dân. Thế nhưng, thử thách cũng xuất hiện khi dân chúng nhận ra những đòi hỏi của Tin Mừng, đám đông bắt đầu than trách khi nhớ lại những hành tỏi – dưa hẹ và thịt cá của thời còn nô lệ... đến nỗi họ quyết định đóng đinh Con Thiên Chúa vào thập giá. Chúng ta cười chê dân Do Thái khi xảy ra nơi họ một sự so sánh khập khiễng giữa một bên là tự do còn bên kia là hành tỏi của kiếp nô lệ, thế nhưng nơi lòng ta vẫn xảy ra một sự thèm khát vặt vãnh là những thứ cản trở ta yêu Chúa trọn tâm hồn: Chúa Ki tô đã hiến mình vì yêu tôi. Hãy xin ơn Chúa giúp mình nhận ra những ‘hoài cổ’ còn cản trở bước đường tâm linh: tham lam muốn có nhiều hơn về của cải, sự ca tụng của người đời, ảo tưởng về bản thân (thánh thiện, tài năng, sức riêng)….   

Trong phép lạ hóa bánh Mt 14, 13 -21, Chúa Giê su đưa ra một lệnh truyền: “Các con hãy cho họ ăn”. Các môn đệ muốn trốn tránh trách nhiệm nuôi sống dân, chúng ta cũng muốn ngoảnh mặt không nhìn thấy nhu cầu anh em. Thánh Gioan Vianey mà Giáo hội mừng kính hôm nay, là bổn mạng các cha xứ, nổi tiếng về học lực quá kém – chỉ được làm linh mục vì tiêu chí đạo đức, nổi tiếng về nếp sống đơn sơ đạm bạc trong ăn uống (sáng ăn khoai, chiều khoai và tối khoai), nổi tiếng về việc ngồi tòa lâu giờ (15-18g/ngày) - đến nỗi thành phố đã lắp đặt thêm một tuyến xe lửa dẫn về giáo xứ Ars. Người ta nể phục những người sống khiêm tốn, những người sống đơn sơ đạm bạc… không phải để được nổi tiếng mà vì muốn nên giống Chúa Ki tô. Sáng nay, Cha xứ Gx.Vinh Hương giảng: “Phải nghĩ đến những người nghèo, người đói, có những kẻ ăn uống đến muốn ói - còn kẻ khác đói không có mà ăn”.

Có những người rất bình thường (ít học, ít nổi tiếng), nhưng khi một thử thách xảy đến, họ xử lý hợp đạo lý và có tình người, ta nhận ra nhân cách và giá trị con người họ. Còn có những người dáng vẻ rất đáng kính, nhưng rồi khi thử thách ập đến họ lại có cách ứng xử không cao thượng… bởi thế, Chúa dạy: cứ xem quả thì biết cây. Tôi còn nhở một câu chuyện: Có một nhóm người du lịch trên một chiếc thuyền, bị bão đánh dạt vào một hòn đảo hoang, có 5 cặp vợ chồng; trong thời gian đầu mọi chuyện đều ổn, nhưng rồi một người đàn bà bị chết, và dĩ nhiên một người đàn ông thiếu vợ, ông này ức hiếp một người bạn để cướp vợ và từ chuyện xấu xa đầu tiên này tình hình bất ổn càng ngày càng tệ hơn…Câu chuyện này muốn nói với chúng ta: Ai trong chúng ta cũng có những thèm khát dục vọng, chẳng qua là còn có luật  pháp và chưa rơi vào đường cùng nên còn giữ được nhân cách, như lời cảnh cáo của Thánh Phaolo: "Ai tưởng mình đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã".

Xin Chúa ban cho con sức mạnh và sự kiên trì trong việc tuân giữ lề luật Chúa, vì nếu không có ơn Chúa, chúng con chỉ có khả năng phạm tội mà thôi. Và càng gặp những thử thách, thì xin cho con càng bám chặt vào Chúa hơn, vì con càng tin cậy Chúa thì Chúa càng làm nhiều điều kỳ diệu nơi con. Amen.                                                                                                                                      

 

 

Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2025

Phù vân

 



Phù vân được hiểu là đám mây thoáng nổi lên rồi tan ngay, thường dùng để ví cái không lâu bền, có được rồi lại mất ngay. Sách Giảng Viên nói: Tất cả chỉ là phù vân, cuộc đời chỉ là đau khổ - vất vả - cái chết. Còn Tân Ước nói với chúng ta: Hãy tìm kiếm những sự cao siêu trên trời, hãy làm giàu trước mặt Thiên Chúa.

Trong những năm gần đây, nhà sư Minh Tuệ xuất hiện nhiều trên mạng xã hội, ngài đi bộ khất thực – đây là một hình thức tu hành trong Phật giáo. Tôi cảm nhận rằng sư Minh Tuệ là một dấu chỉ thời đại, vì sự khất thực của ngài không những gây nên một sự phản tỉnh cho các tín đồ Phật giáo mà còn nhắc nhở các Ki tô hữu về sự thanh thoát, khó nghèo. Sự khất thực kéo dài nhiều tháng nhiều năm, qua nhiều quốc gia, chịu bao nhiêu thử thách – dị nghị- kể cả mưu sát; điều hay nữa là các nhà báo đã quảng bá những cuộc phỏng vấn – thế là ngài có dịp nói về Phật pháp, mà ngài lại nói rất lưu loát và bình dị.

Tuần vừa qua, tôi tình cờ nghe được một bài nói chuyện của ngài - một cuộc phỏng vấn sau khi ngài bị hành hung bởi 3 người đàn ông ở Ấn Độ: ngài tha thứ cho các phạm nhân đang bị giam giữ - không oán trách, họ đáng thương vì đã bị tổn thương cách nào đó – sự tổn thương quá lớn đến nỗi phải trả thù gây thương tổn cho người khác, cầu mong họ biết học lại từ đầu để tránh được nghiệp chướng; khi bị đánh ngài không sợ chết vì đó là cơ hội được giải thoát khỏi thân xác giả tạm, vết thương và nỗi đau giúp mình ý thức sự giả tạm của thân xác, điều quan trọng là đừng để nỗi đau đó để lại vết sẹo nơi tâm hồn, gây nên sầu oán và bị tổn thương. Nghe bài nói chuyện của nhà sư, tôi nhận ra một sự thanh thoát nhẹ nhàng nơi cuộc sống và trong nội tâm - mà các Ki tô hữu chúng ta khó lòng đạt được: không quan trọng việc ăn uống, ngủ nghỉ, an toàn, không oán ghét kẻ làm hại mình – chỉ thương xót và tha thứ, không tích trữ của cải và diệt dục để tu thân tích đức, tạo nghiệp cho kiếp sau. Nhiều người đã từng bỏ Ki tô giáo để trở thành tín đồ Phật giáo vì thấy ‘đạo nào cũng tốt, cũng dạy ăn ngay ở lành’!

Nhưng Ki tô giáo rất khác Phật giáo, chúng ta cùng thử phân tích theo sự hiểu biết thông thường: “Đức Phật là một con người, không phải là thần linh hay thần thánhĐức Phật Thích Ca Mâu Ni, tên thật là Tất Đạt Đa, là một thái tử xuất thân từ dòng dõi quý tộc, đã từ bỏ cuộc sống giàu sang để tìm con đường giải thoát khỏi khổ đau và truyền bá con đường đó cho mọi người. Phật giáo không có đấng sáng tạo tối cao hay thần linh ban phước, mà tập trung vào việc tu tập để giác ngộ và giải thoát khỏi luân hồi” (internet). 

Phật giáo nói đến cầu nguyện, nói đến kiếp luân hồi, nói đến nghiệp chướng (tốt xấu gây nên hậu quả trong tương lai)… vậy ai điều hành những việc này, ai tạo dựng nên vũ trụ, cầu xin với ai để Đấng ấy ban phước? – Câu trả lời được tìm thấy trong sách TĐCV 17, 23: dân thành Athena có một bàn thờ để ‘Kính Thần Vô Danh”, anh em Phật giáo tôn kính trời, dù họ không xác định rõ Đấng ấy như thế nào, nhưng là Đấng dựng nên vạn vật và điều khiển muôn loài, ban phước lành và phạt kẻ làm ác. Giáo hội Công giáo xác định rõ: những kẻ sống theo lương tâm mà ăn ngay ở lành - dù không nhận biết Chúa Ki tô và khi chết chưa lãnh nhận phép Rửa Tội thì vẫn được hưởng lòng thương xót Chúa cách nào đó. Và chúng ta vẫn tôn trọng các tôn giáo bạn, vì họ vẫn nắm được một phần chân lý Ki tô giáo, Chúa vẫn ghi nơi lòng họ luật tự nhiên của Ngài, vẫn ban cho họ ơn trợ giúp cần thiết để giúp họ đạt ơn cứu rỗi, và tất cả mọi người trên trần gian – từ cổ chí kim vẫn được hưởng công ơn cứu chuộc Chúa Ki tô mang lại.



Các bài đọc được dùng trong Chúa Nhật 18 TN C nói đến sự phù vân của kiếp người khi vất vả cả đời mà cái chết đến như một ngõ cụt của mọi toan tính của con người (Giảng viên chương 1 và 2). Thánh Phaolô và Chúa Giê su nói: Hãy làm giàu trước mặt Thiên Chúa, hãy tìm kiếm những sự cao siêu trên trời, đừng tham lam tích trữ - ăn chơi – đam mê xấu. Ki tô giáo chỉ có một kiếp và sau đó là muôn đời hạnh phúc hoặc mãi mãi bất hạnh, tùy theo cách sống khi sống trên trần gian này. Chúa dạy ta sống yêu thương khi còn có thể, hãy biết cho đi khi còn sống: cho đi của cải, cho đi thời gian, giúp đỡ và làm ơn trong tầm tay của mình. Lời của chân phước An rê Phú Yên: “Hãy lấy tình yêu đáp lại tình yêu, hãy lấy sự sống đáp đền sự sống” – Chúa Ki tô đã yêu thương tôi đến hy sinh mạng sống của Ngài.