Danh sách Blog của Tôi

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

Người Mẹ





Tháng Mân Côi đã về, chúng ta cảm thấy ấm áp cõi lòng hơn khi có dịp yêu mến Mẹ Maria nhiều hơn.
Trong tháng 9.2013 này, Đức Phanxicô đã có 2 bài nói chuyện, dùng những hình ảnh rất sâu sắc của người mẹ trần thế để nói về mẹ Giáo Hội và Đức Maria. Thiên Chúa cũng là một người cha và cũng là một người mẹ của từng người chúng ta.
Công việc đầu tiên của người mẹ là sinh con. Sau những ngày cưu mang con nơi cung lòng mình, người mẹ đã cho con mình chào đời, dù cuộc đời đầy sóng gió và những thách đố. [Mẹ Giáo hội cũng sinh con mình nơi giếng nước rửa tội bởi phép Chúa Thánh Thần. Đây không phải là một sự kiện hình thức bề ngoài, không phải là điền vào một tờ giấy mà người ta đưa cho chúng ta. Không, không phải vậy! Nó là một hành động nội tại, sống động. Chúng ta không thuộc về Giáo Hội như thuộc một hiệp hội, một đảng phái, hay bất cứ một tổ chức… nhưng thuộc về Thân Mình Chúa Kitô. tất cả chúng ta đều được mời gọi cộng tác vào việc sinh ra các kitô hữu mới cho đức tin, tất cả chúng ta đều được mời gọi là những người giáo dục trong đức tin, và loan báo Tin Mừng]. Mẹ Maria đã sinh cho đời Đấng Cứu Tinh là Đức Giêsu, là trưởng tử của một đoàn anh em đông đúc là chúng ta, và Mẹ là mẹ các tín hữu.

Đồng hành cùng con. Sở dĩ người mẹ không giữ con mình mãi trong dạ, cũng không bao bọc con trong lồng kính, cũng không dẹp bỏ mọi chướng ngại trên đường con mình đi… là để cho chúng được trưởng thành. Chính những gian lao thử thách của môi trường sống sẽ rèn luyện ý chí và tự do của con mình, có vậy người con mới không bị cuộc đời vùi dập. Mẹ Giáo Hội và Mẹ Maria cũng đồng hành với từng người con với tình âu yếm, hướng dẫn con bằng lề luật Tin Mừng và các giáo huấn của mình, bằng việc cử hành các bí tích và lời chuyển cầu, nhưng vẫn để con mình tự do bước đi trên mọi nẻo đường đời.

Tình mẫu tử. Người ta thường bảo: “Người mẹ bao giờ cũng là một người mẹ;Tình yêu và lý trí thường không đi đôi với nhau”. Có những bà mẹ trần gian có thể nói đã trao cho con cả cuộc đời và mọi của cải mình có, khi chẳng còn lại gì thì bị người con hắt hủi…vậy mà bà vẫn thương con và chỉ mong người con biết nghĩ lại. Nhà tôi có con mèo mẹ, hễ bắt được con chuột dù lớn hay nhỏ, đều kêu con mình đến và ngồi nhìn con ăn, mắt lim dim tỏ vẻ sung sướng, đó là bản năng của loài mèo chứ chẳng phải do giáo dục hay lý trí điều khiển… tuy vậy nó cũng gợi cho tôi sự cao thượng của ‘tình mẹ’. Thiên Chúa, Giáo hội và Mẹ Maria không bao giờ đóng cửa lại với những người con đã đi xa nhà, ánh mắt của mẹ đã mờ vì đợi chờ con, vòng tay của mẹ luôn sẵn sàng để ôm chầm lấy con khi con về lại nhà. [Chúng ta nói rằng một bà mẹ biết “chường mặt ra” vì các con, nghĩa là được thúc đẩy luôn luôn bênh vực chúng. Tôi nghĩ tới các bà mẹ đau khổ vì con cái bị tù tội hay ở trong các hoàn cảnh khó khăn: các bà không hỏi xem chúng có lỗi hay không, các bà tiếp tục yêu thương chúng và thường chịu các nhục nhã, nhưng không sợ hãi và không ngừng tận hiến chính mình].

Mỗi người làm nên Giáo hội. [Đức Thánh Cha nói: Đôi khi tôi nghe nói “Tôi tin Thiên Chúa, nhưng không tin Giáo Hội”. Giáo Hội là tất cả chúng ta, từ một em bé mới rửa tội cho đến các linh mục và giám mục. Và nếu bạn nói rằng bạn tin Thiên Chúa nhưng không tin Giáo Hội, thì bạn đang nói rằng bạn không tin chính mình, và đó là một sự mâu thuẫn].
[Khi người ta nói tới các thiếu sót đó của mẹ chúng ta, thì chúng ta che đậy chúng lại, chúng ta yêu chúng, thế thôi... Và Giáo Hội cũng có các thiếu sót của mình. Tôi có yêu mến Giáo Hội như thế, như tôi yêu mẹ tôi không? Chúng ta có giúp Giáo Hội trở thành xinh đẹp hơn, đích thật hơn, theo như Chúa muốn không? Chúng ta đừng bép xép về những điều không tốt của Giáo hội, phải biết cầu nguyện cho Mẹ mình].

Những thế kỷ gần đây, thế gian đã tấn công Giáo hội bằng bạo lực, bằng luật pháp và bêu xấu hàng giáo sĩ. Sự tấn công đó không ngừng xảy ra từ bên ngoài lẫn bên trong với ý đồ phá hoại Giáo Hội Công Giáo một cách từ từ nhưng họ tin là chắc chắn, giống như con sâu, con mọt, cứ gặm, cứ cắn, rồi một lúc nào đó, cột nhà sẽ sập. Nhưng Thiên Chúa luôn là Đấng quyền năng và giàu lòng xót thương, mẹ Giáo hội luôn quản lý một kho tàng ơn Thánh diệu kỳ và có muôn vàn người công chính ngày đêm đang bước đi trên đường lối Chúa, và bên cạnh đó còn có Mẹ Maria luôn đồng hành với từng người con trên vạn nẻo đường đời, Mẹ luôn tìm cách sinh hạ Đức Kitô nơi cõi lòng nhân gian.
(Những câu trong ngoặc [...] là trích bài nói chuyện của Đức Phanxicô)

Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2013

Chuyện kể về nước Úc




Tôi có dịp gặp thầy Raphael Trần Anh Văn đang du học ở Úc theo chương trình nhà dòng, thầy kể một vài chuyện về nước Úc. Vì nghe trong một bữa ăn sáng, có thể có vài tình tiết không thật chính xác, xin ghi lại như một điều khích lệ cho văn hóa và nếp sống đạo người Việt Nam.
Kangaroo: ở nước Úc, chẳng ai ăn thịt nó cả và chúng sinh sôi  rất nhiều, ăn hết cả cỏ của các loại súc vật khác, có lúc người ta phải bắn để giảm bớt số lượng và thường cán chết chúng khi chạy xe ban đêm. Ấy vậy mà ở Việt Nam, Kangaroo lại đang trở nên một loại đặc sản để nhậu.
Dân cư Úc là 25 triệu người, sống trên một diện tích rộng bằng 30 lần nước Việt Nam… Bởi đó nguồn lợi từ thiên nhiên là rất lớn và sống rất rộng rãi, thoáng đãng. Cộng đồng người Việt có khoảng 250.000 người, sống đạo rất hăng say và tạo một sự năng động cho vùng đất nầy, có đến 500 linh mục Việt đang phục vụ tại Úc. Có người bảo: “Trước đây, người Ái Nhĩ Lan truyền đạo cho Nước Úc, thời hoàng kim của họ đã qua đi rồi. Nay đến lúc người Việt Nam đang sinh sống ở Úc làm cho đời sống đạo sinh động trở lại”.
Có hai chủng viện lớn nhất ở Úc, một có 15 chủng sinh thì có đến 10 người Việt Nam; còn chủng viện kia có 55 chủng sinh thì có đến 12 người Việt. Khi vào chủng viện, kỷ luật ở đây cũng khá lỏng lẻo, có nhiều tự do và không có nhiều bó buộc... để tập cho các thầy tự chủ. Nhiều người cũng thấy chán vì không giúp họ làm chủ được bản thân và cũng không khác chi ở ngoài đời.
Người Úc nói chung đã tiến đến giai đoạn sống đạo của phương tây: đạo chỉ là một nhu cầu bên lề cuộc sống, khi cần thì đến nhà thờ còn bình thường thì thôi; lúc chết tiện đâu làm đó, ông cha Công giáo cũng được mà Tin Lành hay Anh Giáo cũng xong.

Người Mẹ ở nước Úc thường cho con ngủ riêng và ít bồng bế chúng, đẩy xe cho trẻ đi chơi và để chúng nằm ngửa nhìn trời, trong lúc bà phì phèo điếu thuốc… đó là hình ảnh bình thường ở Úc. Trẻ lớn lên thường có một khoảng cách tình cảm với cha mẹ và sống tự lập. Người Việt thường chăm sóc con từng li từng tí, âu yếm con và giáo dục con khắt khe… trẻ lớn lên có một sự gắn bó với những người thân ruột thịt và nếp sống đạo cũng tốt hơn.
Qua những câu chuyện được kể trên, người Việt mình nên duy trì sự thân tình của những người trong một nhà và nếp sống đạo tình cảm: năng lui tới nhà thờ, sống tình bác ái huynh đệ, tin là sống hết mình theo Thầy Giêsu với một niềm xác tín mãnh liệt.

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013

Cặp đôi hoàn hảo





Chuyện ly dị, ngoại tình, sống thử, đa thê, phá thai và hôn nhân đồng giới là những thực tại đang xảy ra hằng ngày và phổ quát, nói lên sự lăng loàn về tình yêu và tình dục. Từ ban đầu Thiên Chúa đã tạo dựng nên một người nam và một người nữ để họ yêu thương nâng đỡ nhau và sinh dưỡng con cái. Những điều cơ bản đó đã được linh mục thẩm vấn đôi bạn một lần cuối trước khi họ trao nhau lời thề hứa: tự do chớ không bị ép buộc, sẵn sàng đón nhận con cái và giáo dục chúng theo sống theo luật đạo Chúa. Nếu hai câu hỏi nầy được trả lời ‘khác đi’ thì lễ cưới lập tức phải ngừng lại, vì những lời thề hứa yêu thương và chung thủy trọn đời mất hết ý nghĩa. 

Có một câu nói dân gian: “Trước khi ra trận cầu nguyện một lần, khi đi biển cầu nguyện 2 lần, và kết hôn thì cầu nguyện 3 lần”, là muốn nói rằng: hôn nhân là một điều hệ trọng nên phải cầu nguyện để nhận biết ý Chúa, phải có Chúa đồng hành. Cái khó của đời hôn nhân nằm ở chỗ là sự kéo dài của nó đến trọn đời. Tình yêu hôn nhân là một ngọn lửa mà ta phải luôn nhóm và giữ cho khỏi tắt, dù trời lặng gió hay giông bão.
Mỗi người là một cá vị độc đáo về cá tính và còn khác nhau về giáo dục nay kết hợp thành một gia đình, thề hứa ‘yêu thương – chung thủy và tôn trọng nhau đến trọn đời, ngay cả khi bệnh tật và gian nan’. Có thể nói đây là một trong những lời thề vĩ đại và cao cả nhất mà một người dám thốt lên, vì nó đòi hỏi ta một sự quảng đại, kiên trì, nhẫn nhục, tha thứ và phải có kỹ năng sống. Ba chữ già-bệnh-gian nan muốn nói với ta điều gì?- Già thì xấu đi, chậm chạp và run rẩy, nghe kém và nhìn yếu, không còn làm ra tiền. Bệnh, rất tốn tiền mà còn làm bận vướng chân ta vì ta phải luôn túc trực để chăm sóc từng ly từng tí. Gian nan là nói đến sự ngặt nghèo về kinh tế, không duy trì được những sinh hoạt và tiện nghi tối thiểu. Ai cũng mong gia đình mình đừng vấp phải những éo le trên. Và còn một thử thách cũng nặng nề không kém đó là đơn chiếc, một người ra đi trước để gánh nặng gia đình cho người còn lại gánh vác. Nói lên những khó khăn của đời hôn nhân như trên để thấy giá trị cao đẹp của lời thề hôn phối, chứ thực ra ‘một con đường bằng phẳng thường không đưa đến đâu cả’, cuộc sống nào cũng có những chông gai để đức tin của ta được trui luyện cho nên tinh tuyền.
Khi nói rằng ‘Hôn nhân là một ơn gọi” người ta muốn nói gì? – Hôn nhân là sự kết hợp huyền nhiệm của Thiên Chúa để hai người bổ trợ nhau, giúp nhau nên thánh. Hiểu như vậy thì mỗi người là ‘một cặp đôi hoàn hảo và là mối tình của thế kỷ’, vì được Chúa kết hợp, được Chúa che chở và có Chúa đồng hành. Hoàn hảo ở đây không phải là 'hết ý' về địa vị, vật chất, trình độ, duyên sắc hoặc sự hòa hợp về cá tính, nhưng muốn nói đến sự kết hợp vợ chồng nằm trong sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa. Sự linh thánh của ơn gọi hôn nhân còn có một chiều dài vĩnh cửu sang đến cõi thiên đàng, là kết quả tất yếu của một cuộc đời biết trao ban liên lỷ và trọn vẹn.
Y thức rằng mỗi đôi hôn phối đều là cặp đôi hoàn hảo, hãy hoàn thành sứ mạng của mình trong chương trình sáng tạo và cứu chuộc của Chúa. Trên phương diện nhân loại ta có thể nói: Để thành công trong đời hôn nhân, đôi bạn phải biết làm mới lại (refresh) tình yêu và biết kính trọng nhau như khách. Trên bình diện đức tin, cha Augustinô Hoàng Đức Toàn có hiến cho các đôi bạn trẻ một bí kíp: “kinh nguyện sáng tối trong gia đình”. Ngài nói: Nếu đôi bạn trẻ nào khi đã thực hành bí kíp này hằng ngày mà còn xảy ra chuyện lục đục trong gia đình thì cho dù đã nằm dưới lòng đất, tôi cũng xin chịu trách nhiệm!

Thứ Bảy, 31 tháng 8, 2013

Những bữa tiệc




Chúa Giêsu đã từng tham dự nhiều bữa tiệc. Trong một bữa tiệc cưới tại nhà một người biệt phái, Chúa đã quan sát thấy nhiều người tìm cách chọn cho mình một chỗ cao và trổi vượt hơn những người khác. Nhân tiện đó, Chúa dạy chúng ta hai bài học: Đừng chọn chỗ nhất và biết sống tinh thần bất vụ lợi. (Lc 14,1.7-14)
Qua nhiều câu Kinh Thánh, lòng kiêu ngạo bị lên án và đức khiêm nhường được đề cao, ví dụ như: “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu căng và ban ơn cho kẻ khiêm nhường” hoặc câu khác “Chúa hạ bệ những ai quyền thế và nâng cao những người phận nhỏ”. Đã nhiều lần Chúa Giêsu dùng những câu chuyện để đề cao nhân đức khiêm nhường, như câu chuyện người biệt phái và người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện để nói rằng người khiêm tốn sẽ được hưởng lòng thương xót Chúa; Chúa đặt một em bé giữa các tông đồ để dạy các ông trở nên nhỏ bé trước mặt Chúa và anh em.
Sách GLHTCG đã nói về các đam mê như sau: “Bí tích Thánh Tẩy ban cho con người đời sống ân sủng của Chúa Kitô, nhưng vì hậu quả của tội tổ tông đã làm cho bản tính con người ra yếu đuối và hướng chiều về điều xấu (các đam mê), nên lịch sử nhân loại là một cuộc chiến đấu thiêng liêng: con người phải luôn chiến đấu để gắn bó với điều thiện hảo và chỉ sau khi hết sức cố gắng và với sự trợ giúp của ơn Chúa, con người mới đạt được sự thống nhất nội tâm” (số 405-409). Kiêu ngạo là nết xấu đứng đầu trong các đam mê con người. Từng giây phút trong cuộc sống, con quỷ kiêu ngạo luôn kích thích ta nghĩ rằng mình tài giỏi và đáng được mọi người biết đến. Đầu óc ta mơ tưởng, khuôn mặt ta phỉnh phờ, cái miệng ta bép xép những chuyện chung quy về cái ‘tôi’, dù nó được ngụy trang dưới nhiều hình thức và đề tài. Cả đến trong giấc ngủ, ta cũng có những cuộc tranh giành địa vị và mưu lược cho cái ‘tôi’ của mình được nhìn nhận. Thánh Phaolô đã từng thốt lên: “ai sẽ cứu tôi khỏi cái thân xác hay chết nầy? – Nhờ ơn Đức Giêsu Kitô Chúa tôi.”(Rm 7, 24-25), đó là ngài nói tới cuộc chiến đấu nơi bản thân giữa điều ác và điều thiện. Và ở chỗ khác Thánh nhân cũng nói: “Và để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Xa-tan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại” (2Cor 12,7). 

Chúa dạy ta rất rõ ràng cách đối xử trong bữa tiệc cuộc đời: Đừng học tính kiêu phô trương khi làm việc lành, đừng tìm chỗ nhất nơi hội đường và các đám tiệc, ai muốn làm lớn thì hãy là người âm thầm phục vụ anh em, anh em hãy yêu thương nhau đến mức hy sinh mạng sống và rửa chân cho nhau…như Thầy đã làm gương. Chúa không dạy ta dùng mưu mẹo để được người đời tôn kính: giả bộ ngồi nơi thấp để được người khác nhắc lên cao, nhưng là một lòng khiêm tốn phát xuất từ nơi đáy lòng: khiêm tốn như Chúa Giêsu đã dạy và đã làm gương, Chúa đã hạ mình mặc phận hèn nô lệ đến nỗi chết trần trụi như một tội nhân … vì tuân phục ý Cha. Khi chung sống trong một cộng đoàn hay một tập thể, nếu ta nuôi lòng hận thù và gây tang tóc cho tha nhân thì đời ta cũng chẳng sung sướng gì, nhưng nếu ta biết mở rộng bàn tay để tạo hạnh phúc cho anh em thì những ngày lưu trú trên trần gian là những bữa tiệc của ân phúc và còn hứa hẹn một mùa bội thu rộn ràng nơi nước Trời.
Và khi đến tham dự bàn tiệc Thiên Quốc, ta cũng đừng tự hào vì công trạng mình lập được để đòi Chúa cho mình một ‘vai vế’ trọng vọng, vì thực ra ‘tay công đức của ta thì trống trơn nghèo hèn, tay tội lụy ngập tràn chan chứa, hạnh phúc nước trời là một ân ban mà ta phải reo hò mừng rỡ.
Bài học thứ hai xem ra khó thực hiện hơn: Khi mời khách dự tiệc hoặc khi làm ơn thì hãy chọn những người đui què tàn tật để họ không đáp trả được, như vậy mới được Chúa đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại. Nếu một người ngoại đạo đi lễ và nghe linh mục đọc phần 2 của đoạn Tin Mừng Chúa nhật 22 này (Lc 14,12-14), có lẽ họ sẽ mỉm cười giễu cợt, vì không thấy ai thực hành Lời dạy của Chúa một cách cụ thể, từ cấp giáo phận – giáo xứ và từng gia đình các Kitô hữu. Thực tế, nếu tôi tổ chức tiệc cưới cho con cái thì tôi sẽ mời bà con láng giềng, hầu hết họ là những người tử tế sẽ gửi quà mừng cho tôi ‘đàng hoàng’, và tuyệt nhiên trong phòng tiệc không có ai tàn tật, nghèo, què, đui mù cả. Bài Tin Mừng hôm nay là một trong nhiều nhiều đoạn Tin Mừng mà không phải ai cũng thực hành theo nghĩa đen được, nhưng là sống tinh thần Chúa dạy. Hôm nay Chúa dạy ta phải có tinh thần nào khi làm việc thiện? – Đó là sống ‘vô vị lợi’. Xã hội hôm nay, người ta đề cao lợi nhuận và phúc lợi cá nhân. Để làm việc gì, câu hỏi đầu tiên ta thường nêu lên là: tôi được lợi gì, kiếm được bao nhiêu, ai cần ai, có bõ công không, và từ đó sẽ đi đến kết luận: làm hay không làm? Nhiều khi những câu hỏi khác bị lấn át đi: việc này tốt hay xấu, làm vì tình thần Phúc Âm và được hưởng lòng thương xót Chúa hay chỉ được thiên hạ trả công?

Thánh Augustiô nói: “Hãy yêu đi rồi muốn làm gì thì làm”, là muốn dạy ta biết đặt tình yêu vào trong những công việc lớn nhỏ mình làm, vì chính men tình yêu sẽ làm cho khối bột cuộc đời nên giá trị trước mặt Chúa và con người. Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa dạy ta phải có tinh thần trong sáng khi mở miệng nói điều gì hoặc khi dự tính một công việc, coi chừng ta  hành động vì ‘cái tôi’ và vì tinh thần duy vụ lợi… nhưng biết làm mọi việc vì tình yêu Chúa và tha nhân, vì vinh danh Chúa và phần rỗi các linh hồn.

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

Chúa có cách




Giáo xứ Vinh Hương vừa trải qua một giai đoạn có nhiều biến động. Ngày 27/6/2013 một số rất đông bà con đưa tiễn cha Phêrô Cao Tiến Hà về giáo xứ Đức Lệ, tôi không ngờ nhiều người nhiệt tình đến thế. Ngày 29/6/2013 giáo xứ lại hân hoan đón cha Phaolô Trần Vĩnh Niệm về làm cha phó, cũng rất đông bà con từ giáo xứ Vinh An tiễn đưa cha. Hiện diện hôm ấy còn có cha Phaolô Nguyễn Thư Hùng (cha quản hạt Đakmil), cha Anrê Trần Xuân Cương (cha quản xứ Vinh An) và cha Phaolô Nguyễn Công Minh. Buổi hội ngộ tại phòng khách giáo xứ hôm ấy rất ấm cúng, rất thân tình và có nhiều câu nói đáng ghi nhớ.
Cha Anrê Trần Xuân Cương nói: “Người ta thường nói lịch sử không bao giờ lập lại, nhưng ở đây hình như lịch sử được lập lại. Cách đây 56 năm, vào năm 1957, một cha phó từ Vinh An được đưa tới Vinh Hương và trở thành cha quản xứ tiên khởi; và hôm nay cũng một cha phó nữa được đưa từ Vinh An tới Vinh Hương”. Cha Anrê chỉ nói tới đó, và không ai ngờ rằng vào ngày 5/8/2013 Đức cha Vinh Sơn đã bổ nhiệm cha Phaolô Trần Vĩnh Niệm làm cha quản nhiệm trông coi giáo xứ Vinh Hương, với quyền quản xứ. Ngày lập xứ, cha G.B Hồ Sĩ Cai tự lo liệu và đề xướng sáng kiến cho mọi sinh hoạt tinh thần và vật chất cho bà con giáo dân; còn hôm nay khi cha phó Phaolô đến giáo xứ, mọi sinh hoạt tinh thần và vật chất đã đi vào nề nếp hơn, nhưng cha lại phải chạy theo những sinh hoạt để hiểu sự hoạt động sẵn có mà các cha tiền nhiệm đã dày công xếp đặt.
Trong buổi tiếp đón cha phó, cha Phaolô Nguyễn Công Minh rất phấn khởi vì đã có người giúp ngài trong công việc mục vụ để cha yên tâm lên đường đi chữa bệnh. Giáo dân Vinh Hương còn nhớ rất rõ về cách đối xử tình nghĩa của cha xứ với cha phó Phêrô Cao Tiến Hà, mỗi lần có dịp thì ngài thường cảm ơn cha phó không tiếc lời, kèm theo cái ôm chân tình. Hôm nay cha xứ chỉ nói đơn giản: “Tuy giáo xứ Vinh Hương nhỏ, nhưng cha yên tâm, vì vẫn có đủ sữa cho cha bú, vì người chăn chiên thì bú sữa chiên”. Ngày hôm sau, trong Thánh lễ sáng chủ nhật, cha xứ lại còn nói thêm: “Chắc chắn cha sẽ được mọi người yêu mến, vì cha rất đáng yêu, vì bệnh tật như tôi mà còn được giáo dân thương mến nữa là. Cụ thể là giáo xứ đã chọn một người rất đẹp để tặng hoa cho cha chứng tỏ giáo dân rất quý mến cha”. Không ngờ đó là những lời cuối cùng cha xứ ngỏ với cha phó và giáo dân.
Kể từ đầu năm 2013, tin tức về cha Phaolô Trần Vĩnh Niệm được bổ nhiệm làm cha phó Vinh Hương được loan đi; cũng kể từ đó nhiều tin đồn về cha được loan đến giáo xứ rất dồi dào và thường là những tin không tốt đẹp. Dịp chầu lượt 10.3.2013 cha phó được mời về giảng tĩnh tâm một ngày, cha khá hồi hộp và cha giảng khá ấn tượng. Chỉ vỏn vẹn một đêm ở chung một mái nhà, cha xứ đã lên đường đi Saigòn, cha phó kêu gọi bà con cầu nguyện và giúp đỡ cha xứ, cha mong chờ cha xứ về để trao đổi những kinh nghiệm mục vụ, nhưng chuyện đó không thể xảy ra. Và cha phó như người phải bơi theo dòng nước nhưng lại phải làm chủ dòng nước đó, là người cha tinh thần của mọi tâm hồn nơi giáo xứ Vinh Hương.
Ngày đón xác cha xứ trở về với bao tình cảm ngậm ngùi, nhiều dự tính tan vỡ, nhưng tâm tình yêu thương hiệp nhất được thể hiện rất cao độ với nhiều hành vi tự nguyện của nhiều cá nhân. Rất nhiều lời khen tặng: ‘một lễ tang đông đảo, sốt sắng, thể hiện tinh thần cộng tác của người giáo dân vào sinh hoạt giáo xứ’. Nhiều người đến viếng xác cha xứ, lâm râm khẩn cầu cho những ước vọng cá nhân và cho tương lai giáo xứ. Tôi cũng cầu nguyện cho linh hồn cha Phaolô được diện kiến tôn nhan Chúa, và còn xin thêm: “cha biết rõ con cần gì hơn cả thì xin chuyển cầu cho con với”. Chúng ta xác tín rằng nỗi ưu tư lớn nhất của cha Phaolô, cả khi sống và ngay cả bây giờ  là đời sống tâm linh của giáo xứ Vinh Hương.
Sau những ngày tang cha xứ, tôi đi dự 2 ngày tĩnh huấn HĐGX và  nhận ra một sự thay đổi rõ rệt nơi mình: tôi không còn thành kiến với cha quản nhiệm như trước nữa, tôi nghĩ đó là lời chuyển cầu của cha cố Phaolô. Tôi nhớ hai lời khuyên của hai vị chủ chăn. Đức Cha Vinh Sơn đã từng nói: “Hãy thương lấy các cha quản xứ”. Đúng vậy, hãy gạt sang một bên những lời đồn đại về cha quản nhiệm của chúng ta, hãy thương lấy ngài, vì thực ra “cha cũng rất đáng yêu”, cha thế nào là do cách chúng ta đối xử với ngài. Tôi lại nhớ một lời khác của cha quản hạt Đakmil, trong tuần chầu lượt vừa rồi đã giảng rất hùng hồn: “Chúa có cách. Chúa Giêsu Thánh Thể cũng là Chúa Giêsu ngày xưa đã từng làm nhiều phép lạ cả thể. Điều quan trọng là chúng ta có tin vào quyền năng của Chúa, có đến giãi bày những vấn nạn cuộc đời với Chúa và để cho Chúa hoạt động hay không”.
Bởi đó, thay vì bàn tán nhiều chuyện tầm phào, tính toán theo kiểu người đời, thì hãy chuyên tâm cầu nguyện với Chúa Giêsu, giao phó cho Ngài mọi ưu tư lo lắng vì tin rằng Chúa có cách giải quyết mọi vấn đề về Giáo hội và giáo xứ, là Hiền thê yêu dấu của Chúa. Hãy thể hiện tình yêu của mình với cha quản nhiệm, là vị chủ chăn Chúa cắt đặt trông coi phần rỗi các tâm hồn, bằng sự chăm sóc và cầu nguyện cho ngài. Đó cũng là tâm nguyện của cha cố Phaolô Nguyễn Công Minh, hãy thể hiện lòng tri ân ngài bằng hành động tích cực xây dựng tình hiệp nhất và góp phần vào những sinh hoạt giáo xứ.

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

Cái chết





Trong hai ngày qua, tôi chứng kiến hai cái chết vì bệnh tật của 2 người đàn ông : một người có đạo chết ở tuổi 35 và một người theo Phật giáo chết ở tuổi 55. Cả hai cái chết cùng đau thương, bạn bè đến chia buồn, những nghi thức canh thức và chôn cất.
Trước hết, tôi đề cập đến cái tang của người theo Phật giáo. Cách tổ chức của họ cũng khá rõ ràng về giờ giấc: giờ chết, hưởng dương, nhập quan và mai táng và cũng có đội kèn đến thổi, có Thầy đến đọc kinh cầu siêu. Tiếng kèn mới não lòng làm sao, không có những giờ đọc kinh và ẩn chứa trong lòng mỗi người câu hỏi: “Không biết kiếp sau của người chết sẽ đầu thai thế nào?” Xem ra cuộc chia ly của người anh em Phật giáo cô đơn hơn, vì họ bước vào một không gian rộng lớn của vũ trụ, đi một mình và không biết rõ phận mình.

Đứng trước cái chết, người có đạo cũng đau buồn vì mọi dự tính còn dở dang và tương lai còn mập mờ: “phần rỗi người thân mình thế nào?” Nhưng những Lời Chúa nói về cõi đời sau phần nào yên ủi chúng ta, làm vơi đi phần nào những đau thương của sự chết: chết là đi gặp Chúa, sự sống thay đổi chứ không mất đi. Ngoài những lời chia buồn theo lẽ tự nhiên, người con cái Chúa còn thể hiện mầu nhiệm các Thánh thông công qua những buổi cầu kinh, những đoạn Lời Chúa và những bản thánh ca ... nuôi dưỡng và củng cố lòng tin của nhau trong hoàn cảnh đau thương, giúp con người nhận ra Thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa.

Tôi đi gặp Đấng lòng tôi hằng yêu mến. Cuộc ra đi nầy, ta không đi một mình và không đi vào cõi vô vọng, nhưng là đi về nhà Cha, có sự đồng hành của Chúa Giêsu – của Mẹ Maria và của thiên thần bản mệnh cùng sự trợ giúp của muôn vàn thần thánh. Nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu tử nạn và phục sinh, người có đạo tin mình đáng được thương xót, dù công trạng riêng mình chẳng đáng bao nhiêu.
“Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai vươn hình hài lớn dậy”(Trịnh Công Sơn). Mỗi ngày người có đạo luôn tạ ơn Chúa đã cho mình làm người: cuộc sống trên trần gian của người tín hữu Kitô là quà tặng của Thiên Chúa từ nhân để chia sẻ vinh quang của Chúa, chuẩn bị cho một cuộc sống vĩnh cửu chiêm ngắm vinh quang Chúa cách nhãn tiền. Và cái chết là cửa ngõ để bước từ đời nầy sang cách thế hiện hữu khác mà thôi.
Tuy nhiên, đứng trước cái chết, dù theo đạo nào, con người cũng cảm thấy hụt hẫng và lo sợ. Hãy cầu nguyện để Xin Thiên Chúa thêm niềm tin cho con cái Ngài và hãy dùng những Lời Kinh Thánh mà an ủi nhau, vì đó là Lời hằng sống đã được Thiên Chúa mạc khải cho con người.  

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013

Khóc thương cha





Cha ơi, cha thấy đó
Sáng hôm nay, ngày mồng năm tháng 8
Ngàn ngàn người lũ lượt về đây tiễn đưa cha
Là giám mục, linh mục và tu sĩ nam nữ
Là giáo dân từ nhiều giáo xứ gần xa
Nhưng đông nhất vẫn là giáo dân giáo xứ Vinh Hương,
những người mang nặng ân tình với cha gần vài chục năm nay.
Có thể nói giai đoạn đẹp nhất của đời cha đã dành cho Vinh Hương
Chúng con biết cha từ những ngày cha là Tân linh mục,
Lúc cha còn khỏe mạnh, linh hoạt, tài hoa và rất tuyệt vời.
Rồi những ngày cha bắt đầu đổ bệnh, cuộc đời cha héo hắt thêm từng ngày, những liều thuốc cứ tăng dần theo năm tháng.
Tuy bệnh tật cha vẫn luôn bình tĩnh, là con chim đầu đàn trong đời sống tâm linh.
Rồi bệnh tật như giây thừng siết chặt, lấy khỏi cha sức khỏe thể lý và tinh thần.
Cha khổ tâm vì không thể làm điều mình muốn, để săn sóc cho đoàn chiên.
Cha trở nên hy tế thập giá qua từng ngày sống.
Thấy cha bệnh, chúng con thương cha nhiều lắm, nhưng chỉ biết nguyện cầu lòng Chúa xót thương.
Cha trở nên kiệt quệ hơn trong những năm gần đây, từng liều thuốc cha uống phải tính toán chi ly giờ giấc, làm sao để chu toàn những công việc cần thiết của một vị chủ chăn.
Tuy bệnh thế, nhưng cha luôn bình tĩnh, khuôn mặt cha luôn phảng phất nụ cười.
Cuối tháng 6, tiễn cha phó cũ đi và đón cha phó mới về.
Đầu tháng 7 tin vui mừng ập đến, cha lên đường chữa bệnh với phương pháp hiện đại, cha lại một phen lo lắng về khoản chi phí quá lớn, cha ngại làm phiền mọi người. Nhiều người sát cánh bên cha, có dịp thể hiện lòng biết ơn thảo hiếu của tình người với người bạn rất thân tình.
Từng diễn biến của của ca phẫu thuật được kèm theo lời nguyện cầu. Tiếng thở phào khi nghe tin thành công, cha khỏe lên chúng con mừng gấp bội, từng ngày một đợi cha về lại nhà.
Đầu tháng 8 đoàn con mừng thấp thỏm: cha sắp về,
chợt nghe tin cha được Chúa gọi về.
Tuy bỡ ngỡ và bàng hoàng, chúng con dần nhận ra ý nhiệm mầu của Chúa.
Cuộc hiến tế của cha đã đến giờ cao điểm, và tình yêu thập giá đã nở hoa.
Từng nhịp bước cha con song hành cả quãng đường dài,
những nhịp bước có đôi khi khập khiễng.
Nhưng giờ đây khi cha con cách biệt, chúng con hối tiếc vì nhiều khi lỡ nhịp,
làm buồn lòng cha, kém lòng mến Chúa và thiếu tình người.
Thật cảm động vì cha chọn nơi nầy làm quê hương thứ hai,
cả khi sống và bây giờ đã khuất.
Tuy xa lìa thể lý, nhưng tâm linh vẫn gần gũi,
chúng con thương cha và cha lại chuyển cầu cho chúng con.
Tuy cha khuất bóng, nhưng gương sáng cha còn ở lại mãi nơi đây,
cha đã gieo hạt và nay đến mùa gặt hái.
Xin lỗi cha, tạ ơn cha và cầu nguyện cho nhau, cha nhé.
Cầu chúc cha ra đi bình an, đến gặp Đấng Tình Quân lòng cha hằng yêu mến và suốt đời phụng sự.