Danh sách Blog của Tôi

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2015

Dấu chỉ thời đại




Chúa Giêsu trách những người Do Thái khi họ rất thông thạo để đọc những dấu chỉ trời đất, nhưng lại không biết nhận ra những dấu chỉ thời đại. Ngay cả hôm nay, Chúa vẫn nói với từng người chúng ta câu hỏi đó: “tại sao chúng con quan tâm đến những dự đoán chính trị và thời cuộc mà lại ít quan tâm đến những dấu chỉ thời đại, là những tiếng nói yêu thương của Ta đang thì thầm với con?”.

Người Do Thái không nhận ra hồng ân của họ là Đức Giêsu đang ở giữa họ, với những lời khôn ngoan được Ngài rao giảng và với quyền năng được thực hiện trước mắt họ, nhưng họ vẫn không thay đổi. Chúa nói với người thiếu phụ bên bờ giếng Giacop: “Nếu chị biết nhận ra hồng ân của Thiên Chúa và Đấng đang nói với chị là ai, thì hẳn chị đã xin Người ban cho nước hằng sống” (Ga 4,9). Nhiều lần Chúa trách dân Do Thái vì sự cứng lòng của họ, Chúa kể ra gương nữ hoàng phương nam đã tìm đến nghe lời khôn ngoan của vua Salomon, gương của dân thành Ninivê khi nghe tiên tri Giona nói về sự sám hối, và Chúa đã than khóc cho thành Giêrusalem: "Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem! Ngươi giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi! Đã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu” (Mt 23,37).

Mở mắt to để thấy, mở tai to để nghe, đó phải là thái độ của Kitô hữu. Thiếu bén nhạy về mặt tôn giáo cũng là cơn bệnh của con người thời nay. Con người thường cho rằng mọi điều đang xảy ra là tự nhiên, chẳng có gì phải suy nghĩ và chẳng có gì phải tạ ơn. Thái độ vô ơn với muôn hồng ân ta lãnh nhận hằng ngày trực tiếp hay gián tiếp từ Thiên Chúa sẽ làm cho tâm hồn ta nghèo nàn.Thiên Chúa vẫn nói với con người hôm nay qua các dấu chỉ, nhưng con người thường nghĩ rằng Thiên Chúa đang bận rộn và Ngài cũng mang bệnh vô cảm như con người thời đại. Hãy nghĩ lại đi, Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, Ngài luôn dõi mắt nhìn và luôn ra đi tìm kiếm con chiên bị lạc mất. Thiên Chúa không ngừng thánh hóa con người bằng những biến cố cuộc đời. Thật khó để nhận ra tình thương Chúa và đọc được dấu chỉ khi bị bệnh nan y hoặc khi gặp hoạn nạn, đó dường như là lúc Chúa đang ẩn mình sau lớp sương mù dày đặc. Có người kia bị bệnh nan y, một người bạn ở rất xa nhận được tin qua điện thoại, anh nầy thốt lên: “Tôi cũng mong được như anh ấy, vì có thời giờ mà chuẩn bị!”. Thật là một kiểu nói lạ lùng nhưng cũng có lý của nó khi  nghĩ về chuyện đời nầy – đời sau.

Có những Kitô hữu vô thần thực hành, là những người tin có Thiên Chúa, nhưng Ngài ở rất xa và không còn làm việc, và vị Thiên Chúa đó không liên quan gì đến cuộc sống của họ. Còn người Kitô hữu thực hành thì tin rằng: Thiên Chúa chúng ta thờ là Đấng dựng nên vũ trụ và không ngừng chăm sóc nó. Ngài là một người Cha đầy tình yêu thương, yêu thương cả loài người và từng người. Ngài khắc tên từng người trong bàn tay mình, Ngài yêu họ từ muôn thuở và cho đến mãi ngàn đời. Thiên Chúa đã làm người để ở lại cùng nhân loại cho đến ngày tận thế.Tin vào Thiên Chúa có nghĩa là bước theo một người có tên là Giêsu, sống thân tình với Ngài như một người bạn, tìm sự trợ giúp nơi Ngài như một Đấng đầy quyền năng, sống và chết như Ngài vì Ngài là Đấng thánh của Thiên Chúa.
Ai đó đã từng nói: Khi đối diện với niềm tin vào Chúa quan phòng, con người thường chỉ có hai thái độ: hoặc tin Thiên Chúa có mặt trong mọi sự hoặc Ngài không làm gì hết.

Đọc dấu chỉ của Thiên Chúa qua những điềm lành nhưng cả những điềm dữ nữa. Thiên Chúa không tạo nên sự dữ và sự chết, nhưng chúng là hậu quả của sự ác và sự tội. Thiên  Chúa cho phép sự dữ xảy đến và Ngài dùng quyền năng và tình yêu để ban cho những kẻ Ngài yêu muôn vàn sự lành. Điều quan trọng là biết gẫm suy và nhìn các biến cố ‘không may’ với con mắt của Chúa. Ví dụ, có người nhìn biến cố 75, biến cố 11.9.2001, đại dịch Sida… như là tiếng Chúa gửi đến con người, giúp họ cảnh tỉnh và thay đổi cuộc sống.

“Nguyện xin Đức Khôn Ngoan hằng ngự bên tòa Chúa đến giúp đỡ và làm lụng với con. Đức Khôn Ngoan am tường tất cả, sẽ hướng dẫn con trong mọi hành vi, hầu con biết điều đẹp thánh ý”. Chính Đức Khôn Ngoan sẽ giúp con người phân biệt tiếng nói của ma quỷ hay tiếng nói của Chúa, thúc đẩy ta mở cửa tâm hồn cho ơn Thánh Chúa hoạt động, và chính ơn Thánh sẽ làm cho ta tiến bước trên con đường trọn lành.

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2015

Hãy tỉnh thức




Chúng ta đang sống trong một thời đại mà việc chia sẻ tư tưởng diễn ra nhanh chóng và dễ dàng, nhờ các mạng thông tin và nhờ việc đi lại – du lịch, kể cả ra ngoại quốc. Bởi vậy các trào lưu tư tưởng và những quan niệm sống cứ như những đợt sóng liên tục vỗ vào hồn ta: tương đối hóa về luân lý và về tôn giáo. Lời Chúa nói với chúng ta thật đáng suy nghĩ: Hãy tỉnh thức, hãy cầu nguyện luôn kẻo sa chước cám dỗ. Tôi xin kể một vài con sóng nhỏ, nhưng đôi khi cũng làm hồn ta bị ngộp.

Đạo nào cũng tốt. Trước công đồng Vaticanô 2, Giáo hội quan niệm một cách cứng nhắc rằng: chỉ có những ai gia nhập đạo Chúa mới được ơn cứu rỗi, và thời đó việc truyền giáo – rửa tội để cứu vớt các linh hồn diễn ra một cách cấp bách. Nhưng sau nầy Giáo hội dạy ta phải tôn trọng các tôn giáo bạn và dạy rằng: các tôn giáo khác cũng chứa một phần chân lý và những người sống với lương tâm ngay thẳng dù không biết đến Chúa Kitô thì vẫn được hưởng công ơn cứu độ mà Con Thiên Chúa mang lại (áp dụng cho những người không nghe biết về đạo hoặc không có điều kiện gia nhập đạo). Nhưng có người lại  quá rộng rãi khi nói rằng "chẳng cần phải gia nhập đạo Công giáo mới được rỗi linh hồn". Hãy tỉnh thức, vì Giáo Hội dạy rằng: chỉ có Danh Giêsu mới mang lại ơn cứu độ, mọi hoạt động của Giáo hội phải nhằm giới thiệu Thiên Chúa cho con người, như là một sự thiện tốt lành nhất. Và cũng hãy cảnh giác thái độ ỷ lại của một số người cố tình không tìm hiểu và lãnh nhận bí tích rửa tội dù có điều kiện và đã nghe biết về đạo.

Thực hành đạo. Nhiều người có dịp đi Pháp. Họ thường kể về lối sống đạo lạnh nhạt ở đó: các chủng viện, tu viện và nhà thờ nguy nga bị bỏ hoang; giáo dân chỉ đến nhà thờ khi rửa tội, hôn phối và chết. Họ có đạo nhưng không hành đạo. Mỗi lần nghe chuyện, lòng ta cũng có ít nhiều dao động và suy nghĩ: tại sao họ được mệnh danh là Trưởng Nữ của Giáo hội mà nay lại đến mức đó?- Ta nhớ lại, vào thế kỷ 18 – 19, ở Pháp có phong trào tục hóa: bài giáo sỹ, bôi bác tôn giáo như là rào cản tự do con người, đề cao nếp sống hưởng thụ và thực dụng. Có người bạn nói với tôi rằng: “Đạo nào cũng được, miễn là họ là người thực hành đạo, vì nhiều người có đạo mà không hành đạo, thành ra là bôi bác đạo”.- Đức tin là hạt giống, là ngọn nến mà ta phải chăm sóc và nuôi dưỡng để nó lớn lên. Đừng sợ khi ai đó bỏ đạo, tốt hơn là cậy dựa vào Chúa để khỏi sa chước cám dỗ. Một vị Thánh nào đã nói: kẻ bỏ bê việc cầu nguyện thì đã bỏ ngỏ linh hồn cho ma quỷ, việc sa ngã là chắc chắn, chỉ là sớm hay muộn.

Có kẻ cho rằng: nghèo mới giữ đạo, còn giàu lên là mất đạo; hoặc ‘lạc hậu thì còn đạo, văn minh là bỏ đạo’. Luận điệu nầy ẩn chứa một suy luận sâu xa: tôn giáo phát sinh là do nỗi sợ và là sự lầm lạc của lý trí, tôn giáo là liều thuốc phiện của một giai cấp sáng chế ra để thống trị. Không phải thế, đức tin là một hồng ân Thiên Chúa ban tặng mà con người phải cám tạ suốt đời. Niềm vui vì được làm con cái Thiên Chúa phải chiếu tỏa trên khuôn mặt và trong cuộc đời người Kitô hữu, trong các mối giao tiếp và cả những lúc đen tối nhất của cuộc đời, vì ta được Chúa yêu thương và đồng hành.

Trong thời gian vài năm trở lại đây, khoảng vài chục nước ở Âu Châu đã chấp nhận hôn nhân đồng tính, họ lý luận rằng: đó là một khuynh hướng tự nhiên của một số người, xã hội phải tôn trọng và chấp nhận họ như là một đòi buộc của nhân quyền. Một người bạn của tôi có nói: “Thật là buồn cười khi họ nêu ra 4 chữ ‘khuynh hướng tự nhiên’ trong vấn đề hôn nhân đồng tính, vì bất cứ người đàn ông nào dù đã có gia đình vẫn ‘thích’ một người đàn bà khác, đó vẫn là khuynh hướng tự nhiên. Điều quan trọng là tiết chế và tập luyện để có một lối sống lành mạnh theo luân lý”. Ta thử nghĩ xem: nếu xã hội tôn trọng những khuynh hướng tự nhiên nơi ta như trộm cắp, bạo lực, ích kỷ …thì xã hội nầy đã loạn mất rồi!
  Nhiều người có cơ hội học thần học với một số giáo sư có đầu óc ‘thông thoáng’ đã nói: “ở VN thì việc ly hôn khó chứ ở bên tây, giáo hội giải quyết tiêu hôn dễ dàng lắm!”, và dĩ nhiên lòng ta cảm thấy hoang mang. Nhưng trong cuộc họp báo đầu tiên, ĐHY André Vingt-Trois, TGM Paris, chủ tịch thừa ủy của Thượng HĐGM, cảnh giác giới báo chí rằng: ”Nếu quí vị đến Roma chờ đợi những thay đổi ngoạn mục về đạo lý của Giáo Hội với Thượng HĐGM này liên quan đến những người ly dị tái hôn, thì quí vị sẽ thất vọng!..ĐHY tái khẳng định rằng Thượng HĐGM này tìm kiếm một đường lối tiếp cận mục vụ cho những hoàn cảnh khác nhau của gia đình.

Thật đáng mong ước và cần thiết là các Kitô hữu hãy nỗ lực tìm hiểu giáo lý và chuyên tâm cầu nguyện, hầu có thể tỉnh thức trước những luận điệu mang tính tương đối luân lý không ngừng xô đẩy cuộc đời ta. Hãy là những Kitô hữu nhiệt tình chứ không phải là Kitô hữu ‘hâm hâm dở dở’ kẻo bị Chúa mửa ra và bị loại trừ khi đến giờ Ngài viếng thăm đời ta.

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2015

Tuân giữ Lời Chúa



Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS A


Chỉ trong một đoạn Tin Mừng (Ga 14,15-21) thôi mà Chúa đã lặp lại hai lần câu: “Nếu anh em yêu mến Thầy thì hãy tuân giữ lệnh truyền của Thầy”, chứng tỏ đây là một điều hết sức quan trọng.

Có một vị linh mục nọ được thuyên chuyển về một xứ đạo lớn. Thánh lễ đầu tiên, Ngài giảng một bài giảng rất hùng hồn về đức yêu thương và rất được giáo dân mến phục. Nhưng đến ngày hôm sau, Ngài lại giảng lại chính bài giảng đó. Ngày thứ 3 cũng thế. Và đến ngày thứ tư, cũng vẫn bài giảng đó được cha xứ giảng lại một cách rất hùng hồn. Giáo dân quá ngạc nhiên mới hỏi cha xứ tại sao cứ giảng mãi một bài đó, phải thay bài khác thì đỡ chán hơn. Ngài mới trả lời: “Vì tôi thấy anh em chưa thực hiện được những đòi hỏi của Lời Chúa, nên tôi thấy cần phải lặp lại”. Câu chuyện trên nêu lên một hiện trạng đang xảy ra giữa chúng ta: chúng ta nghe Lời Chúa nhiều, nhưng chưa thực hiện được bao nhiêu.

Một bệnh nhân phải nằm viện lâu ngày. Một hôm có người hộ lý phân phát chăn mền cho các bệnh nhân rất tử tế và khiêm tốn. Thấy chuyện lạ, người bệnh đó mới hỏi: “Có phải cô là người Công giáo không?” – Đúng vậy, người hộ lý trả lời. Nhưng sao bà lại biết tôi? Người bệnh đó trả lời: “Vì những người hộ lý thường ném chăn và mùng vào mặt chúng tôi một cách vô ý thức, nhưng thái độ của cô lại tôn trọng người bệnh, thế nên tôi mới hỏi”.

Vào thập niên 80 của thế kỷ trước, đất nước còn nghèo khổ, muốn mua một két bia chai phải ra tận xã Daklao. Một hôm đang dùng tiệc mà lại thiếu bia để uống, chủ nhà bảo con chạy ra mua một két bia để đãi khách. Khi lấy tiền để trả, người con mới chợt nhớ là quên mang tiền. Người chủ quán mới hỏi: “Có phải người ở giáo xứ Vinh Hương không? Ấy vậy thì cứ mang về đi, hôm nào ra trả tiền”. Ngày ấy, người có đạo rất có uy tín; người chủ quán tin rằng người có đạo sẽ mang tiền trả cho mình một cách tử tế…và chuyện đã xảy ra đúng như vậy.


Mahatma Gandhi đã nói một câu rất chí lý: “Tôi tin đạo, nhưng không tin người có đạo”, vì ông thấy người có đạo kỳ thị người da màu, gây nên nhiều bất công và bóc lột người Ấn Độ. Đức Phaolô VI cũng có một câu bất hủ: “Thời đại ngày nay, con người không muốn nghe những thầy dạy mà chỉ tin vào những nhân chứng; nếu họ có nghe thầy dạy là vì thầy dạy đó cũng là nhân chứng”. Trong một hội nghị bàn về những phương tiện và kế hoạch để truyền giáo, các nhà diễn thuyết Châu Âu đưa ra đề nghị phải áp dụng những tiến bộ khoa học như truyền thanh, truyền hình, internet, phân phát Kinh Thánh… thì một đại biểu của Ấn Độ chia sẻ kinh nghiệm của chính dân tộc mình: “Nếu muốn truyền đạo cho một làng nào đó, chúng tôi gửi đến đó một gia đình có đạo, và qua cách sống nhân chứng của gia đình này, chúng tôi đã có nhiều người trở lại đạo”.


Đã nhiều lần Chúa nói rõ ràng về việc phải thực hành giới luật ‘Mến Chúa hết lòng và yêu thương anh em như chính mình’. Chúa bảo: chỉ có ai đem lệnh truyền của Chúa ra thực hiện mới là người khôn ngoan, mới đáng được vào Nước Trời, chứ không phải là kẻ chỉ biết nói: “Lạy Chúa, lạy Chúa…”. Hãy sống thế nào để người ta nhận ra khuôn mặt nhân từ và yêu thương của Thiên Chúa, để tạo được uy tín cho người có đạo.

Tỉnh thức và sẵn sàng


Tin Mừng Chúa nhật 32 năm A (Mt 25,1-13)

Người khôn ngoan là người biết chuẩn bị cho tương lai. Người ấy biết rõ mình sẽ đi về đâu sau cái chết, hành trang mang theo là gì.

Câu kết của bài Tin Mừng Chúa nhật 32 năm A (Mt 25,1-13) đáng cho chúng ta suy nghĩ: “Anh em hãy sẵn sàng, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào”. Xem ra câu này không ăn nhập với câu chuyện đám cưới được kể ở phần đầu, vì dầu sao ngày cưới đã được ấn định và giờ đã được phỏng đoán. Điều quan trọng Chúa muốn nhấn mạnh ở đây không phải là sự tỉnh thức cho bằng sự sẵn sàng, vì trong dụ ngôn 10 cô trinh nữ thì mọi người đều ngủ cả - có ai thức để chờ đón chú rể đâu, điều khác biệt của những cô khôn ngoan là họ đã mang thêm bình dầu, đã dự phòng cho tương lai.

Người khôn ngoan là người biết chuẩn bị cho tương lai. Người ấy biết rõ mình sẽ đi về đâu sau cái chết, hành trang mang theo là gì. Sống trên đời, có những người chạy theo đam mê tiền bạc và danh vọng đến nỗi quên mất đời sống linh hồn. Sắc đẹp thì mau qua, danh vọng thì hão huyền, cuộc sống trần gian là thời gian chuẩn bị, ta chẳng mang được gì theo khi đã xuôi tay nhắm mắt. Bao nhiêu kiến thức, của cải, tiếng tăm, tình cảm mà ta đã vất vả ngược xuôi để đấu đá với đời, khoe khoang và vênh váo, lo âu và tức tối… bây giờ chỉ là hư vô, chẳng ai còn nhớ đến mình!


Chỉ còn một điều tồn tại là ‘linh hồn bất tử’, là tình thương ngàn đời Chúa dành cho người công chính. Như vậy, hành trang duy nhất ta cần theo đuổi là trở thành con cái sự sáng: kết hợp, yêu mến, phụng sự Thiên Chúa trên cõi đời nầy – còn mọi sự khác chỉ là phụ thuộc. Hãy luôn cầu xin: “lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?” và sẵn sàng tuân phục Thánh ý Chúa.

Khi ban tự do cho con người, Thiên Chúa như tự giới hạn quyền năng của mình mà phải chịu đựng những phản bội của con người. Ađam – Eva đã hái trái cấm để muốn được thông minh bằng Đức Chúa Trời, bất chấp lệnh truyền của Chúa và không muốn lệ thuộc vào Chúa. Dân Chúa chọn luôn luôn bị cám dỗ thờ cúng các thần của dân ngoại, không muốn phụng thờ Yavê như điều lệ của giao ước Sinai; họ đã giết các tiên tri, giết luôn cả Người Con của ông chủ, vì họ không muốn nghe nói về việc trung thành với lề luật. Những người đương thời với chúng ta thì sao? Phần đông họ không muốn đón nhận đức tin Kitô giáo, họ chống lại luật luân lý Giáo hội về sự sống, hôn nhân, về công bằng xã hội; họ chủ trương thuyết tương đối về luân lý: luân lý của số đông; họ lấy lợi lộc trần gian và lối sống hưởng thụ là nguyên tắc hành xử, theo đuổi một lối sống dễ dãi và buông thả về luân lý; họ trưng ra nhân quyền để vận động pháp luật hợp thức hóa lối sống của họ; còn nhiều nơi khác, họ cô lập và ‘bắt bớ’ các Kitô hữu – với tội danh cản bước tiến xã hội. Và họ sống như không có đời sau, không hề chuẩn bị gì cho nó cả.

Có câu chuyện kể rằng: Có một người nông dân nghèo phải thuê đất của chủ để canh tác, anh ta ước ao có đất riêng để không phải nộp tiền đất mỗi năm. Ước mơ đó thành hiện thực, vì bà chủ bán bớt số đất mình có, anh ta tậu được 4 ha và ngay trong vụ thu hoạch đầu tiên, anh đã bội thu và rất sung sướng với hoàn cảnh của mình. Thế nhưng, có một người từ nước Nga tới và nói với anh: “Nhìn thấy cảnh sống thảm hại của anh thấy mà thương, ở bên Nga, đất đai màu mỡ và rộng rãi, mỗi người thường có vài chục hecta”. Anh ta ra đi với người ấy và rất thành công, trở nên giàu có bội phần. Được một thời gian, có người ghé nhà anh và mách cho anh một vùng đất trù phú mênh mông mà anh có thể mua được với 1000 rúp và một ít quà cho dân làng. Anh ta mua quà và đem tiền đến gặp viên tù trưởng. Đúng như lời người người kia kể, anh có thể tậu số đất anh đi được trong một ngày với giá tiền rẻ mạt là 1000 rúp, với điều kiện anh phải trở về điểm xuất phát trước lúc mặt trời lặn. Đêm đó, anh không ngủ được vì vui sướng và tính toán làm sao để tậu cho được nhiều nhất, anh ra đi từ sáng sớm về phía đông, quẹo qua hướng nam – tây và bắc… nhưng anh đã hộc máu mà chết mà không kịp trở về điểm khởi hành cho kịp những tia sáng cuối ngày, sau một ngày quá vất vả, giữa tiếng reo hò cổ vũ của một nhóm người trong bộ tộc!

Cha mẹ đầu tư tiền bạc cho con cái học hành, hầu sau này kiếm được việc làm và có một cuộc sống dễ dàng. Điều đó đúng, nhưng chưa đủ. Phải thúc giục con cái sống tốt, sống đúng tư cách con cái Thiên Chúa. Ngoài việc học kiến thức, phải trau dồi nhân đức, học biết chân lý và thường xuyên cầu nguyện. Chỉ khi có định hướng đúng, có nhân cách và cư xử có tình người, con cái chúng ta mới đứng vững – dù trải qua những bất trắc cuộc đời.

Có một người chán sống và muốn kết liễu cuộc đời mình. Ông gặp một vị tu sĩ và nói lên ý định của mình. Vị tu sĩ mới hỏi: “Ông có biết đứa trẻ sinh thiếu tháng là thế nào không? Nó èo ọt vì chưa được chuẩn bị đủ để vào đời, người ta phải nuôi nó trong lồng kính để nó khả dĩ đủ điều kiện sống trong môi trường cuộc sống. Ông cũng vậy, ông không biết rõ cuộc sống mà ông sắp bước vào sau cái chết; vì nếu biết rõ, chắc chắn ông không muốn tự kết liễu đời mình sớm: cuộc sống này là để chuẩn bị cho đời sau.

SỬA LỖI ANH EM








Tin Mừng Chúa nhật 23 TN A (Mt 18,15-20)
Chúng ta dễ có cảm tưởng rằng việc sửa lỗi anh em được nói tới trong Lời Chúa hôm nay là một lời khuyên, thực hiện được thì tốt - còn không làm cũng không sao. Nhưng không phải thế, đây đúng là một lệnh truyền: “Nếu anh em con phạm tội, hãy đi sửa lỗi nó…”

Trong vài thập niên gần đây, các nhà khoa học đang ra sức nghiên cứu để tìm ra nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, gió và sóng biển – để thay thế cho nguồn năng lượng dầu mỏ đang gần cạn kiệt. Người ta ước tính có lẽ chừng 50 năm nữa, xăng dầu dùng cho máy móc xe cộ sẽ rất hạn chế, vì nguồn dự trữ trong lòng đất đã hết và chúng không còn khả năng tái tạo, và có lẽ lúc đó xe cộ máy móc sẽ im lìm bất động – chất thành đống. Nguồn năng lượng của mặt trời, gió và sóng biển có thể nói là vô tận, vì chúng luôn được tái tạo không ngừng.

Hội Thánh Công Giáo có đặc tính là thánh thiện vì 3 yếu tố: có Chúa Giêsu là đầu và Ngài là Thánh, Giáo hội có mục đích giúp con người đạt tới sự thánh thiện và Giáo hội quản lý những mầu nhiệm thánh – có sức cải hóa con người nên thánh. Tuy nhiên, Giáo hội đó cũng bao gồm cả những tội nhân, có tôi và anh, chúng ta đang trên hành trình tiến về quê trời. Giáo hội bao gồm những tội nhân cần cải hóa và tái tạo lại cho tinh tuyền trong ân sủng qua bí tích Rửa tội và Hòa giải, và Giáo hội đó cũng bao gồm mọi phần tử khác – đang trải qua những cuộc chiến giữa thiện và ác ngay chính trong bản thân mình.

Lời Chúa trong sách tiên tri Êdêkiel nói thật rõ ràng: “Nếu kẻ gian ác phạm tội mà ngươi không chịu nói cho nó biết và nó chết đi thì ngươi cũng bị hỏi tội; nhưng nếu ngươi nói cho nó biết tội lỗi nó phạm mà nó vẫn không nghe, thì ngươi không bị hỏi tội nữa” (33,7-9). Chúng ta chẳng thích sửa lỗi ai, vì sự thường người ấy khó chấp nhận sự sai lỗi của họ, nên họ sẽ tức giận và bới móc lầm lỗi của ta. Nhưng đây là việc cần thiết để tạo một năng lực mới cho Giáo hội và tập thể mình đang sống. Trong 10 thế kỷ đầu, Giáo hội dường như sống trong tình huynh đệ tuyệt hảo đó, nên đã phát triển rất nhanh. Từ con số 12 tông đồ, Giáo hội đã rao truyền Tin Mừng đến khắp năm châu, đã vượt qua những cuộc bắt bớ đẫm máu đến gần tuyệt chủng.

Chúa Giêsu đã nêu lên những nguyên tắc cơ bản trong việc cảm hóa người khác: tế nhị, khiêm tốn, kiên nhẫn và kèm theo lời cầu nguyện. Bước đầu tiên là giữa hai người để tránh việc làm mất mặt nhau; nếu không được thì đem thêm vài ba người, để có tính cách khách quan và có tính cách cộng đoàn; nếu người anh em vẫn không nghe thì mới đưa ra cộng đoàn; và nếu nó cũng không nghe thì được kể như người ngoại. Bởi đó, những thư nặc danh, rải truyền đơn, đưa lên mạng đều là những hình thức mạ lỵ - không có tính cách xây dựng, trái với tinh thần Chúa dạy: đối thoại thân tình và kín đáo.

Nhiều người có dịp tiếp xúc gần gũi với các tu sĩ nam nữ, hoặc các em từng nội trú trong các nhà dòng, thường được chứng kiến những nết xấu của những người đi tu, nên mất lòng kính trọng và không muốn cất bước đi tu nữa. Thực ra, có thể nói rằng Giáo hội tuy là thánh thiện nhưng bao gồm những tội nhân yếu đuối, cần hưởng lòng thương xót Chúa và sự cảm thông của mọi người. Thiện và ác luôn giao tranh trong nội tâm từng người, kể cả những bậc tu hành. Đừng thất vọng về những tội lỗi của tha nhân và sự yếu hèn của bản thân mình, vì tất cả chúng ta đều có khả năng tái tạo mỗi ngày: hôm nay tốt hơn hôm qua và kém ngày mai. Trong ơn Thánh Chúa, tôi quyết vươn lên mỗi ngày và giúp người anh em quanh tôi cũng được tái tạo – vượt qua những lỗi lầm của chính họ.

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

SỰ KHÔN KHÉO SỬ DỤNG TIỀN CUẢ



Tin Mừng  tuần XXV TN C (Lc 16,1-13)

Chúa Giêsu không khen sự bất lương, gian lận tài sản của người quản gia, nhưng là khen sự khéo léo của anh ta về cách xử sự về tiền bạc: biết dùng tiền của mà mua lấy bạn hữu.

Ở thời nào cũng thế, mãnh lực đồng tiền là khôn lường, có thể đổi trắng ra đen, có thể làm mưa làm gió trên chính trường quốc tế cũng như trong mỗi gia đình. Có đồng tiền, ta tự tin và được no ấm, còn kẻ không có tiền thì chịu cảnh bấp bênh của cuộc đời. Ở xã hội nào cũng có những hiện tượng rửa tiền, những hoạt động phi pháp liên quốc gia của những tay trùm ma túy và khủng bố mà chính cảnh sát Interpol cũng không kiểm soát hết được. Vào thập niên 80 của thế kỷ trước, chính ngân hàng của Giáo hội Công giáo cũng bị dính líu đến một vụ rửa tiền và suýt phá sản: ngân hàng đã đầu tư cho một số công ty dược phẩm có đạo để sản xuất thuốc, không ngờ các công ty nầy lại dùng tiền đó để sản xuất thuốc ngừa thai và phá thai… khi biết việc, nhiều cổ đông đã rút vốn đầu tư của họ ra khỏi ngân hàng, vì ngân hàng đã hoạt động sai mục đích.

Ai trong chúng ta cũng cật lực làm việc để kiếm tiền và chúng ta phải biết quý trọng đồng tiền, sử dụng đúng mục đích. Nhưng ngay giữa chúng ta vẫn có những người biết sử dụng đồng tiền cách khôn khéo. Họ chẳng thà mất tiền còn hơn mất tình nghĩa ruột thịt và bạn bè, họ chẳng thà mất việc và kiếm được ít tiền còn hơn mất đức tin. Đồng tiền chúng ta kiếm được có khi là lương thiện, có khi là do chênh lệch về tỷ giá hối đoái hay do đầu cơ tích trữ hàng hóa… nhưng nếu chúng ta biết dùng nó để san sẻ với người nghèo, để làm việc bác ái, để đóng góp xây dựng giáo xứ hay ủng hộ đồng bào bị thiên tai… thì đó là đã biết sử dụng khôn khéo rồi vậy.

Truyện cổ nhân kể lại rằng: Mạnh Thường Quân là vị tướng có đến 3000 gia nô, một hôm Phùng Hoa đến xin nương nhờ để kiếm miếng cơm manh áo. Tuy chẳng có tài cán gì, nhưng tướng mạo có vẻ thông minh, nên ông được Mạnh Thường Quân tin dùng. Một hôm ông được sai sang đất Tiết đòi nợ và được dặn là xem trong nhà còn thiếu thứ gì thì mua đem về. Phùng Hoa đến đất Tiết, chứng kiến cảnh khốn cùng của dân, ông truyền thu hồi các khế ước nợ và tuyên bố: Mạnh Thường Quân tha nợ cho các ông. Ông về nhà và trình lại với chủ: tôi nghĩ nhà mình chẳng thiếu thứ gì, thiết tưởng chỉ còn thiếu nhân nghĩa, nên tôi đã mua cho ông rồi đó. Chỉ ít lâu sau, Mạnh Thường Quân sa cơ lỡ bước, phải bỏ lại tài sản và gia nô để chạy sang đất Tiết lánh nạn, chỉ đem theo Phùng Hoa và một ít người thân cận. Dân chúng đất Tiết nồng nhiệt đón tiếp ông để trả ơn, lúc đó Mạnh Thường Quân mới bảo với Phùng Hoa: “bây giờ ta mới hiểu nhân nghĩa là gì rồi”.

Trong cảnh khốn cùng của bệnh tật, tai họa và bị phỉ báng bởi vợ và bạn bè, ông Gióp đã xác tín:“Thân trần truồng, tôi sinh ra từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Chúa đã ban cho, Chúa lại lấy đi. Người muốn sao, nên vậy, xin chúc tụng Danh Chúa. Mình biết đón nhận ơn lành từ tay Chúa, còn điều dữ lại không biết đón nhận sao?”. Thân phận mỏng manh của kiếp người là thế đó, của cải phù du là thế đó… người khôn ngoan biết dùng của cải để sắm sẵn cho mình kho tàng nước trời và không để của cải thống trị đời mình.

SỨ ĐIỆP KITÔ GIÁO



Tin Mừng Chúa nhật 22TN A (Mt 16,21-27)
Bài Tin Mừng hôm nay chứa đựng một nội dung quan trọng, có thể coi là sứ điệp của Kitô giáo: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, sẽ bị giết và sẽ sống lại. Ai muốn đi theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”. Lần đầu tiên nghe sứ điệp nầy, các môn đệ và đặc biệt là ông Phêrô đã bị sốc: “Xin Chúa thương đừng để Thầy phải chịu chuyện ấy”. Những lần về sau, các ông dường như không muốn hiểu Thầy mình đang nói về chuyện gì đó khó hiểu và xa vời thực tế.

Quả thực, trong 3 năm giảng đạo, có lúc Chúa cũng bị từ chối, nhưng hầu như ánh hào quang luôn bào trùm Chúa và các môn đệ: đám đông từ khắp nơi tìm đến để nghe lời Chúa giảng, bao nhiêu phép lạ cả thể đã xảy ra một cách nhãn tiền, đã có những âm mưu tôn Ngài lên làm vua, và các ông mải dệt mộng đời mình cho một tương lai sán lạn… Đúng là họ gặp may khi đi theo Thầy Giêsu. Vào thời ấy, thập giá là một nỗi ô nhục đối với người Do Thái. Hãy thử nghĩ mà xem: nếu chết bệnh hay tai nạn còn đỡ đau thương và nhục nhã hơn là chịu đau khổ và hành hạ, bị bêu nhục, bị phơi thây trần trụi như Thầy đã nói. Thánh Phaolô đã diễn tả: “Đức Kitô, tuy là phận Thiên Chúa, đã mặc lốt phàm nhân, còn hạ mình hơn nữa mà vâng phục đến chết, và là cái chết của thập giá” (Philip 2,8).

Thập giá đời ta là kiếp nhân sinh mà ta đang trải qua với sinh, lão, bệnh, tử và cũng là những thứ Chúa cho phép xảy đến với ta: những hiểu lầm đố kỵ do người khác gây ra và những thử thách ta gặp trên đời. Có một thực tế là đôi khi ta không muốn vác thập giá của chính mình và đổ cho người khác vác! Đó là khi ta cứ chọn việc nhẹ nhàng cho mình, muốn dành phần thắng trong cuộc đôi co với người hàng xóm, vứt xác súc vật sang thổ cư người khác hoặc đạp những bao rác nhà mình xuống bên vệ đường, vợ chồng đùn đẩy việc nặng nhọc cho nhau.

Như Moisen đã treo con rắn đồng  nơi hoang địa để chữa lành những ai nhìn lên nó, Con Người sẽ bị treo lên như vậy: đó dường như là một sự thật tất yếu của kế hoạch cứu độ. Đối với Chúa Kitô và với Kitô giáo,THẬP GIÁ LÀ QUYỀN NĂNG CỨU ĐỘ CỦA THIÊN CHÚA. Điều nầy được chính lịch sử chứng minh: những lúc Giáo hội trải qua những bắt bớ và khổ nạn chính là những lúc Giáo hội trở nên vững mạnh trong đức tin và có đông người gia nhập đạo; những nơi và những lúc được hưởng sự dễ dãi thì dường như Giáo hội có nguy cơ tàn lụi hơn bao giờ hết. Đúng là sử gia Tertulianô nói một câu bất hủ: “Máu của các vị tử đạo là hạt giống nảy sinh người Kitô hữu”. Sứ điệp Kitô giáo còn được chứng minh qua cuộc sống của mỗi người: chính lúc biết chấp nhận chết đi cho những đam mê trần tục thì linh hồn ta mới được siêu thoát; còn ngược lại nếu ta vùi đắm đời mình trong lạc thú và lạm dụng tự do quá trớn thì tâm hồn ta trở nên nặng nề - xa cách Chúa ngàn trùng, và như Lời Chúa nói: “Ai mất mạng sống mình vì Thầy ở đời nầy thì sẽ tìm được mạng sống ấy cho cuộc sống vĩnh cửu”.

Lạy Chúa, ngày xưa cũng như hôm nay, không ai muốn chọn cho mình một thập giá nặng cả; vì dầu sao một cuộc đời được danh giá, thành đạt, bình an và khỏe mạnh… vẫn là dấu hiệu được Chúa thương, vì Chúa luôn là người Cha từ ái – không vui gì khi thấy con cái mình chịu đau đớn.

Thế nhưng, Con Một Chúa đã trải qua thập giá và đã trở nên căn nguyên ơn cứu rỗi cho muôn người. Và thập giá không miễn trừ cho một ai, nếu muốn làm môn đệ Chúa. Xin cho chúng con vui lòng vác thập giá đời mình, vì như thế thì thập giá sẽ nhẹ nhàng hơn là kéo lê và vì biết rằng Chúa cùng vác với con, nên con không xiêu té và vấp ngã.