Danh sách Blog của Tôi

Thứ Ba, 28 tháng 10, 2025

GIÀ ĐI NHƯ MỘT TU VIỆN TỰ NHIÊN


 


Một bài viết rất hay nói về kiếp người của Rev. Ron Rolheiser, OMI, những suy tư để chuẩn bị bước vào tháng 11: nghĩ về đời sau là cách tốt nhất để sống có ý nghĩa.

Tu viện là gì? Tu viện hoạt động như thế nào? Thánh Biển Đức (480-547) được xem là nhà sáng lập đời sống tu viện Tây phương, ngài có lời khuyên như luật căn bản cho các tu sĩ của ngài: Hãy ở trong phòng của mình, nó sẽ dạy anh em mọi điều anh em cần biết. Hiểu cho đúng, đây là một ẩn dụ phong phú, chứ không phải lời khuyên theo nghĩa đen. Khi nói đến một tu sĩ ở trong phòng và để việc đó dạy mình những gì mình cần biết, ngài không nói đến căn phòng tu sĩ trong tu viện. Ngài đang nói đến tình trạng sống hiện tại của một tu sĩ hay của bất kỳ ai.

Đôi khi, điều này được linh đạo Kitô giáo gọi là trung thành với bổn phận hiện tại. Ý nghĩa là nếu chúng ta trung thành với tình yêu và có thiện tâm với tình trạng cuộc sống hiện tại của mình, thì cuộc sống tự nó sẽ làm cho chúng ta trưởng thành và nhân đức. Ví dụ, một người mẹ hy sinh, tận tụy hết lòng nuôi con, bà sẽ trưởng thành và vị tha qua quá trình cuộc sống của bà. Nhà của bà sẽ là căn phòng tu sĩ của bà và nói theo ẩn dụ, bà sẽ là tu viện trưởng của tu viện mình (cùng vài tu sĩ rất nhỏ tuổi) và việc ở trong tu viện này, là mái nhà của bà, nó sẽ dạy cho bà mọi điều bà cần biết. Bà sẽ nuôi dạy con cái, nhưng con cái cũng sẽ nuôi dạy bà. Tình mẫu tử sẽ dạy bà những gì bà cần biết và sẽ làm cho bà thành một vị trưởng bối khôn ngoan, một Khôn ngoan kinh điển và gương mẫu.

 

Quá trình già đi chính là một tu viện tự nhiên. Nếu sống đủ lâu, cuối cùng quá trình già đi sẽ biến tất cả mọi người thành tu sĩ. Các tu sĩ có bốn lời khấn: khó nghèo, khiết tịnh, vâng phục và kiên vững. Quá trình già đi (dường như tàn nhẫn) đưa chúng ta đến với việc bị loại ra rìa, phải phụ thuộc vào người khác, mất đi đời sống tình dục năng nổ, và đi vào tình trạng sống không lối thoát, có thể nói là áp đặt bốn lời khấn đó lên chúng ta. Nhưng như lời khuyên của Thánh Biển Đức, điều này có thể dạy cho chúng ta mọi điều chúng ta cần biết, và nó có sức mạnh độc nhất vô nhị làm chúng ta trưởng thành một cách rất sâu sắc. Các tu sĩ có những bí quyết đáng để chúng ta học hỏi. Quá trình già đi cũng vậy.

Đây có thể đem lại hiểu biết đặc biệt về cách chúng ta có thể biến những ngày tháng cuối đời và cái chết của chúng ta thành một món quà tận căn cho người khác. Trong những thế kỷ đầu của Kitô giáo, tử đạo là cách lý tưởng để một tín hữu kết thúc hành trình dương thế. Nó được xem là cách triệt để để noi gương Chúa Kitô và biến cái chết của mình thành một ơn. Dĩ nhiên, sau khi Kitô giáo thành quốc giáo và các đại đế không còn giết hại Kitô hữu nữa, thì chuyện này cần được suy nghĩ lại. Từ đó đã có nhiều nỗ lực để tử đạo có thể hiểu theo nghĩa bóng. Có một cách phổ biến là sau khi nuôi dạy con cái trưởng thành và đến tuổi về hưu, hai vợ chồng sẽ rời nhau và mỗi người đến một tu viện để sống phần đời còn lại như tu sĩ.

Các nhà thần nghiệm Kitô giáo kinh điển nói, trong giai đoạn cuối đời, chúng ta nên đi vào điều mà họ gọi là đêm tối tâm hồn, cụ thể là chúng ta chủ động đưa ra quyết định triệt để dựa trên đức tin, bước vào một tình trạng sống mà chúng ta không còn chăm sóc cho bản thân mình, mà phải tin tưởng, với một đức tin thuần túy nhất, rằng Thiên Chúa sẽ chu cấp cho chúng ta. Điều này cũng tương tự với linh đạo của Ấn giáo, cho rằng trong giai đoạn cuối cùng, trưởng thành trọn vẹn của cuộc đời, chúng ta nên trở thành môn đệ sannyasin, hành khất già thánh thiện.

 

Tôi nghĩ rằng, hầu hết chúng ta sẽ không bao giờ chủ động cắt đứt mọi an toàn cũ của mình để đặt mình vào tình trạng mà chúng ta bất lực trong việc chu toàn và chăm sóc bản thân. Nhưng đây là lúc thể hiện vị trí của mình một cách tự nhiên. Quá trình già đi sẽ làm điều đó cho chúng ta. Nó sẽ biến chúng ta thành môn đệ sannyasin và đưa chúng ta vào đêm tối tâm hồn.

Như thế nào? Khi già đi, sức khỏe suy yếu và thấy bị đẩy ra rìa hơn, không còn một vị trí quan trọng trong xã hội, chúng ta sẽ dần mất đi năng lực tự chăm sóc cho bản thân. Cuối cùng, nếu sống đủ lâu, hầu hết chúng ta sẽ chuyển sang sống trong cơ sở hỗ trợ sinh hoạt, và nó là một tu viện tự nhiên.

Đúng là một ẩn dụ quá thích hợp! Cơ sở hỗ trợ sinh hoạt như một tu viện tự nhiên. Ẩn dụ này cũng thích hợp cho ý nghĩa của việc (bị cưỡng bách) bước vào đêm tối tâm hồn và việc làm môn đệ sannyasin, hành khất già thánh thiện. Thực chất nó mang ý nghĩa: khi ai đó sống trong cơ sở hỗ trợ sinh hoạt, thì dù người đó là triệu phú hay người bần cùng, thì luật cũng như nhau. Vì chúng ta không thể chăm sóc cho bản thân (và thật sự là không cần phải làm thế), thì chúng ta sống một cuộc sống tu viện vâng phục và phụ thuộc.

Khi cần hỗ trợ sinh hoạt, là chúng ta sống theo tiếng chuông tu viện và chết như một hành khất già thánh thiện.

 


Thứ Hai, 27 tháng 10, 2025

CÓ MẶT TRỜI… TRÊN ĐÓ


 

Nước trời được ví như hạt cải nhỏ bé sẽ lớn thành cây lớn đến nỗi chim trời có thể nương náu. Nước trời như một nhúm men được vùi vào 3 thúng bột và rồi khối bột đã dậy men (Lc 13, 18-21). Làm cho Nước Thiên Chúa lớn lên và thâm nhập vào thế giới hôm nay, đó không phải chỉ là chuyện của Thiên Chúa mà còn là chuyện của từng Kitô hữu chúng ta. Xin trích một bài suy niệm của cha Minh Anh nói về chuyện làm chứng nhân:

 


“Tôi là tiếng kêu trong sa mạc” (Ga 1, 19-23)

 

Gioan Tẩy Giả chỉ có một nguyện ước, “Cần Chúa lớn lên, còn tôi nhỏ lại”.

 

Tin Mừng hôm nay cho thấy một loạt phủ định của Gioan khi những người được sai đến đặt câu hỏi với Gioan, “Ông là ai?”. Gioan trả lời, “Tôi không phải là Đấng Kitô”, “Tôi không phải là Êlia”, “Cũng không phải là một tiên tri”.

 

Sứ mệnh của Gioan dù thật cao cả, nhưng cao cả hơn, là tư chất khiêm tốn của Gioan. "Tôi là tiếng kêu trong sa mạc, hãy sửa đường Chúa. Tôi không phải là ánh sáng, tôi đến chỉ để làm chứng cho sự sáng”. Gioan chỉ là tiếng kêu, nghĩa là một cái gì vô nghĩa và chóng qua… hoặc,  Một chút ánh sáng tờ mờ dọn đường như mảnh trăng lưỡi liềm vắt vẻo giữa trời đêm đợi chờ ánh quang ngày mới. Gioan đã trả lời một cách thẳng thắn khi người ta hiểu lầm ông, “Không, không, tôi không phải là Đấng Kitô, cũng không phải là ánh sáng, tôi chỉ là tiếng kêu trong hoang địa. Ngài đến sau tôi, cao trọng hơn tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Ngài”.

 

Anh Chị em,

 

Như Gioan Tiền Hô, người tín hữu được mời gọi trở nên những chứng nhân của Chúa Kitô qua việc chu toàn bổn phận của mình trong mọi đấng bậc, họ làm những việc nhỏ với một lòng yêu mến lớn.

 

Một đôi vợ chồng trẻ kia đều là sĩ quan bác sĩ. Họ đã học chung với nhau ở Ðại học Y, quen nhau, rồi cưới nhau. Người vợ là công giáo, người chồng thì không. Ðã nhiều lần người vợ cố thuyết phục chồng học đạo để rửa tội, nhưng anh không hề quan tâm, có lẽ vì chưa thấy đạo công giáo có cái gì hay. Thế rồi biến cố 1975 xảy đến, người chồng bị bắt đi cải tạo. Người vợ được ở nhà, bị áp lực bỏ đạo và ly dị chồng. Nhiều nữ quân nhân vợ các sĩ quan khác cùng cảnh ngộ đã đành chiều theo những áp lực ấy. Nhưng bà này vẫn cương quyết sống theo niềm tin và tình yêu của mình, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn. Ngày kia, người chồng được trả tự do cùng với nhiều sĩ quan khác. Rất nhiều tình huống trớ trêu dở khóc dở cười xảy ra. Nhiều bà vợ vui mừng vì chồng trở về nhưng không dám đón chồng vì đã trót ly dị, riêng đôi vợ chồng này thì niềm vui rất trọn vẹn. Sau đó người chồng xin học đạo, chịu phép rửa tội. Người ta hỏi anh tại sao cho đến hôm nay anh mới trở lại? Anh trả lời, “Tôi đã thấy được giá trị của lòng tin hiện thực nơi nhà tôi và những bạn tù công giáo, cách riêng các Linh mục cùng ở tù với tôi. Ðó là một chứng từ, không phải bằng lời nói suông mà bằng cả cuộc sống”.

 

Về điểm này, Cha Teilhard de Chardin đã ví von rất sống động, “Nhìn ánh sáng xuyên qua những áng mây, người ta đoán là có mặt trời… trên đó. Nhìn vào đời sống chúng ta, mọi người cũng đoán được có Ðức Kitô, có Thiên Chúa”. J. Basquin nói, “Sống chứng nhân không phải là đuổi theo các tâm hồn, mà là sống làm sao để các tâm hồn theo đuổi chúng ta”.

 

Chúng ta có thể cầu nguyện,

 

“Lạy Chúa, nhìn vào cuộc sống của con, liệu người khác có đoán… có một ai đó, một Đấng nào đó đang ở trong con?”, Amen.

 

Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2025

CHỈ MÌNH NGÀI

 


Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Lạy Chúa, tôi cảm tạ Chúa vì tôi không như các người khác!”.

Có năm chữ ‘C’ dễ làm khô cứng lòng người: chỉ trích, chì chiết, chê bai, chia rẽ và chối bỏ. Tất cả đều phát sinh từ một căn nguyên: so sánh. Khi so sánh mình với người khác, con người không biết mình thuộc về ai - Thiên Chúa. Và nếu phải so sánh, hãy so với chỉ mình Ngài!

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, người biệt phái đã quên nguyên tắc ấy: anh đem mình so với người khác thay vì đặt mình trước Thiên Chúa. Nếu muốn so sánh, lẽ ra anh phải so với chỉ mình Ngài!’.

Người biệt phái bước vào đền thờ, nhưng chỉ tìm gặp mình. Anh cầu nguyện, nhưng không đối thoại - chỉ độc thoại; đứng trong ánh sáng, nhưng anh lại dùng ánh sáng ấy để chiếu lên người khác, chứ không soi vào lòng mình. Anh chu toàn mọi việc theo quan niệm sai lầm rằng mình có thể mua thiên đàng, ghi điểm trước mặt Chúa nhờ các việc đạo đức. Anh nhắc đến Chúa, nhưng kết thúc lại hành xử như thể Ngài là người mắc nợ. Sai lầm lớn nhất là anh so sánh mình với người thu thuế - kẻ lặng lẽ cuối đền thờ. So sánh sinh tự mãn, và tự mãn làm xa Chúa. “Kiêu ngạo bận tâm đến việc ai đúng; khiêm nhường bận tâm đến điều đúng!” - Ezra Taft Benson.

Ngược lại, người thu thuế không dám đến gần. Thay vì chú ý điều tốt ít ỏi của mình, ông chỉ thấy tội lỗi của bản thân, “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi!”. Chính nhờ cúi đủ sâu, ân sủng đã rót vào. Ông ra về, được nên công chính, không vì thấp hơn, mà vì nhận ra mình cần được xót thương. “Không phải lời kinh, nhưng chính trái tim tan vỡ trước Ngài mới chạm đến Thiên Chúa” - Thomas Watson.

Bài đọc Huấn Ca hôm nay nói, “Lời cầu nguyện của người khiêm nhường vọng lên tới các tầng mây”; “Khiêm nhường trong cầu nguyện mở đường cho ơn phúc!” - John O’Donohue. Phaolô bộc bạch, “Có Chúa đứng bên cạnh, Người đã ban sức mạnh cho tôi” - bài đọc hai. Thánh Vịnh đáp ca đồng tình, “Kẻ nghèo hèn kêu xin, và Chúa đã nhận lời!Những lời này nhắc chúng ta, chỉ khi khiêm hạ trước Chúa, chúng ta mới chọn cho mình một thái độ đúng đắn mà Thiên Chúa yêu thích nhất. “Ai cúi thấp thì được nâng lên trong ân sủng!” - Brennan Manning.

Anh Chị em,

“Tôi không như các người khác!”Chúng ta sẽ không còn đủ sức để so với ai một khi cảm nhận lòng thương xót Chúa đổ xuống trên mình. Ánh sáng Ngài làm lộ ra bóng tối bên trong chúng ta; chính trong nhận thức ấy, ơn cứu độ bắt đầu. Người biệt phái tưởng mình gần Chúa, nhưng ông chỉ gần cái tôi của ông. Người thu thuế, nhờ cúi đầu, được nâng lên trong ân sủng. “Khiêm nhường là mảnh đất duy nhất nơi đức hạnh nảy nở!” - Andrew Murray. Đặt mình đúng trong tương quan với Chúa, con người không còn muốn chứng tỏ gì - chỉ muốn được xót thương. Đó là niềm vui thẳm sâu nhất. “Niềm vui thật sự không nằm ở việc chứng tỏ mình, mà ở việc đón nhận lòng lân tuất của Chúa!” - Richard Foster. Và tất cả chỉ có thể xảy ra khi ta sống với ‘chỉ mình Ngài’.

Chúng ta có thể cầu nguyện:

“Lạy Chúa, càng đến gần Chúa, con càng thấy lòng mình ở xa; xin kéo con lại gần, để con nếm hưởng niềm vui được xót thương!, Amen.

Suy tư

-Thiên Chúa nghe lời kẻ mồ côi, góa bụa, nghèo hèn, đau khổ và khiêm tốn nhận biết mình tội lỗi. Là phận người, mỗi người đều là kẻ tội lỗi - vinh vang với nhau làm gì, chúng ta có là gì cũng là bởi ơn Chúa ban: sự hiện hữu, ơn cứu chuộc, khả năng, sở hữu, liên hệ... nói tóm lại chúng ta nợ Chúa tất cả, từ vật chất - tình thương- và ân sủng. Hãy dâng lời tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh, đó là thái độ khiêm tốn Chúa ưa thích.


Thứ Sáu, 24 tháng 10, 2025

ẢO TƯỞNG TỰ ĐỦ

 


(Trọng tâm của Lời Chúa tuần 30 TN C là câu Đáp ca: Kẻ nghèo hèn kêu lên và Chúa  lắng tai nghe. Bài viết dưới đây phần nào giúp chúng ta ý thức sự lệ thuộc của phận người)

Ronald Rolheiser - J.B. Thái Hòa dịch 

Không ai trong chúng ta đi sâu vào cộng đồng trong khi đang nuôi dưỡng ảo tưởng tự đủ, khi chúng ta vẫn còn nói: mình không cần đến người khác! Tôi chọn mình sẽ là ai, là gì trong đời này?

Vài năm trước, tôi có dự tang lễ của một ông cụ thọ 90 tuổi. Ở mọi khía cạnh, ông là người tốt, kiên trung giữ đạo, con cái đông đúc, người đáng trọng trong cộng đồng và là người có lòng quảng đại.Ông mạnh khỏe, có tài, có tư chất lãnh đạo, là người mà chúng ta sẽ chọn để quản trị và dẫn dắt. Vì thế ông có một địa vị uy tín trong cộng đồng. Ông là kiểu người nắm quyền.

 Ông có người con trai là linh mục công giáo, và người con giảng trong tang lễ. Cha mở đầu bài giảng như sau: Kinh Thánh viết, đời người chỉ đến bảy mươi, mạnh giỏi lắm thì được tám mươi. Bây giờ cha của chúng tôi qua đời năm 90 tuổi. Tại sao lại có thêm 20 năm này? Đây không phải là một bí ẩn gì. Ông quá mạnh mẽ, ông có nhiều trách vụ phải làm để phải chết ở tuổi 70 hay 80. Chúa cho ông thêm 20 năm để ông dịu lại. Và nó hiệu quả. Mười năm cuối của ông là những năm ông suy giảm rất nhiều. Vợ mất, và cha tôi không bao giờ qua được thử thách này. Ông bị trụy tim và phải cần người giúp hỗ trợ sinh hoạt, đây là một đòn nặng giáng lên ông. Rồi những năm cuối đời, ông phải cần có người giúp trong các công việc vệ sinh tối thiểu. Với một người như ông, đó là cả một hạ mình.

Nhưng tất cả những chuyện này có tác động. Nó làm ông dịu đi. Trong những năm cuối này, mỗi khi có ai đến thăm, ông sẽ cầm tay họ và nói “xin giúp tôi”. Từ lúc lên năm và khi có thể tự thắt dây giày, ông đã không thể nói ba chữ này. Đến lúc qua đời, ông đã sẵn sàng để ra đi. Khi gặp Chúa Giêsu và thánh Phêrô ở thiên đàng, tôi chắc cha tôi sẽ đưa tay ra và nói: “xin giúp con”. Tôi chắc chắn, nếu là 10 hay 20 năm trước, hẳn ông đã cho Chúa Giêsu và Thánh Phêrô lời khuyên làm sao để cổng thiên đàng mở ra - mở vào hiệu quả hơn.

Câu chuyện trên nói một cách trực tiếp và sâu sắc về một vị thế mà chúng ta cuối cùng đều phải đứng ở đó, dù bằng chọn lựa chủ động hay phải quy phục hoàn cảnh, nhưng cuối cùng tất cả chúng ta đều đứng vào một vị thế phải chấp nhận: chúng ta không tự đủ, chúng ta cần sự giúp đỡ, cần người khác, cần cộng đồng, cần ân sủng và cần Thiên Chúa.

Tại sao điều này lại quan trọng đến như thế? Vì chúng ta không phải là Chúa, và khi nhận ra, chấp nhận như thế thì chúng ta khôn ngoan hơn và biết yêu thương hơn. Các thần học gia kinh điển của Kitô giáo định nghĩa Thiên Chúa là hiện hữu tự đủ, và nhấn mạnh rằng chỉ có Thiên Chúa mới tự đủ. Chỉ có Thiên Chúa mới không cần điều gì ngoài chính Ngài. Còn mọi sự khác, tất cả mọi sự không phải là Thiên Chúa, thì được định nghĩa là phụ thuộc các yếu tố, là không tự đủ, là cần điều gì đó ngoài bản thân mình để tồn tại và duy trì sự tồn tại đó mỗi giây mỗi phút trong đời.

Nói như vậy nghe có vẻ là thần học trừu tượng, nhưng mỉa mai thay, chính các em bé lại hiểu chuyện này, ý thức được chuyện này. Chúng biết rằng chúng không thể tự chu cấp cho mình, và mọi sự đến với chúng đều là món quà. Chúng biết chúng cần giúp đỡ. Tuy nhiên, không lâu sau khi đã biết thắt dây giày, thì ý thức này bắt đầu phai mờ khi chúng bước vào tuổi dậy thì, rồi tuổi trưởng thành, nhất là khi chúng khỏe mạnh, cường tráng và thành công thì chúng bắt đầu sống với ảo tưởng tự đủ, tự chu cấp cho bản thân!

Thật sự là điều này đã tạo điều kiện cho chúng tự tin bước vào đời. Nhưng nó lại không tạo điều kiện cho sự thật, cộng đồng, tình yêu hay linh hồn. Nó là một ảo tưởng, là ảo tưởng lớn nhất. Không ai trong chúng ta đi sâu vào cộng đồng trong khi đang nuôi dưỡng ảo tưởng tự đủ, khi chúng ta vẫn còn nói, mình không cần đến người khác! Tôi chọn mình sẽ là ai, là gì trong đời này?

G.K. Chesterton từng nói rằng sự quen thuộc là thứ ảo tưởng lớn nhất. Ông nói đúng, và điều chúng ta quen thuộc nhất, đó là tự chăm sóc bản thân và nghĩ rằng mình lo cho mình được. Như chúng ta biết, nó giúp cho chúng ta vượt lên trong đời. Tuy nhiên, may cho chúng ta, thông qua đau đớn, Thiên Chúa và tự nhiên luôn hợp sức để dạy chúng ta rằng: chúng ta không tự đủ. Tiến trình trưởng thành, già đi, và cuối cùng là chết được sắp đặt để dạy cho chúng ta (bất kể chúng ta có tiếp thu bài học này hay không) rằng chúng ta không nắm quyền, và sự tự đủ chỉ là một ảo tưởng. Cuối cùng, tất cả chúng ta đều đến một ngày mà chúng ta, như thời chưa biết thắt dây giày, sẽ đưa tay ra mà nói: “xin giúp tôi.

Triết gia Eric Mascall có một câu nói: bao lâu chúng ta còn xem cuộc đời là chuyện đương nhiên thì chúng ta không khôn ngoan cũng không trưởng thành. Chúng ta thực sự khôn ngoan và trưởng thành khi nào chúng ta xem nó là món quà nhưng không, từ Thiên Chúa, từ tha nhân, từ tình yêu.

 


 

 

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2025

MÓN QUÀ THIÊN CHÚA QUÝ NHẤT

 



 

Lm. Mark Link, S.J.

Có một câu chuyện cổ được phổ biến trong dân gian từ thời Trung Cổ.  Câu chuyện về một phụ nữ từ trần khi còn trẻ và ra trước tòa phán xét.  Cuộc đời bà khi ở trần thế thật bê bối.

 

Khi đến cổng thiên đường, bà được bảo là chỉ được vào thiên đường với một điều kiện.  Đó là bà phải trở lại trần thế và đem về một món quà mà Thiên Chúa coi là giá trị nhất.

Người phụ nữ trẻ trở về trần thế và suy nghĩ về món quà mà Thiên Chúa xem là quý giá nhất.

Ngày kia bà thấy một thanh niên vừa chết vì đức tin. Bà nghĩ, “A phải rồi, chắc đây là món quà Thiên Chúa quý nhất: đó là máu của một người chết vì đức tin.”  Bởi thế bà hứng lấy một giọt máu của người thanh niên và đem về thiên đường.  Nhưng khi trình diện máu ấy, bà được bảo là còn có món quà mà Thiên Chúa quý hơn máu người tử đạo.  Do đó bà trở về trần thế và suy nghĩ về món quà mà Thiên Chúa còn quý hơn máu của người chết vì đức tin.

Sau đó bà gặp một nhà truyền giáo già nua rao giảng lời Chúa cho người nghèo.  “A, đúng rồi!” bà nghĩ “đây là món quà Thiên Chúa quý nhất: đó là mồ hôi từ trán của người dành trọn cuộc đời để rao giảng tin mừng cho người nghèo.”  Nhưng khi bà trình diện món quà ấy, bà lại được bảo là còn có món quà mà Thiên Chúa quý hơn giọt mồ hôi của nhà truyền giáo.  Do đó bà lại trở về trần gian và suy nghĩ về món quà mà Thiên Chúa quý hơn giọt mồ hôi của người dành trọn cuộc đời để dạy bảo dân chúng về Chúa Giêsu.

 Và cứ như thế bà trở lại thiên đường với các món quà quý giá.  Nhưng lần nào bà cũng được bảo là còn có món quà mà Thiên Chúa quý hơn.

Sau cùng, một ngày kia, khi sắp sửa bỏ cuộc vì chán nản thì bà gặp một đứa trẻ đang nô đùa gần bồn phun nước.  Khuôn mặt của nó thật xinh xắn và ngây thơ.  Ngay lúc đó, một người cưỡi ngựa đi đến.  Ông ta xuống ngựa để đến uống nước ở bồn.  Khi nhìn thấy đứa trẻ, ông nhớ lại thời thơ ấu thật hồn nhiên ngây thơ của ông.  Sau đó ông nhìn vào hồ nước và thấy khuôn mặt của ông được phản chiếu trong đó.  Nó thật xấu xa và cằn cỗi.  Khi ông sững sờ nhìn vào khuôn mặt mình trong nước, bỗng dưng ông nhận thấy ông đã sai lầm phí phạm một cuộc đời mà Chúa đã ban cho ông.  Lúc đó giọt nước mắt thống hối dâng trào trên mắt và lăn dài trên gò má nhăn nheo rồi rơi xuống hồ nước.

Người phụ nữ vội hứng lấy giọt nước mắt ấy và đưa về thiên đường.  Khi bà trình diện món qùa ấy, các thiên thần và các thánh đều vui mừng.  Thật vậy, đây là món quà mà Thiên Chúa quý hơn tất cả món quà khác: đó là giọt nước mắt của người tội lỗi thống hối.

 

Câu chuyện này thật thích hợp với bài Phúc Âm hôm nay.  Vì lời cầu nguyện mà Thiên Chúa coi có giá trị nhất là lời cầu nguyện của người tội lỗi thống hối.

 

Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu còn nói:

Thiên đường sẽ vui hơn khi một người tội lỗi ăn năn sám hối hơn là chín mươi chín người công chính không cần sám hối ăn năn.” (Luca 15:7)

Hối lối được định nghĩa là đau buồn đến độ chấm dứt những hành động sái quấy.

Nhưng hối lối còn hơn thế nữa.  Nó không chỉ đau buồn đủ để chấm dứt những hành động sái quấy nhưng còn đau buồn đến độ ước muốn sửa sai những lầm lỗi mà chúng ta đã phạm trong quá khứ.  Một câu chuyện sau của ông James Colaianni giúp chúng ta thấy rõ điều này.

Một đứa bé đến thăm bà nội. Bà hỏi nó thích ăn gì nhất.  Nó trả lời, “bánh bột chiên.”  Sau đó nó cho biết thêm là khi ở nhà nó chỉ được ăn có ba cái mà thôi.  Rồi nó hỏi, “Vậy con ăn thiệt nhiều được không nội?” Bà nội gật đầu, “được.”

Sau khi đứa bé ăn gần mười cái bánh bột chiên, bà nhận ra sự khó chịu trên khuôn mặt của nó.  Bà hỏi, “Sao vậy? Con không muốn ăn thêm nữa sao!”

“Không,” đứa bé trả lời, “Con không muốn ăn nữa.  Cả mấy cái ăn rồi con cũng muốn ói ra!”

Đó là một tâm trạng tốt - khó chịu nhưng tốt.  Lý do nó tốt là vì đó là tâm trạng hối lỗi.

Hối lỗi không chỉ đau buồn đến độ muốn từ bỏ, nhưng còn là đau buồn đến độ ước muốn đừng thi hành những gì mà chúng ta đã làm.  Đây là loại thống hối mà câu chuyện cổ muốn đề cập đến.  Đây là loại thống hối mà Chúa Giêsu đề cập đến trong Phúc Âm Lc 18, 9-14.

Nhiều năm trước đây, có một vở kịch trình diễn ở Broadway về một thanh niên bỏ học, đi bụi đời và rơi vào đường cần sa ma tuý.  Trong một cảnh không thể quên được của vở kịch, người thanh niên này nhìn lên trời và đau đớn vì tuyệt vọng, anh thốt lên: “Tôi ao ước chừng nào, phải chi cuộc đời tôi là một cuốn sách để tôi có thể xé bỏ những trang giấy đầy những sai lầm vấp phạm.”

Cám ơn Chúa Giêsu, cuộc đời thì giống như một cuốn sách.  Và cám ơn Chúa Giêsu, chúng ta có thể xé bỏ những trang giấy mà chúng ta đã sai lầm. Trong tình yêu của Người, Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta bí tích Hòa Giải.  Qua bí tích này, chúng ta có thể xé bỏ những phần của cuộc đời mà chúng ta đã sai lầm lỗi phạm. Đó là tin mừng vì món quà mà Thiên Chúa quý giá nhất là giọt nước mắt của người tội lỗi thống hối.

Suy tư

Tình trạng chung của nhiều giáo xứ tại Việt Nam là giáo dân siêng năng đi lễ và sốt sắng đọc kinh, nhưng ngại xưng tội và ngại các cuộc tĩnh tâm. Điều này nói lên việc sống đạo chưa đi vào chiều sâu của nội tâm. Đành rằng việc tham dự Thánh lễ và đọc kinh đã là một điều quý và rất đáng học hỏi, nhưng thử hỏi 'tại sao chỉ xưng tội một năm một vài lần?'- Hãy khiêm tốn nhận ra sự cứng lòng của mình, sự thiếu khiêm tốn và lối sống đạo hời hợt của mình. 

Bài Tin Mừng Lc 12, 54-59, Chúa dạy ta phải biết nhìn những dấu chỉ thời đại để tự hỏi 'Chúa muốn nói gì với tôi?; và khi đọc những đoạn Kinh Thánh hằng ngày, ta phải đặt câu hỏi 'Chúa muốn nói gì với tôi?'- Những thời điềm và những câu Kinh Thánh là những tiếng gõ nhẹ của Thiên Chúa khiến hồn ta thức tỉnh và thay đổi một vài điều gì đó cho đẹp lòng Chúa hơn.

Thời điểm. Bao lâu còn đi dọc đường, hãy lo liệu cho phần rỗi, vì sau cái chết là thưởng phạt. Sở dĩ Thiên Chúa còn kiên nhẫn - còn cho ta thời gian là vì Ngài còn mong ta sửa đổi và sinh hoa trái tốt lành, lo thanh thỏa nợ đời.



Chủ Nhật, 19 tháng 10, 2025

Làm giàu trước mặt Thiên Chúa

 



Câu chuyện Tin Mừng Lc 12, 13-21 nói với chúng ta hai lối sống đối nghịch nhau: một là làm giàu ở đời này và cách khác làm giàu trước mặt Thiên Chúa. Hai quan niệm sống này không thay đổi từ xưa đến nay, từ trong Cựu ước – từ thời chữ viết còn lưu lại được thì đã tồn tại một lối sống ăn chơi hưởng thụ, đối nghịch với lối sống thờ phượng Thiên Chúa và sống theo những chỉ thị của Ngài.

Lối sống hưởng thụ được tóm lại trong những từ như: tích trữ, vui chơi…đồ ngốc. Tại sao Chúa bảo họ là ngốc? –Vì khi tích trữ, lòng tham nổi lên, con người trở nên mù quáng thờ Thần Tài -trở nên ích kỷ, tự mãn, không còn thấy Thiên Chúa và anh em. Trong Tin Mừng, Chúa nói với người thanh niên giàu có: “Anh hãy về bán hết những gì anh có, bố thí cho người nghèo, anh sẽ có một kho tàng trên trời, rồi hãy đến theo Ta”. Trong Tin Mừng, cách sống và những mệnh lệnh của Chúa về tinh thần từ bỏ của cải luôn làm cho ta ngạc nhiên: Con Người không có chỗ tựa đầu, những mệnh lệnh khi đi truyền giáo, Chúa chết trần trụi trên thập giá. Chúa Giê su rất khác chúng ta, Ngài chủ động sống tự hủy - vì nếu Ngài muốn làm giàu thì dư sức, còn chúng ta thì có lẽ đã rán hết sức rồi, nên đành chấp nhận hoàn cảnh hiện tại, tự lấy làm đủ.

Làm giàu trước mặt Thiên Chúa là gì, bằng cách nào?

- Đừng nghĩ đến 2 chữ tích trữ. Nhiều người nghĩ rằng mình đọc kinh này kinh nọ càng nhiều càng tốt, bỏ tiền mua ân xá, dâng cúng cho Giáo hội, đi lễ Chúa nhật như một dạng bảo hiểm thiên đàng… nhưng lối sống thì không phù hợp với luân lý. Đã có một thời Giáo hội rơi vào não trạng mua bán ân sủng, linh mục Luther lên tiếng cải cách – nhưng đáng tiếc là những suy luận Thần học thái quá đã đưa đến ly giáo. Người Ki tô hữu phải có thái độ khiêm tốn trước nhan Chúa khi đọc kinh cầu nguyện. Thờ phượng Chúa là bổn phận của một thụ tạo đối với Đấng Sinh Thành nên mình, cứu chuộc mình và yêu thương mình, đừng kể công và đòi Chúa thưởng công.

-Đức tin. Ông Abraham tin rằng Thiên Chúa là Đấng trung tín, Ngài sẽ thực hiện điều đã hứa, và chính với niềm tin đó ông được kể là người công chính (Rm 4, 21-22). Anh em Tin Lành chủ trương: duy đức tin và duy Kinh Thánh; họ chủ trương chỉ cần tin là đủ để được cứu rỗi, công trạng của con người chẳng là gì cả; còn duy Kinh Thánh thì họ chủ trương Chúa Thánh linh trực tiếp linh hứng cho từng tâm hồn khi họ tiếp xúc với Kinh Thánh, họ cứ nói ra điều họ hiểu biết. Còn người Công giáo thì hiểu khác: Đức tin vào Thiên Chúa – vào Đức Ki tô là điều tối cần cho ơn cứu rỗi, nhưng đức tin không việc làm là đức tin chết, Thập giá Chúa Ki tô mang lại ơn cứu rỗi cho tất cả loài người – nhưng Chúa cho con người đóng góp phần nhỏ của mình vào thập giá Chúa Ki tô để cứu mình và anh em; còn về Kinh Thánh, chúng ta phải đọc Kinh Thánh trong sự hướng dẫn của Giáo hội – vì Giáo hội được Chúa giao bảo tồn kho tàng ơn thánh và mạc khải.

Con đường tu đức của mỗi người dài bao xa và mình đang ở bậc thang nào? Có câu chuyện kể về một người đệ tử tìm thầy học đạo, vừa gặp thầy anh đưa ra câu hỏi ‘phải mất mấy năm con sẽ đạt được giác ngộ’, thầy trả lời ‘có lẽ 10 năm’, người kia giật mình nghĩ ‘chẳng lẽ lâu vậy sao?’, người thầy nói lại ‘có lẽ 20 năm’. Chúa dạy ta và giúp ta thực hành bài tập tự thoát, quảng đại trao ban, nỗ lực theo Chúa mà chỉ biết trông cậy vào lòng Chúa xót thương. Hành trình tâm linh của mỗi người sẽ đạt đích khi họ biết bỏ lại những thứ cồng kềnh để thuộc trọn về Chúa, kẻ trước người sau sẽ học được bài học tự thoát khỏi những trần tục này: dục vọng, kỳ vọng, ước mơ, cái tôi, sức khỏe, người thân… và chị chết sẽ xuất hiện đúng lúc để đưa ta gặp lại Chúa Ki tô: người con gặp lại cha mình – đôi mắt nữ tỳ hướng nhìn tay bà chủ trao ban mọi sự từ lòng thương xót.

Thứ Bảy, 18 tháng 10, 2025

Truyền giáo

 



Công đồng Vaticano 2 nói: Bản chất của Giáo hội là truyền giáo. Điều này có nghĩa là: nếu không truyền giáo, mỗi người Ki tô hữu không sống đúng vai trò của mình trên trần gian này. Mỗi năm, Giáo hội dành 2 Chúa nhật để nhắc nhở và nhấn mạnh đến sứ mạng này, một ngày vào Chúa nhật thứ 3 của tháng 10 và ngày kia là Chúa nhật 4 PS (CN Chúa chiên lành).

Ngày xưa, khi nói về truyền giáo, chúng ta thường nghĩ đó là việc của các linh mục và tu sĩ, nhưng công đồng Vaticano 2 đã nhấn mạnh đến tinh thần tông đồ môi trường, đến vai trò ngôn sứ của mỗi Ki tô hữu. Cũng có một ngộ nhận khác: truyền giáo là cãi lý để thuyết phục người kia rằng ‘đạo Công giáo là đạo thật - nếu không rửa tội và tin vào Đức Ki tô thì sa hỏa ngục - chỉ có Công giáo là đúng nhất và tốt nhất – còn các đạo khác là sai lầm và là tà đạo’. Công đồng dạy rằng: mọi người thuộc các tôn giáo bạn cũng là con một Cha trên trời, họ vẫn nắm một phần nào chân lý; khi trình bày giáo lý Ki tô - phải có thái độ khiêm tốn và tôn trọng niềm tin của họ - đừng tạo nên một sự phản kháng nơi người nghe.

Khi nói về truyền giáo, Chúa Giê su dạy ta phải cầu nguyện xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người. Điều này nhắc nhở ta đừng quên cầu nguyện cho các vị chủ chăn – các nhà truyền giáo và các Ki tô hữu có lòng nhiệt thành sống đạo và truyền đạo, sống và chết giống như Chúa Ki tô. Đức Giê su đã sống tốt lành - rao truyền chân lý và chữa lành những nỗi đau của con người; Chúa đã hiến dâng mạng sống để đem lại ơn cứu độ cho nhân loại và tha thứ cho kẻ giết mình. Chúng ta đang chuẩn bị mừng lễ Các thánh TĐVN, là những bậc tiền nhân trong đức tin của chúng ta; các vị tử đạo đã sống tốt lành về luân lý, sống hài hòa và giúp đỡ mọi người – nên khi các ngài bị bắt và hành hạ, rất nhiều người thương mến; ấy vậy, khi nhận ra Chúa muốn mình dâng hiến cuộc sống để minh chứng niềm tin vào Chúa thì các ngài đã hân hoan đón nhận phúc tử đạo.Thánh Mt Gẫm, một thương gia giàu có, 31 tuổi, dù bị hành hạ và gông cùm mà vẫn luôn bình tĩnh vui tươi, ngài nói: “Tôi có ăn trộm ăn cướp gì đâu mà buồn, được chết vì đạo là một điều tốt lắm”.

Sống trong thời đại công nghệ, một trong những bận tâm của chúng ta là sạc pin các thiết bị, vì hết pin là chấm hết mọi ứng dụng. Vậy mà ngay trong xứ đạo và bạn bè, chúng ta đang chứng kiến một số người đã mất động lực sống đạo, họ chỉ duy trì tình trạng tối thiểu là đi lễ Chúa Nhật, ngoài ra không làm gì nữa hết với nhiều ngụy biện như già, bất tài, bệnh, bận… Trong bài Tin Mừng CN 29 TN C có nói tới hình ảnh ông Moi sen giơ tay cầu nguyện thì dân Israel thắng thế, nhưng rồi ông mỏi mệt và hạ tay xuống thì dân A ma lech thắng trận, hai người bạn đã giúp nâng đỡ cánh tay ông Moi sen và dân Israel đã thắng trận; còn bài Tin mừng Lc 18, 1-8 kể về chuyện vị quan tòa đã giúp đỡ bà góa vì bà kiên trì kêu xin mãi, nhưng câu kết nói: “Liệu khi Con Người đến, liệu Người còn thấy niềm tin trên mặt đất nữa chăng”. Việc cầu nguyện và hành trình sống đạo có những lúc mỏi mệt và hết pin, các nhà tu đức khuyên dạy: dù chán nản, đừng bỏ cầu nguyện.



Một nhà tu đức có một hình ảnh rất sống động về truyền giáo: Có một nhóm thợ, cứ hằng tuần họ tụ họp ở nhà kho để chuẩn bị dụng cụ cho việc ngày mai ra đồng, họ tra dầu máy móc và mài giũa cuốc xẻng, rồi họ ra về, tuần sau công việc được lặp lại… và họ quên hẳn việc ra đồng. Đó là hình ảnh của cuộc tụ họp Thánh Thể của một Giáo hội địa phương: Chúa quy tụ con cái mình trong cử hành hy lễ Tạ Ơn, nuôi dưỡng họ bằng Lời và Mình Thánh, sai họ ra đi loan truyền việc Chúa chịu chết và sống lại. Thế nhưng, nhiều khi các Ki tô hữu quên nhiệm vụ truyền giáo là bản chất (cái làm nên giá trị thật sự) của mình: trở nên muối-men-ánh sáng trong môi trường họ sống. Nếu các Ki tô hữu không nhiệt tình và không ý thức việc giới thiệu Chúa cho người khác, thì nhà thờ Giáo xứ được ví như nhà kho cổ kính – nơi cất giữ Chúa, sách Thánh và Thánh Thể … Đúng ra, cuộc sống của Ki tô hữu phải là cuộc sống loan truyền việc Chúa chịu chết và sống lại, Lời và Thập giá Chúa có sức công phá mãnh liệt mọi quyền lực của sự dữ. Khi đối diện với một tai ương và bệnh hiểm nghèo, phản ứng đầu tiên của con người thường là đặt câu hỏi ‘tại sao lại là tôi?’, nhưng có những người, dù trải qua nhiều lần giải phẫu – lòng vẫn an bình và đáp lại bằng một lời đầy đức tin ‘tại sao không phải là tôi?’, đó là một tinh thần tử đạo giữa đời thường. Thánh Phê rô Dũng an ủi vợ: “Hãy vui mừng vì tôi được hy sinh mạng sống cho Chúa Ki tô”.

Dù bất cứ thời đại nào, việc truyền giáo luôn luôn khó khăn và chống đối, vì bóng tối thì ghét ánh sáng, nhưng việc truyền giáo được khởi nguồn từ Chúa và thực hiện với sức mạnh của Chúa. Con người đừng tự hào về công khó và sự đóng góp của mình và cũng đừng nản lòng khi không thấy thành công. Chúa không xét đến công trạng bên ngoài, Ngài chú trọng đến nỗ lực của một em bé lê bước đến với Ngài từng ngày – với ước muốn mãnh liệt muốn làm vui lòng Chúa và cao rao tình yêu Chúa dành cho mình. Truyền giáo khởi đi từ ý thức rằng mình được Thiên Chúa yêu thương và muốn loan truyền cho người khác về tình yêu đó – để nhiều người được hưởng phúc âm cứu độ.