Danh sách Blog của Tôi

Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2014

Hành trình đức tin






Tuy sống bên cạnh nhau trong cùng một cộng đoàn, nhưng hành trình đức tin của mỗi người không ai giống ai về độ khó, độ dài và về kết quả. Bởi đó mà chúng ta cần dùng những lời lẽ tích cực mà an ủi nhau, nhất là khi tha nhân đang trải qua giai đoạn khốn khó vì bệnh tật hay bị thử thách niềm tin. Một trong những lời khuyên rất cần thiết cho cuộc sống: “Hãy nhìn thấy khía cạnh tích cực trong mọi điều xảy ra”. Quả vậy, con người thường hay đau khổ vì trí tưởng tượng của mình và vì thói quen so sánh mình với người khác.

Khi một người bị phát hiện là có khối u (cancer) trong cơ thể mình, những người thân và chính bản thân họ thường choáng váng vì tin sét đánh này: tương lai gia đình sẽ ra sao? Tại sao mình phải chịu sự xui xẻo nầy, đây phải chăng là một sự trừng phạt? Rất nhiều người đến để chia sẻ gánh nặng mà gia đình bệnh nhân đang và sẽ trải qua, họ nói những lời động viên và thông cảm, sự hiệp thông và chung sức trong lời nguyện cầu. Những ngày đầu tiên trôi qua thì mọi người sẽ bình tĩnh đón nhận sự kiện hơn. Họ dần khám phá sự hiện diện của Thiên Chúa trong cơn hoạn nạn.
Có thể nói việc ‘Thiên Chúa chăm sóc và lo liệu cho con người đến mức độ nào’ là một trong những vấn đề khó lý giải. Người không có niềm tin thì cho rằng mọi sự đều là tự nhiên, chẳng có một Đấng nào tạo dựng và đang điều hành vũ trụ nầy cả. Con người bệnh hoặc chết là do hậu quả của việc giữ gìn sức khỏe hoặc do đoản mệnh mà thôi. Thế nhưng, người có niềm tin thì vẫn nhớ Lời Chúa nói: “Mọi sợi tóc trên đầu các con đều được đếm cả rồi và không có sợi nào rơi xuống đất mà Cha các con không biết. Đừng lo lắng về của ăn áo mặc, vì Cha anh em biết rõ anh em cần gì. Không ai trong các con, nhờ lo lắng mà có thể kéo dài thêm đời mình, dù chỉ một gang tấc. Tiên vàn hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn mọi sự khác Người sẽ ban cho anh em”(Mt 6,25-34)
Quả thật, khi đến thăm người bệnh, chúng ta phải lựa lời mà nói để tránh những kiểu nói không phù hợp với niềm tin. Đừng xem bệnh tật là một hình phạt của Chúa để ta đền tội, vì như vậy Chúa là Đấng hay trả thù. Đừng xem bệnh tật là thánh giá Chúa gửi, vì như vậy ta dễ nhận xét Chúa là một vị thần độc ác. Đừng xem bệnh tật là sự xui xẻo của vận hạn mà mình không biết để kiêng cữ, vì quan niệm nầy sẽ dẫn ta đến thói quen đi xem bói toán. Sách GLHTCG nói với chúng ta rằng: Không thể dùng một câu Kinh Thánh đơn thuần để trả lời cho vấn nạn tại sao có đau khổ mà phải dùng đến toàn bộ pho Kinh Thánh và phải xin ơn soi sáng. Bao lâu còn ở trần gian, con người chỉ có thể hiểu một phần nào đó về đau khổ, mọi sự sẽ được phơi bày khi con người bước qua ngưỡng cửa sự chết. Sách Giáo lý còn dạy thêm rằng: đau khổ và bệnh tật là hậu quả của tội lỗi, Thiên Chúa cho phép sự dữ xảy ra và Ngài sẽ dùng quyền năng vô biên của Ngài để rút ra nhiều sự lành cho phần rỗi linh hồn, Thiên Chúa là người Cha nhân lành luôn muốn cho con người hạnh phúc, Ngài hiện diện và đồng hành với con người đang trải qua đau khổ. Những đau khổ ta chịu nếu được đón nhận với lòng yêu mến Chúa sẽ trổ sinh những hoa trái thiêng liêng vô cùng quý giá cho mình và đồng loại: cộng tác vào chương trình cứu độ mà Chúa Kitô cho ta dự phần, đền tội mình và tội nhân loại, rèn luyện nhân đức và được trở nên giống Chúa Kitô.
Bởi vậy, hãy nhìn bệnh tật như cơ hội thuận tiện để gần gũi Chúa và lo lắng cho phần hồn, giúp mình dần từ bỏ ý riêng và những giá trị vật chất – chuẩn bị cho cuộc từ bỏ cuối cùng lúc ta ra đi khỏi trần thế nầy. Mọi sự ở trần gian nầy, dù ta miệt mài và vất vả làm việc mới có được, cũng chỉ là chiếc áo ta bỏ lại khi ta trở về lòng đất mẹ, chỉ còn lại tấm linh hồn trinh trong phản chiếu lòng mến Chúa yêu người mà ta đã chắt lọc qua cuộc sống trần gian. 

Dù trong hoàn cảnh nào, hãy không ngừng thưa lên: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa”, và tâm hồn ta sẽ tìm được bình an ngay bây giờ và mãi mãi.

Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014

Thánh lễ giỗ giáp năm cho cha Phaolô Nguyễn Công Minh (1.8.2013 - 1.8.2014)




Người bạn linh mục của chúng ta, Phaolô Nguyễn Công Minh, đã từ giã trần thế một năm trước đây để đi trình diện Chúa để được chiêm ngưỡng thánh nhan Ngài: “Từ nay không còn đau đớn và muộn phiền nữa, không còn những lỗi phạm đến Chúa và anh em nữa, và cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác nơi bản thân cũng không còn diễn ra nữa, chỉ còn lại một sự im lặng và an nghỉ trong Thiên Chúa.
Sự im lặng ở đây không phải là cõi hư vô, nhưng là một thực tại mà Thiên Chúa muốn giữ bí mật tuyệt đối, là một yếu tố cấu thành đức tin: “phúc cho ai không thấy mà tin”. Trí tò mò của con người đã nhiều lần tự đặt những câu hỏi về đời sau, về số người được cứu rỗi, về tình trạng hạnh phúc và điều kiện để vào nước trời. Những câu hỏi đó, người Do Thái đã từng hỏi Chúa Giêsu và Ngài đã trả lời rất rõ ràng và không úp mở trong các sách Tin Mừng. Nhưng vì không thể kiểm chứng bằng lý chứng khoa học, nên đầu óc con người cứ mãi phân vân: không biết lời nói của Chúa Giêsu có thật không?
Con người được cấu thành bởi một thân xác và một linh hồn. Thân xác được cấu thành bởi những yếu tố vật chất, luôn tìm kiếm và lệ thuộc vào vật chất, lý trí chỉ muốn tin nhận những gì có thể kiểm chứng bằng giác quan. Còn linh hồn là phần thiêng liêng được Chúa trực tiếp tạo dựng để kết hợp với thân xác, làm thành một ‘hữu thể’ duy nhất. Nơi từng người, Thiên Chúa còn đặt để một thiên thần bản mệnh để giúp ta đi trên con đường trọn lành.

Nơi cha Phaolô, những cuộc chiến nơi bản thân để hướng đến sự trọn lành, và những giằng co với lý trí trên lãnh vực đức tin nay không còn nữa. Cha đã tiến vào vùng ánh sáng để có thể chiêm ngưỡng Thiên Chúa diện đối diện, cha đã thấu hiểu bàn tay dịu dàng của Chúa ủ ấp trên từng biến cố cuộc đời, những điều mà khi ở trần thế trí óc cha không ngừng vật lộn để giữ vững niềm tin. Thế nhưng, đến lượt cha cũng phải giữ im lặng để chúng ta tin.

Giáo hội dạy ta rằng: ngoài những vị được tuyên phong là thánh, Giáo hội không biết rõ về phần rỗi của một ai khác. Đúng là một bức màn bí mật luôn bao phủ ‘sự chết’, để con người luôn tin nơi tình thương vô biên của Thiên Chúa và không đưa ra những tính toán thực dụng cho cuộc sống mình ở trần gian nầy. Nhưng chúng ta cũng biết được rằng Thiên Chúa luôn là người cha nhân từ, Ngài còn thương từng người con cái được sinh ra, còn hơn cả cha mẹ đẻ của ta nữa. Đó luôn là một lý chứng để ta tin rằng: Thiên Chúa không nỡ vứt bỏ những kẻ tin vào Ngài vào lửa hỏa ngục, có chăng là các linh hồn ấy đang trải qua tình trạng thanh luyện nơi luyện ngục, và họ rất cần sự giúp đỡ của chúng ta.
Những người đã lìa thế trước chúng ta vẫn tiếp tục cuộc sống của họ, nhưng ở một trạng thái khác với chúng ta là những kẻ đang tại thế. Thân xác họ đã trở về tro bụi. Còn linh hồn họ, với bản tính thiêng liêng, không cần ăn uống nên chẳng có lo âu, họ không còn phạm tội và cũng không còn cơ hội lập công. Tuy vậy, những người đã khuất có một khả năng rất quý giá là có thể chuyển cầu cho chúng ta, và với bản tính thiêng liêng, họ thấu hiểu nhu cầu và cùng đích cuộc sống ta đang trải qua một cách tỏ tường. Bởi đó hãy cầu nguyện cho những người đã khuất được hưởng lòng thương xót Chúa, và cũng luôn tin tưởng cầu nguyện với họ để xin sự trợ giúp thiêng liêng và cả những nhu cầu cần thiết trong cuộc sống.

Thứ Ba, 24 tháng 6, 2014

Thói quen nói xấu




Một điều gì xấu được lặp đi lặp lại được gọi là tật xấu. Nói xấu là một tật xấu phổ biến mà nhiều người khắp thế giới mắc phải. Chính Đức Phanxicô cũng luôn nhắc nhở tín hữu phải tránh tật xấu nầy, vì nó gây chia rẽ trong các mối quan hệ giữa con người và trong Giáo Hội. Và Ngài còn nói thêm: thói quen nói xấu bề trên và các linh mục là thói xấu rất phổ biến mà chính ngài cũng đã từng mắc phải.
Nói xấu một ai đó là nói cho người khác biết một điều xấu có thật của một người thứ ba. Cả người nghe và người nói cùng mang tội nói xấu, còn người thứ ba thì bị tô màu xấu xí ‘đen như quạ’. Khi hai người bạn gặp nhau, họ thường chia sẻ cho nhau những tin tức trong cuộc sống, và cũng thường chia sẻ cho nhau những chuyện xấu của một ai đó. Họ tưởng rằng đang trao nhau những món quà, nhưng thực tế lại là tặng nhau những ‘quả cấm’. Ma quỷ luôn tìm mọi cơ hội để tạo ra sự nghi kỵ và chia rẽ, vì chúng biết sự hiệp nhất là món quà của Chúa Thánh Thần.
Có nhiều lý do tạo nên sự khác biệt giữa người nầy với người kia: khi sinh ra đời, mỗi người là một cá vị độc đáo không ai giống ai, ân điển Thánh Thần ban cho mỗi người mỗi khác để họ xây đựng cộng đoàn, hoàn cảnh sống, môi trường giáo dục, nỗ lực thăng tiến bản thân cũng tạo nên những khác biệt đáng kể. Chính những khác biệt đã tạo nên sự so sánh, sự cạnh tranh giữa người nầy với người khác. Và để cho mình được nổi bật lên, người ta thường dùng đến chiêu thức nói xấu. Họ quên rằng: đích đến của con đường trọn lành mỗi người mỗi khác tùy theo ơn gọi của họ, sự so sánh về những điều vụn vặt trong cuộc sống thật không đáng kể tí nào!
Ngay phía trước bàn làm việc của cha tân tổng đại diện giáo phận Banmêthuột có một tấm bảng ghi chú: “TẠI ĐÂY KHÔNG NÓI XẤU”. Một câu nhắc nhở thật ấn tượng cho những ai đến gặp gỡ ngài. Quả thật, những lời rỉ tai và những câu chuyện ngồi lê đôi mách làm ta mất nhiều thời gian và hạ thấp giá trị tâm hồn của những người hiện diện, nhất là nói xấu các linh mục. Và một linh mục có thói quen nói xấu sẽ tự hạ thấp giá trị cũng như uy tín của mình.Trong cuộc gặp gỡ gần đây, Đức Phanxicô nói: làm linh mục khó hơn là làm giáo hoàng, vì trực tiếp mục vụ tại giáo xứ thường có nhiều sự đụng chạm với giáo dân.

Hiện trạng của nhiều giáo xứ trong giáo phận mà chúng ta biết được là người giáo dân thường không bằng lòng với các linh mục: không đạo đức, không tế nhị, không giảng hay, không ngồi tòa, không cẩn thận trong lời nói, không gần gũi giáo dân, hay đua đòi vật chất… Có nhiều người rất ưa nói chuyện xấu của các cha và các ‘đấng làm thầy’, nhưng cũng có một số giáo dân khôn ngoan tránh xa đề tài đó như là ‘vùng cấm địa’.
Có lẽ nhiều người đã nghe sự ví von của đức cha Vinh Sơn trước thói đua đòi mua sắm quá khả năng tài chính của nhiều gia đình. Ngài bảo: Xe cũ vẫn tốt nếu mình biết cách sử dụng, nó vẫn đưa mình đến nơi muốn đến, lẽ dĩ nhiên là xe mới thì đẹp và an toàn hơn. Người giáo dân thường đòi hỏi quá nhiêu điều nơi các linh mục mà dễ quên đi rằng ngài cũng là con người như mọi người và ngài cũng đang nỗ lực trên con đường nên trọn lành. Hãy cầu nguyện cho các ngài và hãy cho các ngài cả thời gian nữa.

Thứ Bảy, 21 tháng 6, 2014

Những nẻo đường phục vụ




Thánh Augustinô đã nói: “Hãy yêu đi rồi làm gì thì làm”. Câu nói nầy chứa đựng cả một triết lý sống: Thiên Chúa yêu thế gian nên mới tạo dựng vũ trụ, ban cho họ Người Con duy nhất làm Đấng Cứu Độ và Thiên Chúa không ngừng âu yếm chăm sóc từng người qua từng ngày sống; về phía con người, cuộc đời họ chỉ có giá trị và được gọi là thành công khi họ biết làm mọi việc vì yêu mến Chúa và tha nhân.

Thế nhưng, trong con người khuynh hướng tự nhiên lại thúc đẩy họ thu vén và yêu bản thân mình, ta thường gọi là tính vị kỷ. Nơi mỗi người, cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng vị tha và vị kỷ sẽ còn tiếp diễn đến giây phút cuối đời. Có những lúc lòng ta cảm nghiệm được giọt mật hạnh phúc vì sự phục vụ, nhưng có những lúc sự phục vụ trở nên như gánh nặng cuộc đời mà ta muốn tìm cách trút bỏ càng sớm càng tốt.
Chúng ta cảm phục sự phục vụ người nghèo của mẹ Têrêxa Calcutta và các chị em trong dòng tu của mẹ. Dòng tu của mẹ chăm sóc những người bị xã hội bỏ rơi, vì họ nghèo, bẩn thỉu và bệnh tật. Thế nhưng các sơ lại chăm sóc họ cách chu đáo và tận tâm, như là chăm sóc cho chính Chúa Kitô vậy. Đáng nể phục nữa là có rất nhiều bạn trẻ tình nguyện đến phục vụ theo sự sắp xếp của các sơ, họ phục vụ miễn phí và rất vui vẻ, nhẫn nại. Chúng ta cũng cảm phục các linh mục và tu sĩ nam nữ, đã hiến cả cuộc đời phục vụ Giáo hội trong nhiều lãnh vực và môi trường.

Có nhiều con đường để sống tốt cuộc đời nơi dương thế, tựa như vườn hoa muôn sắc mà Thánh Linh đã dệt nên để làm cho Giáo hội được sống động và xinh tươi bội phần. Đời sống các vị Thánh được Giáo hội tuyên dương đã nói lên điều đó. Nhưng một đời sống thánh phải được đặt trọng tâm nơi lòng yêu mến bí tich Thánh Thể và khiêm tốn phục vụ tha nhân.
Xã hội càng tân tiến bao nhiêu thì người ta càng đề cao giá trị của đồng tiền và tự do cá nhân. Bởi đó, sự phục vụ dường như trở nên lạc lõng và trở nên một thách đố. Có kẻ nghĩ: sự phục vụ cần có nhiệm kỳ, đừng lấn chiếm thời giờ lao động thì còn chấp nhận được! Sự phục vụ dễ trở thành gánh nặng một phần là do tính ganh tị, do sự trái ý riêng và do nó rút bớt thời gian kiếm tiền của ta.

Thế nhưng, hãy xác định lại một lần nữa rằng: sự phục vụ là nẻo đường giúp ta nên thánh và là cơ hội để ta tập từ bỏ ý riêng, để rồi ta phục vụ giáo xứ cho vui vẻ và tận tình, dù ta ở mắt xích nào trong cơ thể Giáo hội địa phương. Đừng đợi đến lúc có tiền và có giờ ta mới phục vụ người nghèo, đừng đợi có cơ hội bách hại để chịu tử đạo…tốt hơn là mỗi ngày ta đang sống hãy tận tâm phục vụ cho vui vẻ và khiêm tốn, vì lòng yêu mến Chúa và mưu ích cho phần rỗi anh em mình. Hãy nghĩ rằng: khi ta quảng đại phục vụ Chúa thì Ngài sẽ lo liệu cho cuộc đời ta, Chúa không thua lòng quảng đại của ta bao giờ!

Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

Chứng nhân Tin Mừng




Mỗi Kitô hữu là một chứng nhân Tin Mừng, theo cách của mình và trong hoàn cảnh sống của mình. Điều nầy không thể chối cãi, vì là một đòi hỏi của bí tích rửa tội: trở nên muối cho đời và là ánh sáng cho trần gian (Mt 5,13-14). Lệnh truyền ‘đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân” của Chúa Giêsu trước khi về trời có tính cách bó buộc mọi người chứ không phải là một lời khuyên, một điều được phép tự do chọn lựa làm hay không làm (Mt 28,19).
Câu chuyện của chàng dũng sĩ  trong bài “cửa tùng đôi cánh gài” được đăng trên trang lebaotinhbmt.com làm người ta giật mình nghĩ lại mình. Chàng dũng sĩ ra đi để cứu đời giúp người, những ngày đầu chàng rất hăng say diệt trừ yêu quái và thường sử dụng kính chiếu yêu. Thế nhưng mới 7 năm trôi qua thôi mà chàng đã trở nên yêu quái lúc nào không hay, đã từ lâu chàng không còn sử dụng kính chiếu yêu vì thấy những nét quen thuộc của mình nơi mọi người. Câu chuyện gợi cho ta đôi nét về đời sống đạo và sứ mạng làm chứng cho Đức Kitô. Lúc lãnh nhận bí tích rửa tội, người Kitô hữu lãnh nhận chiếc áo trắng với lệnh truyền hãy giữ tâm hồn luôn tinh trắng cho đến ngày trình diện trước tòa Chúa; người Kitô hữu còn được trao cho ngọn nến sáng với lệnh truyền làm chứng nhân cho Đức Kitô. Đặc biệt hơn, bí tích thêm sức kiện toàn ơn của bí tích rửa tội, ban dồi dào ơn Chúa Thánh Thần để ta trở nên chiến sĩ Chúa Kitô ra đi xây dựng Hội Thánh.

Những chàng dũng sĩ trẻ ra đi, lòng hăng say và đầy nhiệt huyết, với kính chiếu yêu là Tin Mừng Đức Kitô, họ phát hiện có nhiều giả trá và nhiều lối sống không phù hợp với lời dạy của Chúa và Giáo hội. Thế nhưng, càng lăn lộn với đời nhiều, họ không còn bực mình về những thói đời, họ dần dần chấp nhận chúng như những điều bình thường: sự dối trá như một điều khôn khéo để sống còn, sự gian dối nơi học đường như một sự thật không thể khác hơn, sự đua đòi vật chất như điều cần thiết để thể hiện bản thân, sự hối lộ như là một thủ tục không cần phải suy nghĩ; sự ngừa thai và phá thai là một lựa chọn tất yếu và nhẹ nhàng cho cuộc sống, ly dị là cách giải quyết cho những cuộc hôn nhân ‘khó chịu’, ai sao tôi vậy: luật pháp cho gì tôi xài thứ ấy…

Đến một lúc nào đó, những chàng dũng sĩ cảm thấy mệt mỏi với đời, họ thấy mình cũng đã nhiễm thói đời lúc nào mà không hay: muối đã nhạt và đèn đã cất ở đáy thùng! Đã từ lâu nay họ không dùng ánh sáng Tin Mừng để đối chiếu cuộc đời. Đọc Tin Mừng thì đọc qua loa, chẳng thấm nổi vào quả tim đã đầy tràn những tham lam và chất chứa nhiều hận thù.

Chàng dũng sĩ thất thểu trở về am để gặp lại sư phụ, tu luyện cho lòng mình được thanh tịnh.
Đừng quá hăng say với sứ mạng cứu đời và giúp người mà quên tĩnh dưỡng tâm hồn, để rồi một khi nhìn lại thì đời ta đã trở nên vô dụng vì đã bị đời đồng hóa: muối đã nhạt và đèn đã hết sáng!

Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

Nếu Chúa muốn …





Cầu nguyện là nhu cầu thiết yếu của đời sống tâm linh. Đức Phanxico nói với chúng ta: Đừng sợ cầu nguyện với Thiên Chúa, vì đó là cuộc nói chuyện với một người bạn. Cầu nguyện có nhiều dáng vẻ: tạ ơn và ca tụng, phó thác và tin tưởng, sám hối và cầu xin. Ở đây, người viết chỉ muốn nói đôi điều về việc cầu xin.

Mang thân phận thụ tạo, con người cần phải xin ơn trợ giúp, vì mình yếu đuối và khả năng có giới hạn. Trong niềm tin tưởng rằng Chúa có khả năng hành động trong mọi lãnh vực trên đời, nhưng ta phải cầu xin thì Chúa mới hành động được, vì Chúa tôn trọng tự do con người. Hằng ngày, ta vẫn thường cầu xin cho con cái biết mau mắn đáp lại tiếng mời gọi của Chúa trong đời mình, cho gia đình mình được may lành hạnh phúc, cho người thân được gặp thầy gặp thuốc, cho người đời bớt gian tham ích kỷ… đó là những lời cầu xin tốt, là ‘điểm tựa’ cần thiết để Chúa bẩy thế giới nầy lên tầm cao của tình yêu. (Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng quả đất lên, Acsimet)

Qua gương cầu nguyện của ông Moisen, Đức Phanxicô nói về cầu nguyện: Đừng nghĩ rằng cầu nguyện là tìm những lời năn nỉ khéo léo làm Chúa mủi lòng và thay đổi ý kiến. Thiên Chúa không thay đổi mà chính lòng ta thay đổi sau khi cầu nguyện. Ông Moisen, vì sợ Chúa phạt dân, đã thân thưa với Chúa về những việc lớn lao Chúa đã thực hiện cho các tổ phụ, Chúa luôn trung thành với lời đã hứa, Chúa thực hiện muôn kỳ công khi đưa dân ra khỏi Aicập, và chắc chắn Chúa sẽ không để cho dân ngoại cười nhạo vì bỏ rơi dân riêng phải chết nơi hoang địa… Cầu nguyện xong, Ông Moisen xuống núi, không phải Chúa mà là chính ông đã thay đổi: gương mặt ông sáng ngời, tràn đầy tin tưởng vào lòng từ nhân của Chúa.

Khi gặp một người xử tệ với ta, hãy cầu nguyện cho họ được quảng đại, và đó là điều cần để Chúa sẽ hành động theo cách Ngài muốn. Khi người anh em gặp hoạn nạn, ta xin cho họ được cảm nghiệm tình thương Chúa trong đời mình và Chúa sẽ có cách: “Cha anh em biết rõ anh em cần gì”. Câu trả lời của ba trẻ bị ném vào lò lửa với nhà vua Ba Tư đáng cho ta suy nghĩ: “Nếu Chúa muốn, Ngài sẽ cứu chúng tôi, còn nếu Chúa không muốn thì chúng tôi cũng không thờ phượng những thần của nhà vua đâu!”. Hãy để cho Thiên Chúa tự do hành động: cách thế và thời gian. Khi nghe tôi nói đến việc cầu nguyện cho một người lương dân được biết sống quảng đại hơn, có anh bạn kia tủm tỉm cười, vì nghĩ rằng người lương dân kia có tin Chúa đâu và Chúa chẳng làm gì được họ. Không phải thế, Chúa là Chúa của mọi người, Chúa làm được mọi sự nếu ta trao phó tự do của ta cho Ngài, và khi cầu nguyện là lúc ta trao cho Ngài sự tự do đó.

Khi gánh nặng chất trên vai ta, ta thường xin Chúa cất bớt gánh nặng đi, nhưng sự thường Thiên Chúa lại thêm sức cho ta vác gánh nặng đó, vì đó là điều cần thiết để niềm tin ta được lớn lên. Con người thường cầu xin cho những nhu cầu vật chất và muốn thấy hiệu quả ngay tức khắc, nhưng Thiên Chúa lại thường ban cho con người những thứ tốt hơn nhiều, dù Ngài có trễ hẹn và không ban điều lòng ta mong ước… thì muôn đời Chúa vẫn trọn tình thương với mọi kẻ tin tưởng nơi Ngài. Thiên Chúa là Đấng quyền năng và không bao giờ bỏ rơi đứa con mình đã sinh ra trên đời: Nếu Chúa muốn, mọi sự đều có thể!

Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

Giuđa Iscariot, con người của định mệnh?




Bước vào cuộc thương khó của Chúa Giêsu, nhân vật được mệnh danh là ‘kẻ phản bội’ nhiều lần được nhắc đến trong các sách Tin Mừng. Ở đây không nhắc đến thân phận và động cơ nộp Thầy của ông ta mà chỉ muốn nói đến một lý luận của nhiều người: ông Giuđa là người được tiền định, là mắt xích quan trọng để cuộc thương khó của Chúa được diễn ra, tội của ông được ca tụng là ‘tội hồng phúc’ vì nhờ đó mà hiến tế thập giá của Con Thiên Chúa được diễn ra tốt đẹp.

Để mở đầu, tôi xin kể lại một bài giảng của một linh mục trong lễ tang của một bà cụ chết ở tuổi 94: “Trong thiệp tang, người ta thường ghi ‘được Chúa gọi về lúc…giờ, ngày… tháng… năm…. Hưởng thọ … tuổi’. Nếu hiểu được Chúa gọi về cách chung chung thì được, vì mọi vật đều trở về bụi đất sau một thời gian tồn tại trên dương thế. Nhưng nếu hiểu một cách cụ thể là đến giờ nọ tháng kia, Chúa mở sổ ra và gạch đúng tên ai thì người đó chết, thì không được đúng lắm. Bà cụ chết ở tuổi 94, vì với ‘gen’ di truyền của bà, với cách giữ gìn sức khỏe và cách sống của bà, hôm nay bà ra đi theo quy luật sinh tồn tự nhiên và là lúc bà trở về bên Chúa.

Cũng một cách tương tự, Thiên Chúa có kế hoạch cứu chuộc nhân trần tội lỗi. Ngài đã chuẩn bị cho kế hoạch nầy cả hàng nghìn năm, và đến thời đến buổi thì Con Thiên Chúa đã xuống trần, chết và phục sinh để chuộc tội cho thiên hạ. Để thực hiện kế hoạch cứu độ, Thiên Chúa mời gọi sự cộng tác của nhiều người, cụ thể là Đức Maria và Thánh Giuse, các tông đồ và các phụ nữ theo giúp Ngài. Con người được mời gọi cộng tác, nhưng họ vẫn còn tự do ưng thuận hoặc chối từ, họ vẫn có công trạng hay mang tội lỗi, dù họ ở mắt xích nào trong chuỗi chương trình đó. Về ông Giuđa Iscariot, Chúa đã nói rõ ràng: “Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người, thà nó đừng sinh ra thì hơn!” (Mt 26,24). Như vậy, giả sử không có nhân vật Giuđa, thì cuộc thương khó vẫn diễn ra, tuy tình tiết có thay đổi. Điều huyền diệu là nội dung Thánh Kinh được Chúa mạc khải cho các tác giả nhân loại, nên có nhiều tình tiết được nói trước cả ngàn năm mà vẫn nên trọn nơi Đức Giêsu: về nơi sinh, quê quán, 4 bài ca về người tôi tớ Giave, bị bán với giá 30đ, không một xương nào bị gãy, bị đâm thâu…  Vì Thiên Chúa nhìn thấu tận tâm can con người, nhìn thấy cả tương lai phía trước, nhưng dù có trông thấy sự phản bội của ông Giuđa thì Ngài vẫn không thể can thiệp vì tôn trọng tự do của con người.

Trong bài ca Exsultet, tội Ađam được ca tụng là tội hồng phúc, vì đã ban cho ta Đấng Cứu Đời. Thực ra, tội Ađam mang lại thảm họa cho nhân loại, nhưng ở đây muốn nói lên công trình tạo dựng mới do Chúa Kitô mang lại quá tuyệt diệu hơn công trình tạo dựng ban đầu: nhờ có tội Ađam mà Thiên Chúa có cơ hội tỏ ra cho con người biết tình yêu vô biên của Ngài. Như vậy, thực chất tội Ađam hay tội Giuđa Iscariot đều là tội vùi dập con người xuống bùn đen, điều hồng phúc là hồng ân cứu độ mà Chúa đã ban cho ta cách nhưng không và đầy tràn chan chứa, đến nỗi con người cảm tạ đến muôn đời cũng không cân xứng.