Danh sách Blog của Tôi

Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

NHỮNG CHUYỆN ĐAU LÒNG





Môi trường sống của chúng ta đang bị ô nhiễm trầm trọng. Xin đan cử một số chuyện thực sự đang diễn ra hằng ngày, rất đau lòng và đáng xấu hổ: không biết nghĩ đến người khác, sống vô ý thức và vô trách nhiệm.

Những chiếc xe khách chạy vun vút trên những con đường quốc lộ vừa nhỏ vừa nhiều ổ gà… tài xế đã coi thường mạng sống của hành khách và người  đi đường, đa số họ lại còn sử dụng ít nhiều bia rượu, thường bóp còi inh ỏi và pha đèn vào mặt người đi ngược chiều. Nhiều thanh niên lạng lách xe máy trên những quãng đường đông đúc mà không ý thức rằng mình có thể gây tai nạn cho ai đó, người kia cũng có những người con thơ dại phải nuôi nấng. Những bao rác được vứt xuống những đoạn đường vắng vẻ và chúng sẽ nằm ở đó rất lâu dài, những chiếc áo mưa được vứt xuống đất khi trời đã tạnh mưa, nằm bừa bãi khắp nơi... mới thấy được sự vô tâm trâng tráo của một kiếp người. Những thông tin về nạn phá thai bừa bãi, chẳng còn tình mẫu tử - mà cũng chẳng còn chi tình người. Nhiều thanh thiếu niên thường dùng đến bạo lực gây nên nhiều cái chết thương tâm và  trở thành tội phạm; một số em bỏ học và sống bám vào gia đình, bê tha và lười biếng. Có những em nhỏ phá phách và phóng uế các lớp học của nhà trường, nơi mà đa số thầy cô  là những người ngoại… một hành động vô giáo dục và ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc làm chứng cho Tin Mừng. Muốn thức tỉnh lòng người, con cái Chúa phải sống khác với lương dân: sống yêu thương, gia đình hòa thuận, con cái ngoan hiền. Thật đáng tiếc là hình ảnh tốt đẹp về đạo Chúa nhiều lúc bị hoen ố bởi một số con cái mình.


Ta phải sống là người trước khi là người con Chúa. Sống là người có nghĩa là sống có ý thức và có trách nhiệm về hành vi của mình, biết nghĩ đến người khác, sống không dối trá, và sống theo tiếng lương tâm ngay thẳng. Giáo dục học đường chỉ có thể đầu tư cho các con em chúng ta về kiến thức, về khoa học, nhưng lại rất khiếm khuyết về khía cạnh nhân bản: nhân, lễ, nghĩa và tín. Mỗi gia đình và mỗi giáo xứ đừng quá đề cao việc xây dựng cơ sở vật chất mà quên mất việc giáo dục tâm hồn các thành viên. Có lẽ môi trường gia đình là nơi thuận tiện nhất để cha mẹ dạy cho con cái đức tính vị tha, biết quan tâm đến người khác. Này nhé, tập cho con cái đừng nghe nhạc và tivi quá lớn, nói vừa đủ nghe, đi lại nhấc cao chân để đừng nghe tiếng lê dép, đóng cửa nhẹ nhàng, sống trật tự ngăn nắp, lễ phép lịch sự với người lớn hơn mình, bỏ rác vào giỏ…  ‘Biết quan tâm đến người khác’ được ví như gói hành trang cần thiết để tạo lập một gia đình hạnh phúc và một tâm hồn bình an.


Có thể thấy được rằng nền đạo đức của người Việt chúng ta đã xuống rất thấp: tinh thần vị kỷ đang dần thống trị, con người không còn biết nghĩ đến người khác. Hãy tìm lại chính mình trước khi quá muộn. Hãy góp tay tạo nên một môi trường luân lý lành mạnh quanh mình càng rộng càng tốt, bắt đầu từ nơi tâm hồn mình và gia đình mình. Hãy dùng hành động, lời nói, các phương tiện truyền thông và những lời cầu nguyện để xây dựng nền văn minh tình thương trên quả địa cầu nầy.


Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013

TÌNH GIA ĐÌNH.





Khi bước vào đại học, nhiều sinh viên đã chọn những thành phố lớn như Hà Nội hay TP. Hồ Chí Minh để tiếp tục việc học hành, và ở đó hình thành những ‘cụm gia đình nội trú’. Có những cụm nhà do tư nhân tổ chức, nhưng đa số là do các dòng tu đứng ra điều hành sinh hoạt. Khi có nhiều nhà trong một khu vực thì họ lập thành một cụm, có một cụm trưởng và vị nầy cắt cử một số trưởng nhà lo điều tiết sinh hoạt cho 20-30 đàn em dưới quyền. Và những người chung sống cùng một mái nhà được mời gọi sống tình gia đình với nhau.

Có vị tổng thống Mỹ đã từng nói: “Bạn đừng đòi hỏi tổ quốc đã làm gì cho tôi, nhưng hãy tự hỏi tôi đã làm gì cho tổ quốc”. Khi sống chung với nhau hình thức một nhà trọ: góp gạo nấu cơm chung và cùng đọc kinh xem lễ, còn cả ngày mỗi người mỗi ngả đi học… ta dễ ỉ lại, chỉ biết hưởng dùng mà ít nghĩ tới đóng góp. Thực ra, khi ta chỉ biết đòi hỏi và mong chờ, thì cuộc sống dễ phơi ra những cái không hay và trở nên nặng nề. Nhưng nếu mỗi người ý thức đóng góp phần ít ỏi của mình thì bầu khí chung trong ‘gia đình góp’ nầy chắc chắn sẽ tươi vui hơn nhiều, vì sẽ lộ ra phần tinh túy của tình người, tình huynh đệ và tình con cái Chúa. Những hành vi bác ái yêu thương rất có khả năng truyền cảm và hay lây; nhưng những biểu hiện vô tâm ích kỷ cũng là những virut rất nhạy cảm.

Khi thay thế một trưởng nhà, và nếu người mới nầy không đắc nhân tâm, thì tình hình trong gia đình sẽ rất khác. Các thành viên nghiệm ra được rằng: trước đây, vì nể phục đàn anh mà mình nỗ lực và tích cực trong mọi sinh hoạt. Giữa cha mẹ và con cái trong gia đình ruột thịt cũng cần phải có sự nể phục nầy, cha mẹ phải có uy tín và là người cầm cân nảy mực trong giáo dục và sinh hoạt gia đình, và con cái cần có sự vâng phục như vâng lời Chúa. Trong một giáo xứ cũng vậy, cha xứ và những vị lãnh đạo hội đoàn phải giữ uy tín với các thành viên, và các thành viên nên vâng phục các vị ấy như vâng lời Chúa. Như vậy mới có trật tự, an bình và công đức.

Đã là người, ai cũng có lầm lỗi; và đã là người, ai cũng bị con quỷ kiêu ngạo rình mò xúi giục bất tuân. Điều đáng thương cho nhân loại sống trong thời đại bùng nổ thông tin là họ muốn giải quyết mọi chuyện nhanh gọn và bằng bạo lực. Ngay một đứa trẻ bậc tiểu học, một hôm đi dọc hành lang đụng nhẹ vào cô giáo, cô nghiêm giọng bảo: “lần sau còn đụng vào cô nữa thì cô đánh cho mà chừa”. Bạn đứa trẻ bảo nó: “Nếu cô giáo mà dám đánh tao thì tao sẽ gọi cha mẹ lên đánh lại cô giáo cho mà biết”. Thế đó, cô giáo thì quá dữ dằn và các em cũng chỉ biết một phương án giải quyết là dùng bạo lực.


Sống trong cuộc đời, con người cũng cần phải học chữ nhẫn: nhẫn nại và nhẫn nhịn. Nóng nảy và háo thắng là khuynh hướng sơ đẳng của loài vật và chẳng có gì đáng tự hào. Sự nhẫn nhịn bỏ qua những điều vặt vãnh vì một mục tiêu cao hơn là phẩm chất của người biết sử dụng lý trí để minh xét sự việc dưới nhiều góc cạnh và họ thường đưa ra nhiều phương án giải quyết vấn đề. Khi biết nhẫn nhịn, nhiều lúc ta nhận ra rằng thời cơ sẽ khác, lòng người cũng thay đổi và lòng mình cũng can trường hơn…đến nỗi khó khăn lúc trước không còn là ‘vấn đề’ nữa.

Cuộc đời giống như dòng nước chảy, nó không bao giờ êm đềm như ta định trước, sẽ có những bất trắc và sẽ gặp người ‘trái khuấy’… nếu không học được chữ nhẫn thì nguy cơ thất bại sẽ là rất lớn và tâm hồn luôn bất an. Có những danh từ tối kỵ trong những mối giao tiếp, vì nó gây nên những tình cảm tiêu cực cho người nghe và người nói. Trong tình yêu, đó là chia tay; trong hôn nhân đó là ly dị; trong hợp đồng kinh tế, đó là hủy hợp đồng; trong việc phục vụ Giáo hội, đó là từ chức và bỏ việc.

Để cuộc sống luôn hạnh phúc, xin gửi tặng quý vị câu danh ngôn: “Tất cả kho tàng trên trái đất này không thể nào sánh bằng hạnh phúc gia đình”. (Calderon). Để xây dựng một gia đình hạnh phúc, cần nhất là vợ chồng biết khiêm tốn và tha thứ (cho mình và cho nhau). Hãy học chữ nhẫn nơi Thiên Chúa là Đấng dự liệu cho cỏ lùng và lúa cùng mọc chung cho tới mùa gặt.

Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2013

PHỤC HỒI NIỀM TIN





Trong đoạn Tin Mừng Luca 17,5-10 nói đến 2 vấn đề có liên quan chặt chẽ với nhau: niềm tin và sự phục vụ, các môn đệ xin Thầy thêm lòng tin và liền đó là giáo huấn của Chúa về việc phục vụ vô vị lợi.. Hoặc như cách diễn tả của Thánh Giacôbê: Đức tin không việc làm là đức tin chết.

“Lạy Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con” cũng là lời cầu xin của mọi tín hữu, kể cả linh mục và tu sĩ. Các môn đệ đã nhiều lần nghiệm ra mình thiếu lòng tin qua những lần thấy Chúa đi trên biển mà tưởng là ma; có lần các ông trừ quỷ mà không được, các ông hỏi lý do tai sao, và Chúa đã trả lời là vì các ông thiếu lòng tin. Nhất là trong những hoàn cảnh đau thương, khi gặp thất bại và thử thách, lòng tin của ta vào Chúa rất dễ lung lay. Có lời một bài hát: “Con tưởng rằng con vững tin, khi đời sống đầy những hoa hồng, khi cuộc sống nhẹ trôi êm đềm, khi đất trời ngập nắng bình yên. Nhưng khi đời gặp bao giông tố, khi trời vừa lập đông băng giá, con lo âu lạc bến xa bờ, con mới biết rằng con chưa vững tin”

Trong trại tập trung Austruitch, là nơi khoảng 4 triệu người Do Thái đã bị giết, trong đó có cha Maximilien Kolbê, là nơi niềm tin vào Thiên Chúa Giavê bị thử thách ghê gớm. Khi lực lượng đồng minh đến, các hồ sơ đang bị tiêu hủy, người ta giành lại được một số hồ sơ đã cháy dở, và có một bức thư ghi lại thử thách niềm tin của một tử tội: “Lạy Chúa, con tin là có Ngài, nhưng con không thể hôn cái gậy của Ngài; con tin là Ngài hiện hữu, nhưng con không thể tin được là Ngài yêu thương con người, nhất là những người thuộc dân tộc Do Thái…”. Người ta cũng ghi nhận rằng trong số 6 triệu nạn nhân Do Thái, có những thầy dòng đã treo cổ tự tử trong nhà giam.  Dù họ là người được huấn luyện Thần học rất kỹ càng, nhưng khi chứng kiến cảnh hành hạ con người dành cho nhau, niềm tin họ đã trải qua cơn thử thách nặng nề…

Không ai trong chúng ta có thể nói rằng niềm tin của mình là kiên vững cả. Ngay các cha ông chúng ta, trong suốt 300 năm bắt đạo của Giáo hội Việt Nam, đã có nhiều người quá khiếp sợ cực hình mà chối đạo, có vị sau đó ăn năn hối cải và xin nộp mình cho quan để chịu tử vì đạo. Chính Chúa Giêsu cũng dạy ta phải kiên trì cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ, vì tinh thần thì lanh lợi nhưng xác thịt lại yếu đuối. ..

Tuy vậy, cũng có cách để hồi phục niềm tin! Đó là bằng việc làm. Thánh Giacôbê nói: Đức tin không việc làm là đức tin chết. Anh hãy cho tôi thấy niềm tin không việc làm của anh, còn tôi –tôi sẽ dùng hành động mà chỉ cho anh biết niềm tin của tôi. Chuyện kể rằng có một người phụ nữ đang trong tình trạng thất vọng vì cuộc sống, không tin vào cuộc đời và chính mình nữa. Bà đến văn phòng tư vấn tâm lý và gặp vị giám đốc điều hành của công ty. Sau khi nghe chuyện đời bà, ông giám đốc đề nghị bà gặp cô thư ký trẻ của mình đang ngồi ở bàn làm việc. Cô này lễ phép thưa chuyện: “Thưa bà, con cũng đã trải qua những giây phút nặng nề của cuộc đời giống như bà bây giờ, lúc đó chồng con vừa mới mất vì bệnh và đứa con duy nhất của con lại bị tai nạn chết tại chỗ chỉ mấy ngày sau, con chán nản cực độ và muốn quyên sinh cho rảnh nợ đời. Thế nhưng, vào một đêm mưa gió, con đang ở nhà – tâm trạng buông xuôi, thì nghe tiếng cào nhẹ ở cửa – con nhìn ra và thấy một con mèo, nó bị ướt và cào cửa để xin vào nhà tránh mưa gió lạnh. Con mở cửa đưa nó lại gần lò sưởi và lau khô cho nó, con cho nó ăn chút ít vì thấy nó có vẻ đói, và chỉ một lúc sau nó cuộn tròn ngủ ngon lành trong vòng tay con. Con nghiệm ra rằng kể từ ngày tai ương xảy đến, đây là những giây phút con cảm nếm được niềm an bình hạnh phúc, con nghĩ chỉ một việc chăm sóc một sinh vật nhỏ bé đáng thương đã làm cho lòng mình ấm lên, thì tại sao ta không chăm sóc những người bất hạnh ngay trong xóm của mình xem sao. Và thật lạ lùng, khi con dấn thân giúp đỡ những người đáng thương đang sống quanh con thì con tìm lại được ý nghĩa cho đời mình, con được an bình – vui sống và hạnh phúc. Con trao cho họ thời giờ và sức lực của mình, nhưng con lại nhận được nhiều hơn về hạnh phúc và bình an tâm hồn".

Vây đó, khi ta dấn thân cho những công việc phục vụ cộng đoàn, giúp cho người khác thăng tiến tinh thần, chia vui sẻ buồn, quan tâm đến những người bất hạnh hơn mình…một cách vô vị lợi, thì bình an của Chúa sẽ xuống trên ta, và đó là cách phục hồi niềm tin yếu kém của ta.

XIN CHÚA Ở LẠI VỚI CON






“Xin mời Ngài ở lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều và ngày sắp tàn”. Đây là một lời mời tha thiết của hai môn đệ trên đường Emaus và cũng rất thích hợp cho chúng ta luôn lặp lại trong từng ngày sống. Nhưng trong thực tế, nhiều khi chúng ta không được nhiệt tình và đon đả như hai môn đệ Emaus, vì ngại cuộc sống bị xáo trộn và không được nghỉ ngơi.

Cuộc sống vốn phức tạp với nhiều mối quan hệ, đòi chúng ta phải ra khỏi nhà để chia sẻ tình cảm, tiền bạc và thời giờ cho những cuộc hẹn – và cả những người bị bỏ rơi. Mỗi lần ra đi như thế, đòi ta phải xáo trộn giờ giấc, từ bỏ ý riêng và bớt đi một chút của cải. Nhưng nếu ta từ bỏ hết những quan hệ xa gần, nếu ta không có một chút hăng say để đón nhận những dòng đời khác vào với đời mình, thì có lẽ tâm hồn ta không được tận hưởng những niềm vui huynh đệ. Biết bao gia đình các thành viên tẩy chay nhau vì những lý do thật nhỏ nhen và ích kỷ; nhưng nhiều khi chúng ta làm khổ nhau khi tổ chức ‘ma chay cưới hỏi’ quá rình rang.

Các bậc cha mẹ luôn lo lắng cho con cái: con trai cũng lo mà con gái cũng lo, nhỏ cũng lo mà lớn càng lo hơn, hiền quá cũng lo mà nghịch ngợm cũng lo, con ra cửa nhà rồi cũng chỉ mới giảm nỗi lo.  Ai cũng nghiệm ra rằng: “cha mẹ sinh con, trời sinh tính”; và dù mình có tài giỏi đến đâu cũng không thể quản và yên tâm về con cái… chỉ biết chạy đến với Chúa để Chúa lo liệu cho chúng thôi. Trong tác phẩm Đường hy vọng có kể câu chuyện một bà mẹ với một đàn con đông đến 10 đứa phải nuôi, vậy mà bà vẫn đến cầu nguyện một giờ vào mỗi buổi trưa và gia đình bà có đến 4 linh mục và 3 nữ tu. Chân phước GioanPhaolô II luôn chìm sâu trong cầu nguyện: Ngài cầu nguyện cho những người Ngài vừa tiếp xúc và cầu nguyện theo những ý chỉ được vị thư ký ghi sẵn trên bàn… Để Chúa ở lại trong lòng mình và trong đời con cái mình, để Chúa thực hiện những kỳ công trên vũ trụ nầy, chúng ta phải luôn cầu nguyện: “Xin cho ý Chúa được thể hiện dưới đất cũng như trên trời” và phải dành thời giờ cho công việc quan trọng nầy.


Khi đến với bàn tiệc Thánh Thể, không phải chỉ là Chúa vào nhà sống bên cạnh ta, mà là Chúa sống trong ta và trở nên một với ta. Ấy vậy mà nhiều khi ta vẫn ngại đến với Thánh Thể, vì ta chưa nhận ra đó là chính Chúa. Ta vẫn sợ được Chúa yêu, vì sợ Chúa ban đau khổ - như là quà tặng của tình yêu để ta nên giống Ngài. Xin trích một đoạn suy niệm ngắn của Chân phước Gioan Phaolô II: “Khi những môn đệ trên đường đi Emaus mời Chúa Giêsu ở lại với họ, Ngài đáp lại bằng cách trao ban cho họ một món quà còn lớn lao hơn nhiều: qua bí tích Thánh Thể, Ngài hiện diện trong họ. Khi đón nhận Thánh Thể, ta đi vào mối kết hiệp sâu xa với Chúa Giêsu. “Hãy ở lại trong Thầy và Thầy ở trong anh em” (Jn 15:4). Mối tương quan sâu xa và ở lại trong nhau nầy cho phép ta nếm cảm trước một chút về Thiên đàng, ngay lúc còn ở nơi dương thế. Đó không phải là ao ước lớn lao nhất của con người hay sao? Đó không phải là điều Thiên Chúa đã dự liệu cho lịch sử cứu độ hay sao? Thiên Chúa đã để lại trong quả tim con người một cơn đói khát Lời Chúa (Am 8:11), và nó chỉ được thỏa mãn bởi sự kết hợp với Ngài. Sự kết hợp trong bí tích Thánh Thể cho ta được no thỏa Thiên Chúa ngay trên quả đất nầy, trong khi mong chờ sự kết hợp trọn vẹn trên nước Trời”.

Các môn đệ Emaus đã bừng cháy cõi lòng và đã nhận ra Chúa, vì họ đã lắng nghe một cách khiêm tốn và để cho lòng mình lắng đọng. Chúa vẫn đến thăm ta trong cuộc sống sôi động và tất bật nầy, Ngài luôn muốn ta mời vào nhà cho được giãn cơn khát tình yêu; thế nhưng ta có biết hồi tâm trong giây lát, suy niệm một vài câu Kinh Thánh và giục lòng yêu mến Ngài hay không – đó mới là những điều kiện cần thiết để tiếng Chúa vang vọng trong lòng ta.

Hai môn đệ làng Emaus đã tha thiết mời Chúa vào nhà mình và lòng họ đã cháy bừng lửa mến. Còn chúng ta, khi vẫn còn ngại đến với bí tích hòa giải và Thánh Thể, khi vẫn ngại hòa đồng với anh em, khi vẫn dành ít giờ cầu nguyện và hồi tâm… ấy là chúng ta đã bỏ qua những cơ hội để nhận ra Chúa nơi anh em, trong lòng mình và trong cuộc đời nầy.

Thứ Ba, 9 tháng 4, 2013

LỜI CHỨNG




Maria Macđala được gọi là người chứng thứ nhất, vì theo Tin Mừng Thánh Gioan, bà đã đi ra mồ từ sáng sớm tinh mơ để thăm mộ và xức dầu thơm cho Chúa. Chúa đã hiện ra, đã gọi tên bà và sai bà đi báo tin cho các môn đệ. Liền sau đó, bà đã vội vã trở về nói với các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa”. Lời chứng của bà Maria có một tác động rõ rệt là cả hai môn đệ Phêrô và Gioan cùng vội vàng chạy đến mồ để xem thực hư thế nào (Ga 20,11-18).
Thật khó cho chúng ta phải làm chứng cho Chúa một cách rõ ràng như lời chứng của bà Maria, vì chúng ta chỉ thấy Chúa bằng đức tin và nhiều khi chúng ta khó mà nhận ra sự hiện diện của Chúa ngay trong cuộc sống. Chúng ta thường oằn lưng vì gánh nặng nuôi dưỡng và giáo dục con cái, vì những luật lệ và những bất toàn của xã hội, vì bệnh tật và những đau khổ. Ngay những xã hội rất tiến bộ như Hàn Quốc và Thụy Điển, tỷ lệ người trẻ tự tử rất cao – cao hơn cả những nước kém phát triển, vì người trẻ không thấy ý nghĩa cuộc đời và chỉ thấy đời là một bể khổ triền miên.
Nhiều người Kitô hữu cũng mất đức tin, không còn tin vào Chúa nữa, nhất là khi đối mặt với thử thách gian truân. Có một hối nhân đến tòa giải tội và thú nhận rằng mình đã mất đức tin. Cha giải tội có lời khuyên: “Muốn phục hồi niềm tin, mỗi tối con hãy cầu nguyện một cách đơn giản: tạ ơn Chúa vì một ngày đã qua, đọc một kinh lạy Cha, kính mừng và sáng danh, dâng giấc ngủ cho Chúa… và rồi con sẽ tìm lại được đức tin”.

Chúa luôn hiện diện trong Lời và trong Thánh Thể. Muốn phục hồi niềm tin thì hãy tìm gặp Chúa ở đó. Dù không có cơ hội nói về Chúa, cha mẹ có bổn phận gặp gỡ và truyền lại cho con cái kinh nghiệm gặp gỡ của chính mình với Đấng Phục Sinh.
Đọc những trình thuật Phục Sinh, ta luôn thấy có một lộ trình giống nhau: con người không nhận ra Chúa, họ biểu lộ lòng yêu mến, Chúa tỏ mình ra cho họ, lòng tràn ngập vui mừng họ hân hoan ra đi làm chứng. Ta đọc được lộ trình nầy trong câu chuyện bà Maria Macđala, hai môn đệ đi làng Emaus, câu chuyện xảy ra trên bờ hồ (Ga 21,1-14), cuộc ngã ngựa của Thánh Phaolô. Nói tóm lại con người tỏ thiện chí và Chúa sẽ đi bước trước để tìm gặp con người.
Chúa đã dạy ta: “Phúc cho kẻ khao khát điều công chính vì họ sẽ được no thỏa”. Thiên Chúa không thể hẹp hòi để bắt con người phải chịu thiệt thòi, vì Chúa luôn chìa tay ra cứu vớt con người và lặn lội đi tìm con chiên lạc. Chỉ có điều là Ngài luôn tôn trọng tự do của con người, nên Ngài cứ đứng ngoài cửa, Ngài gõ cửa tâm hồn ta, chờ đợi, mong ta mở để vào dùng bữa tối thân mật với ta.

Đối với con người thời đại, chấp nhận Chúa Giêsu là Thiên Chúa làm người, đã tử nạn và phục sinh không phải là điều khó, nhưng chấp nhận sống theo những đòi hỏi Tin Mừng: ‘yêu mến Chúa trên hết mọi sự và yêu tha nhân như Chúa đã yêu’ mới là điều khó, và đó là điều người Kitô hữu cần làm chứng.
Đức Thánh Cha Phanxicô đã có những mẩu chuyện được xem như huyền thoại về một nhân chứng cho Chúa Phục Sinh qua tinh thần khiêm nhường và khó nghèo. Ngài cúi đầu xin mọi người cầu nguyện cho mình được Chúa chúc lành, Ngài thường sống trong một căn hộ bình thường, tự nấu ăn, thường cử hành ‘nghi thức rửa chân’ cho những người sống bên lề xã hội. Ngài dạy: hãy vui lên vì được làm con Chúa và đừng sợ tuyên xưng mình là Kitô hữu, đừng để ai đánh cắp niềm hy vọng. Ngài đứng để nhận lời thề tuân phục của các Hồng y và Ngài chỉ ban phép lành cách âm thầm cho các ký giả dù vẫn ý thức rằng mọi người là con cái Chúa.

Đừng nghĩ Đức thánh cha Phanxicô đóng kịch cách tài tình mà hãy nghĩ những cử chỉ đó là biểu hiện của một lòng thánh thiện thuần khiết. Còn chúng ta, mỗi ngày sống, hãy tỏa chiếu niềm tin vào Chúa Giêsu phục sinh bằng cuộc sống xứng danh người con cái Chúa: vui tươi, phó thác, nguyện cầu và thân ái.

Thứ Bảy, 6 tháng 4, 2013

ĐAU KHỔ VÀ CÁI CHẾT CỦA NGƯỜI CHỦ CHĂN




           
Chúa nhật thứ 2 Phục sinh là Chúa nhật kính lòng thương xót Chúa. Lễ này gắn liền với Thánh Faustina và Đức Gioan Phaolô 2. Bài viết nầy (SUY NIỆM CỦA NGÀY THỨ 6 TUẦN THÁNH CỦA CHA ROSICA, CSB) giúp ta sống lại những tâm tình của chân phước Gioan Phaolô 2

Vào mỗi ngày thứ 6 Tuần Thánh, tôi không thể quên được Đức Gioan Phaolô II, nhất là về ngày thứ 6 Tuần Thánh cuối cùng của Ngài năm 2005.

Đau khổ của con người.
Một trong những bút tích quý giá và không mấy ai trích dẫn của Ngài là tông thư được viết năm 1984 “Salvifici Doloris” (Về nhũng đau khổ của người Kitô hữu). Dựa vào truyền thống của Thánh Tông đồ Phaolô và giáo huấn truyền thống Công Giáo, Đức Gioan Phaolô II đã trải nghiệm trong suốt đời mình rằng: chính nhờ qua đau khổ mà Chúa Kitô đã thực sự liên đới với nhân loại, và cũng chính khi con người nếm mùi đau khổ thì họ có một sự liên kết sâu xa với Chúa Kitô, nguồn sống của chúng ta.

Trong thông điệp “Salvifici Doloris”, thì đau khổ là hệ lụy của tội lỗi và Chúa Kitô đã ôm lấy chính hệ quả nầy thay vì từ khước chúng. Qua sự đón nhận đau khổ, Đức Giêsu đã nếm trải nó cách trọn vẹn, Chúa mang lấy hậu quả của tội vào bản thân và trên đôi vai mình. Ngài làm thế là vì tình yêu dành cho ta, không chỉ muốn cứu chuộc ta, nhưng còn muốn nên một như ta, chia phần với điều ta đang chịu, trải nghiệm điều ta đang phải gồng gánh. Và chính với tình yêu sẻ chia và thông phần đau khổ vì yêu này, Chúa đã hoàn toàn phục hồi mối tương quan bị tội lỗi bẻ gãy, vì thế Ngài cứu chuộc ta.

Đức Gioan Phaolô II dạy rằng ý nghĩa của đau khổ đã hoàn toàn thay đổi bởi biến cố Nhập thể. Nếu không có biến cố Ngôi Lời Nhập Thể, đau khổ chỉ là hậu quả của tội lỗi, là cơ hội thuận tiện cho con người có cái nhìn vào nội tâm, cho tâm hồn được cứng cáp hơn, và cũng là cơ hội để con người thể hiện tình yêu với nhau, những điều đó chỉ là những giá trị phụ thuộc. Bởi vì, qua biến cố Nhập Thể, chúng ta được thông dự vào Thân Mình Chúa Kitô. Đau khổ của ta là đau khổ của chính Chúa và là lời diễn tả của một tình yêu cứu chuộc.

Vì là vị lãnh đạo của hơn một tỷ người Công Giáo, vì là vì Giáo hoàng của thời đại vệ tinh và vi tính – tiếp xúc với hàng tỷ người; vì là vị Giáo hoàng với 26 năm lãnh đạo…mà những kinh nghiệm về đau khổ của Ngài có một tiếng vang lớn.. Như chúng ta biết, năm 1981. sau lần bị ám sát hụt ở quảng trường Roma. Đức Gioan Phaolô II đã nói rằng: đau khổ là một sứ điệp vô cùng lớn của Kitô giáo.

Vào những năm tháng cuối đời của mình trên cương vị Giáo Hoàng, Đức Gioan Phaolô II đã thực sự trải qua những đau đớn của kiếp người.  Nhân loại nhận ra rằng chính đời sống tâm linh đem lại một sức mạnh cho phép Ngài vượt qua nỗi sợ hãi và ngay cả sợ thần chết. Thật là bài học đắt giá cho nhân loại! Cuộc chiến của Ngài với những tật bệnh thể lý của tuổi già cũng là bài học thâm thúy cho một xã hội khó chấp nhận người già và một nền văn hóa không nhìn thấy giá trị cứu chuộc của đau khổ…

Vào năm 1994, tuổi già và bệnh tật đã hầu như vô hiệu hóa những khả năng của Đức Gioan Phaolô, Ngài tâm sự với những người thân cận  rằng Ngài đã lắng nghe tiếng Chúa và rằng Ngài sẽ dẫn dắt Giáo hội bằng một phương thức mới. Ngài nói: “Tôi sẽ lãnh đạo bằng đau khổ”. “Ngài phải chịu nhiều đau đớn để mỗi gia đình và cả nhân loại nhận ra rằng có một thứ Tin Mừng trổi vượt hơn, có thể nói như vậy, là tin mừng về sự đau khổ - mà mọi người phải sẵn sàng chuẩn bị cho tương lai.

Lời an ủi với những người đồng cảnh ngộ.
Vào năm 1999, là năm chuẩn bị cho năm Toàn xá, Đức Gioan Phaolô II đã cho công bố “Tông thư cho những người cao tuổi” (Letter to the Elderly), tiếp nối những lời dành cho người trẻ năm 1985, cho các gia đình 1994, cho giới phụ nữ 1995 và các nghệ sỹ 1999. Và không kể đến những thư Ngài dành cho các linh mục vào Thứ Năm Tuần Thánh hằng năm – kể từ khi bắt đầu trên ngôi Giáo Hoàng. Ngài viết những lời thật cảm động và đầy khích lệ dành cho những người đồng cảnh ngộ trong bức tâm thư này.

Ngài không hề sợ hãi khi phơi bày trước con mắt người đời những giới hạn và yếu đuối mà những năm tháng tuổi đời đè nặng trên đôi vai mình. Ngài không hề muốn dấu diếm chúng. Khi nói với giới trẻ, Ngài không ngại nói với họ rằng: “Tôi là một linh mục già nua”. Đức Gioan Phaolô II vẫn tiếp tục chu toàn sứ mạng trên ngai tòa Phêrô, Ngài hướng về tương lai với nhiệt tình của tuổi trẻ không héo úa và với một tinh thần được Ngài luôn gìn giữ cho tinh tuyền. Bức tâm thư này chứa đựng nhiều tình cảm cá nhân, rất thân tình và không có cung giọng phân tích về tuổi già…Đúng hơn, đây là lời đối thoại thân mật với những người cùng trang lứa với mình.

Ngài viết:”Sống lâu trên cuộc đời nầy giúp chúng ta nhìn những kinh nghiệm sống bằng một cái nhìn sáng suốt hơn và nhìn những đau thương một cách nhẹ nhàng hơn. Tuy vậy, những khó khăn từng ngày chỉ có thể trở nên dễ chịu hơn với sự trợ giúp của Thiên Chúa, thêm vào đó chúng ta được yên ủi biết bao vì biết rằng: ta sẽ được trường sinh sau cái chết vì đã trải qua một cuộc đời lành thánh.

“Những người gìn giữ kinh nghiệm sống” là tiêu đề cho một chương của bức tâm thư nầy. Ngài nói: “Trong quá khứ, người già được kính trọng nhiều hơn, điều nầy vẫn còn được gìn giữ ở một số dân tộc, nhưng nhiều nền văn hóa quá đề cao những người có ích là người trực tiếp làm ra sản phẩm. Ngày nay nhân loại dang dần chuộng chủ trương ‘cái chết êm dịu’ cho những hoàn cảnh khó khăn. Thật đáng báo động là ngày nay nhiều người không còn lấy làm kinh tởm với thuyết ‘cái chết êm dịu’, điều mà những người phò sự sống luôn xa tránh”.

Ngài nói thêm: “Chúng ta nên nhớ rằng luật luân lý cho phép trong những trường hợp bệnh đã đến giai đoạn cuối thì được ngừng thuốc chữa lành bệnh, mà chỉ áp dụng những chăm sóc y tế bình thường nhằm giảm sự đau đớn cho bệnh nhân. Nhưng ‘cái chết êm dịu’ thì hoàn toàn khác về ý hướng và hoàn cảnh, được hiểu là dẫn đến cái chết cách trực tiếp, là một hành vi bản chất là xấu, vì vi phạm lề luật Chúa ban hành và xúc pham đến nhân phẩm con người.

Bức tâm thư được kết thúc với chương “Những lời khích lệ sống trọn vẹn cuộc sống”. Ngài viết: “Tôi muốn chia sẻ thẳng thắn những cảm nhận của chính mình về cuộc đời lúc đã xế bóng, đã hơn 20 năm trên ngôi Giáo hoàng… Dù có nhiều biến chứng của tuổi già, tôi vẫn còn vui hưởng cuộc sống. Tôi tạ ơn Chúa về điều nầy. Thật là kỳ diệu vì vẫn còn có thể trao ban chính mình trọn vẹn vì lợi ích của Nước Thiên Chúa”

Ngài kết luận: “Ngay chính lúc nầy, cha cảm thấy an bình khi nhớ lại những khoảnh khắc được Thiên Chúa kêu gọi, lần lượt theo năm tháng của tuổi đời, với tâm tình “Này con đây”. Được thuộc về Thiên Chúa là khao khát thâm sâu nhất trong trái tim con người, dù họ có ý thức về nó hay không”

Thật là một chữ ký tuyệt vời của Đức Gioan Phaolô II cho bức tâm thư này, vì chính Ngài đã trải nghiệm chúng bằng chính đời mình. Chúng tôi là nhân chứng về những điều ấy.

Không giấu giếm đau khổ .
Đức Gioan Phaolô II dạy rằng cuộc đời là linh thánh, dù cho đau khổ tràn ngập đời Ngài. Thay vì che đậy những biến chứng của bệnh tật, như nhiều người nổi tiếng vẫn thường làm, Đức Gioan Phaolô II để cho cả thế giới biết những gì mình đang trải qua. Sự đau đớn và cái chết của vị Giáo hoàng nầy không diễn ra thầm kín mà được trưng lên truyền hình và cả thế giới cùng theo dõi. 


Vào những ngày cuối đời, người lực sỹ đã trở nên bất lực, giọng nói dễ mến và vang đã trở nên im lìm, và bàn tay đã viết biết bao văn kiện đã không thể hoạt động nữa. Lời huấn dụ cuối cùng của Đức Gioan Phaolô II chính là trở nên biểu tượng của Lời Thầy đã nói với tông đồ Phêrô năm xưa: “Thầy bảo cho con biết, khi con còn trẻ, con tự thắt lấy giây lưng và muốn đi đâu tùy ý, nhưng khi về già, con sẽ đưa tay ra cho người khác thắt giây lưng cho và đưa con đến nơi con không muốn đến” Sau đó, Chúa bảo ông Phêrô: “Hãy theo Ta”. (Ga 21,18-19).

Nhiều người Công giáo và không phải là Kitô hữu đã xem những đớn đau Đức Gioan Phaolô nếm trải thật giống như cơn hấp hối của chính Chúa Giêsu, và chính Đức Giáo hoàng cũng như những người thân cận – không ai mất can đảm khi so sánh như vậy.Vài năm trước khi mất, có những người đặt vấn đề Ngài nên từ chức, thì được Ngài trả lời: “Vậy Chúa Giêsu có xuống khỏi thập giá không?”. Có những người bàn luận  về khả năng điều hành Giáo hội, giống như ban quản trị của một nghiệp đoàn (CEO), họ đã lầm lẫn vấn đề. Đức Giáo hoàng không thi hành một chức việc, Ngài lãnh lấy một trách vụ thần linh, và những đau đớn Ngài chịu là phần cốt lõi của sứ vụ nầy.

Buổi chiều thứ sáu tuần Thánh cuối cùng.
Một trong những kỷ niệm sống động nhất mà tôi giữ được là về tuần lễ cuối cùng của Ngài. Đó là lúc Ngài tham dự nghi thức đi đàng Thương Khó vào chiều thứ 6 Tuần Thánh 2005. Trong nhà nguyện riêng, qua màn ảnh truyền hình, Đức Gioan Phaolô II tham dự vào những gì đang cử hành ở hý trường Coliseum. Màn hình camera trong nhà nguyện nầy được đặt phía sau để Ngài không bị chia trí khi tham dự đàng Thương khó. Đức TGM John Foley đang đọc phần suy niệm trên truyền hình bằng tiếng Anh, bài suy niệm của Đức Hồng Y Ratzinger thật sâu sắc.

Vào những chặng cuối, có ai đó đặt một cây Thánh Giá lớn trên đầu gối của Ngài, Ngài nhìn chăm chú và đầy lòng yêu mến khuôn mặt của Chúa Giêsu. Khi nghe những dòng chữ: “Chúa Giêsu tắt thở trên Thánh giá”, Đức Gioan Phaolô II đã kéo sát vào mình và ôm chầm Thánh giá. Tôi không bao giờ quên được cảnh tượng nầy. Thật là một bài diễn văn hùng hồn mà không cần lời! Giống hệt Chúa Giêsu, Đức Gioan Phaolô II đã ôm lấy Thánh giá.

Cái chết của vị giáo trưởng.
Nhiều giờ trước khi chết, Đức Gioan Phaolô II đã nói lên những lời còn nghe ra được: “Nào ta đi về nhà Cha”. Trong tinh thần hiệp thông cầu nguyện cho Ngài, Thánh lễ được cử hành trong phòng riêng Ngài và đám đông tụ họp ca hát ở bên dưới, nơi quảng trường Thánh Phêrô. Ngài mất lúc 9:37 tối ngày 2.4.2005. Qua những đau đớn, khổ nạn và cái chết được phổ biến rộng rãi, người linh mục thánh thiện, Người kế vị Thánh Phêrô, Người tôi tớ của Thiên Chúa đã diễn tả khuôn mặt Chúa Giêsu đau khổ bằng một cách thế rất cảm động.

Vị Giáo hoàng thánh thiện.
Karol Wojtyla là một nhân chứng ngoại thường. Qua lòng mộ đạo, những nỗ lực phi thường, những đau khổ và cái chết của mình, đã truyền đạt sứ điệp đầy sức mạnh của Tin Mừng cho mọi người trong thời đại chúng ta. Một yếu tố mang lại thành công cho sứ điệp của Ngài là đám đông nhân chứng luôn bao quanh Ngài, họ được lớn lên nhờ Ngài và chính họ nâng đỡ những chặng đường đời của Ngài. Đối với Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, ơn gọi nên thánh không loại trừ một ai, đó không phải là đặc ân dành riêng cho một nhóm người được tuyển chọn.

Hiến chế tín lý về Giáo hội (Lumen gentium) xác định rằng sự thánh thiện của Kitô hữu bắt nguồn từ Giáo hội và diễn tả Giáo hội. Sự thánh thiện được biểu biểu lộ qua nhiều hình thức nơi tất cả những ai đang cố đạt tới Đức Ái trọn hảo trong bậc sống của mình trong khi xây dựng kẻ khác. (Số 39). Trong sự phong phú của ơn gọi nên thánh, được bắt nguồn từ một sự thánh thiện duy nhất và được thúc đẩy bởi một Thần khí duy nhất…theo gương Chúa Giêsu nghèo, khiêm hạ và thập giá, họ mang Chúa Giêsu nơi mình để xứng đáng dự phần trong vinh quang. (số 41).

Khi đám đông hò reo “Santo Subito” vào ngày an táng Đức Gioan Phaolô II, 8.4.2005, họ thực sự muốn nói gì? – Họ muốn hô to lên rằng: nơi Karol Wojtyla, họ thấy một con người đã sống thực với Thiên Chúa và đã sống với con người. Ngài là một tội nhân đã cảm nhận được lòng thương xót và sự tha thứ của Chúa. Ngài là một vị tiên tri và là thầy dạy những điều đúng đắn cho người đương thời và thế hệ kế tiếp. Ngài nhìn ngắm chúng ta, yêu mến chúng ta , đã tiếp xúc với ta, đã chữa lành và ban cho chúng ta niềm hy vọng. Ngài bảo ta đừng sợ. Ngài chỉ cho ta cách sống và yêu, biết cách tha thứ và cách chết. Ngài dạy ta biết ôm lấy thập giá trong những trường hợp nguy kịch nhất của cuộc đời, vì biết rằng thập giá không phải là câu trả lời cuối cùng của Thiên Chúa.

Một người được tuyên phong là Thánh không phài là một công bố về sự toàn hảo. Không có nghĩa là người đó không có sự bất toàn, mảng tối, sự điếc và tội. Không phải là họ trong trắng dưới cái nhìn của Vatican. Phong Thánh hoặc Á Thánh cho ai là muốn nói rằng một người đó gắn bó đời mình với Thiên Chúa, hoàn toàn tin tưởng vào lòng nhân từ của Chúa từ nhân, họ bước đi với sức mạnh và quyền năng của Chúa, tin tưởng vào những điều bất khả, yêu kẻ thù và những người ngược đãi mình, tha thứ giữa những những bất hạnh và bạo lực, hy vọng vượt ngoài mọi hy vọng, và làm cho thế giới nầy tốt đẹp hơn.

Người Thánh là người làm cho tha nhân quanh mình nhận ra rằng có một sức mạnh và một tinh thần có khả năng chuyển hóa đời họ, sức mạnh nầy không phải thuộc thế giới nầy mà là ở bên cạnh cuộc đời. Mỗi vị Thánh hé lộ cho ta nét đại cương của sự cao thượng và thánh thiện mà mỗi người được mời gọi hướng tới, họ cho ta nhận ra khuôn mặt Thiên Chúa trong khi  ta đang trên đường lữ hành trần thế.

Với cuộc đời của Karol Wojtyla, một đứa trẻ vùng Wadowice lớn lên và trở thành linh mục và Giám mục giáo phận Krakow, tiếp đến là Giám mục giáo phận Roma, và là người hùng cho nhiều thời đại ..  sự thánh thiện thật dễ lan truyền. Tất cả chúng ta đều cảm kích và được khích lệ nhiều bởi gương của Ngài, Đức Gioan Phaolô II không chỉ là một “Đức Thánh Cha”, mà còn là người cha đã và đang là thánh.

Vào ngày lễ tang 8.4.2005, Đức Hồng y Giuse Ratzinger nói với thế giới rằng: Đức Giáo hoàng đang ngắm nhìn chúng ta và chúc lành cho chúng ta từ “ cửa sổ của Nhà Cha”,

Khi tưởng nhớ đến người mục tử vĩ đại, người linh mục và giám mục thánh thiện Gioan Phaolô 2, chúng ta hãy học gương Ngài để biết cách bước qua ngưỡng cửa, mở cửa ra, biết dựng xây và yêu mến thập giá, biết loan truyền Tin mứng sự sống cho những người sống trong thời đại chúng ta.

Ước mong mỗi người chúng ta học được cách sống, cách chịu đau khổ và cách chết để trở về với Chúa. Xin Ngài chuyển cầu cho chúng ta và cho những người đang trải qua đau khổ thể xác cũng như tinh thần. Xin cho chúng ta có ước vọng sẵn sang mang đỡ gánh nặng của người khác, tiến bước trên con đường thánh thiện và là những vị Thánh.
Nguyễn Văn Thiện, dịch từ báo Zenit

Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2013

NÉN HƯƠNG LÒNG TƯỞNG NHỚ MỘT NGƯỜI CHA ĐỨC GIOAN- PHAOLÔ II VỀ NHÀ CHA 2/4/2005.




Năm 1978, đáp lại câu hỏi của Thầy Giêsu: "Karol, con có yêu mến Thầy không?" Ðức Hồng Y Karol Woyztyla, Tổng giám mục Cracovia, đã trả lời: "Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự, Thầy biết con yêu mến Thầy." Và Thầy Giêsu nói: "Hãy chăm sóc chiên của Thầy" (x. Ga 21,17). Tình yêu Chúa Kitô là sức mạnh lớn nhất trong cuộc đời Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II, và sức mạnh đó như một ngọn đuốc toả ra ánh sáng nồng ấm cuốn hút mọi người, nhất là các bạn trẻ.
"Hãy theo Thầy." Ðức Gioan Phaolô II đã theo Thầy suốt cả cuộc đời, và theo Thầy đến đỉnh thập giá. Trong những năm tháng cuối đời, ngài cảm nghiệm từng lời Chúa Kitô đã nói với Phêrô: "Khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn" (Ga 21, 18). Tuy nhiên, Ðức Gioan Phaolô II đã đón nhận mọi đau khổ trong sự hiệp thông sâu xa với Chúa Kitô, và vì thế, chính những đau khổ đó lại trở thành sứ điệp hết sức thuyết phục và ích lợi cho toàn thế giới.
000
Ngày 01.11.1946, Lễ kính Các Thánh Nam-Nữ, Chủng sinh Karol Wojtyla được ÐHY Adam Sapieha, TGM Cracovia (Ba lan) phong Chức Linh Mục trong nhà nguyện riêng của ngài ở Tòa Tổng giám mục.

Sau ít ngày ÐHY Tổng Giám mục cử Linh mục trẻ trung này đi Roma, để chuyên về các môn Thần và Triết tại Ðại Học Angelicum của các Cha Ða minh.
Mùa xuân 1958, trong lúc vừa coi xứ, vừa làm giáo sư Ðại học Lublino, cha Karol Wojtyla nhận được một điện tín từ Varsovie, do Ðức Hồng Y Stefan Wyszynski, Giáo chủ Ba lan, báo tin phải đến gặp ngài. Bức điện tín đến tay cha Karol Wojtyla trong lúc đang chèo "Ca-nôtrên sông với một số bạn hữu và sinh viên đại học, vì lúc đó là kỳ nghỉ hè. Mọi người ngạc nhiên. Sao người ta đã có thể khám phá ra nơi cha Karol Wojtyla đang nghỉ hè để trao bức điện tín kia?.  Hôm đó là ngày 4 tháng 7 năm 1958.
 Ngày 28 tháng 9 cũng năm 1958, Cha Karol Wojtyla được tấn phong Giám mục trong nhà thờ chính tòa Wawel.
 Thánh lễ tấn phong kết thúc bằng hát Kinh Te Deum (tiếng Latinh) để tạ ơn Chúa. Sau đó, một người bạn trước đây cùng với ngài làm trong hãng đá cẩm thạch, hô tên "Lolek": "Ðừng để một người nào hạ anh xuống, nhớ chưa?". Lokek, nghĩa là Carlo nhỏ, tên có tính cách thân mật gia đình, dùng để gọi Ðức Karol Wojtyla.
 Công đồng chung Vatican II được khai mạc ngày 11 tháng 10 năm 1962. Ðức Giám mục Karol Wojtyla hiện diện với gần ba ngàn Nghị phụ đến từ khắp thế giới, từ Quảng trường Thánh Phêrô tiến vào Ðền thờ. Một quang cảnh chưa bao giờ thấy tại Roma. Lúc đó ngài không những chỉ là một giám mục phụ tá, nhưng còn là Giám mục đại điêïn Hội Kinh sĩ Nhà thờ chính tòa Cracovia nữa.
 Cuối năm 1963, Ðức Karol Wojtyla thăng TGM giáo phận Cracovia.  Nhà cầm quyền tin chắc rằng: sẽ tìm được nơi nhà học giả về Thuyết Mac xít này (Ðức Karol Woptyla) một người đối thoại mềm dẻo và hòa giải hơn chính Ðức Hồng Y Giáo chủ.
 Ngày 16 tháng 10 năm 1978,  Ðức Karol Wojtyla, TGM Giáo phận Cracovia, được bầu làm Giáo Hoàng, sau 455 năm các vị Giáo Hoàng toàn là người Ý. Ngài là Vị Giáo Hoàng đầu tiên gốc Slave, nhận tên hiệu là Gioan Phaolô đệ nhị.

 
NHỮNG ĐÁNH GIÁ VỀ TRIỀU ĐẠI ĐỨC GIOAN-PHAOLÔ II
Nếu đức Gioan 23 đã có công mở ra Công Ðồng Vatican II, thì đức Gioan Phaolô II là vị giáo hoàng đã áp dụng những kết quả của Công Ðồng.
Ngài  là vị giáo hoàng thứ 3 đã hướng dẫn giáo hội lâu nhất, chỉ sau hai vị giáo hoàng, là đức Piô IX đã hướng dẫn giáo hội trong vòng 31 năm, và thánh Phêrô, vị giáo hoàng  đầu tiên,  đã hướng dẫn giáo hội trong vòng từ  34 đến 37 năm.
Ðức Gioan Phaolô II là vị giáo hoàng đầu tiên không phải là người Ý, sau gần 500 năm. Vì thế, ngài đã có sáng kiến viếng thăm mục vụ các giáo xứ trong giáo phận Roma của ngài. Tính cho đến nay, ngài đã viếng thăm được 301 trong tổng số 334 giáo xứ của giáo phận Roma.
Ðức Thánh Cha đã viếng thăm 129 quốc gia  nhờ qua 102 chuyến viếng thăm quốc tế, và vượt qua tổng cộng 30 lần chiều dài vòng quanh thế giới.
Xét về những lần phong thánh và chân phước, thì Ðức Gioan Phaolô II đã tôn phong các chân phước và hiển thánh, tổng cộng nhiều hơn con số của tất cả các vị tiền nhiệm của ngài cộng lại. Trong những chuyến thăm quốc tế, ÐTC giữ thói quen phong chân phước hay phong thánh cho các vị tại chính quê hương của các vị. Ngài đã tôn phong tổng cộng 1,324 vị chân phước, 477 vị hiển thánh.
Ðức Gioan Phaolô II đã phong tước cho 231 vị hồng y.
Ðức Gioan Phaolô II đã từng là giáo sư; ngài đã viết ra --- ngoài những bài giảng và giáo lý hằng tuần --- 14 thông điệp, 14 tông huấn, 11 tông hiến, hơn 40 tông thư, 28 tự sắc và những tác phẩm cá nhân khác nữa

ÐTC đã tỏ ra chú ý đến từng cộng đoàn giáo hội, cũng như  chú ý đến những giáo hội đã ly khai với Roma.

Như là vị lãnh đạo chính trị và tinh thần được toàn thế giới nhìn nhận, Ðức Gioan Phaolô II đã có công làm cho Giáo hội Công giáo có được ảnh hưởng mới trong xã hội. Ðức Gioan Phaolô II là một trong những nhân vật chính trị hiếm có của ngày nay.

Ðức Gioan Phaolô II kêu gọi mọi người, Kitô hữu cũng như Hồi giáo, hãy vượt qua thái độ đối đầu: "Chúng ta đã từng đứng ở hai vị thế đối nghịch nhau. Chúng ta đã từng tiêu hao bao nhiêu năng lực cho những cuộc bút chiến và chiến tranh. Cha tin rằng hôm nay Chúa mời gọi chúng ta hãy thay đổi những thói quen cũ của chúng ta.Chúng ta phải tôn trọng nhau.Chúng ta phải khuyến khích nhau làm điều thiện".

Phần thủ tướng Anh Quốc, Ông Tony Blair, đã lên tiếng ca ngợi Ðức Gioan Phaolô II như là một "con người đáng phục" suốt đời bênh vực cho sự công bằng và chống lại mọi đàn áp. Ông nói như sau: "Thế giới đã mất đi một vị lãnh đạo tôn giáo được mọi người thuộc mọi niềm tin và cả không có niềm tin, tôn trọng. Ngài là một sự khởi hứng, một con người có niềm tin ngoại thường, một con người can đảm và đáng phục.
Ông Ariel Sharon, thủ tướng Do Thái, nhận đinh:"Ðức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là con người của hòa bình, một người bạn của dân Do thái; ngài nhìn nhận tính cách đặc biệt của dân Do Thái và đã cố gắng hoạt động để hòa giải các dân tộc. Thế giới đã mất đi một trong những vị lãnh đạo nổi tiếng của thời đại chúng ta.". Tháng 12 năm 2003. Ðức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là vị giáo hoàng đầu tiên đến viếng thăm Hội Ðường Do Thái.Trong chuyến viếng thăm Thánh Ðịa của ngài vào năm 2000, ĐTC đã xin dân chúng Do Thái tha thứ cho những tội ác chống lại họ đã được thực hiện nhân danh Giáo Hội.
                                                000
Từ một chàng thanh niên say mê văn chương, thi ca và kịch nghệ, Karol Woyztyla đã can đảm giã từ tất cả để đáp lại tiếng gọi của Thầy Giêsu, tu học trong một giai đoạn hết sức khó khăn của đất nước, và cuối cùng lãnh nhận chức linh mục ngày 1.11.1946. Cuộc đời linh mục của cha Karol là lời đáp trả liên lỉ tiếng gọi của Thầy Chí Thánh để trở thành sứ giả Tin Mừng không mệt mỏi, đi đến mọi nơi và làm trổ sinh hoa trái trong triệu tâm hồn (x.Ga 15,16), và để trở thành mục tử tốt lành hiến mạng sống cho đoàn chiên (x. Ga 10,11). Sở dĩ sống được như thế là vì cha Karol đã "ở lại trong tình yêu của Thầy" (Ga 15,9), nhờ đó học được nghệ thuật yêu thương của Thầy Giêsu.
Bài diễn văn của ĐHY Ratzinger trước linh cửu Đức Gioan-Phaolô kết thúc như sau:“Chúng ta có thể chắc chắn rằng Ðức Giáo Hoàng yêu quý của chúng ta giờ đây đang đứng bên cửa sổ Nhà Cha trên trời để nhìn chúng ta và chúc lành cho tất cả chúng ta. Vâng, thưa Ðức Thánh Cha, xin Ngài chúc lành cho chúng con." Cả quảng trường oà lên tiếng vỗ tay vì hạnh phúc. Một kết thúc tuyệt đẹp của hành trình Theo Chúa: Ngày 8/4/2005, thân xác Đức Gioan-Phaolô đã an nghỉ dưới hầm mộ Đền Thờ Thánh Phêrô.
(Cuộc hành trình trần thế 85 năm: với 12 năm linh mục, 20 năm Giám mục-Hồng Y, và 27 năm Giáo Hoàng.  Tổng hợp tư liệu từ Đài Chân Lý Á Châu)