Danh sách Blog của Tôi

Thứ Năm, 5 tháng 5, 2022

Bài văn lạ của học trò nghèo gây “sốc” với giáo viên trường Ams

 



 

*Dưới đây là bài văn của Hiếu đã gây “sốc” với giáo viên trường THPT Hà Nội - Amsterdam. Đề bài văn nghị luận cô giao là “Nêu quan điểm của anh (chị) về vai trò của đồng tiền trong cuộc sống”

Chủ Nhật, 06/11/2011

Thư gửi mẹ.

Mẹ thân yêu của con !

“Trời ơi là trời ! Anh ăn đi cho tôi nhờ, đừng có nhịn ăn sáng nữa. Đừng có dở hơi đi tiết kiệm mấy đồng bạc lẻ thế, anh tưởng rằng thiếu tiền như thế thì tôi chết à ?”. Đó là những “điệp khúc” mẹ cất lên hàng ngày dạo gần đây vì con quyết định nhịn ăn sáng đi học để tiết kiệm chút tiền cho mẹ, cho gia đình. Có lúc mẹ còn gắt lên, hỏi con “Sao cứ phải đắn đo khổ sở về tiền đến thế nhỉ ?” .

Mẹ ơi, những lúc ấy mẹ đang giận nên con không dám cãi lại. Nhưng giờ đây con muốn được bày tỏ lòng mình rằng tại sao con lại có những suy nghĩ, hành động kì lạ như vậy. Vâng, tất cả là vì tiền. Chỉ đến tận bây giờ con mới nhận ra cả một quãng thời gian dài trước đó con đã non nớt, ngây thơ biết chừng nào khi nghĩ về tiền. Cách đây 8 năm bệnh viện đã chuẩn đoán mẹ bị suy thận mãn tính độ 4 (độ cao nhất về suy thận). 8 năm rồi nhà ta đã sống trong túng thiếu bần hàn, vì bố mẹ không kiếm được nhiều tiền lại phải dành tiền cho mẹ đi chạy thận. Nhưng bố mẹ vẫn cho con tất cả những gì có thể, và cậu bé học trò như con cứ vô tư đâu biết lo gì.

Hồi học tiểu học, tiền bạc đối với con là một cái gì đó rất nhỏ, nó là những tờ giấy với đủ màu có thể dùng để mua cái bánh, cái kẹo, gói xôi hay cái bánh mì … Con đâu có ngờ tiền chính là yếu tố quyết định sinh mạng mẹ mình, là thứ bố mẹ phải hàng ngày chắt bóp và bao người thân gom góp lại để trả cho từng ca lọc máu cho mẹ tại bệnh viện Bạch Mai, là thứ càng làm mẹ thêm đau đầu suy nghĩ khi mẹ buộc phải nghỉ việc làm vì điều kiện sức khỏe không cho phép.

Rồi đến khi con học lớp 8, mẹ càng ngày càng yếu và mệt, phải tăng từ 2 lên 3 lần lọc máu/ tuần. Những chỗ chích ven tay của mẹ sưng to như hai quả trứng gà, nhiều hôm máu thấm ướt đẫm cả tấm băng gạc. Do ảnh hưởng từ suy thận mà mẹ còn bị thêm viêm phổi và suy tim. Rồi ông lại bị ốm nặng, bố phải nghỉ việc ở nhà trông ông, nhà mình vì thế càng trở nên túng quẫn, mà càng túng thì càng khổ hơn. Tờ một trăm ngàn hồi ấy là một thứ gì đó xa xỉ với nhà mình. Cũng từ dạo ấy, đầu óc non nớt của con mới dần vỡ lẽ ra rằng tiền bạc chính là mồ hôi, nước mắt, là máu (theo đúng nghĩa đen của nó, vì có tiền mới được chạy thận lọc máu mà) và bao nỗi niềm trăn trở lo lắng của bố và mẹ.

Hôm trước con có hỏi quan điểm của mẹ về tiền bạc thế nào để con có thêm ý viết bài làm văn nghị luận cô giao. Mẹ hơi ngạc nhiên vì câu hỏi đường đột ấy. Rồi mẹ chỉ trả lời với 3 từ gọn lỏn “Mẹ ghét tiền”. Nếu con còn thơ dại như ngày nào, hay như một người ngoài nào khác thì chắc con đã ngạc nhiên lắm. Nhưng giờ đây con cũng đồng ý với mẹ : con cũng ghét tiền. Bởi vì nó mà mẹ phải mệt mỏi rã rời sau mỗi lần đi chạy thận. Mẹ chạy thận 3 lần mỗi tuần, trước đây bố đưa đón mẹ bằng xe đạp nhưng rồi mẹ bảo đi thế khổ cả hai người mà còn phải chờ đợi mất ngày mất buổi của bố nữa nên mẹ chuyển sang đi xe ôm. Nhưng đi xe ôm mất mỗi ngày mấy chục, tốn tiền mà lại chẳng kiếm đâu ra, mẹ quyết định đi xe buýt. Mỗi khi về nhà, mẹ thở hổn hển, mẹ lăn ra giường lịm đi không nói được câu gì. Con và bố cũng biết là lúc ấy không nên hỏi chuyện mà nên để yên cho mẹ nghỉ ngơi. Tám năm rồi, tám năm chứng kiến cảnh ấy nhưng con vẫn chưa bao giờ có thể quen được. Con chỉ biết đứng từ xa nhìn mẹ, và nghiến răng ước “giá như có dăm chục ngàn cho mẹ đi xe ôm thì đâu đến nỗi !”.

Con bỗng ghét, thù đồng tiền. Con bỗng nhớ hồi trước, khi mẹ vẫn nằm trong viện. Ba người bệnh chen chúc chung nhau một chiếc giường nhỏ trong căn phòng bệnh ngột ngạt và quá tải của bệnh viện Bạch Mai. Con đã ngây thơ hỏi mẹ “Sao mẹ không vào phòng bên kia, ở đấy mỗi người một giường thoải mái lại có quạt chạy vù vù, có tivi nữa ?”. Mẹ chỉ nói khẽ “cha tổ anh. Đấy là phòng dịch vụ con ạ”. Con lúc ấy chẳng hiểu gì. Nhưng rồi con cũng vỡ lẽ ra rằng đó là phòng mà chỉ những ai rủng rỉnh tiền thì mới được vào mà thôi. Còn như mẹ thì không được. Con căm nghét đồng tiền vì thế.

Con còn sợ đồng tiền nữa. Mẹ hiểu con không ? Con sợ nó vì sợ mất mẹ. Mẹ đã phải bốn lần đi cấp cứu rồi. Những người suy thận lâu có nguy cơ tử vong cao vì huyết áp dễ tăng, máu dồn vào dễ làm tắc ống khí quản và gây tắc thở. Mẹ thừa biết điều này. Nhiều người bạn mẹ quen trong “xóm chạy thận” đã phải chịu những cái kết bi thảm như thế. Nhiều đêm con bỗng choàng tỉnh dậy, mồ hôi đầm đìa mà lạnh toát sống lưng bởi vừa trải qua một cơn ác mộng tồi tệ …

Con sợ mẹ lại phải đi cấp cứu, và sợ nhỡ nhà mình không đủ tiền để nộp viện phí thì con sẽ mất đi người thân yêu nhất trong cuộc đời này. Mỗi buổi mẹ đi chạy thận là mỗi buổi cả bố và con đều phấp phỏng, bồn chồn, lo lắng. Mẹ về muộn là lòng con nóng như lửa đốt, còn bố thì cứ đi đi lại lại và luôn hỏi “bao giờ mẹ mày mới về?”. Với con cơ hội là 50/50, hoặc là mẹ chạy thận an toàn và về nhà, hoặc là …

Con lo sợ hơn khi đọc báo thấy bảo có người không đủ tiền trả phần ít ỏi chỉ là 5% bảo hiểm y tế, tiền thuốc men mà phải về quê “tự điều trị”. Với những bệnh nhân phải chạy thận, như thế đồng nghĩa là nhận bản án tử hình, không còn đường sống. Con bỗng hoảng sợ tự hỏi nếu không còn BHYT nữa thì sao? Và nếu ông mất thì sao? Chi tiêu hàng ngày nhà mình giờ đây phần nhiều trông chờ vào tiền lương hưu của ông, mà ông thì đã già quá rồi …

Mẹ ơi, tiền quan trọng đến thế nào với gia đình mình thì chắc mẹ hiểu rõ hơn con. Cứ nghĩ đến tiền là con lại nhớ đến những đêm bố mất ngủ đến rạc cả người, nhớ đến những vết chích ven sưng to như quả trứng gà của mẹ, nhớ đến cả thìa đường pha cốc nước nóng con mang cho mẹ để mẹ uống bồi bổ mỗi tối. Mẹ chắt chiu đến mức sữa ông thọ rẻ tiền mà cũng không mua để tự bồi dưỡng sức khỏe cho mình.



Con sợ tiền mà lại muốn có tiền. Con ghét tiền mà lại quý tiền nữa mẹ ạ. Con quý tiền và tôn trọng tiền bởi con luôn biết ơn những người hảo tâm đã giúp nhà mình. Từ những nhà sư tốt bụng mời mẹ đến chùa vào cuối tuần, những cô bác ở Hội chữ thập đỏ quyên góp tiền giúp mẹ và gia đình mình. Và cả những người bạn xung quanh con, dù chưa giúp gì được về vật chất, tiền bạc nhưng luôn quan tâm hỏi thăm sức khỏe của mẹ… Nhờ họ mà con cảm thấy ấm lòng hơn, vững tin hơn.

Con cảm thấy bất lực ghê gớm và rất cắn rứt lương tâm khi mẹ không đồng ý với các kế hoạch của con. Đã có lúc con đòi đi lao động, đi làm gia sư hay đi bán bánh mì “tam giác” như mấy anh sinh viên con quen để kiếm tiền giúp mẹ nhưng mẹ cứ gạt phăng đi. Mẹ cứ một mực “tống” con đến trường và bảo mẹ chỉ cần con học giỏi thôi, con giỏi thì mẹ sẽ khỏe.

Vâng, con xin nghe lời mẹ. Con vẫn đến trường. Con sẽ cố gắng học thật giỏi để mẹ và bố vui lòng. Nhưng mẹ hãy để con giúp mẹ, con đã nghĩ kĩ rồi, không làm gì thêm được thì con sẽ nhịn ăn sáng để tiết kiệm tiền. Không bán bánh mì được thì con sẽ ăn cơm với muối vừng. Mẹ đừng lo mẹ ạ, mẹ hãy an tâm chạy chữa và chăm sóc cho bản thân mình. Hãy để con được chia sẻ sự túng thiếu tiền bạc cùng bố mẹ. Vậy con khẩn thiết xin mẹ đừng cằn nhằn la mắng con khi con nhịn ăn sáng. Mẹ đừng cấm đoán con khi con đi lấy chầy, cối để giã lạc vừng. Dù con đã sút 8 cân so với năm ngoái nhưng con tin rằng với sự thấu hiểu lẫn nhau giữa những người trong gia đình thì nhà ta vẫn có thể sống yên ổn để đồng tiền không thể đóng vai trò cốt yếu trong việc quyết định hạnh phúc nữa.

Đứa con ngốc nghếch của mẹ

Nguyễn Trung Hiếu

Vũ Quốc Lịch 
(Giáo viên trường THPT chuyên Hà Nội Amsterdam)

8 lời nói dối trong đời người mẹ

 



 

Sưu tầm. Hướng đến ngày của mẹ mừng vào chúa nhật thứ 2 của tháng 5



Thuở nhỏ, gia đình cậu bé rất nghèo, tới bữa, chẳng mấy khi có đủ cơm ăn, mẹ liền lấy cơm ở trong chén mình chia đều cho các con. Mẹ bảo: Các con, ăn nhanh đi, mẹ không đói!——>Mẹ nói câu nói dối đầu tiên!

Khi cậu bé lớn dần lên, người mẹ tảo tần lại tranh thủ những ngày nghỉ cuối tuần, đến những vùng đầm hồ ven đô bắt cá về cho con ăn cho đủ chất. Cá rất tươi, canh cá cũng rất ngon. Khi các con ăn thịt cá, mẹ lại ngồi một bên nhằn đầu cá. Lấy lưỡi mà liếm những mảnh thịt sót lại trên đầu cá. Cậu bé xót xa, liền gắp miếng cá trong bát mình sang bát mẹ, Mẹ không ăn, lại dùng đũa gắp trả miếng cá về bát cậu bé. Mẹ bảo: Con trai, con ăn đi, mẹ không thích ăn cá.——> Mẹ nói câu nói dối thứ hai.

Lên cấp 2, để nộp đủ tiền học phí cho cậu bé và anh chị, Vừa làm thợ may, mẹ vừa đến Hợp tác xã nhận vỏ hộp diêm về nhà ngồi cặm cụi mà dán vào mỗi tối, để kiếm thêm chút tiền chi tiêu cho gia đình. Một buổi tối mùa đông, nửa đêm cậu bé tỉnh giấc. Thấy mẹ vẫn còng lưng dán vỏ bao diêm bên cạnh chiếc đèn dầu. Cậu bé nói: Mẹ à, mẹ đi ngủ thôi, sáng ngày mai mẹ còn phải đi làm nữa mà. Mẹ cười nhẹ: Con trai, đi ngủ đi. Mẹ không buồn ngủ!——> Mẹ lại lần thứ ba nói dối

Ngày thi vào trung học, mẹ xin nghỉ làm, Ngày nào cũng đứng ở cổng trường thi, làm chỗ dựa tinh thần cho cậu bé đi thi. Đúng vào mùa hạ, trời nắng khét tóc. Người mẹ nhẫn nại đứng dưới cái nắng hè gay gắt chờ con suốt mấy tiếng đồng hồ. Tiếng chuông hết giờ đã vang lên. Mẹ nghiêng người đưa cho cậu bé bình trà đã được pha sẵn, dỗ dành cậu bé uống, bình trà nồng đượm, tình mẹ còn nồng đượm hơn. Nhìn thấy bờ môi khô nẻ và khuôn mặt lấp lánh mồ hôi của mẹ, cậu bé liền đưa bình trà trong tay mời mẹ uống. Mẹ bảo: Con uống nhanh lên con. Mẹ không khát! ——>Mẹ nói dối lần thứ tư

Sau khi Cha lâm bệnh qua đời, Mẹ vừa làm Mẹ vừa làm Cha. Vất vả với chút thu nhập ít ỏi từ nghề may vá. Ngậm đắng nuốt cay nuôi con ăn học, cái khổ không lời nào kể xiết. Có chú Lý ngồi sửa đồng hồ dưới chân cây cột điện đầu ngõ biết chuyện, việc lớn việc nhỏ chú đều tìm cách qua giúp một tay. Từ chuyển than, gánh nước, giúp ít tiền cho gia đình cậu bé tội nghiệp. Con người chứ đâu phải cây cỏ, lâu rồi cũng sinh tình cảm. Hàng xóm láng giềng biết chuyện đều khuyên mẹ tái giá, việc gì phải một mình chịu khổ thế. Nhưng qua nhiều năm mẹ vẫn thủ thân như ngọc, kiên quyết không đi bước nữa. Mọi người có khuyên mẹ kiên quyết không nghe. Mẹ bảo: Mẹ không yêu chú ấy. ——>Mẹ nói dối lần thứ 5



Sau khi cậu bé và các anh chị cậu tốt nghiệp đại học đi làm. Mẹ nghỉ hưu rồi nhưng vẫn tiếp tục làm những việc lặt vặt ở chợ để duy trì cuộc sống. Các con biết chuyện thường xuyên gửi tiền về để phụng dưỡng mẹ. Mẹ kiên quyết không nhận, tất cả tiền con gửi về mẹ đều gửi trả. Mẹ bảo: Mẹ có tiền mà! ——>Mẹ nói dối lần thứ 6

Cậu bé ở lại trường dạy 2 năm, sau đó thi đỗ học bổng học thạc sỹ ở một trường đại học danh tiếng của Mỹ. Sau khi tốt nghiệp cậu ở lại làm việc tại một công ty nghiên cứu máy móc. Sống ở Mỹ một thời gian, khi đã có chút điều kiện. Cậu bé muốn đưa mẹ qua Mỹ sống để phụng dưỡng mẹ tốt hơn. Nhưng lại bị mẹ từ chối. Mẹ bảo: Mẹ không quen! ——>Mẹ nói dối lần thứ bảy.

Nhiều năm trôi qua, mẹ lâm trọng bệnh, phải vào viện điều trị. Khi con trai đáp máy bay từ nơi xa xôi về thăm mẹ, mẹ già đi nhiều và yếu quá rồi. Nhìn mẹ bị bệnh tật dày vò đến chết đi sống lại, thấy con trai đau đớn vì thương xót mẹ. Mẹ lại bảo: Con trai, đừng khóc, mẹ không đau đâu. ——> Đấy là lần nói dối cuối cùng của mẹ

Linh mục Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn

 

 

 



Sưu tầm

 

 

Giáo Xứ Thọ Ninh. Đó là một xứ đạo truyền thống “lắm cụ nhiều quan”, nơi sản sinh nhiều nhân vật đạo đời nổi tiếng. Từ trước tới nay, Giáo xứ Thọ Ninh đã cung cấp cho Giáo Hội đến 79 linh mục triều, dòng. Nhưng nổi bật hơn cả, phải kể đến cha Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn. Ngài vừa là linh mục gốc giáo phận Vinh, nhưng cũng là linh mục của giáo phận Ban Mê Thuột với các chức danh: cha sở, cha quản hạt, cha Tổng đại diện giáo phận Ban Mê Thuột.

 

Ngài sinh năm 1898 trong một gia đình Công giáo đạo hạnh tại giáo xứ Thọ Ninh, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Thân phụ là một nhà nho làm nghề đông y nổi tiếng. Sau khi học 6 năm Tiểu chủng viện và giúp xứ 6 năm, thầy Ngoạn được cử đi du học 6 năm tại Đại chủng viện Penang, Malaysia, một Đại chủng viện quốc tế dành cho các sinh viên miền Đông Á. Tốt nghiệp, ngài trở về Việt Nam và chịu chức linh mục dịp Lễ Chúa Giáng sinh 1932. Sau đó, ngài lần lượt đảm nhận các chức vụ: giáo sư Tiểu chủng viện (1933-1943); giáo sư Đại chủng viện, rồi Giám đốc Đại chủng viện Xã Đoài (1943-1956).

Biến cố chia đôi đất nước đưa ngài lên cao nguyên Ban Mê Thuột cùng với một số giáo dân Vinh. Ngài nhập giáo phận Kontum và làm cha sở giáo xứ Ban Mê Thuột. Ngài xây nhà thờ với kiểu dáng giống nhà thờ Sapa thuộc giáo phận Hưng Hóa. Nhà thờ này trở thành Nhà thờ Chính Tòa khi thành lập giáo phận Ban Mê Thuột năm 1967.

Năm 1969, cha Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn xin nghỉ hưu, vì tuổi già sức yếu. Ngài rút về nhà người cháu là ông Trần Văn Cung, để nghỉ ngơi và chuyên lo nghiên cứu và đọc sách. Thỉnh thoảng ngài được mời giảng tĩnh tâm, hay thuyết trình cho các linh mục, các Dòng tu về thần học và tu đức.

Ngài là một linh mục thánh thiện, khiêm tốn. Tuy cao niên và là bậc thầy của nhiều thế hệ linh mục, ngài vẫn xưng “con” với người đối thoại. Ngài sống rất khó nghèo, đạm bạc… Đơn sơ trong y phục và sử dụng các phương tiện. Những dịp tĩnh tâm hạt, hoặc tĩnh tâm thường niên của các linh mục giáo phận, ngài thường lưu ý: Phải đọc Thần vụ thong thả để có thể nếm được cái ý vị ngọt ngào và phong phú của Thánh Vịnh. Ngài dâng lễ sốt sắng, khoan thai. Các bài giảng của ngài phải nói được là những bài giáo lý mẫu (Keryma) rất hấp dẫn, cụ thể, được minh họa bằng những câu chuyện sinh động, trí thức kính nể, bình dân hiểu rõ. Các giáo xứ đến phiên chầu lượt, đều muốn mời cha già Ngoạn đến giảng về Bí tích Thánh Thể. Nổi tiếng là thông thái, ngài cũng từng được mời giảng trong thánh lễ riêng của vị đứng đầu chính phủ VNCH thời đó. Đức Cố Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận sau khi tiếp xúc với cha Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn, thấy được kiến thức uyên bác của ngài, đã nói: “Ban Mê Thuột có một cuốn từ điển bách khoa sống”. Đức Cố Giám mục Paul Seitz (Đức cha Kim) đã dùng cha Ngoạn làm cố vấn thần học. Một linh mục học trò của ngài kể lại: Khi còn là giáo sư Đại chủng viện Xã Đoài, giáo phận Vinh, mỗi dịp đi nghỉ hè, ngài thường đưa một số đại chủng sinh đi theo, đến một xứ nào đó, để trình bày về một vấn đề thần học, hoặc triết học. Cách trình bày rất bình dân, dễ hiểu, ai cũng có thể tiếp thu.

Về sự nghiệp văn hóa: cha Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn là một “học giả thầm lặng. Có thể gọi ngài là nhà thần học uyên thâm của Giáo Hội Việt Nam” (lời Đức cha Phêrô Trần Xuân Hạp). Bẩm sinh thông minh, hiếu học, say mê đọc sách. Thích nghiên cứu, sưu tầm đủ loại vấn đề, ghi chép thành “fiches” (phiếu). Các học trò của ngài đều được khuyến khích viết fiches. Ngài có một bộ phiếu khổng lồ mà Ngài gọi là “silva rerum”, nghĩa là như một khu rừng tài liệu văn hóa. Rất tiếc là kho tàng quý báu này đã bị tiêu tán mất 2 lần, vào năm 1955 (di cư vào Nam) và 1975 (thống nhất đất nước).

Chính ngài đã tâm sự thế này: “Trong đời linh mục của tôi đến nay (1975) đã trên 40 năm. Tôi thích đọc sách, nghiên cứu, sưu tầm, rồi lập danh mục, viết những phiếu ghi chép… Có loại phiếu đánh số thứ tự, loại ghi theo chuyên đề… Có khi viết ra thành tập như tập “Thế giới vô cùng lớn”, “Thế giới vô cùng nhỏ”, “Khoa học có thể tạo nên vật sống được không, theo phương diện tín lý”? “Đức tin và Tín ngưỡng”, “Đức tin và luân lý”, Đức tin và Tôn giáo”, “Suy luận về định nghĩa Đức tin theo thần học cổ điển”, “Thần học cổ điển và Thần học Thánh Kinh”, “Cho được sống mầu nhiệm Đức tin”…

Trong đời ngài, có 2 lần mất mát mà ngài cho là lớn nhất, vì là mất những cái mà ngài cho là quý hóa nhất. Đó là mất những biên tập, những ghi chép nói trên. Mỗi lần mất như vậy, là mất hết những công trình sưu tầm trong 20 năm, từ khi làm giáo sư Tiểu rồi Đại chủng viện (1935–1955). Biến cố đất nước chia đôi và cuộc di cư khiến ngài không mang được gì.

Tại miền Nam, Ngài lại khởi công sưu tầm, biên chép làm phiếu, ghi notes… và biên khảo, như tập “Những đặc điểm ngoại thường trong Hiến chế Vui mừng và Hy vọng”, và tập viết bằng Pháp văn. “Essai d’une nouvelle exposition de la doctrine Eucharistique”… Nhưng tập ngài yêu quý nhất là tập “Cho được sống mầu nhiệm Phục Sinh” đang viết dở dang, dày 400 trang vở học sinh, chữ nhỏ. Đùng một cái, vừa đúng 20 năm sưu tầm, tức là ngày 10-03-1975, nhà ngài bị đạn pháo bắn cháy thiêu hủy tất cả tài sản.

Sau lần tổn thất to lớn này, ngài không còn hy vọng tiếp tục công trình sưu tầm, nghiên cứu, vì một phần tuổi già, sức yếu, một phần không thể kiếm lại và mua sắm được những sách vở, tài liệu như trước. Thỉnh thoảng, - như một quán tính, - ngài vẫn cố nhớ lại những gì đã viết, đã nghiên cứu. Sự hồi tưởng này giúp ngài như được nếm những vị ngọt trên trời (sapere coelestia). Sự cố gắng hồi tưởng và “bươi móc” ký ức, theo ngài, không những giúp ích thiêng liêng, mà còn có thể thu thập được một số “mảnh vụn” (fragmenta). Nếu không được “12 thúng” thì ít ra cùng được vài “nhúm tay”. Như vậy, cũng không phải là uổng công dã tràng! (Colligite quae superaverunt fragmenta, ne pereant).

Người ta càng khâm phục và ca ngợi trí thông minh sâu sắc của cha Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn, khi biết rằng, tuy được hấp thụ một nền thần học cổ điển, kinh viện, thời Trung cổ, thế nhưng, ngài đã có một ngòi bút phân tích và tổng hợp rất hệ thống. Chúng ta hãy đọc những “fragmenta” ngài viết trong thời gian nghỉ hưu và bệnh tật:

1. Đức Tin Phục Sinh.

2. Những đặc điểm ngoại thường trong Hiến chế Vui mừng và Hy vọng.

3. Thiên Chúa là Tình Yêu.

4. Bí tích Thánh Thể theo trào lưu Thần học thời đại Vaticanô II.

5. Thánh Thần ban sự sống.

6. Nghệ thuật thuyết giảng của linh mục.

7. Thần học cổ điển và Thần học Thánh Kinh.

8. Đức Tin và Tín Ngưỡng.

9. Thế giới vô cùng lớn.

10. Thế giới vô cùng nhỏ.

 


Linh Mục Nhạc Sĩ Hoài Đức

 



Sưu tầm
(1923 – 2007)
I- Vài nét về cuộc đời.

Linh mục Nhạc sĩ Hoài Đức sinh ngày 01 tháng 07 năm 1923 (theo giấy khai sinh) tại xã Vĩ Nhuế, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định (ngày nay là xã Yên Đồng, tỉnh Nam Định). Xã Vĩ Nhuế cũng là nơi giáo quyền xây dựng Giáo Xứ Kẻ Nấp. Năm 1938, chú bé Hoài Đức tốt nghiệp Sơ Học Pháp Việt và vào Tiểu Chủng Viện Hoàng Nguyên cũng năm này. Sau 6 năm theo học, thầy Hoài Đức được cử về giúp xứ Bút Đông. Ngày 01 tháng 09 năm 1945, nhập Đại Chủng Viện Xuân Bích Hà Nội. Mới chưa qua một tháng, nhân biến cố Quân đội Nhật tiến đánh Đông Dương, Quân đội Trung Hoa chiếm Đại Chủng Viện, các thầy được lệnh tản cư. Tháng 09 năm 1946, Đại Chủng Viện mở cửa lại, thầy Hoài Đức cùng các thầy trở về tiếp tục tu học. Lúc bấy giờ, Cha Bề trên và các Cha giáo đều là người Pháp. Công việc học hành chỉ được 03 tháng thì phong trào toàn quốc kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Các linh mục người Pháp bị câu lưu. Các thầy được lệnh sơ tán về các địa phương xa Hà Nội. Thầy Hoài Đức trở về lại Bút Đông, giúp cha Trần Tiến Đức. Thời gian này mới có bút hiệu là Hoài Đức, theo thầy kể thì bút hiệu này là để tỏ lòng mến thương cha Trần Tiến Đức…

Thời gian tản cư kéo dài từ tháng 12 năm 1946 tới tháng 10 năm 1948, sau đó thầy Hoài Đức trở về Đại Chủng Viện Xuân Bích để tiếp tục học 04 năm (Triết học và Thần học). Vì mới tản cư về, thầy Hoài Đức cần phải có căn cước, nên lấy tên là Lê Đức Triệu, cũng nhân đó khai luôn bút hiệu Hoài Đức vào tờ căn cước. Không biết khi mới sinh ra, cha mẹ thầy đặt cho thầy tên gì. Người viết nghe đâu tên thầy là Lê Danh Hích (?).

Sau 04 năm học ở Đại chủng viện, thầy Hoài Đức đã lãnh nhận 04 “chức nhỏ”. Và vì bệnh suy tim nên Đức Cha Trịnh Như Khuê đã chỉ định thầy đi giúp các xứ Kẻ Noi, rồi Sở Kiện… Vì tình hình chiến sự, thầy Hoài Đức bỏ Sở Kiện tìm cách về lại Hà Nội. Niên học năm 1952, thầy được bổ nhiệm là giáo sư Tiểu Chủng Viện Piô XII (ở Quần Ngựa), lúc ấy Cha Nguyễn Huy Mai đang là Hiệu trưởng Trường Dũng Lạc, được bề trên chuyển lên làm Giám Đốc Chủng Viện.

Biến cố “chia đôi đất nước” 20-07-1954 xảy đến. Và ngày 18-07-1954, toàn bộ Tiểu Chủng viện Piô XII lên tàu thủy vào Nam, trong đó có thầy Hoài Đức. Địa chỉ sau cùng của Chủng Viện Piô XII là 223 Nguyễn Tri Phương, Chợ Lớn. Thầy Hoài Đức là giáo sư ở đây (thầy giáo nhạc là chính) cho tới đầu niên học 1957, thầy về lại Đại Chủng Viên Xuân Bích tọa lạc tại Thị Nghè (trong chuyến tàu di tản vào miền Nam có cả Đại Chủng Viện này).Sau khi hoàn tất chương trình “đào tạo linh mục”, thầy được chuyển trở lại Chủng Viện Piô XII dạy học. Và ngày 06 tháng 06 năm 1960 (?) thầy được tấn phong Linh mục, vẫn tiếp tục làm cha giáo kiêm giám luật tại Chủng Viện Piô XII.

Năm 1966, Chủng Viện Piô XII chấm dứt hoạt động theo lệnh Toà Thánh, cha Hoài Đức được thuyên chuyển lên Giáo phận Kontum làm cha giáo tại Tiểu Chủng Viện Thừa Sai, năm sau được bổ nhiệm Phó bề trên kiêm quản lý Chủng Viện. Hết niên học 1967-1968, Cha được chuyển về Saigon đảm nhận chức vụ Thư Ký Thường Trực Ủy Ban Thánh Nhạc Toàn Quốc do đề nghị của Đức Cha Phạm văn Thiên đặc trách Phụng Vụ và Thánh Nhạc. Tháng 07 năm 1969, cha đã từ nhiệm chức vụ này và được thuyên chuyển lên Ban Mê Thuột làm quản lý tài sản Nhà Chung Ban Mê Thuột, lúc ấy Đức Cha Nguyễn Huy Mai đang cai quản Giáo phận này. Ở đây cha Hoài Đức kiêm nhiệm Giám đốc Cơ quan Từ thiện Caritas, Chủ tịch phong trào Công lý và Hoà bình. Với những trách vụ kể trên, cha Hoài Đức đã cố gắng xây dựng các cơ sở giáo phận như tu viện, tập viện, nhà dưỡng lão, quán cơm xã hội, khai thác đồn điền cà phê, phân phối các phẩm vật cứu trợ …

Tháng 03 năm 1975, Ban Mê Thuột giải phóng, Đức Cha Mai và Cha Hoài Đức đã ở lại, không di tản. Thời gian này cả hai vị đã gặp rất nhiều khó khăn… Và ngày 14 tháng 01 năm 1977 cha Hoài Đức khăn gói lên đường vào trại cải tạo Mê Văn Đắc Lắc. Ở trại này được vài tháng, cha được chuyển ra ngoài Bắc. Sau nhiều lần chuyển từ trại này qua trại khác, năm 1979 Cha Hoài Đức cùng một số cha khác (khoảng 20 vị) “định cư” tại trại Thanh Cẩm Thanh Hoá. Tại trại này, cha Hoài Đức bị bệnh “tai biến mạch máu não”, nhờ một bạn tù người Hoa chữa trị, bệnh thuyên giảm, nhưng sức khoẻ từ đó kém đi rất nhiều.

Tháng 11 năm 1987, cha Hoài Đức được thả về cùng với khoảng 50 bạn tù. Cha đi thăm bà con, một số các đấng bậc trong giáo quyền miền Bắc. Sau cùng Cha ở lại nhà người em họ tại số 491/74A Lê văn Sĩ, Phường 12, Quận 3, TPHCM. Đây là nơi Cha được chỉ định cư trú theo lệnh chính quyền. Nơi đây, trong thời gian này, các anh em nhạc đoàn đã liên lạc với cha, kể cả một số anh em nhạc sĩ trẻ có cảm tình với nhạc đoàn xưa nay. Và Cung Thánh 17 đã được chuẩn bị trong “thầm lặng”… Vào khoảng năm 1997, bệnh cũ lại bộc phát, cha bị á khẩu, toàn thân dần dần tê liệt và cha đã được chuyển về Nhà Hưu Dưỡng Hà Nội (116/3 Hùng Vương, P.9, Q.5, TPHCM).

Ở nước ngoài, hai lần về thăm cha, năm 1998, tôi gặp cha trong tình trạng không nói được, nhưng vẫn viết được. Năm 2000, hai vợ chồng chúng tôi về thăm cha. Cha hoàn toàn không nói cũng chẳng viết được nữa, chỉ gật hoặc lắc đầu. Trong những lần tiếp xúc ấy chỉ là nước mắt và nước mắt. Nước mắt của cha và nước mắt của chúng tôi! Ngài vẫn nhận biết và hiểu chúng tôi muốn nói gì. Điều làm cho những người thân “thương cảm” là cha không phải là “người thực vật” mà vẫn là con người nghe được, hiểu được nhưng chỉ trả lời bằng những dòng lệ. Người lau khô những dòng lệ này chính là cô cháu gái của cha, ngày đêm bên cạnh cha … Tạm biệt cha ra về, cô cháu tiễn chúng tôi tới cửa: “… Cô chú nhớ cầu nguyện cho cha…”. Có những tiếng nấc nghẹn ngào!!! Chân bước, nhưng lòng như trống vắng. Tới trước hang đá phía sau nhà thờ Ngã Sáu Chợ Lớn (ngay cổng vào khu nhà hưu dưỡng), nhìn lên tượng Đức Mẹ, tôi chợt nhớ tới câu kết của bài hát Dâng Mẹ. Cha Hoài Đức viết : “Mẹ chính là Nữ Vương, là Trạng Sư, là Mẹ con.” Tôi gục đầu xuống. Nhà tôi quỳ bên cạnh. Hai người im lặng, đầy ắp những suy tư: Những ngày cuối của một người thầy, người anh, người bạn? Thân phận một linh mục tài ba? Và “Mẹ là Trạng Sư…?”

Cha ở đây cho đến ngày nay, vẫn chưa có quyền công dân, chưa có hộ khẩu! Và cha đang”chuẩn bị cho cuộc hành trình cuối cùng của cuộc đời trong bàn tay Đấng Toàn Ái Vô Biên”! Rất hy vọng cha sớm được trả lại “Quyền Công Dân Nước Trời” và “Hộ Khẩu Thường Trú” trên nơi Thiên Quốc!!!

II-Tác Phẩm:


Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh được thành lập từ năm 1945. Cha Hoài Đức tham gia nhạc đoàn này vào tháng 09 năm 1946. Nhạc sĩ Hùng Lân là Đoàn Trưởng. Sau khi thầy Hoài Đức làm linh mục (1960), Anh Hùng Lân nhường lại chức vụ Đoàn Trưởng nhạc đoàn cho ngài. Về sáng tác, cha Hoài Đức đã bắt đầu viết từ năm 1945. Trong toàn bộ tác phẩm của cha, 87 bài Thánh Ca, có thể tạm chia ra như sau:

a) Những sáng tác theo “ngẫu hứng” và những sáng tác theo “nhu cầu Phụng vụ”:

Đây là những tác phẩm từ năm 1945 tới 1975. Về ngẫu hứng, có khá nhiều bài ca mang tính “phổ thông, đại chúng”, nét nhạc gần gũi với tâm tình người Việt, mặc dầu không mang âm hưởng nét dân ca nào rõ rệt. Thí dụ : Cao Cung Lên, Mùa Đông Năm Ấy, Dâng Mẹ, Cung Chúc Trinh Vương … Về đề tài nhu cầu phụng vụ, là những tác phẩm viết theo các “Ý lễ”, thí dụ : Tôi Tin (Kinh Tin Kính), Thánh Tâm Giê-Su Vua, Này Con Là Đá… Ngoài ra, trong “luồng nhạc” thời kỳ này, cha Hoài Đức đã thành công khi đưa âm hưởng “bình ca” vào lời Việt : Tôi Sẽ Tiến Lên, Bí tích Nhiệm mầu…

Kể từ biến cố “30 tháng 4 năm 1975″, Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh ngưng hoạt động.. Linh mục Hoài Đức cũng như một số thành viên nhạc đoàn phải đi ‘cải tạo’. Cha Hoài Đức là người có lẽ về sau cùng (1987), trong số các anh em nhạc đoàn. Khi trở về, chức vụ Đoàn Trưởng Nhạc Đoàn anh em vẫn tín cẩn dành cho cha, mặc dầu cha rất e ngại vì nhiều lý do… và miễn cưỡng chấp nhận. Kể từ đó, nhạc đoàn LBT sinh hoạt trở lại trong “âm thầm”!!!

b) Những tác phẩm mang tích cách “bài bản”:

Cũng xin nói cho rõ, ở đây, tôi “nhìn” theo khía cạnh kỹ thuật dàn dựng một bản nhạc và lời ca mà bản nhạc chuyển tải. Gồm những tác phẩm từ năm 1977 tới năm 1990. Được hân hạnh làm việc với ngài khi chuẩn bị cho Cung Thánh 17, vì thế, tôi biết rất rõ về những tác phẩm trong giai đoạn này. Hầu hết cha Hoài Đức viết trong thời gian ở tù (1977-1987) và tới năm 1990 mới hoàn chỉnh, nhất là phần hoà âm, sau khi được anh Thiên Quang nhuận sắc phần này. Trong tất cả các tác phẩm Cha viết từ năm 1945 tới 1975, hình như không bài nào có quá 2 bè. Phần lời ca, cũng rất ít lấy ý từ các thánh vịnh, thánh thi. Ngược lại, giai đoạn 1977-1990, tác phẩm mang tính “kinh điển” với phần nhạc nhiều bè, hoà âm rất “chặt chẽ”. Lời ca hầu hết lấy từ thánh vịnh, thánh thi. Thí dụ : Bài Ca Hiệp Nhất (Tv 132), Có Chúa Chăn Dắt (Tv 22)… Chính vì những yếu tố vừa kể: nhạc – lời ca, chúng tôi xin gọi những tác phẩm trong thời gian này là “những tác phẩm mang tính cách bài bản”.

III – Thay Lời Kết

Một ước vọng chân thành: những ai đọc tới các dòng trên đây, những bà con thân thuộc, bạn bè xa gần, nhất là những “học trò cũ”, xin hãy chia sẻ với Linh Mục Nhạc sĩ Hoài Đức. Chia sẻ bằng lời cầu nguyện, bằng những nâng đỡ… để những ngày tháng “đền tội”này (có thể là “tội” của chính ngài, nhưng cũng có thể là “tội” của những người khác mà Chúa muốn ngài “đền thay”!) bớt nặng nề và nhất là “thời gian”, xin Chúa và Mẹ “rút bớt lại”!!!

Hải Ánh


Tháng 09 năm 2003

Và ngày 08 tháng 07 năm 2007 , cha Giuse Hoài Đức đã tạ thế lúc 22 giờ 20 phút ngày 07/07/2007 tại Nhà Hưu Dưỡng Hà Nội, thọ 84 tuổi, đã trải qua: 10 năm “cải tạo”. 10 năm “liệt giường”!

 

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2022

Đức Ông Gioan Maria TRẦN VĂN HIẾN MINH (1918–2003)

 



Nhà đào tạo mẫu mực và tông đồ nhiệt thành rao giảng Tin Mừng

 

19/6/1918   : Sinh tại Sa Châu, Bùi Chu

1932-1938 : Tiểu Chủng viện Ninh Cường, Bùi Chu

1938-1946 : Du học Rôma

19/3/1944   : Thụ phong linh mục tại Rôma

1945-1946 : Tiến sĩ triết học và tiến sĩ thần học tại Rôma

1946-1950 : Cử nhân xã hội học tại Paris                                

                    Tuyên uý Liên đoàn Công giáo Việt Nam tại Pháp, lập giáo xứ Việt Nam tại Paris

1950-1960 : Giáo sư, giám đốc Đại Chủng viện thánh Tôma, Bùi Chu

1957-1999 : Linh mục Đại diện Bùi Chu tại miền Nam

1960-1967 : Giáo sư triết học tại Đại Chủng viện thánh Giuse, Sài Gòn

1960-1975 : Bề trên 2 trường trung học Nguyễn Bá Tòng, Sài Gòn và Gia Định

                   Giáo sư triết học các trường: Nguyễn Bá Tòng, Trần Hưng Đạo, Chu Văn An, Trưng Vương và Trường Sơn

                   Giáo sư Tiểu Chủng viện thánh Phanxicô, Bùi Chu; thánh Giuse, Sài Gòn   

                   Giám đốc nhà in Nguyễn Bá Tòng

1963-1975 : Đại diện Đức Tổng Giám mục Sài Gòn tại Hội đồng Liên tôn                       

                   Giáo sư Đại học Văn Khoa, Sài Gòn

1967-1978 : Tuyên uý phong trào Pax Romana                        

                   Giáo sư triết học và thần học tại Đại Chủng viện thánh Giuse Sài Gòn, Giáo Hoàng Học viện Piô X, Đà Lạt

1971-1977 : Thư ký thường trực HĐGMVN, giám đốc Trung tâm Công giáo

1979-1999       : Thành viên các Uỷ ban nghiên cứu thần học và Uỷ ban Phụng tự của HĐGMVN

1978           : Thành lập Đại chủng viện Đức Ái

1979           : Thành lập Tu hội Gia Đình Mẹ Maria Thăm Viếng

1993           : Toà Thánh ban tặng tước Đức Ông nhân dịp kim khánh linh mục

1993-1998 : Đại diện Đức Giám quản Tổng giáo phận TP. HCM, đặc trách các dòng tu

1999           : Nghỉ hưu

21/10/2003 : Từ trần tại trụ sở Bùi Chu, 1B Tôn Thất Tùng, TP. HCM.


 

1. Nhà đào tạo và tông đồ rao giảng Tin Mừng qua việc giảng dạy

Năm 1950, sau 13 năm du học tại Rôma và Paris, cha Gioan Maria Trần Văn Hiến Minh trở về quê hương và phục vụ tại giáo phận Mẹ Bùi Chu. Ngài được Đức cha Phêrô Phạm Ngọc Chi bổ nhiệm làm giáo sư, phó giám đốc rồi giám đốc Đại Chủng viện thánh Tôma, Bùi Chu (1950-1960), thường trực Liên Chủng viện Bắc Việt. Dù trong cương vị nào, cha Gioan cũng hết mình thực thi sứ vụ và trách nhiệm mà bề trên trao phó, với lòng nhiệt thành và quảng đại. Ngài hăng say nghiên cứu giảng dạy và cố gắng truyền đạt những kiến thức cũng như kinh nghiệm cho các môn sinh, nhất là các lãnh vực chuyên môn về triết học và thần học; đồng thời giữ vai trò liên kết giữa ban giáo sư trong các chủng viện.

Ngài cũng là người đầu tiên khởi xướng việc giảng dạy các môn học thánh ở Đại Chủng viện bằng Việt ngữ. Bước đầu gặp phải rất nhiều gai góc và khó khăn từ nhiều phía, nhưng sau khi được Đức Khâm Sứ Toà Thánh tại Việt Nam, John Dooley, Tổng Giám mục hiệu toà Macra chấp thuận và khích lệ, công việc được thực hiện một cách dễ dàng hơn, mở đầu cho một nền thần học Việt Nam phát triển theo chiều hướng mới mang tính hội nhập. Các tác phẩm, các bộ từ điển, từ vựng, các giáo trình triết học, thần học lần lượt được xuất bản. Riêng bộ giáo khoa triết học vẫn còn được dùng để giảng dạy trong các chủng viện cho đến ngày nay. Hiểu như thế chúng ta không lạ gì khi thấy ngài luôn là thành viên của Uỷ ban Phụng tự và Uỷ ban Thần học của HĐGMVN cho đến những năm cuối đời.

Cha Gioan coi chủng viện như một gia đình mà Chúa trao phó cho ngài chăm lo đào tạo. Ngài luôn gắn bó và dành tình cảm yêu thương như một người cha đối với các chủng sinh. Vì thế, chủng viện di dời đi đâu thì ngài đi đó, từ Quần Phương lên Hà Nội rồi vào Sài Gòn trong biến cố năm 1954.

Năm 1960, khi Toà Thánh thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam, các chủng viện di cư của các giáo phận miền Bắc phải nhập vào các chủng viện địa phương, cha Gioan được Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Bình đặt làm bề trên trường trung học Nguyễn Bá Tòng (1960-1975), đồng thời với việc dạy học trong các chủng viện và đại học. Trong môi trường giáo dục rộng mở hơn, cha Gioan càng tỏ ra nhiệt tình với sứ vụ giảng dạy, nhất là truyền thụ nền giáo dục Kitô cho các thế hệ học trò. Dù trong môi trường tu viện, chủng viện hay trường học, công lập, tư thục và đại học, ngài đều tỏ ra là một nhà đào tạo tài năng và đức độ, luôn nhiệt thành với sứ vụ truyền bá đức tin và văn hoá.

Ngoài việc giảng dạy nơi trường lớp, cha Gioan còn chú tâm rao giảng bằng ngòi bút. Cha là giám đốc nhà in Nguyễn Bá Tòng. Cha viết bài cho báo Đường Sống, báo Sacerdos, báo Xây Dựng. Cha cùng một số đồng nghiệp soạn và xuất bản bộ Giáo lý Trung học cũng như những tập sách Tín lý toát yếu cho giới sinh viên và cho các thành viên Pax Romana mà cha đảm nhận vai trò tuyên úy. Cha cũng giúp soạn thảo hiến pháp cũng như các tài liệu đào tạo cho nhiều dòng tu và tu hội. Quả thực cha Gioan say sưa với công việc đào tạo và dường như ngài chỉ muốn chu toàn công việc này mà thôi.

Sau biến cố 30/4/1975, các trường học đều thuộc quyền quản lý của Nhà nước. Vì thế các linh mục, tu sĩ phải rời khỏi bục giảng. Trong hoàn cảnh mới này, cha được tình yêu Chúa Giêsu thôi thúc phải “rao giảng lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” (2 Tm 4,2). Vì thế, cha đã thích nghi và bắt đầu ngay vào giai đoạn nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo trong âm thầm (1975-2003). Cha mở các lớp giáo lý tân tòng dành cho người lớn tuổi từng lớp hai hay ba người và rửa tội cho họ. Cha tự nhủ: “Trước đây Chúa sai đi thả lưới bắt cá, lúc này Chúa sai đi thả câu bắt từng con!” Giai đoạn này, với phép của các đấng bề trên, cha Gioan âm thầm khai sinh ra Đại Chủng viện Đức Ái và Tu hội Gia Đình Mẹ Maria Thăm Viếng.

Linh mục Albertô Trần Phúc Nhân, giáo sư Kinh Thánh, đã nói: “Tôi xin nói lên lòng khâm phục một giáo sư học giả vào hàng tiên phong trong môn triết học và thần học bằng tiếng Việt. Ngay từ 50 năm trước đây, Đức Ông đã soạn những cuốn tự điển và những bộ sách giáo khoa tiếng Việt về những môn này, không những giúp ích cho các học viên thời đó, mà còn mở đường cho những tác phẩm của các tác giả đi sau. Một điểm khác cũng cần nêu ra, là vai trò của Đức Ông trong việc đào tạo linh mục trong các Đại Chủng viện trước năm 1975. Sau năm 1975, vai trò này lại càng quan trọng hơn, nhất là đối với giáo hội miền Bắc. Có thể nói nhiều giáo phận tại Việt Nam, nhất là giáo phận Bùi Chu, ngày nay vẫn còn đang gặt hái những thành quả do công lao vất vả của Đức Ông sau năm 1975”.

2. Nhà đào tạo và tông đồ rao giảng Tin Mừng bằng chính cuộc sống

Trước hết, với tư cách là linh mục, cha Gioan luôn luôn ngay thẳng trung thành với nguyên tắc đời tu, rất chừng mực trong nếp sống đời thường và đầy lòng yêu mến. Ấn tượng ban đầu đối với các học trò là sự đúng giờ, luôn tươi vui và khả ái. Cha Gioan luôn kính trọng và vâng phục các đấng bề trên. Trong giao tiếp và các mối quan hệ, cha rất nhã nhặn, chín chắn và đĩnh đạc; trong các phát biểu, ngài chừng mực và luôn lắng nghe; trong đời sống, ngài đơn sơ khó nghèo, luôn kỷ luật và nề nếp.

Điểm nổi bật nữa là lòng khiêm tốn hiền hậu. Người ta thấy nơi cha Gioan “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Cha Gioan có “chữ tâm” của nhà giáo dục Kitô, đó là sự hiền lành và khiêm nhường theo Chúa Giêsu. Cha thật khiêm nhường đơn sơ và hồn nhiên. Thầy Giuse Phạm Trọng Hoá học trò của cha Gioan ở Đại Chủng viện thánh Tôma kể: “Có ai nhắc đến bằng Tiến sĩ, thì cha nói: ‘Bằng Tiến sĩ là chứng chỉ sự dốt nát của mình’ rồi cha giải thích: ‘Cũng như có lên núi cao, mới thấy trời rộng, thì khi đạt được bằng Tiến sĩ, sẽ thấy biển học mênh mông’”. Sự khiêm tốn của cha Gioan còn rõ nét trên bục giảng: với giọng nói bình dị, phân tích đề tài có gốc có ngọn, rõ ràng, mạch lạc, đầy tính sư phạm. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều này trong các trước tác của ngài. Linh mục Phêrô Đặng Xuân Thành, giáo sư Thần học Luân lý, đã chia sẻ: “Tôi đã học nơi ngài cách thi hành thiên chức sư phạm một cách hết sức căn bản, đó là không khoe chữ hay lòe kiến thức”.

Cha Gioan ít nói về bản thân và cũng không muốn ai đề cao ngài. Trong những dịp mừng bổn mạng, mừng ngân khánh, mừng thọ, cha không muốn được người ta ca tụng. Dịp mừng kim khánh linh mục, năm 1994, các linh mục vui mừng nghe đài Vatican loan tin Toà Thánh ban tặng tước hiệu Đức Ông cho cha, nhưng thấy cha vẫn làm thinh, tưởng cha không biết. Khi đến chúc mừng, cha đưa cho xem văn thư của Toà Thánh do Đức Ông Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ gửi về và nói: “Tước hiệu là chuyện đời. Vả lại nhiều linh mục còn làm những việc lớn lao hơn mình nhiều”.

Hình ảnh cha Gioan lưu lại nơi người gặp gỡ cha là cặp mắt hiền từ và nụ cười hồn nhiên. Cha hiền hậu không nặng lời với ai, nhưng hơn hết là sự thánh thiện và lòng yêu mến Giáo Hội cùng với trái tim rộng mở, bao dung, nhân ái, sự tận tuỵ và lòng nhiệt thành với sứ vụ rao giảng Tin Mừng.

Cha Gioan rao giảng Tin Mừng bằng tình thương yêu, nhất là tình cảm trìu mến dành cho các ơn gọi linh mục và các ơn gọi sống đời thánh hiến. Cha Gioan luôn tỏ ra quý trọng các linh mục và sẵn sàng chia sẻ gánh nặng mục vụ với anh em linh mục. Trong cương vị đại diện Bùi Chu tại miền Nam, cha hết lòng quý mến các cha gốc giáo phận Mẹ Bùi Chu, lo cổ võ sự hiệp nhất, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau, luôn hướng về quê nhà yêu dấu. Cha nhận đây như một bổn phận và trách nhiệm. Cha tìm đến thăm hỏi giúp đỡ an ủi các linh mục đau yếu, lo xây dựng, duy trì và mở rộng trụ sở Bùi Chu, nhà hưu dưỡng linh mục.

Kể về những kỷ niệm với cha Gioan, các môn sinh của cha kể rất nhiều. Nhưng kỷ niệm gây ấn tượng nhất với họ là tấm lòng rộng mở, bao dung và đầy tình thương yêu, được thể hiện qua thái độ lắng nghe và trao đổi. Tuỳ hoàn cảnh của mỗi người, khi thì cha an ủi, khích lệ; khi thì sửa chữa những sai lầm, khiếm khuyết; khi thì cha giúp đỡ tinh thần và cả vật chất nữa; cả những người vì một lý do nào đó phải nhận sự kỷ luật cũng rất cảm phục tấm lòng yêu thương rộng mở của cha.

3. Nhà đào tạo và tông đồ rao giảng Tin Mừng bằng những sáng kiến cấp thời

Cuối niên học 1977-1978, Nhà nước buộc Đại Chủng viện Sài Gòn phải đăng ký lại ban giáo sư và các chủng sinh phải hội đủ các tiêu chuẩn của Nhà nước. Số đại chủng sinh chừng 230, nhưng chỉ khoảng 50 thầy đủ điều kiện, còn gần 200 thầy bị loại. Họ bơ vơ tan tác. Trước hoàn cảnh bi đát đó, là nhà đào tạo, cha Gioan cảm thấy vô cùng xót xa và “chạnh lòng thương”. Cha xin phép Đức Tổng Giám mục Sài Gòn cho phép thành lập Đại Chủng viện ngoại trú và đã được Đức Tổng phê chuẩn với sự khích lệ và nhiệt tình giúp đỡ. Vì thế, Đại Chủng viện Đức Ái được hình thành và phát triển.

Với thời gian, Đại Chủng viện Đức Ái đón tiếp thêm nhiều ơn gọi mới trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, nhất là các thầy từ giáo phận Mẹ Bùi Chu, được Đức cha Giuse Vũ Duy Nhất gửi vào. Năm học 1992-1993, tổng số chủng sinh của Đại Chủng viện Đức Ái lên tới 130 thầy thuộc nhiều miền của đất nước, nhất là từ Bùi Chu. Về mặt tu đức, Đại Chủng viện Đức Ái được tổ chức như một Tu hội đời. Cha Gioan đã mời các linh mục, giáo sư và các nhà đào tạo cộng tác giảng dạy và huấn luyện các ứng sinh cho chức linh mục. Các nhà đào tạo và giáo sư Đại Chủng viện Đức Ái lúc bấy giờ hơn kém 30 vị, gồm có nhiều tiến sĩ, cao học, cử nhân chuyên ngành đã tốt nghiệp ở nước ngoài và các giáo sư đã từng dạy trong các Đại Chủng viện và Đại học trước 1975. Nhờ sự thánh thiện, đức độ và uyên bác, nhất là tấm lòng của người mục tử nhìn thấy tương lai của Giáo Hội tuỳ thuộc rất nhiều nơi chủng viện, nên các giáo sư không ngần ngại nhận lời giúp Đại Chủng viện Đức Ái. Đây cũng là dịp tốt để giáo phận Bùi Chu nói lời tri ân đến tất cả các cộng sự viên của Đức Ông Gioan trong việc đào tạo, giúp đỡ và vun trồng các ơn gọi, mà hôm nay họ đang hiện diện khắp nơi để tiếp nối công việc rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng.

Có lần một nhóm linh mục Đại Chủng viện thánh Tôma về mừng quan thầy cha Gioan, lúc đó cha đã ngã bệnh, nhưng cha rất vui mừng và nhắc tên từng người. Cha tâm sự về Đại Chủng viện Đức Ái: Vẫn biết rằng Đại Chủng viện nội trú là phương thế huấn luyện tối ưu của Giáo Hội. Nhưng vì hoàn cảnh không thể mở được, nên chỉ biết làm hết sức, phần còn lại Chúa sẽ lo. Bây giờ chỉ xin dâng những đau khổ bệnh tật để xin Chúa thánh hiến họ”.

Cùng với các thế hệ học trò ở khắp nơi ảnh hưởng một “truyền thống Gioan”, cách riêng với hơn 100 linh mục xuất thân từ Đại Chủng viện Đức Ái, là những hoa trái mà Chúa gửi đến cho Giáo Hội qua cha Gioan, một nhà đào tạo mẫu mực, đầy lòng yêu mến, suốt đời hy sinh phục vụ và hăng say rao giảng Tin Mừng trong các môi trường đào tạo, như khẩu hiệu cha chọn vào đầu đời linh mục: “Chúa Giêsu Kitô đã thí mạng vì chúng ta, như vậy cả chúng ta nữa, chúng ta cũng thí mạng sống vì anh em” (1 Ga 3,16).

Ngài đã an bình lên đường về Nhà Cha ngày 21/10/2003, hưởng thọ 84 tuổi, với 59 năm linh mục và gần ngần ấy năm phục vụ Giáo Hội qua thiên chức sư phạm đào tạo. Sự ra đi của Đức Ông Gioan để lại bao niềm thương nhớ đến các thế hệ học trò ở mọi môi trường giáo dục: công, tư, trung học, đại học, chủng viện, dòng tu...

Nhân Năm Linh Mục, mẫu gương của Đức Ông Gioan góp phần làm sáng lên hình ảnh người linh mục của Chúa Kitô và cũng là niềm tự hào của toàn thể Giáo Hội. Những lời của Đức Hồng y Claudio Hummes, Bộ trưởng Bộ Giáo Sĩ, trong lá thư nhân Năm Linh Mục, thật thích hợp để nói về Đức Ông Gioan Maria Trần Văn Hiến Minh: “Giáo Hội tự hào về các linh mục của mình biết bao, Giáo Hội yêu mến họ, trọng kính họ, thán phục họ và nhìn nhận với lòng biết ơn công việc mục vụ và chứng tá đời sống của họ dường nào. Đúng vậy, các linh mục thật quan trọng không chỉ vì những gì họ làm, nhưng còn vì những gì họ nữa”.

GP Bùi Chu

 

Cha Giuse Nguyễn Thế Thuấn (1922–1975)

 



Sưu tầm

Cha giáo Thánh Kinh

Linh mục Giuse Nguyễn Thế Thuấn sinh năm 1922, tại làng La Phù, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thủ đô Hà Nội), thuộc giáo phận Hà Nội, vào Dòng Chúa Cứu Thế tại Hà Nội và thụ phong linh mục năm 29 tuổi, tức vào năm 1951. Vì vào thời điểm này, Dòng đang có chương trình “Việt Nam hóa” đội ngũ giảng dạy tại Học Viện của Dòng, nên ngay sau khi được thụ phong linh mục, năm 1952, cha Nguyễn Thế Thuấn được cử đi du học tại Roma, kế đó, sang học tại trường Thánh Kinh Giêrusalem trong vòng 4 năm (1952–1956). Về nước, cha được cử dạy môn Thánh Kinh tại Học viện của Dòng ở Đà Lạt. Cuộc đời của cha từ nay như bị chôn chặt trong tòa nhà được xây bằng đá trên một trong những quả đồi cao nhất của Đà Lạt, trên đường từ thành phố đi Suối Vàng, bị gắn liền với công việc giảng dạy Thánh Kinh bề trên giao phó và với việc dịch Thánh Kinh cha đã đề ra cho mình.

Cha giáo Thánh Kinh

Những năm ngay sau khi đi du học về, xem ra cha chưa thích nghi được với “xã hội” xung quanh, suốt ngày chôn mình trong phòng với sách vở, thường gắt gỏng, khó chịu với những ai tới xin trao đổi với cha về bài vở như sợ người ta đánh cắp mất thời giờ quý báu của mình. Xem ra Chúa cũng đã không dành cho cha nhiều ưu đãi lắm về mặt “ngoại hình”: một chiều cao dưới mức trung bình của một người Việt Nam bình thường, một cái giọng the thé nhiều khi làm chói tai người nghe. Nhưng không ít người có dịp nghe cha giảng lễ hay giảng bài đã phải thừa nhận rằng cha có một sức hấp dẫn đặc biệt: đằng sau hay xuyên qua cái “chói tai” của giọng nói và của ngôn ngữ sử dụng ấy lại là sự lay tỉnh “lật ngược lòng trí” của Lời Chúa, sức thôi thúc của “Bài giảng trên núi”, quyền năng không gì cưỡng lại nổi của Thiên Chúa từ lòng dạ “son sẻ”, sức sống mới từ cái chết trên thập giá… một số trong những chủ đề ưa thích của cha và gây ấn tượng trên người nghe thời ấy.  

Thời ấy vốn là thời của Công Đồng chung Vatican II đang được tiến hành. Bầu khí Học viện, và của Giáo hội Việt Nam nói chung được hâm nóng với những phong trào “canh tân phụng vụ”, “trở về nguồn” và nhất là phong trào “Thánh Kinh”. Thế là cha giáo Thánh Kinh gặp thời: mỗi ngày mỗi có thêm nhà dòng, tu viện, giáo xứ đến mời cha tới giảng dạy Thánh Kinh. Tại Học viện của dòng, môn Thánh Kinh, từ niên khóa 1961–1962, được giảng dạy ngay từ Triết I, và do chính cha phụ trách. Cha buộc phải ra khỏi phòng, khỏi nhà dòng nhiều giờ, thậm chí nhiều ngày hơn, và do đó cũng có dịp tiếp xúc với nhiều người, trực tiếp đụng chạm tới nhiều vấn đề cụ thể của Giáo hội và cuộc xã hội. Cái tính khí “khó khăn” biến mất lúc nào không hay. Cha trở thành con người dễ tiếp cận. Có thể là qua thực tế, cha đã nghiệm ra được rằng thời giờ Chúa ban không phải dành cho riêng cho mình mà còn để chia sẻ cho người khác nữa.



Tác giả của bản dịch Thánh Kinh

Cha cũng đã từng giữ chức Giám học Học viện và bề trên nhà dòng Chúa Cứu Thế tại Đà Lạt. Nhưng ai cũng thấy, những chức tước này chẳng thay đổi gì nhiều trong cung cách sống, trong cách xử sự, hay trong trật tự ưu tiên của công việc: vẫn là một cha giáo Thánh Kinh say sưa với sách vở, với lớp học và nhất là với việc dịch Thánh Kinh. Cha đã bắt đầu với Thánh Kinh Tân Ước. Bản dịch Tân Ước của cha đã được xuất bản, sau đó, được sửa chữa và được tái bản, vào những năm 1960. Song song với việc chỉnh sửa bản Tân Ước, cha cũng đã bắt đầu dịch bộ Thánh Kinh Cựu Ước, nhưng tiếc thay, đã không có đủ thời gian để hoàn tất. Chỉ còn cách đích mấy bước thì cha đã vội ra đi. Cha tử nạn ngày 28-3-1975 tại Di Linh, tỉnh Lâm Đồng hiện nay, vào dịp được mời về giảng tĩnh tâm mùa Chay và chuẩn bị Phục sinh cho giáo xứ Di Linh.

Nhưng Thiên Chúa đã không để cha phải “chết lần thứ hai”: một số anh em trong Dòng đã bỏ trọn gần hai năm trời để làm nốt những gì cha còn để lại: tiến hành việc xin phép xuất bản Thánh Kinh trọn bộ Cựu và Tân Ước, chuyển bản thảo từ Đà Lạt về thành phố Hồ Chí Minh, dịch các cuốn cha chưa kịp dịch (sách Gióp, Châm ngôn, tiên tri Baruc), soạn các tiểu dẫn từ các tư liệu cha đã chuẩn bị để phục vụ cho việc giảng dạy Kinh Thánh, thêm một số ghi chú, đánh máy bản thảo để nộp Cục xuất bản, và in, với số lượng 10.000 bản.

Và thế là mùa Giáng sinh năm 1976, người công giáo Việt Nam đã có thể có thêm một bản dịch Thánh Kinh trọn bộ mới, dày khoảng 3.000 trang (hai phần dẫn nhập Cựu Ước và Tân Ước 88 trang, phần Cựu Ước: 2318 trang,  phần Tân Ước 616 trang) khổ 20 x 14cm, được in trên giấy bible, tức loại giấy vàng, mỏng và dai, thường được dùng để in sách Thánh Kinh. Đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình chuẩn ấn ngày 12.11.1975, giấy phép của Bộ Thông Tin Văn Hóa – Cục Báo Chí Xuất Bản số 92/GPNT/XB – ngày 13/11/1975, nộp lưu chiểu tháng 12.1976.

Cũng xin giới thiệu một đôi hàng về bản thảo bản dịch trọn bộ Thánh Kinh cha Nguyễn Thế Thuấn đã để lại. Bước vào phòng ở và làm việc của cha để thu dọn bản thảo, người học trò của cha có cảm giác như được bước vào nơi thân quen nhất của cha giáo Thánh Kinh. Bầu khí làm việc trong âm thầm, lặng lẽ, kiên trì như vẫn còn bao trùm cả căn phòng giản dị nhưng chứa đầy vết tích của suy tư, tìm kiếm khoa học. Các bản thảo được xếp ngay ngắn, thứ tự trong một cái bàn rộng, có nhiều ngăn. Bản thảo của từng cuốn sách thuộc Cựu Ước được đóng riêng, theo cùng khổ giấy, 20x40cm. Mỗi trang giấy, được viết một mặt, đều được chia thành ba cột. Cột giữa dành cho từng câu của bản dịch đã hoàn chỉnh. Cột bên trái ghi các từ quan trọng trong câu và các nghĩa của các từ này. Cột bên phải ghi các chú thích về từ ngữ. Cha dùng giấy bao xi măng để làm bìa cho các bản thảo. Tất cả đều được viết bằng tay. Bên cạnh đó là một tủ đựng các phiếu được xếp trong những ngăn nhỏ. Mỗi phiếu là một câu, một cụm từ, một từ với những giải thích hay chú giải của nhiều tác giả khác nhau…  

Mối thiện cảm và lòng tin tưởng mà quý độc giả dành cho bản dịch Thánh Kinh của cha Nguyễn Thế Thuấn trong thời gian qua hẳn là phần thưởng quý báu của nỗ lực cần cù, kiên nhẫn, kính cẩn đối với Lời Chúa và của lòng yêu kính đối với Giáo hội Việt Nam của cha.

 

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2022

TÔI CÓ MỘT GIẤC MƠ

 



 

Sưu tầm

Ngày 28/8/1963, mục sư Martin Luther King, một nhà hoạt động vì dân quyền, chống phân biệt chủng tộc, đã đọc bài diễn văn "Tôi có một giấc mơ" tại Đài tưởng niệm Lincoln (Washington D.C, Mỹ) trước hàng nghìn người tham gia cuộc tuần hành đến Washington vì việc làm và tự do.

 

Trong bài diễn văn, Luther King đã nói lên ước mơ cháy bỏng của mình cho một tương lai của nước Mỹ, tương lai mà ở đó, người da đen và người da trắng được đối xử bình đẳng, chung sống hoà thuận.  Cuộc tuần hành, cùng với bài diễn văn lay động này đã gây áp lực lên chính quyền Tổng thống Kennedy, thúc đẩy việc thông qua đạo luật dân quyền tại Quốc hội Mỹ.

 

Vài ngày sau khi bài diễn văn được đọc, tờ Los Angeles Times đã ca ngợi rằng "tài hùng biện vô song" được thể hiện bởi King, "nhà hùng biện siêu đẳng" với phong cách quá hiếm hoi đến nỗi hầu như bị lãng quên trong thời đại chúng ta, "đã khiến những kẻ chủ trương phân biệt phải hổ thẹn" bằng cách soi sáng "lương tâm của nước Mỹ" với công lý của chính nghĩa quyền công dân.

 

"Tôi có một giấc mơ" đứng đầu trong danh sách 100 bài diễn văn chính trị xuất sắc nhất nước Mỹ trong thế kỷ 20, theo bình chọn năm 1999 của giới học giả về diễn thuyết.

 

Xin giới thiệu toàn văn bài diễn văn "Tôi có một giấc mơ" của mục sư Martin Luther King:

 

Một trăm năm trước đây, một người Mỹ vĩ đại mà chúng ta giờ đây đứng dưới bóng của ông, đã ký một bản Tuyên ngôn giải phóng.  Tuyên ngôn lịch sử này đã trở thành ngọn đuốc hy vọng cho hàng triệu nô lệ da đen, những người bị thiêu đốt trong ngọn lửa của sự bất công.  Nó đến như vầng dương chấm dứt đêm dài tăm tối.  Nhưng một trăm năm sau, chúng ta lại đang phải đối mặt với một sự thật bi kịch khác, người da đen vẫn chưa được tự do.

 

Một trăm năm sau, cuộc sống của người da đen vẫn bị kéo lê bởi xiềng xích của sự cách ngăn và cùm gông của nạn kỳ thị.  Một trăm năm sau, người da đen vẫn đang phải sống trên hoang đảo nghèo đói giữa biển cả phồn vinh.  Một trăm năm sau, người da đen vẫn tiều tụy lang thang nơi góc phố tối tăm trên đất Mỹ, chỉ thấy chính họ là kẻ lưu vong trên ngay mảnh đất quê hương mình.

 

Bởi vậy, chúng ta cùng nhau có mặt tại đây hôm nay, cất chung tiếng nói về điều kiện thương tâm của chúng ta.  Theo một nghĩa nào đó, chúng ta đã tới thủ đô để đòi một khoản nợ.  Khi các kiến trúc sư của nền dân chủ Mỹ viết những lời tuyệt đẹp cho bản Hiến pháp và Tuyên bố Độc lập, họ đã ký nhận vào một tờ tín phiếu, theo đó mọi công dân Mỹ đều có quyền thừa kế.

 

Tờ tín phiếu này mang theo một lời hứa hẹn rằng mọi người dân đều được đảm bảo quyền không thể tách rời là quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.  Nhưng hôm nay, thực tế hiển nhiên cho thấy nước Mỹ đã thất hứa vì rằng màu da của người dân Mỹ lại bị xem là rào cản trong việc sử dụng tờ tín phiếu này.  Thay vì trân trọng trách nhiệm thiêng liêng ấy, nước Mỹ đã trao cho người dân da đen một tờ séc trống không có giá trị thanh toán.  Nhưng chúng ta không tin rằng ngân hàng công lý đã bị phá sản.  Chúng ta không tin rằng quốc gia không có đủ ngân quỹ trong hầm dự trữ chứa đầy những cơ hội của đất nước này.

 

Bởi vậy, chúng ta đến đây để đòi nợ, một khoản nợ về quyền tự do và sự đảm bảo về công lý.  Chúng ta có mặt tại nơi linh thiêng này để nhắc nhở nước Mỹ về sự cấp thiết trong thời điểm hiện nay.  Lúc này không phải là thời điểm của sự nhượng bộ thỏa hiệp hay xoa dịu bằng những viên thuốc an thần.  Giờ là thời điểm mở tung cánh cửa cơ hội cho tất cả những người con của Chúa.  Giờ là thời khắc đưa dân tộc ta từ vũng lầy của bất công kỳ thị tới một nền tảng vững chắc của tình đoàn kết anh em.

 

Sẽ là tai họa cho cả dân tộc nếu lờ đi tính cấp bách của thời cuộc hiện nay và đánh giá thấp lòng quyết tâm của người dân da đen.  Không khí ngột ngạt oi bức chứa đầy sự bất bình trong mùa hè này chưa thể qua đi tới khi có được làn gió thu của tự do và công bằng tiếp sinh lực.  Những ai có hy vọng rằng người da đen cần phải xả bớt sự căng thẳng và hài lòng với những gì đã có sẽ bị vỡ mộng nếu như đất nước này trở lại với công việc như thường ngày.  Nước Mỹ sẽ chưa thể bình yên, chừng nào người da đen chưa giành được quyền công dân của mình.

 

Cơn lốc của cuộc nổi dậy sẽ tiếp tục làm lung lay nền móng của quốc gia này cho tới ngày thấy được ánh sáng của công lý.  Trong quá trình đấu tranh giành lại vị trí xứng đáng cho mình, chúng ta không cho phép mình mắc phải những hành động sai lầm.  Hãy đừng thỏa mãn cơn khát bằng chén hận thù và đắng cay.

 

Chúng ta phải xây dựng các cuộc tranh đấu của mình trên nền tảng của các giá trị và nguyên tắc.  Chúng ta không cho phép những chống đối biến thái thành các cuộc xung đột bạo lực.  Chúng ta phải đứng trên tầm cao của sự hòa trộn tâm lực và trí lực.

 

Tính chiến đấu thấm nhuần trong đông đảo người dân da đen không được làm cho chúng ta mất lòng tin vào những người da trắng.  Rất nhiều những người anh em da trắng, như bằng chứng sự có mặt của các bạn ở đây hôm nay, đã cho thấy vận mệnh của các bạn cũng là vận mệnh của chúng ta và tự do của các bạn cũng gắn liền với tự do của chúng ta.

 

Chúng ta không thể bước những bước đơn độc.

Mỗi bước đi, chúng ta phải nối vòng tay bè bạn cùng đồng hành.

Chúng ta không thể quay trở lại.

 

Có những người đang hỏi bạn, “Rồi chừng nào bạn mới yên lòng?”  Chúng ta sẽ không bao giờ thấy yên lòng khi mà ta không thể tìm được một nơi trú ngụ trong một nhà nghỉ bên đường hay tại một khách sạn trong thành phố sau chuyến đi mỏi mệt.  Chúng ta chưa thể yên lòng chừng nào sự di chuyển của một người da đen vẫn đơn giản chỉ là từ một khu ghetto nhỏ sang một khu ghetto lớn hơn.  Chúng ta chưa thể yên lòng chừng nào một người da đen ở Mississipi còn chưa được quyền đi bầu cử, khi một người da đen ở New York còn tin rằng anh ta chẳng có gì để đi bầu.  Không, không, chúng ta không yên lòng, và chúng ta sẽ chưa thể yên lòng cho tới ngày công lý được tuôn tràn như dòng thác, và công bằng sẽ như một dòng sông cuộn chảy.

 

Tôi biết có những bạn tới đây vượt qua những nỗi khổ đau, gian nan thử thách.  Có những bạn mới vừa ra khỏi xà lim.  Có những bạn đến từ những nơi mà cuộc tìm kiếm tự do của bạn bị chà đạp bởi sự ngược đãi cuồng bạo và bị cản trở bởi sự tàn bạo của cảnh sát.  Các bạn đã trở thành những người kỳ cựu về chịu đựng khổ đau.  Tiếp tục tiến lên với niềm tin rằng sự thống khổ oan ức là cứu thế.

 

Trở về Mississippi, trở về Alabama, trở về Georgia, trở về Louisiana, trở về với những khu nhà ổ chuột ở các thành phố phía bắc của chúng ta, chúng ta tin rằng bằng cách nào đó tình trạng này có thể và sẽ đươc thay đổi.

 

Hãy đừng đắm mình trong nỗi tuyệt vọng.

 


Hôm nay, tôi muốn nói với các bạn rằng, dù hiện tại có muôn vàn khó khăn và nỗi bức xúc, tôi vẫn luôn mang trong mình một giấc mơ.  Đó là một giấc mơ bắt nguồn từ giấc mơ nước Mỹ.

 

Trong giấc mơ của tôi, tới một ngày đất nước này sẽ cùng đứng lên và sống một cuộc sống với niềm tin “Chúng ta coi sự thực này là điều hiển nhiên: con người sinh ra là bình đẳng.”

 

Giấc mơ của tôi là một ngày kia, trên những ngọn đồi ở Georgia, những đứa con của những người nô lệ và những đứa con của những người chủ nô trước đây sẽ cùng ngồi bên chiếc bàn thân thiện của tình anh em.

 

Trong giấc mơ của tôi, thậm chí một ngày kia, bang Mississippi, một hoang mạc ngột ngạt trong bầu không khí của bất công và kỳ thị, sẽ biến thành một ốc đảo của tự do và công bằng.

 

Trong giấc mơ của tôi, 4 đứa con tôi tới một ngày sẽ được sống trong một đất nước mà ở đó giá trị của chúng được đánh giá bởi chính ý chí, nghị lực cá nhân, chứ không phải bằng màu da.

 

Ngày hôm nay, tôi có một giấc mơ!

Tôi mơ một ngày kia bang Alabama, nơi vị thống đốc hiện thời đang luôn mồm nói về quyền can thiệp và vô hiệu hóa sẽ trở thành nơi các trẻ trai và trẻ gái da đen cùng nắm tay các bạn da trắng như anh em một nhà.

 

Hôm nay, tôi có một giấc mơ!

Tôi mơ một ngày kia các thung lũng rồi sẽ được lấp đầy, những quả đồi, ngọn núi sẽ được san bằng, mặt đất gồ ghề sẽ trở nên phẳng phiu, những góc quanh co sẽ được uốn thẳng tắp, và sự huy hoàng của Thiên Chúa sẽ được bộc lộ và mọi người cùng thấy.

 

Đó là hy vọng của chúng ta.  Đó là niềm tin tôi sẽ mang theo về miền Nam.

Với niềm tin ấy, chúng ta sẽ có thể đập nát núi tuyệt vọng thành những viên đá hy vọng.  Với niềm tin ấy, chúng ta sẽ biến những tiếng kêu bất hòa trong lòng dân tộc thành bản giao hưởng êm ái của tình đoàn kết anh em.  Với niềm tin ấy, chúng ta sẽ cùng sát cánh bên nhau, cùng nguyện cầu, cùng chiến đấu, cùng vào nhà lao, cùng đứng lên vì tự do, vì chúng ta biết rõ một ngày kia chúng ta sẽ tự do.

 

Đó sẽ là ngày tất cả những người con của Chúa cùng hòa chung một bài ca: “Quê hương tôi, miền đất thân yêu của sự tự do, của người tôi hát.  Miền đất nơi cha tôi đã nằm xuống, miền đất niềm tự hào của những người hành hương, từ mọi triền núi, hãy ngân vang tiếng hát tự do”.

 

Và nếu nước Mỹ là một đất nước vĩ đại, điều đó nhất định phải trở thành sự thực.

Hãy để tự do ngân lên từ những ngọn núi khổng lồ ở New Hampshire.

Hãy để tự do ngân lên trên những đỉnh núi hùng vĩ vùng New York.

Hãy để tự do ngân lên trên những vùng cao Alleghenies miền Pennsylvania!

Hãy để tự do ngân lên trên những đỉnh núi Rockies tuyết phủ của Colorado!

Hãy để tự do ngân lên trên những núi đồi tròn trịa của California!

Không chỉ thế,

Hãy để tự do ngân lên từ những đỉnh núi Stone Mountain của Georgia!

Hãy để tự do ngân lên trên ngọn Lookout Mountain của Tennessee!

Hãy để tự do ngân lên từ mọi triền đồi và vùng đất cao ở Mississippi.

Từ mọi triền núi, hãy ngân vang tiếng hát tự do.

 

Khi chúng ta để tự do ngân lên, khi tự do ngân lên từ mọi làng quê, mọi thôn xóm, mọi thành phố và tiểu bang, chúng ta sẽ có thể làm cho ngày ấy đến thật nhanh, ngày mà mọi đứa con của Thiên Chúa, dù da trắng hay da đen, Do Thái hay không phải Do Thái, người theo đạo Tin Lành hay công giáo La Mã, tất cả sẽ cùng nối vòng tay hát vang lời ca linh thiêng của người da đen:

 

“Tự do đã đến, tự do đã đến, xin cảm ơn Đức Chúa toàn năng, cuối cùng chúng ta đã tự do!”

 

Mục sư Martin Luther King