Danh sách Blog của Tôi

Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2025

Ánh Sáng Lời Chúa

 



Mỗi sáng ta thức dậy, ánh sáng bình minh le lói chiếu sáng địa cầu, giúp ta nhìn mọi vật cách sáng tỏ. TV 118 được gọi là Thánh Vịnh Lời Chúa dài đến 176 câu, câu quen thuộc nhất là: “Lời Chúa là đèn dọi bước chân con , là  ánh sáng chỉ đường cho con đi”.

 Từ trong Cựu ước, sau khi đưa dân Israel ra khỏi Ai Cập, Thiên Chúa đã ban cho dân Lề luật của Người để hướng dẫn dân bước đi theo con đường Chúa muốn. Thiên Chúa giao kết rõ ràng: Chúa sẽ bảo vệ dân như con ngươi mắt Chúa, còn dân tuân giữ luật Chúa truyền. Lịch sử dân Chúa gắn liền với việc tuân giữ luật Chúa: khi họ bất trung, Chúa dường như bỏ rơi họ, đất đai bị xâm chiếm, dân chúng lưu đày, đền thờ trở nên hoang vắng. Chúa thường nổi giận khi dân thờ bụt thần dân ngoại, vì đó là tội bất trung - ngoại tình.

Chính việc Chúa ban lề luật đã làm cho dân riêng Chúa khác biệt với các dân tộc khác, điểm khác biệt lớn nhất nằm ở Lề Luật Thiên Chúa ban trên núi Si nai. Nếu phân tích một chút, chúng ta nhận thấy: 3 giới răn đầu của Thập giới hướng về Thiên Chúa (chỉ tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất, không tạc tượng thần và thờ lạy nó, không kêu tên Chúa vô cớ); còn 7 giới răn còn lại hướng dẫn đời sống luân lý (giữ ngày Sa bat, không giết người, không ngoại tình, không trộm cắp, không làm chứng gian,  không ham muốn vợ và của cải người khác). Có thể nói, thập giới là bộ luật cổ xưa nhất, hợp lý nhất và hợp thời nhất, vì đến hôm nay vẫn là điểm tham chiếu cho đời sống luân lý của một xã hội văn minh.

Ngay trong ngày nhậm chức (20/1/2025), tổng thống Trump đã ký 200 sắc lệnh về luật để điều hành đất nước trong nhiệm kỳ của mình, và sẽ còn ký tiếp nữa. Bất cứ một đất nước nào cũng liên tục phải điều chỉnh sinh hoạt xã hội bằng những luật lệ các loại, nhưng rồi vẫn có những kẽ hở bị lách luật, còn luật Chúa thì bất di bất dịch cả mấy ngàn năm nay – như vậy có cứng nhắc và lỗi thời hay không?_ Thưa, luật pháp Chúa ban thì toàn thiện, bồi bổ tâm can, hướng dẫn mọi người tìm được Chân Lý, là nguồn hạnh phúc. Giáo hội vẫn có những bộ luật được điều chỉnh qua dòng thời gian, nhưng đó chỉ là những hướng dẫn thứ cấp, những quy định thấp hơn Thập giới. Chúng ta nhận ra rằng, luật lệ GH có những khoản luật phù hợp với lý trí con  người và dễ chấp nhận như tôn trọng của cải và danh dự người khác, công bình, bác ái, làm lành lánh dữ... nhưng có những luật được xã hội xếp vào loại cứng nhắc khó chấp nhận như : bảo vệ sự sống từ lúc thụ thai đến lúc chết tự nhiên, không được ly di, hôn nhân đồng tính, thụ thai nhân tạo...

Người Ki tô hữu tự hào là có một bộ luật hoàn hảo, được rửa tội, có Kinh Thánh… điều đó đúng nhưng chưa đủ. Chúa Giê su luôn nhắc ta: Ai yêu mến Thầy thì tuân giữ Lời Thầy, tóm lại trong hai giới răn chính: mến Chúa và yêu người; kẻ nghe và tuân giữ Lời Chúa được ví như người khôn xây nhà mình trên nền đá vững chắc – còn kẻ chỉ thưa ‘lạy Chúa’ mà không thực hành sẽ bị Chúa chối từ: “Ta không biết các ngươi, hãy cút khỏi mặt Ta”.

Có câu chuyện kể: Có một người lạ xuất hiện trong làng, ông ta chưa kịp làm quen với dân làng thì đã bị bệnh và chết, dân làng tìm thấy một cuốn sách lạ trong hành lý ông bỏ lại – đó là cuốn Kinh Thánh, nhiều người trong làng đã đọc sách này nhưng họ không hiểu rõ những điều được ghi trong sách đó, họ mới cử một người thanh niên đi đến những làng chung quanh để quan sát cuộc sống của các làng đã đọc cuốn sách này. Sau một thời gian quan sát nhiều nơi, vị sứ giả trở về và kể lại cuộc sống của những người tiếp xúc với Sách Kinh Thánh: Có thể chia thành nhiều hạng người, có kẻ chẳng quan tâm đến sách đó, kẻ khác thì đọc sách đó nhưng cuộc sống chẳng thay đổi nhiều, có kẻ thì giữ một số điều nhưng vẫn sống tầm thường, có kẻ mộ đạo tuân giữ những lời sách Thánh dạy, và có kẻ dám chết để bảo vệ những chân lý Kinh Thánh dạy. Câu chuyện kết ở đó, không hiểu sau này làng này có theo đạo hay không.

Có câu chuyện khác kể về một người đàn ông nghiện rượu lâu năm, muốn chừa nhưng không được và đã nhiều lần bị mất việc. Anh gặp một vị tu sỹ, vị này cho anh lời khuyên: Mỗi ngày hãy đọc một đoạn Kinh Thánh. Anh ta thực hành ngay, nhưng rồi vì không có kiến thức nên anh chẳng hiểu gì cả, anh đến gặp vị tu sỹ để xin một lời khuyên khác, nhưng vị tu sỹ bảo anh: “Anh cứ tiếp tục đọc Kinh Thánh, anh không hiểu nhưng ma quỷ thì nó hiểu và nó đang run sợ đó”. Anh này tiếp tục đọc như lời dạy và anh đã bỏ được rượu.

 


Mỗi ngày, chúng ta hãy tập thói quen mở lịch Phụng Vụ và đọc kỹ 2 bài đọc được chọn cho từng ngày, ghi nhớ một câu để tiếp tục nghiền ngẫm trong ngày sống. Tốt nhất là đọc bài Tin Mừng của ngày mai trong giờ kinh tối, sau đó nghiền ngẫm ‘câu ghi nhớ’ khi chưa ngủ, nghĩ tới câu đó khi thức giấc và cầu nguyện với câu đó khi tham dự Thánh Lễ, và thình thoảng nhớ lại ‘câu ghi nhớ’ trong cả ngày sống. Lời Chúa sẽ đem lại vị ngọt cho ngày sống của bạn.

Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2025

Ơn hiệp nhất

 



Hằng năm, Giáo hội dành ra 1 tuần lễ (17/1-25/1) để cầu nguyện cho sự hiệp nhất của các Ki tô hữu. Chúng ta nghĩ trước hết đến các giáo phái Ki tô như Công giáo, Chính thống giáo, Tin lành, Anh Giáo, các anh em ly giáo nhỏ hơn và cả những lạc giáo. Nhưng cũng đừng quên sự chia rẽ vẫn luôn xảy ra ngay giữa lòng những giáo hội này, giữa những đoàn thể trong một giáo xứ, giữa các thành viên trong một cộng đoàn tu trì chỉ gồm 5-7 thành viên. Lời cầu nguyện xin ơn bình an hiệp nhất là một lời cầu nguyện quan trọng, rất đẹp lòng Chúa Giê su, và chỉ với ơn Chúa thì các thành viên trong một gia đình, dù nhỏ hay lớn, mới tránh được mưu chước của ác thần.

Nhìn lại lịch sử Giáo hội, chúng ta biết có 3 cuộc ly giáo lớn giữa những người tin vào Chúa Ki tô. Năm 1054 ly giáo của anh em Chính thống; năm 1516 là cuộc ly giáo của anh em Tin lành Luther, và chỉ khoảng 10 năm sau, cuộc ly khai của anh em Anh giáo với vua Enrico VIII xảy ra từ từ, vì ĐGH không chấp nhận hủy bỏ cuộc hôn nhân trước đây, để nhà vua cưới Anna Bolena, và nhà vua tuyên bố mình có quyền tối thượng trên Giáo hội tại Anh. Nhìn vào 3 cuộc ly giáo đó, chúng ta có thể nhận ra 3 nguyên nhân nổi bật dẫn đến những ly khai đáng tiếc này. Thứ nhất là do lòng kiêu ngạo : ai cũng cho rằng chỉ mình là có lý mà không khiêm tốn nhận ra rằng mình có những sai lầm cần phải sửa chữa, không có thiện chí để lắng nghe người kia, không muốn vâng phục ĐGH . Nguyên nhân thứ hai là phải kể đến là tính nóng nảy, thiếu lắng nghe và cẩn trọng trong tiến trình hỏa giải - vội ra vạ tuyệt thông cho nhau. Và nguyên nhân thứ 3 là bị những dục vọng và lợi lộc chi phối.

Từ sau Công Đồng Vaticano, công cuộc Đại kết (hiệp nhất các Ki tô hữu) đã được đề cao và các Giáo hội đã có những sự hòa giải và gần gũi đáng kể, nhất là anh em Chính Thống. Một phần là do các tổ chức gặp gỡ liên tôn, hợp tác làm việc và cầu nguyện chung, những lời xin lỗi và thăm viếng nhau của các vị lãnh đạo các Giáo hội, và quan trọng nhất là lời cầu nguyện của các tín hữu trên khắp thế giới, vì chính Chúa Giê su đã xin với Chúa Cha: Lạy Cha, con cầu xin cho các môn đệ và các tín hữu được nên một như Cha với Con là một (Ga 17,20). Giáo hội là một cơ thể sống, mỗi lời cầu nguyện ta dâng lên, tựa như một enzyme tốt lành sẽ làm cho cơ thể đó khỏe mạnh hơn, lướt thắng những mầm chia rẽ mà ma quỷ không ngừng gieo rắc trong tâm khảm mỗi người: nghi ngờ, tự cao tự đại, cố chấp, nóng nảy, ghen tương, lợi lộc… 



Khi nói đến việc truyền giáo và sự hiệp nhất các Ki tô hữu, chúng ta dễ nghĩ đến việc mình phải có kiến thức, luận lý, tranh biện để những người ‘lầm lạc’ biết họ sai lầm – từ đó họ sẽ nhận ra sự đúng đắn của Giáo hội Công giáo và họ trở về nhà. Không phải thế, việc hiệp nhất của Giáo hội hoàn vũ và của các cộng đoàn lớn nhỏ là việc của ơn Thánh, là việc của Chúa Thánh Thần. Mỗi người nỗ lực hành động trong khả năng của mình để cho ước vọng hiệp nhất của Chúa Ki tô được thành sự, và phần cốt lõi là cầu nguyện, vì chia rẽ là việc của ma quỷ - hiệp nhất yêu thương là việc của ơn Thánh. Chúa dạy : ”Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít, vậy anh em hãy xin chủ ruộng đi gặt lúa của Người”, và ở chỗ khác Chúa còn dạy: “Các con, tuy là ác, mà còn biết lấy của lành trao cho con cái, huống gì Cha các con trên trời, Người sẽ kíp ban Thánh Thần cho bất cứ ai xin Người”. Bản thân mỗi người hãy cố gắng để duy trì sự hiệp nhất yêu thương từ trong tâm trí,  trong lời nói và trong hành động, đừng gây bất hòa và chia rẽ; và luôn cầu xin ơn hiệp nhất cho mình, cho người bạn đời, cho gia đình, Giáo xứ và Giáo hội.

Vấn đề là chúng ta có còn niềm tin để cầu xin hay không! khi gặp cơn túng quẫn, chúng ta thường chạy đến Chúa để xin ơn này nọ cho bản thân và gia đình mình, mà thường quên không cầu nguyện cho những nhu cầu lớn hơn: cho danh Chúa được cả sáng, cho Nước Cha trị đến, cho ý Chúa được thể hiện trong Giáo hội- đất nước- gia đình, con cái. Khi thoát khỏi cuộc ám sát cách đây vài tháng, Tổng thống Trump có một câu nói rất đáng nhớ: Chúa đang muốn tôi sống là có lý do. Điều đáng kể là phần kết luận: tôi sẽ làm gì? - Kết luận ông Trump đưa ra là để làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại; có một linh mục sống sót sau dịch bệnh đã đưa ra kết luận: tôi sẽ đi tu để làm việc Chúa muốn; Một cô tiếp viên hàng không Mỹ nhận ra rằng: sắc đẹp tuyệt vời của mình là do Chúa ban, để rồi hiến mình giúp đỡ những người phong cùi ở VN. Mỗi người chúng ta cũng phải xác tín rằng: tôi được sinh ra đời, được sống thêm một ngày, được lành lặn thân xác và tinh thần là có lý do: khi đến trình diện Chúa, Chúa sẽ tính sổ với tôi không những về những điều xấu tôi không làm mà còn cả những điều tốt tôi đã không làm. Nhiều người có đạo chỉ mới cố gắng lánh dữ mà chưa làm điều lành. Không làm điều lành cũng là một tội: lãng phí những nén bạc Chúa giao.

Mỗi ngày sống, tôi lại lên đường. Mỗi tuần và mỗi năm, tôi miệt mài tiến bước trên con đường trọn lành. Dù mỗi lần xưng tội, toàn là tội cũ của mấy chục năm nay, Chúa vẫn vui lòng vì nhìn thấy nỗ lực của đứa con nhỏ đang lết tới Chúa, chính Chúa sẽ ra tay nâng ta đến gần Người. Hãy luôn cầu nguyện cho ơn bình an và hiệp nhất trong Giáo hội, trong giáo xứ, trong các tập thể và trong gia đình mình. Và thật tốt đẹp, hãy dâng những đớn đau vì bệnh tật để cầu nguyện cho các linh mục, người ta không thể đóng đinh Chúa Giê su lần thứ hai – họ sẽ quay sang tàn phá Hiền thê của Người là Giáo hội, trước hết là tấn công các linh mục là đại diện của Chúa Ki tô ở trần gian này.

Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2025

Hôn ước




Đức Giê su, Mẹ Maria và các môn đệ có mặt tại bữa tiệc cưới ở Cana. Hội Thánh coi việc Chúa Giê su hiện diện trong tiệc cưới Cana có một ý nghĩa đặc biệt. Hội Thánh coi đó là sự xác nhận tính thiện hảo của hôn nhân và là lời loan báo rằng hôn nhân từ đây về sau là dấu chỉ hữu hiệu về sự hiện diện của Đức Ki tô (GLHTCG 1613).

Khi đọc kỹ 3 bài đọc trong phụng vụ tuần 2 TN C hôm nay, chúng ta lại thấy nổi bật lên hình ảnh của hôn ước cũ và hôn ước mới, với sự xuất hiện của Chúa Thánh Thần như là nguồn sống trong giao ước mới– làm sống động Hội Thánh là hiền thê của Chúa Ki tô (Bài đọc 2) . Hôn ước cũ được ký kết tại núi Si nai, qua trung gian ông Moisê, trong giao ước đó, dân Do Thái trở thành dân Chúa chọn và Thiên Chúa trở thành Chúa họ thờ . Còn giao ước mới được ký kết bằng máu Chúa Kitô đổ ra trên núi sọ, máu đó rửa ta sạch muôn vàn tội lỗi, giao hòa nhân loại với Thiên Chúa là Cha.

Tại tiệc cưới Cana, hai nhân vật quan trọng nhất là cô dâu và chú rể không được phác họa rõ nét: họ đẹp hay xấu, vui hay buồn, nói gì… chỉ biết là họ có mặt và là trung tâm của bữa tiệc. Vậy những nhân vật ẩn danh trong tiệc cưới Cana là những ai? – Chú rể là Chúa Giê su và cô dâu là Giáo hội, chủ tiệc là Thiên Chúa Cha và rượu làm hoan lạc lòng người là Chúa Thánh Thần.

Dấu lạ đầu tiên này được thực hiện để Chúa tỏ ra vinh quang của Người và các môn đệ tin vào Người. Chúng ta nhận ra rằng đức tin của các môn đệ triển nở một cách tiệm tiến, tựa như một mầm sống, các ông nhiều lần tự hỏi: Ông này là ai mà cả gió và biển đều vâng lệnh, lời dạy thì uy quyền mà còn truyền cho cả thần ô uế cũng bị trục xuất, và khi Chúa chịu thương khó thì các môn đệ khiếp hồn bạt vía và chạy trốn… Câu hỏi ‘đối với tôi Đức Giê su là ai’ cũng phải là một câu hỏi phải thường xuyên được đặt ra trong cuộc sống của mỗi người, nó giúp ta định hướng lại mục đích sống cho cuộc đời. Chúa vẫn chăm sóc và chủ động giúp cho đức tin được triển nở trong từng tâm hồn; còn chúng ta phải chăm bón cho niềm tin của mình được lớn lên mỗi ngày, vượt qua những cheo leo thác ghềnh của cuộc sống. Mới đây trong giáo xứ tôi, có một đôi hôn phối long trọng hợp thức hóa đời sống hôn nhân của họ. Cách đây vài chục năm, họ đã làm phép chuẩn hôn phối, vì người chồng không theo đạo Công Giáo. Sau nhiều năm chung sống, nay người chồng theo đạo, có thể nói: chứng từ sống đạo của người khác cùng với hoạt động của Chúa Thánh Thần đã làm cho thửa đất tâm hồn nở hoa. Nhưng cũng đáng cho ta suy nghĩ lại khi Chúa gửi biết bao người dân ngoại đến quanh ta, nhưng họ có nhận ra nơi ta một dấu chỉ nào không?




Hôn nhân Ki tô giáo là phản ảnh hôn ước giữa Chúa Ki tô và Hội Thánh. Hai người nam nữ thề hứa với nhau 3 điều: chung thủy, yêu thương và tôn trọng nhau trọn đời. Hai người phối ngẫu được mời gọi noi gương tận hiến của Chúa Giê su vì yêu thương Hội Thánh. Thông tin trên các trang mạng xã hội kể lại những hành vi phản bội vợ chồng thường làm chúng ta xao xuyến, tạo hưng phấn cho trí tưởng tượng, đó là hiện tượng tâm hồn ta bị quỷ ám. Muốn giữ được các nhân đức, chúng ta phải gìn giữ ngũ giác (xúc giác, khứu giác, thị giác, vị giác, và thính giác) và chuyên chăm cầu nguyện. Hãy nhớ rằng: ma quỷ luôn rình rập để lừa lọc chúng ta thuận theo những hạnh phúc trần tục và tội lỗi.

Và còn một hôn ước gần gũi và quan trọng nhất, đó là mối kết giao giữa Thiên Chúa với từng tâm hồn. Qua bí tích rửa tội, mỗi tâm hồn trở thành con cái Thiên Chúa, được Chúa yêu thương che chở và dìu dắt cho tới ngày được về bên Người. Hôn ước này cũng có 2 vế: Thiên Chúa yêu từng người như một người cha, còn người Ki tô hữu thề hứa sống là con cái Chúa. Đừng nghĩ việc theo Chúa là một điều bất đắc dĩ, phải gò ép mình để vác một gánh nặng luân lý, vì sợ Chúa phạt nên cố gắng đi lễ Chúa Nhật cho yên chuyện... Đúng hơn, cuộc sống người Ki tô hữu phải tràn ngập niềm vui và hy vọng vì biết rằng Chúa luôn đi bước trước trong tình yêu, như người cha người mẹ yêu con cái mình vô vị lợi, không phải vì chúng xứng đáng - nhưng vì chúng là con cái mình, thế thôi. Chúa còn khẳng định: Người còn tốt hơn cha mẹ trần gian bội phần.

 Điều cần nhận ra là Đức Ki tô đang sống trong dòng đời, Người không ngừng yêu thương tôi và hiến mạng vì tôi. Hành trình sống đạo của tôi là sống mối tương giao thân tình đó: tôi yêu Chúa Giê su đang sống trong lòng tôi và hiện diện nơi tha nhân, tôi tìm gặp người nơi các cử hành phụng vụ và qua những lời thầm thì của người yêu nói với người yêu.


Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2022

Cuộc tình đã nên duyên

 



Mùa Vọng đã về. Mùa vọng có hai chủ đề chính: đón mừng biến cố Con Thiên Chúa nhập thể làm người để cứu độ con người và chuẩn bị đón mừng ngày quang lâm của Đức Giê su với vũ trụ và gần hơn là với từng người khi cái chết xảy đến. Có thể nói, Mùa Vọng là mùa kỷ niệm một cuộc tình: Con Thiên Chúa kết hôn cùng nhân loại. Xin mượn hình ảnh một cuộc tình nhân loại (đôi tân hôn) để diễn tả vài khía cạnh của cuộc tình Giê su với từng tâm hồn.

Trong một cuộc tiếp xúc với chị Lucia (một trong 3 trẻ được Đức Mẹ hiện ra ở Fatima), chị cho biết trận chiến của sa tan trong thời đại hôm nay là tấn công vào các gia đình. Tin tức truyền thông luôn nêu lên những mảng tối của gia đình: những con số thống kê về các gia đình bị ly hôn, những chia rẽ bất hòa, phản bội, hưởng lạc của kẻ lắm tiền… để làm lung lạc các nền tảng đạo đức của đức khiết tịnh hôn nhân. Tôi tự hỏi: trong số những vụ ly hôn đó có bao nhiêu cặp gia đình sống đạo tử tế, có lẽ tỷ lệ sẽ rất thấp. Chúng ta đừng khiếp đảm trước sự lan tràn của tội ác, đừng tiếp tục lan truyền những mảng tối của cuộc đời, hãy tin rằng: ánh sáng của mặt trời công chính đã chiếu rạng và xua tan bóng đêm vì Đức Ki tô đã sống lại từ cõi chết! Hãy liên tục cầu nguyện và Chúa sẽ giúp các gia đình vượt qua nhiều bất đồng: đôi bàn tay giơ lên cầu nguyện sẽ tìm được những điều mà đôi bàn tay bóp trán không tìm được.

 


Ngày thành hôn của đôi nam nữ là ngày bắt đầu cuộc phiêu lưu kèm theo sự mạo hiểm, bởi đó cần phải cầu nguyện đến 3 lần như câu ngạn ngữ Nga đã nói: “ Trước khi ra trận, hãy cầu nguyện một lần; trước khi xuống tàu, hãy cầu nguyện hai lần; trước khi kết hôn, hãy cầu nguyện ba lần”. Thánh Gioan – Phaolo 2 đã nói: “Xây dựng một gia đình hạnh phúc là một chỉ tiêu lớn trong cuộc đời”. Đã là chỉ tiêu lớn thì chúng ta phải dành nhiều công sức và nỗ lực, và dành cho nó sự ưu tiên trong nhiều dự án khác của cuộc đời, như công việc, chỗ ở, sự xa cách, cách ứng xử, và quan trọng nhất là cần sự trợ giúp của Thiên Chúa… Một gia đình hạnh phúc đơn giản là một gia đình mà vợ chồng yêu thương - tôn trọng nhau từng ngày và có sự quan tâm giáo dục con cái thành người tốt và có đức tin trưởng thành. Để diễn tả tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa, Con Thiên Chúa đã phải làm người để chăm sóc con người, vỗ về kẻ bị loại trừ vì tội lỗi, đã yêu cho đến cùng, đã cúi xuống phục vụ, đã chiếu rạng đức khiêm nhường và hiền lành. Đôi vợ chồng cũng phải thể hiện tình yêu của mình với người bạn đời bằng những hành vi cụ thể, nhỏ nhặt và kiên trì qua từng ngày sống, hơn là những lời nói suông. Ai đó đã nói: sự biểu hiện tình yêu không ai giống ai, không có khuôn mẫu, nhưng một tình yêu thật sự có mẫu số chung là sự chân thành và lòng trung thực.

Một nhà tu đức đã nói tới sự bão hòa của tình dục và tình cảm của các đôi vợ chồng. Cho dù hai người nam nữ tìm hiểu nhau kỹ lưỡng đến bao nhiêu thì nửa kia của mình vẫn luôn có những bí ẩn và chính họ cũng thay đổi theo từng ngày sống. Thời kỳ yêu nhau và những ngày trăng mật qua đi, đôi vợ chồng mất dần sự ngạc nhiên về người kia và sự bão hòa sẽ xảy đến. Phương thuốc duy nhất là biết bằng lòng: mọi thứ ở trần gian chỉ là tương đối, tôi cũng chỉ tương đối và nửa kia của tôi cũng có những tính tốt và khuyết điểm của họ. Một nhà tu đức đã nói: “Trong cuộc sống trần gian này, không ai trong chúng ta được hưởng hòa âm trọn vẹn”. Câu nói này có nhiều nghĩa, một trong đó là: Không ai trong chúng ta tốt cho đủ với những người thân thuộc của mình, mỗi ngày chúng ta phải nỗ lực để yêu thương và tôn trọng người thân mình cho đúng mực, và bao lâu còn trên trần thế này thì chúng ta phải chiến đấu để không đánh giá thấp một ai đó. Thiên Chúa là mẫu gương để ta chiêm ngắm về lòng thương xót: Người cho mặt trời mọc lên và cho mưa xuống trên kẻ lành người dữ. Lòng thương xót dường như đã khiến Người nhắm mắt lại và không thấy gì nữa, nên không còn phân biệt kẻ lành người dữ. Còn chúng ta, vì muốn chứng tỏ mình trổi vượt, luôn nhìn thấy cái không tốt và thấp kém của anh em và không nhìn thấy cái tốt của họ và quên hết những điều tốt lành họ đã làm. Thiên Chúa tạo dựng thế giới này với nhiều sự khác biệt để tạo nên sự phong phú cho cuộc đời, hãy chấp nhận sự khác biệt mà không lên án, cãi cọ: đừng dừng lại nơi những bất đồng mà hướng sự quan tâm đến việc cùng nhau làm việc vì lợi ích chung. Khi chứng kiến hành vi và cách sống không hoàn hảo của tha nhân, hãy dành sự xét đoán cho Thiên Chúa, vì đó là một công việc khó khăn và không thuộc thẩm quyền của ta.Dù hoàn cảnh gia đình bạn thế nào, đó cũng là một cơ hội để bạn vượt thắng bản thân để nên thánh. Hãy học nơi Chúa Giê su, Ngài yêu nhân loại đến cùng, luôn hiến thân và khiêm tốn. Một gia đình hạnh phúc cần liên tục thương xót, có lòng khiêm tốn, và óc khôi hài.

Óc khôi hài. Tại sao người lớn chúng ta thường nhìn cuộc đời quá nghiêm trọng, cả khi dự tiệc cưới mà vẻ mặt vẫn đăm chiêu? Sự đăm chiêu này phản chiếu sự buồn bã nội tâm, tại sao trẻ em và ngay cả những con ‘thú cưng’ thường vui đùa từng ngày sống? Thật đáng thương cho người lớn, vì họ chứa nhất nhiều hỉ nộ ái ố, vì phải lo lắng quá nhiều đến tiền bạc.  Ai đó đã từng nói: cuộc sống chỉ là trò đùa thôi mà. Câu nói nầy không muốn đánh giá thấp cuộc sống ở trần gian, cho rằng chỉ là ảo ảnh và chỉ là hạt bụi được hóa kiếp, có đó rồi mất đó mà không để lại dấu vết. Không, một khi hạt bụi đã hóa kiếp thân tôi, thì nó sẽ tồn tại đến muôn đời, cuộc sống trần gian sẽ ươm mầm cho tương lai, sau cái chết, con người sẽ tồn tại mãi trong cõi vĩnh hằng. Hãy nghĩ đến sự mong manh của kiếp người và sự tương đối của trần gian để buông bỏ những giận hờn và những tham lam quá độ, và biết cười đùa nhiều hơn trong từng ngày sống.Niềm vui chỉ trọn vẹn và kéo dài khi nó được bắt nguồn nơi Giê su: nhờ Máu Ngài đổ ra mà chúng ta được trở thành con cái Thiên Chúa, được Chúa ở cùng và được về với Ngài sau khi chết.

Bạn sẽ sống mối tình nhân loại (gia đình) của bạn tốt, nếu bạn có một mối tương giao tốt đẹp với mối tình Giê su. Chúa Giê su sẽ ban ơn thánh (phép lạ) cho kẻ van xin Ngài, tùy theo mức độ tin tưởng ta dành cho Ngài. Mối tình Giê su sẽ hướng dẫn bạn cách ứng xử với người thân của bạn: yêu như Chúa yêu, liên tục trao ban và sẵn sàng tha thứ.

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2022

Con người ở một mình không tốt

 



Đây là một chân lý khá quan trọng, được trích từ sách Sáng Thế 2,18. Chúng ta thường quen hơn với câu dịch: “người đàn ông ở một mình thì không tốt”, nhưng có một linh mục có thế giá về Kinh Thánh đã nói: Khi Thiên Chúa tạo dựng con người đầu tiên bằng bùn đất thì con người này chưa có phái tính, và chỉ đến khi Ngài lấy chiếc xương sườn của con người này để tạo dựng nên người đàn bà, thì con người kia mới trở thành đàn ông, bởi vậy, câu Kinh Thánh Kn 2,18 phải là: “Con người ở một mình không tốt”. Lý do Chúa tạo dựng nên ông Adam và bà Eva là để họ trở nên người trợ tá của nhau, bổ trợ nhau và cộng tác với nhau để sinh sản con cái cho nhiều – đầy mặt đất. Và Thiên Chúa thấy mọi sự Ngài làm là tốt đẹp. Cả đàn ông và đàn bà đều không tốt khi sống một mình: khép kín và không nhờ cậy sự trợ giúp của người khác.

Qua câu nói ‘con người ở một mình không tốt’, vượt ra khỏi ‘mô hình gia đình’, chúng ta còn khám phá ra nhiều điều bổ ích cho đời sống tâm linh. Trước hết, chúng ta không thể hiểu theo nghĩa đen rằng: Thiên Chúa muốn mọi người nam nữ phải kết hôn để sinh sản con cái theo lệnh truyền của Chúa, vì nếu như vậy thì những người nam nữ chọn con đường tu trì hoặc sống độc thân giữa đời đều là ‘bất bình thường’ hay sao? – Thực ra Thiên Chúa là tình yêu và Ngài đã tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài. Nói đến tình yêu là nói đến sự trao ban, tương giao với người khác. Chuyện ‘ở một mình’ đây là muốn nói đến tình trạng khép kín lại nơi chính mình, tôn thờ mình và không tin người khác để có một sự dấn thân. Chính Chúa Giê su đã là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa, Ngài bỏ trời cao, nhập thể làm người, chịu chết và phục sinh, và Chúa còn đồng hành với nhân loại cho đến ngày tận thế... vì Ngài bận tâm đến vận mệnh con người. Xét trên bình diện thiêng liêng, những người sống độc thân vì nước trời hoặc vì xã hội có một tình yêu đáng ngưỡng mộ, vượt trên những quyến luyến xác thịt và tầm vóc của một gia đình, để yêu Chúa và yêu người trọn vẹn hơn, phổ quát hơn.

Có nhiều người tu xuất hoặc đang sống đời tu thường kể về những khó khăn và nét đẹp của đời sống chung trong cộng đoàn: kỷ luật cộng đoàn, giờ giấc gò bó, ăn uống kham khổ, phe cánh này nọ, ghen ghét, xầm xì. Tuy đó là sự thật, nhưng người nghe thường không nhớ và không hiểu những nét đẹp của đời tu mà chỉ nhớ những điều không hay, và khi ai đó muốn đi tu thì họ chia sẻ những thông tin không đẹp kia cho người muốn đi tu và chính họ nhìn những người đi tu với ánh mắt thiếu thiện cảm. Thực ra một người trưởng thành tâm linh thì hiểu được rằng : ơn gọi hôn nhân hoặc tu trì đều cao quý, Chúa có một kế hoạch và ơn gọi cụ thể cho mỗi cuộc đời - điều quan trọng là tìm cho đúng ơn gọi của mình, đó không phải là con đường ngắn nhất để nên hoàn hảo nhưng là ở trong ơn gọi đó ơn Chúa sẽ sinh ích lợi nhất cho linh hồn và cho tha nhân. Nếu bạn thích đi tu thì bạn cũng nên cất bước lên đường, chọn tu triều hay vào tu trong một dòng nào đó, tùy sự gợi ý của cha xứ hoặc một người khôn ngoan mà bạn gặp. Có thể bạn tu được một thời gian ngắn hay dài và rồi nhận ra đời tu không phù hợp với mình, và trở về lập gia đình… sau này bạn nhận ra rằng thời gian được tu luyện cũng nằm trong kế hoạch của Chúa: Ngài đào tạo bạn để chính bạn trở nên tốt hơn và sinh ích cho tha nhân hơn, hãy tạ ơn Chúa và đền đáp ơn Ngài.

Chúng ta có thể hiểu câu Kinh Thánh ‘con người ở một mình không tốt’ trong mối tương giao với Thiên Chúa. Trong vườn địa đàng, sau khi phạm tội bất tuân, hai ông bà nguyên tổ nhận ra mình trần truồng và họ trốn tránh Thiên Chúa. Đó cũng là hình ảnh của con người, họ cũng muốn tự lo liệu và xoay xở cho cuộc đời mình, họ còn xua đuổi Thiên Chúa ra khỏi mọi dự án của cuộc sống, họ nghĩ rằng Chúa làm cho họ vướng chân và cản trở tự do hưởng lạc, họ tự hỏi ‘không biết có Chúa hay không, Chúa có quan tâm đến họ hay không, có chuyện đời sau hay không?’. Một nhà tu đức đã nói: “Đối với niềm tin vào Thiên Chúa, hoặc là bạn tin tất cả hoặc là bạn không tin gì hết”. Đúng vậy, kẻ có niềm tin thì nhìn thấy Thiên Chúa hiện diện một cách rõ ràng còn hơn chuyện mặt trời mọc mỗi buổi sáng, Ngài luôn ở với bạn và ngay trong lòng bạn, Ngài là kẻ Đếm Tóc, Ngài biết cả những điều ta cảm nghĩ, Ngài tốt lành vô biên và quyền năng vô lường, Ngài giúp ta đạt được ơn cứu rỗi và đưa ta về với Ngài khi ta nhắm mắt lìa đời. Con người chỉ tốt lên và mọi sự sẽ ổn khi con người có mối tương giao thân tình với Chúa, ngược lại họ sẽ thất bại khi cuộc đời vắng bóng Thiên Chúa.

Nói đến tương giao là nói đến va chạm: cuộc đời hôn nhân, đời sống tu trì, một tổ chức xã hội dân sự hay tôn giáo… đều xảy ra sự va chạm giữa những cái tôi, giữa bóng tối và ánh sáng. Thế nhưng, chúng ta nên nhìn những xung đột, ích kỷ, nóng nảy, nhu cầu thể hiện, những đam mê muốn áp đặt người khac, những tham lam sở hữu… như là ‘cơ hội’ để ta trưởng thành, tựa như vàng được trui trong lửa, như hòn đá sần sùi được trở nên dễ nhìn sau một hành trình trôi dạt giữa dòng nước lũ. Những người sống đời hôn nhân, vợ chồng và con cái, sẽ trưởng thành về tâm linh và nhân cách theo năm tháng, nhờ sự chung sống với Thiên Chúa và tự điều chỉnh nhân cách của mình cũng như sự giúp đỡ chân tình của những người ruột thịt. Những người tham gia các đoàn thể trong giáo xứ thì nhân cách họ sẽ trưởng thành hơn một người không làm gì hết, vì những kẻ sau thường sẽ ảo tưởng rằng họ giỏi hơn người khác và họ xầm xì đủ chuyện.


 

Con người ở một mình không tốt. Chúa ban cho mỗi người những tài năng khác nhau để họ phục vụ cộng đoàn, Chúa muốn mỗi người hãy là trợ tá của nhau. Đừng sợ cuộc đời cùng những tham sân si của nó, hãy lập gia đình nếu bạn muốn để bạn sẽ có trải nghiệm về đức tin và trưởng thành về nhân cách, đừng sợ thất bại vì Thiên Chúa luôn mạnh hơn ma quỷ. Nếu thich đi tu, bạn cứ lên đường, vì nếu không hợp thì bạn vẫn có thể bắt đầu lại, đừng sợ tiếng đời và đừng sợ Chúa phạt vì bỏ tu, vì Chúa luôn là người cha tốt lành. Nếu bạn thích sống độc thân giữa đời, hoặc hoàn cảnh buộc phải vậy, thì hãy mời Chúa đi với mình và bạn nên nhìn ra cơ hội mình đang có để giúp đỡ tha nhân. Và để cho mình trở nên tốt hơn, mỗi người hãy đóng góp phần mình vào đời sống chung của cộng đoàn xã hội hay Giáo hội, bạn làm sinh lợi cho nén bạc Chúa trao, và chắc chắn khi hòa mình vào đời sống chung thì nhân cách bạn sẽ trưởng thành hơn – so với bạn khi sống mà không phục vụ.

 

Thứ Năm, 10 tháng 11, 2022

Chứng nhân niềm hy vọng

 



Tại Bahrain, Đức Thánh Cha gặp các Giám Mục, linh mục, tu sĩ và các người làm công tác mục vụ, ngài dựa vào bài Tin Mừng Ga 7,37-39 (lời hứa ban nước hằng sống) để nói chuyện với cử tọa về vai trò của Chúa Thánh Thần: Ngài ban cho họ niềm vui được trở thành con cái Chúa, được tràn niềm hy vọng vì có Thiên Chúa ở cùng, Ngài ban sự hiệp nhất, và làm cho các Ki tô hữu trở nên ngôn sứ. Xin trích một đoạn bài nói chuyện của Đức Phan xi cô:

{Đề cập đến bài đọc về lời hứa ban nước hằng sống, Đức Thánh Cha “liên tưởng đến vùng đất này: thật đúng là sa mạc rất nhiều, nhưng cũng có những nguồn nước ngọt âm thầm chảy dưới lòng đất, tưới mát cho nó.” Ngài nói rằng “bề ngoài, nhân loại của chúng ta dường như bị khô héo bởi rất nhiều yếu đuối, sợ hãi, thách đố phải đối diện, các tệ nạn cá nhân và xã hội đủ loại; nhưng nơi nền tảng của linh hồn, nơi sâu thẳm của trái tim, dòng nước ngọt ngào của Thần Khí vẫn chảy nhẹ nhàng và âm thầm, tưới mát sa mạc của chúng ta, phục hồi sức sống cho những gì có thể bị khô héo, rửa sạch những gì làm chúng ta xấu xí, làm dịu cơn khát hạnh phúc của chúng ta.”

Đức Thánh Cha nhắc nhớ rằng: “Giáo Hội được sinh ra từ cạnh sườn mở của Chúa Kitô, từ phép rửa tái sinh trong Chúa Thánh Thần (x. Tt 3,5). Đức Thánh Cha đã khai triển ba món quà lớn  về ân sủng của Thánh Thần, đó là: niềm vui, sự hiệp nhất, lời ngôn sứ.

Thánh Thần là nguồn của niềm vui

Trước hết, Thần Khí là nguồn của niềm vui. Dòng nước ngọt mà Chúa muốn chảy vào sa mạc của nhân loại chúng ta, thấm vào lòng đất và vào sự mong manh, là sự chắc chắn rằng chúng ta không bao giờ cô đơn trên hành trình của cuộc sống…. Niềm vui của Thánh Thần không phải là một trạng thái tình cờ hoặc một cảm xúc nhất thời; càng không phải là loại “niềm vui tiêu thụ và chủ nghĩa cá nhân được nhìn thấy trong một số kinh nghiệm văn hóa ngày nay” (Tông huấn Gaudete et exsultate, 128). Thay vào đó, đây là niềm vui đến từ mối tương quan với Thiên Chúa, từ việc biết rằng, bất chấp những khó khăn và đêm đen mà đôi khi chúng ta phải trải qua, chúng ta không cô đơn, lạc lõng hay thất bại, vì Người ở cùng chúng ta. Và với Người, chúng ta có thể đối diện và vượt qua tất cả, ngay cả vực thẳm của nỗi đau và cái chết.

Đức Thánh Cha mời gọi mọi người không chỉ gìn giữ niềm vui mà còn nhân nó lên, bằng cách trao tặng nó. Bởi vì, niềm vui của Kitô hữu có khả năng lan xa, bởi vì Tin Mừng làm cho người ta ra khỏi chính mình để thông truyền vẻ đẹp của tình yêu Thiên Chúa. Một trong những nét đẹp mà Thần khí mang lại là sự hiệp nhất: trong phụng vụ, trong tình yêu thương và cộng tác để làm các việc lành.

Thánh Thần là nguồn của sự hiệp nhất

Thứ hai, Chúa Thánh Thần là nguồn của sự hiệp nhất. Những ai chào đón Người thì nhận được tình yêu của Chúa Cha và trở thành con cái Người; và, nếu là con cái Thiên Chúa, họ cũng là anh chị em của nhau. Không thể có chỗ cho những hành động của xác thịt, nghĩa là ích kỷ: chia rẽ, cãi vã, vu khống, nói hành. Những chia rẽ của thế gian, và cả những khác biệt về sắc tộc, văn hóa và nghi lễ, không thể gây thương tích hoặc làm tổn hại đến sự hiệp nhất của Thần Khí. Ngược lại, ngọn lửa của Người đốt cháy những ham muốn thế gian và thắp sáng cuộc sống của chúng ta bằng tình yêu chào đón và thương xót mà Chúa Giêsu yêu chúng ta, để chúng ta cũng có thể yêu thương nhau theo cách này.

 

Cuối cùng, Thánh Thần là nguồn của lời ngôn sứ. Như chúng ta đã biết, lịch sử cứu độ có vô số ngôn sứ được Thiên Chúa kêu gọi, thánh hiến và sai đến giữa dân để nói nhân danh Người. Các ngôn sứ nhận được từ Thánh Thần ánh sáng nội tâm khiến họ trở thành những nhà giải thích kỹ lưỡng về thực tế, có khả năng nắm bắt sự hiện diện của Thiên Chúa trong những tình huống, đôi khi mù mờ, của lịch sử và chỉ ra sự hiện diện đó cho dân chúng. Thông thường những lời của các ngôn sứ nghe chói tai: họ gọi đích danh những mưu đồ xấu xa vốn ẩn nấp trong lòng con người, họ làm khủng hoảng những an toàn giả tạo của con người hoặc tôn giáo, và mời gọi hoán cải.

Chúng ta cũng có ơn gọi ngôn sứ này: tất cả những người đã chịu phép rửa đều đã nhận được Thánh Thần và là những ngôn sứ. Và như vậy, chúng ta không thể giả vờ như không nhìn thấy những tác phẩm của sự ác, ở lại trong “cuộc sống bình lặng” để không làm bẩn bàn tay chúng ta. Ngược lại, chúng ta đã nhận được một Thần Khí của lời ngôn sứ để đưa Tin Mừng ra ánh sáng bằng chứng tá đời sống chúng ta. Đây là lý do tại sao Thánh Phao-lô khuyến khích: “hãy khao khát những ơn của Thần Khí, nhất là ơn nói tiên tri” (1Cr 14,1) (hết trích).

 


Suy tư:

Xã hội chúng ta đang sống (hoặc ở bất cứ thời đại nào) cũng được ví như sa mạc hoang cằn của tình người: người bóc lột người, loại trừ người khác, tẩy chay Tin Mừng Chúa Ki tô mang đến. Bởi đó, những nỗi sợ luôn bao phủ con người, không những ở những nước nhỏ và lạc hậu, mà nhất là ở những xã hội Âu Mỹ thì nỗi lo lại càng nhiều, điển hình là hiện tượng mất ngủ - trầm cảm – tự tử, dùng thuốc an thần và sự trợ giúp của bác sĩ tâm lý rất phổ biến. Đừng nghĩ rằng ở những nước tân tiến, con người được tôn trọng và an sinh xã hội được đảm bảo nên con người tránh được sự lo lắng! Họ tránh được mối lo này thì lại vướng vào những nỗi lo khác: mất Jobs thì mất vợ và mất cả tương lai, cái gì cũng phải tốn nhiều tiền - mà tiền cũng chỉ có hạn và chính phủ quản lý rất chặt, vì là xã hội tiêu thụ - nên đồng tiền thường quay lại ‘cuỗm’ mất những thứ mà ta đang có. Thế nên, trong pho Kinh Thánh đã có đến 365 lần, Thiên Chúa trấn an chúng ta: “Đừng sợ! Thầy đây, Thầy đã thắng thế gian, Ta ở với con...".

 

Để trấn áp nỗi sợ của ông Moi sen khi phải đến gặp vua Pharaon – yêu cầu nhà vua  để cho dân Do Thái ra đi khỏi Ai cập, Chúa hứa với Moi sen: “Ta ở cùng ngươi”. Để vượt qua nỗi sợ, chúng ta cần dựa vào sức mạnh và sự che chở của Thiên Chúa. Đứng trước những nỗi sợ đủ loại về cuộc sống, chúng ta chỉ biết duy trì đời sống cầu nguyện để vững tin vào lời hứa của Chúa Giê su: “Này đây, Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Chúa Thánh Thần đang hoạt động cách cụ thể trong cuộc sống của ta để chăm sóc con người, thúc đẩy ta tiến bước trên hành trình nên thánh, giúp ta duy trì niềm vui và đủ sức vượt qua nghịch cảnh, giúp ta có cái nhìn tiên tri. Hơn ai hết, chính Chúa Thánh Thần sẽ trợ giúp để người Ki tô hữu trở thành chứng nhân hy vọng: Thiên Chúa đang trực tiếp có mặt và hoạt động linh hoạt trong nhân loại, dù hoàn cảnh nào thì Chúa vẫn có cách – nếu con người chạy đến với Chúa. Điều đáng buồn là cõi lòng chúng ta thường sầu muộn vì nỗi lo về tiền bạc nhiều hơn là nỗi khao khát tìm kiếm Thiên Chúa và sự công chính của Người!