Danh sách Blog của Tôi

Thứ Tư, 9 tháng 12, 2015

Tản mạn




1. Tháng 12, bầu trời vùng Dăkmil dày đặc sương mù. Nói đến sương mù là ta liên tưởng đến sự thơ mộng như vùng trời Dalạt. Nhưng sương mù ở Dakmil có mùi khét và mù từ chập tối kéo dài mãi đến 8g sáng ngày hôm sau. Những giấc ngủ cư dân chìm trong sự vật vã mệt mỏi vì hít thở bầu khí không tốt cho sức khỏe. Không biết các cư dân các vùng nông nghiệp khác có sống trong sự độc hại giống như vậy không nhỉ và không biết liệu các cấp chính quyền có nghĩ đến một biện pháp cho vấn đề nầy không?
Giờ đây, nhiều hộ nông dân không muốn phơi cà phê nữa và toàn bộ sản phẩm của họ đều đưa về cho các lò sấy. Điều nầy có hai cái hại, thứ nhất là đốt mất số vỏ quý hóa đáng ra được ủ men bổ sung dinh dưỡng lại cho vườn cây và thứ hai là vấn đề ô nhiễm không khí vì các lò sấy mọc ra ngày càng nhiều và hoạt động hết công suất. Theo tổ chức Numbero, Việt Nam được xếp hàng thứ 7 về ô nhiễm môi trường, Trung Quốc đứng hàng thứ 5. Cứ tưởng rằng ở những thành phố lớn sẽ ô nhiễm hơn vì khói bụi và nước thải công nghiệp, nhưng vào mùa thu hoạch cà phê thì ở thôn quê, người khỏe mạnh còn cảm thấy tức ngực thì không biết người bệnh sẽ vất vả đến chừng nào! Không biết kêu ai đây? 

Đã nhiều lần Giáo hội kêu gọi mọi người bảo vệ lấy quả đất, người Kitô hữu cũng được mời gọi chăm sóc quả địa cầu, bảo vệ thiên nhiên. Mỗi người hãy có những đóng góp nho nhỏ cua mình: trồng cây xanh, giữ sạch sẽ môi trường sống của mình cũng như anh em, hạn chế đốt rác hữu cơ vì vừa tạo khí Co2 vừa kết liễu quá trình sống của các vi sinh vật. Tôi vẫn nhớ một lời nói của Đức Cha Giuse Trịnh Chính Trực: một cây gỗ để mục tự nhiên thì tốt hơn là đốt nó ra tro.

2. Năm thánh lòng thương xót. Nếu không để ý ta sẽ dễ thêm chữ Chúa vào giữa cụm từ hay cuối cụm từ trên, nhưng đúng là không có chữ Chúa trong cụm từ trên. Đọc kỹ lại ta thấy nếu có chữ Chúa thì điểm nhấn sẽ hạn hẹp hơn: phải tri ân Chúa và hưởng nếm lòng thương xót Chúa. Nhưng trong năm thánh nầy, ta còn phải thể hiện lòng thương xót với anh em: tha thứ, làm ơn, gần gũi … nghĩa là thể hiện tình thương với mọi người như gương Chúa Cha, Ngài làm mưa trên cả kẻ lành cũng như người dữ.
Trong gia đình, cha mẹ có bổn phận thể hiện tình yêu thương, dịu dàng để con cái cảm nghiệm được tình Cha trên trời, Đấng không ngừng chăm sóc, bảo bọc, tha thứ con người. Trong Giáo xứ, các linh mục phải cư xử thế nào để con dân cảm nghiệm được tình thương của Thiên Chúa, Đấng không bao giờ mệt mỏi tha thứ, ân cần tiếp đón mọi người và sẵn sàng ra đi đến vùng ngoại biên. Như vậy trong năm thánh ngoại thường lòng thương xót, ta được mời gọi cảm nghiệm tình thương Thiên Chúa và được thể hiện tình thương một cách cụ thể với anh em, đó là hai mặt của một đồng tiền THƯƠNG XÓT.

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2015

HÃY THƯƠNG XÓT NHƯ CHÚA CHA




Hôm nay, ngày 8.12.2015, năm thánh Lòng Thương Xót được khai mạc ở Roma. Đây là một biến cố được giáo dân khắp thế giới mong mỏi đợi chờ. Lòng thương xót Chúa đã có từ ngàn đời, mênh mang như trời bể, nhưng con người thường lãng quên vì những lo lắng sự đời. Biến cố khai mạc năm thánh Lòng Thương Xót do đức Phanxicô khởi xướng như luồng gió mát thổi vào Giáo hội và thế giới nầy, khiến ai nấy đều cảm thấy thảnh thơi nhẹ nhàng cho tâm hồn vì nhớ lại rằng mình được Thiên Chúa yêu thương.

Thiên Chúa đã yêu thế gian rất nhiều, vì yêu Ngài đã tạo dựng nên vũ trụ và vạn vật để muôn loài được chia sẻ vinh quang với Chúa. Nhìn trời xanh tay Ngài sáng tạo thật hùng vĩ và trật tự, vạn vật trên địa cầu rất đỗi phong phú, cách cấu tạo mỗi con vật và cơ thể người được tính toán chi li từng chút… thì ta phải nhận ra rằng có một ‘đấng uy linh’ đã tạo ra chúng. Thế nhưng, nhiều người lại nói: “mọi vật đều tự nhiên mà có, Đấng Tạo Thành là do sự sợ hãi trong con người tưởng tượng ra”. Họ là những người vô thần. Tựa như trong một gia đình, cha mẹ yêu thương con cái hết mực, thế nhưng có những người con chẳng hề biết ơn vì nghĩ rằng đó là điều tự nhiên. Trong năm Thánh nầy, ta hãy xin Chúa mở mắt đức tin để thấy được tình thương Chúa trên vũ trụ và trên đời mình.

 Ngày nay, một hiện tượng đáng báo động hơn là có những Kitô hữu vô thần. Họ vẫn tin Thiên Chúa là Đấng dựng nên vũ trụ, tin rằng Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban cho họ người Con Một là Đức Giêsu, tin Chúa Thánh Thần là Đấng Thánh Hóa, tin các tín điều Giáo hội dạy, nhưng họ không còn muốn mất thời gian với niềm tin đó. Theo một bài phân tích mới đây về các Giáo hội ở Âu Châu thì số người hành đạo đang giảm sút đáng kể, người giáo dân rất ít lãnh bí tích hòa giải, họ rước lễ nếu có dịp tham dự Thánh lễ, dù tình trạng tâm hồn họ có ngăn trở vì li dị hay sống chung không hôn phối, có những người phá thai và còn biết bao tội lỗi khác. Còn ở Việt Nam, tình hình cũng khá giống như vậy rồi: người giáo dân mỗi năm xưng tội 2-3 lần, nhưng đã đi lễ là lên rước lễ đến 90%. Như vậy phải chăng có nhiều người rước lễ trong tình trạng không xứng đáng và mắc tội phạm Thánh. Giáo dân đã mất cảm thức về tội và các linh mục thì quá ít ngồi tòa giải tội, các ngài quá bận rộn nên dặn với giáo dân rằng: chỉ xưng tội trong những dịp ngài chỉ định, nên ai có tội nặng thì cũng đành mang kè kè bên mình và xưng thú trực tiếp với Chúa rồi rước lễ. Không khéo Giáo hội công giáo chuyển thành Tin Lành mất thôi. Để cảm nghiệm được lòng thương xót Chúa, con người phải ăn năn sám hối và nhất là lãnh bí tích Hòa Giải. Ước mong các linh mục thúc giục con cái mình biết trở về với nội tâm, ý thức về tội làm phiền lòng Chúa và các ngài siêng năng ngồi tòa giống như cha Vianey, quan thầy các linh mục. Tại sao có những linh mục giải tội một cách vội vàng: giáo dân chỉ xưng tội rồi ra chờ, khoảng 30 người thì linh mục mới ra để khuyên nhủ vài điều và ra việc đền tội chung? Đáng ra, linh mục phải xem việc giải tội là thánh thiêng, vì mỗi lần xưng tội là một lần ta có cơ hội gặp gỡ trực tiếp Chúa Giêsu và cảm nghiệm được tình thương xót của Ngài. Đức Phanxicô vẫn thường xưng tội 2-3 tuần/lần và chính Ngài đã cảm nghiệm được lòng thương xót Chúa trong một lần xưng tội.



Câu chuyện về người Cha nhân từ được Thánh Luca mô tả trong chương 15,11-31 là một câu chuyện rất sâu sắc giúp ta hiểu phần nào về người Cha trên trời. Từ khi đứa con ra đi xa nhà, người cha mòn mỏi đợi chờ ngày nó trở về. Khi người con còn ở xa, người cha đã trông thấy, ông vội vàng chạy tới ôm chầm lấy cậu, không để cho cậu xưng hết mọi điều thì người Cha đã mặc áo, đeo nhẫn và xỏ dày cho cậu, lại còn sai làm thịt con bê béo mà ông đã để dành từ lâu cho sự việc, ông quên hết những lầm lỗi bất hiếu và phá tan sản nghiệp của cậu, ông vui mừng vì cậu đã trở về trong vòng tay yêu thương của mình. Thiên Chúa là Tình yêu là vậy. Ngài cũng mời gọi ta nên hoàn thiện như Ngài, yêu thương như Ngài. Trong năm thánh Lòng Thương Xót, ta được mời gọi trở về với Chúa và yêu thương anh em như mẫu gương của Cha trên trời.

Trong bài nói chuyện mới đây, Đức Phanxicô nói: Trước mắt chúng ta là cánh cửa, không phải chỉ là cánh cửa thánh, mà là cánh cửa khác; cánh cửa lớn của Lòng Thương Xót Chúa, và đó là cánh cửa đẹp, tiếp đón sự sám hối của chúng ta bằng cách cống hiến cho chúng ta ơn tha thứ của Ngài. Hãy bước qua ngưỡng cửa của lòng thương xót này của Thiên Chúa, là Đấng không bao giờ mệt mỏi tha thứ, không bao giờ mệt mỏi chờ đợi chúng ta.

Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2015

Năm mới




Mùa vọng đã khai mạc năm phụng vụ mới. Mùa vọng là mùa chuẩn bị đón Chúa Kitô đến trong biến cố Giáng Sinh và cũng để đón chờ việc Ngài đến trong vinh quang.Điều trùng hợp là hai câu Tin Mừng Lc 21,34-36 vừa được dùng trong ngày cuối năm, vừa được dùng trong ngày đầu năm: “Anh em chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa và lo lắng sự đời. Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn”.

Dầu biết rằng trần gian là quán trọ, là nơi ở tạm để chuẩn bị cho cuộc sống đời đời mai sau, nhưng lòng con người khó tránh khỏi sự dính bén với vật chất và giá trị đời nầy. Thánh Gioan Tông Đồ nói đó là đam mê của con mắt, đam mê của xác thịt và lòng kiêu hãnh về của cải. Còn giáo sư Peter Kreff thì nhận định về Kitô giáo ở Âu Châu: “Kitô giáo đang suy đồi, đang chết tại Âu Châu, vì người ta theo đuổi một chủ nghĩa khoái lạc trần tục được xã hội kính trọng. Nỗi đam mê duy nhất của nó hiện nay là dục vọng chứ không phải tôn giáo”. Biến cố nước Pháp bị khủng bố vừa qua là một điều xấu mà ai cũng phải lên án, nhưng chắc chắn đó cũng là một tiếng chuông thức tỉnh cho nhiều người rằng: cuộc sống trần gian thật là tạm bợ, hãy lo tìm phần rỗi linh hồn.

Nhiều lần Chúa Giêsu đã nói tới việc người đầy tớ phải tỉnh thức và sẵn sàng vì không biết giờ nào ông chủ sẽ về. Có những đầy tớ nghĩ rằng còn lâu ông chủ mới về, nên ăn uống say sưa và đánh đập tớ trai tớ gái. Chúa còn bảo: “Vào lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến”. Tùy tình trạng tâm hồn, mỗi người chúng ta sẽ được hưởng phúc thiên đàng hay bị phạt trầm luân.

Thời tuổi trẻ, con người đam mê làm việc và dệt nhiều ước mơ cho cuộc đời. Bước sang tuổi thanh niên, họ thực hiện ước mơ đó trong bậc sống gia đình hay bậc tu trì, rất sôi nổi và với nhiều đấu đá để đạt nhiều thành tích. Nhưng rồi sẽ đến giai đoạn tuổi già, là lúc con người đã nghiệm được nhiều sự đời, cảm thấu nhiều nỗi đau, và nhất là chia tay với nhiều người thân, nên đã hiểu được rằng: ‘cuộc đời là tương đối’, sống sao cho có đức và hạnh phúc, giá trị cuộc đời không phải là những gì mình ‘có’ mà ở những gì mình ‘là’. Khổng-Tử đã kể lại các giai-đoạn thành-đạt của cuộc đời ngài như sau: "Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên-mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, và thất thập nhi tùng tâm sở dục bất du củ" (Ta tới mười lăm tuổi mới chuyên-chú vào việc học, ba mươi tuổi mới tự-lập, bốn mươi tuổi mới thấu-hiểu hết sự lý trong thiên-hạ, năm mươi tuổi mới biết mệnh trời, sáu mươi tuổi mới có kiến-thức và kinh-nghiệm hoàn-hảo để có thể phán-đoán ngay được mọi sự-lý và nhân-vật mà không thấy có điều gì chướng-ngại khi nghe được, và bảy mươi tuổi mới có thể nói hay làm những điều đúng theo ý-muốn của lòng mình mà không ra ngoài khuôn-khổ đạo-lý). Trong lời phát-biểu trên, Đức Khổng-Tử có ý nói rằng con người tới một lứa tuổi nào đó mới có khả-năng nhận-thức và thực-hành những điều mà người chưa đạt đến lứa tuổi đó thì chưa nhận-thức và thực-hành được.


Lạy Chúa, không biết con có sống đến ngày Chúa quang lâm hay không, nhưng xin cho con biết cầu nguyện và tỉnh thức luôn, vì không biết ngày giờ Chúa gọi con về bên Ngài. Xin cho con biết chăm chỉ làm việc vì chu toàn bổn phận là con đường bảo đảm nên thánh, nhưng xin đừng để lòng con ra nặng nề bởi sự dính bén của cải, ham muốn danh vọng. khao khát đam mê và những giá trị người đời ca tụng. Xin cho con biết nói như Thánh Phaolô: tôi coi mọi sự đời nầy là rơm rác trước cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô, Chúa tôi. Xin cho con biết trở về với tình thương bao la của một người Cha, Ngài luôn muốn yêu thương cả loài người, như gà mẹ muốn tụ họp đàn con dưới cánh. Amen.


Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2015

Vua Giêsu




Nói đến ‘vua’ là nói đến người lãnh đạo cao nhất của một đất nước, người nắm vận mạng dân chúng, lo cho người dân được an cư lạc nghiệp. Chức vụ càng cao thì sa ngã càng nhiều, nhiệm vụ càng nặng thì quyền lợi càng lớn. Thực tế, có rất ít vị vua lưu danh muôn thuở vì khôn ngoan và hành xử tốt nhiệm vụ của mình, nên tước hiệu vua thường gắn liền với khái niệm độc tài, hưởng thụ, quyền hành.
Chúa Kitô không phải là một vị vua như thế, vì nước của Ngài không thuộc về trần thế nầy và cách hành xử của Ngài rất khác: Ngài đến để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người (Mt 20,28). Sách Khải Huyền diễn tả: Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta”. Chỉ cần hiểu và cảm nghiệm được một câu kinh thánh này thôi thì cuộc đời chúng ta đã hạnh phúc lắm rồi. Chúng ta tri ân Chúa Giêsu là vua của các tâm hồn. Chúa Giêsu trở thành vua khi ta tuân phục thánh ý Ngài, khi ta phó thác cuộc đời cho Ngài, khi ta tuân giữ Lời dạy của Ngài, khi ta yêu mến Ngài.

Hãy học sự hiền lành và khiêm nhường của Chúa Giêsu. Ngài có khả năng để có một địa vị cao sang, một đội quân tinh nhuệ, một tổ chức bài bản và vô vàn của cải để thực hiện công việc mạc khải sự thật và để thực hiện công trình cứu chuộc. Nhưng Vua Giêsu đã chọn sinh ra nơi đồng vắng, sống âm thầm trong một gia đình nghèo và chết trơ vơ giữa trời đất – khi mọi sự vẫn còn dang dở… Tất cả là vì tình yêu và Ngài đã trở nên vua của mọi tâm hồn. Lạy Chúa Giêsu, con tri ân Chúa và con yêu mến Ngài. Xin biến đổi lòng con nên giống trái tim Chúa. Amen.

Thứ Ba, 17 tháng 11, 2015

Những nén bạc (Lc 19,11-28)


Ông chủ đi xa, giao cho các đầy tớ những nén bạc ít nhiều khác nhau, với lệnh truyền rõ ràng là phải làm sinh lời chúng. Đó là những hình ảnh ám chỉ rõ ràng về cuộc lữ hành của từng người trên trần gian nầy.

Chúa về trời, không phải là đi xa chúng ta, giống như trong gia đình có người thân đi ngoại quốc. Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã hứa: “Này đây, Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế. Thầy không để chúng con mồ côi, Thánh Thần sẽ được sai đến”. Lời hứa của Chúa muốn nói với ta rằng: ngày Chúa về trời là kết thúc sứ mạng nhập thể cứu đời, sự hiện diện của Chúa chuyển sang một cách thức hiện hữu khác. Dù Chúa vẫn đồng hành với ta mỗi ngày, nhưng mắt ta không thể nhận ra Ngài một cách rõ ràng, nói cách khác là Chúa đã ẩn mình. Thời đại ta đang sống là thời đại Chúa Thánh Thần hoạt động, nhưng Ba Ngôi luôn hoạt động trong nhau. Ta tưởng rằng Ông Chủ đã đi xa, thực ra Ngài vẫn ở bên ta mà mắt ta không nhận ra, vì Ngài thiêng liêng và Ngài thích ẩn mình, đó là tự do của Chúa.

Kẻ năm nén, người hai nén, kẻ khác nữa lại chỉ có một nén. Đây cũng là một kế hoạch khó hiểu và gây vấp phạm cho chúng ta, bởi từ đó sẽ nảy sinh sự so sánh, ganh tị và kiêu ngạo. Thánh Giacôbê nói: ai nói mình đạo đức mà không kềm hãm miệng lưỡi mình là kẻ nói dối. Lòng kiêu ngạo và thói ganh tị đã làm băng hoại tâm hồn ta rất nhiều. Cứ xét xem những tội ta xưng từ trước đến nay, không lần nào là không có tội nói xấu, khoe khoang, huênh hoang về những ‘chiến công’ và tài năng của mình. Những cộng đoàn chia rẽ nhau cũng vì sự so sánh và dèm pha nói xấu. Công bằng mà nói: Thiên Chúa ban cho kẻ nhiều người ít là tự do của Ngài, mỗi người phải khiêm tốn chấp nhận khả năng mà Chúa ban cho riêng mình, mỗi người sẽ bị trả lẽ về những nén bạc mình có, kẻ có nhiều sẽ bị đòi nhiều hơn. Thánh Phaolô nói: ơn riêng mỗi người lãnh nhận là để phục vụ cộng đoàn. Sách tu đức dạy rằng so sánh mình với người khác là một việc làm vô ích, vì mỗi người là một nhân vị độc đáo, không ai giống ai. Trong 14 điều Phật dạy thì có ba điều liên quan đến ‘bí mật’ những nén bạc: “Thất bại lớn nhất của đời người là tự đại. Bi ai lớn nhất của đời người là ghen tị. Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất chính mình” (internet).
Trong thời gian ông chủ đi xa, các đầy tớ được lệnh làm sinh lời những nén bạc chủ giao. Điều này muốn nói rằng cuộc sống luôn nằm ở trạng thái động, có thể thăng tiến và cũng có thể thụt lùi, dù trên lãnh vực nhân bản hay thiêng liêng. Có những đêm ta mơ về những cuộc gặp gỡ và tranh luận với người nầy kẻ nọ, cũng phùng mang trợn mắt đấu đá ra trò, cũng ghen tức như trong cuộc đời thực, thực đến nỗi lương tâm phải cắn rứt y như ta đã phạm tội. Có người nói nhân chi sơ tính bổn thiện, kẻ khác lại nói nhân chi sơ tính bổn ác, nhưng tôi cho rằng trong con người chúng ta luôn có một cuộc giằng co từng giây phút: một đàng ước muốn làm điều lành là hạt giống được Thiên Chúa gieo vãi, nhưng đàng khác những đam mê hướng ác lại lôi ta xuống. Sách GLCG dạy rằng: Dù đã được Chúa Kitô cứu chuộc, nhưng vì tội nguyên tổ, những đam mê của ta luôn nghiêng chiều về điều xấu. Và cuộc chiến đấu thiêng liêng nầy cũng là một phần trong thập giá cuộc đời.

Ông chủ đi xa, nhưng có ngày ông sẽ trở về. Điều này muốn nói rằng Chúa Kitô đi dọn chỗ cho ta và Chúa sẽ trở lại đem ta về ở với Ngài. Trong ngày đó, Chúa sẽ không xét xem ta có gì mà xét ta đã làm gì, có thực hiện ý Ngài hay không. Người có năm nén cũng được hưởng hạnh phúc mà người có mười nén cũng hạnh phúc. Chuyện cai trị năm thành hay mười thành không có ý muốn nói rằng có nhiều mức độ ‘hưởng thụ’ trong nước trời mai sau, vì mọi người đều được diện kiến Thiên Chúa diện đối diện và yêu mến Ngài trọn vẹn. Ở trong nước trời mai sau, không còn sự so sánh, ghen tị mà chỉ có tràn đầy tình yêu Thiên Chúa và mọi người.

Thứ Năm, 12 tháng 11, 2015

Lòng trông cậy Chúa




Biến cố tôn phong hiển thánh cho 117 vị tử đạo Việt Nam (19.6.1988), là một biến cố lịch sử của Giáo Hội Việt Nam. Không chỉ là sự nổi tiếng của hai chữ Việt Nam, nhưng biến cố nầy củng cố niềm tin cho các tín hữu đang phải trải qua muôn vàn thách đố của một xã hội rối ren thời hậu chiến. Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã thắp lên  ngọn đuốc thiêng dẫn đường cho các tín hữu biết can trường thể hiện niềm tin, như men trong bột để làm dậy men một khối bột gấp 10 lần số men hiện có (7 tr/90 tr).

Sách Macabê kể lại câu chuyện: Bà mẹ can trường chịu đựng việc xử tử 7 đứa con trong một ngày là nhờ lòng trông cậy của bà được đặt nơi Chúa. Bà tin rằng Chúa sẽ nâng đỡ cuộc sống hiện tại trên trần thế, ban ơn trong gian nan và thưởng công bội hậu ở đời sau. Bởi đó, bà khích lệ con cái mình: đừng sợ mất mạng sống mình để trung thành với Thiên Chúa là Đấng muôn trùng cao cả.

Nhiều người nói rằng: người có đạo tôn thờ Thiên Chúa một cách vụ lợi vì họ trông chờ được thưởng công trong nước trời. Thực ra, hạnh phúc thiên đàng không phải là phần thưởng cho những công lao ta lập được khi sống trên đời, giống như chiếc huy chương mà vận động viên lập được do tài năng và lao động của mình, mà do lòng chạnh thương của Chúa ban cho. Hãy nhớ lại câu chuyện người công nhân giờ thứ 11 và câu chuyện người trộm lành trên thập giá. Đàng khác, hạnh phúc thiên đàng cũng không phải là thỏa mãn những đam mê mình đã ‘kiêng khem’ trên trần gian, nay được bù lại một cách phủ phê bất tận, mà là no thỏa trong tình yêu Thiên Chúa là nguồn cội của muôn loài. Thánh Augustinô đã thưa với Chúa: “Lạy Chúa, Ngài đã dựng nên chúng con để hướng về Ngài, và tâm hồn chúng con không nghỉ ngơi cho đến khi nghỉ yên trong Ngài". Hạnh phúc thiên đàng là sự nghỉ ngơi, kết hiệp, chiêm ngắm và yêu mến Thiên Chúa.

Trong vài năm trở lại đây, những người Hồi giáo quá khích IS đã khủng bố và giết hại những người không thuộc phe họ. Họ tin rằng "Những ai bị giết vì “Chúa” đều được vào thiên đàng lạc thú". Nhưng Giáo hội Công giáo cũng tin rằng những người Kitô hữu bị giết cũng là những vị tử đạo, vì họ bị giết là vì không chịu cải đạo sang Hồi giáo. Những Kitô hữu nầy không có cơ hội được tuyên xưng đức tin một cách công khai, nhưng tuyên xưng bằng chính mạng sống của mình; dù họ im lặng chịu hành hình, hoặc thân xác nổ tung vì bom đạn thì những giọt máu của họ đổ ra là một lời chứng hùng hồn rằng họ đặt niềm trông cậy vào Thiên Chúa. Người tử đạo của IS ở trong tư thế tấn công, thù ghét, làm khiếp sợ để truyền giáo; còn người tử đạo Kitô giáo thì trốn chạy và hiền lành như chiên bị sát tế, tha thứ cho kẻ làm khốn mình, noi gương cuộc tử đạo của Thầy Giêsu.
Giáo lý dạy rằng: kiếp sống trần gian là kiếp lữ hành tiến về quê trời, tựa cuộc xuất hành về đất hứa của dân Do Thái xưa kia. Thực ra con đường từ Ai Cập về đất hứa cũng không xa xôi gì, vậy mà cuộc xuất hành đã trải qua 40 năm trong sa mạc là để nhằm thanh luyện họ. Trong cuộc xuất hành đó, dân Chúa đã trải qua sự truy đuổi của quân đội Ai Cập, đã trải qua sự thiếu thốn cơ cực, đói khát và chán nản, nên đã nhiều lần lẩm bẩm kêu trách Thiên Chúa… nhưng cuối cùng họ đã vào đất hứa, họ đã cảm nghiệm được sự đồng hành gần gũi của Chúa. Cuộc hành trình của dân Do Thái là hình ảnh cuộc hành trình của mỗi người chúng ta đang cùng nhau tiến về quê trời. Là công dân nước trời, là con cái ánh sáng, Kitô hữu luôn bị bắt bớ vi đi ngược dòng đời. Nếu nghĩ rằng mình vừa là con cái Chúa vừa được thế gian yêu mến thì đó là một ảo tưởng. Thế gian có những ‘ngẫu tượng’ của mình và nghe theo lời dạy của vị thần đó, trong lúc Kitô hữu chỉ tôn thờ Thiên Chúa và sống theo lề luật Chúa dạy thì sao mà không có xung khắc và bách hại? Ngày xưa, các Thánh Tử Đạo Việt Nam chẳng làm gì hại nước hại dân, nhưng các Ngài đã bị giết chỉ vì không chịu chối bỏ niềm tin vào Thiên Chúa là Đấng sáng tạo nên trời đất, là Tình Yêu. Ngày nay, người ta cũng ‘không ưa’ người Công giáo khi họ tìm kiếm việc làm, người ta dùng luật pháp để hủy hoại gia đình và những giá trị Kitô giáo, người ta hạn chế không cho Giáo hội cộng tác vào y tế và giáo dục để hạn chế tầm ảnh hưởng của tôn giáo.

Ai đó đã từng nói: Trong giấc mơ ai cũng mong ước trở thành thánh tử đạo, nhưng trong cuộc sống ta khó sống cho ra con người. Điều đó muốn nói lên rằng bao lâu còn sống trên trần gian thì cuộc giằng co giữa thiện và ác luôn giao tranh mãnh liệt. Hãy cầu xin với các thánh Tử Đạo Việt Nam để xin ơn phù hộ trở nên chứng nhân can trường giữa dòng đời. Ma quỷ như sư tử gầm thét đang rảo quanh ta để tìm mồi cắn xé. Hãy luôn trông cậy vào Chúa, Chúa sẽ kíp ra tay, cả trong cuộc sống thường nhật và cả khi cần đổ máu để minh chứng cho sự hiện diện của Chúa.

Thứ Năm, 5 tháng 11, 2015

Lòng quảng đại




Những bản văn của Chúa Nhật 32 Tn gợi lên cho ta những suy tư về lòng quảng đại. Trao ban và nhận lãnh là hai khía cạnh của tình yêu. Sự thường thì việc cho đi khó hơn là nhận lãnh. Nhưng khi một người khá dư đầy của cải thì việc nhận lãnh cũng rất khó, vì tính sĩ diện và không muốn mang ơn. Và thường một người túng thiếu thì chỉ mong nhận lãnh mà ít nghĩ đến việc cho đi, vì nghĩ rằng mình chẳng có gì để trao ban.
Hai bà góa, một ở Sa-rép-ta và một trong Tin Mừng Mác-cô lại đánh động chúng ta vì họ thể hiện một sự quảng đại trong việc trao ban: rộng rãi cho đi trong cảnh nghèo túng cùng cực của mình. Bà góa nghèo của thời cựu ước được hưởng phần thưởng ngay: mạng sống cả 3 người được cứu sống suốt qua mùa hạn hán. Phép lạ xảy ra là do lòng xót thương của Chúa cộng với lòng quảng đại của bà. Còn bà góa của thời tân ước được Chúa Giêsu khen tặng hết lời, như một mẫu gương cho ta noi theo. Chúa Giêsu đề cao tấm lòng của người đàn bà góa nầy vì hành động cho đi đến cùng của bà là hình ảnh của chính cuộc đời Ngài. Chúa Giêsu đã từ bỏ cõi trời đến ở với loài người để chia sẻ phận người, và khi đến thời đến buổi Chúa cũng trao ban tất cả cho ta trong việc hiến tế chính mình để đền tội cho nhân loại (Hr 9,26).

Lời tiên tri Ê-li-a nói “đừng sợ” đã được hai bà góa thực hiện một cách triệt để. Hai bà cứ cho đi tất cả, dù mình chẳng còn lại gì và chẳng biết ngày hôm sau sẽ sống thế nào. Có thể nói hai bà góa đã có một sự tin tưởng đến liều lĩnh rằng Thiên Chúa sẽ định liệu, họ trao ban cả cái tôi để hoàn toàn tín thác nơi Thiên Chúa. Chúng ta liên tưởng đến thái độ của ông Abraham khi dám lìa bỏ quê hương và khi dơ tay định sát tế đứa con trai duy nhất của mình, vì vâng lệnh Chúa. Và đó cũng là thái độ của Mẹ Maria khi nhận lời thiên sứ truyền tin, của thánh cả Giuse và của các thánh tử đạo: trao ban cả mạng sống và cả tương lai vào tay Chúa định liệu. Đừng sợ để mở cửa tâm hồn cho Chúa Kitô và đừng sợ khi Chúa muốn ta hiến thân phục vụ anh em. Mẹ Têrêxa nói với ta rằng: Hãy cho đi đến độ ta cảm thấy đau đớn thì việc cho đi mới đáng kể. Việc 'cho đi' phải được luyện tập như bài tập thể dục. Một phương cách tập luyện hữu ích là tham gia sinh hoạt tập thể trong giáo xứ và giáo phận. Đôi lúc ta đau xót vì mất giờ, vì đụng chạm, vì chẳng có lương bổng, nhưng hãy nghĩ đến những lời của Kinh Hòa Bình để tìm được lẽ sống: "chính lúc hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là khi gặp lại bản thân, chính lúc thứ tha là khi được tha thứ, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời".
Xã hội đang loạn lên vì con người thường vơ vét mọi lợi lộc và những điều tốt lành cho mình mà không xét đến anh em. Người ta buôn bán vũ khí, buôn bán nô lệ thời mới (cơ phận, mại dâm, lao động), ma túy và hàng lậu, dùng hóa chất trong sản xuất (chế biến, chăn nuôi, trồng trọt, nước thải ô nhiễm) … miễn sao thu lợi càng nhiều càng tốt, ai chết mặc ai. Gần đây, Việt Nam được xếp vào tốp đứng đầu về tỷ lệ bệnh ung thư. Điều nầy cũng dễ hiểu vì điều kiện sinh hoạt và môi trường sống còn thiếu vệ sinh, hệ thống kiểm định an toàn thực phẩm còn lỏng lẻo: nhìn đâu cũng thấy chất độc nhưng không ăn không uống thì lại chết đói. Nghĩ đến cái chết và nghĩ đến bệnh ung thư ta cảm thấy sợ, nhưng cũng là một động lực để ta sống tốt những ngày được Chúa ban cho sức khỏe. Còn giờ nào, ngày nào gặp gian nan thử thách thì cứ phó thác cho Thiên Chúa định liệu. Hãy can đảm đi ngược dòng khi biết trao ban rộng rãi cho tha nhân, đừng làm gì lợi mình mà hại người.
Có rất nhiều bà góa thời tiên tri Ê-li-a nhưng chỉ có bà góa ở Sarepta là được Chúa đoái thương. Điều này nói lên hồng ân nhưng không. Được trở thành con cái Chúa cũng là một hồng ân nhưng không mà ta phải cảm tạ suốt đời. Được sinh ra trên cõi đời, được sống đến giây phút nầy, được hưởng sự êm ấm của một gia đình, được ngồi trước màn hình vi tính, được lành lặn cơ thể, được có những của cải và điều kiện như đang có… đều là một ân ban hơn là vì tôi xứng đáng. Bởi đó, hãy dâng lời tạ ơn mỗi ngày (kinh cám ơn, kinh đội ơn).
Được gọi trở thành linh mục và tu sĩ, hoặc để sống bậc sống gia đình cũng là một hồng ân nhưng không mà ta phải tạ ơn và nhất là hãy sống khiêm tốn phục vụ. Trong bài Tin Mừng Chúa cảnh giác dân chúng đừng học theo và đừng  “đánh giá sai” lối sống hình thức của các kinh sư: hám danh, giả hình, hưởng thụ. Tiêu chuẩn để đánh giá một con người đạo đức là khiêm tốn, trao ban và liên kết mật thiết với Chúa. Chiếc áo không làm nên thầy tu mà là nhân cách: hiến thân, băng bó chữa lành chứ không phải cứ rình làm thịt chiên. Còn đời sống hôn nhân thì rõ rồi: cứ khiêm tốn phục vụ, biết tha thứ, cùng nhau cầu nguyện thì sẽ hạnh phúc.

Môi trường gia đình là nơi thích hợp để rèn luyện đức yêu thương: trao ban và nhận lãnh. Tình yêu cha mẹ dành cho nhau là một lời dạy hùng hồn cho con cái. Nhưng hãy xét mình lại xem mình có nêu gương sáng về sự phục vụ vô điều kiện, phục vụ trong khiêm tốn (không khoe khoang hay kể công) hay không? Hãy coi chừng thói nạnh kẹ và so đo tính toán vẫn ẩn nấp ngay trong các thành viên gia đình. Cha mẹ hãy giúp con cái mình biết tha thứ cho nhau, sống hòa thuận và nâng đỡ nhau trong cuộc sống hằng ngày, có vậy con cái chúng ta mới biết trao ban trong đời sống xã hội.