Danh sách Blog của Tôi

Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2014

Dụ ngôn tiệc cưới




Chúa Giêsu đã dùng nhiều hình ảnh để nói về Nước Thiên Chúa. Chúng ta có thể kể đến như: ví dụ hạt cải và men trong bột, người gieo giống, đồng bạc đánh mất, những người thợ làm vườn nho, lưới cá thả xuống biển, tá điền thuê vườn nho...Nước Thiên Chúa ở đây được hiểu là thời đại Thiên Sai, là Giáo hội do Chúa Giêsu quy tụ quanh bàn tiệc Thánh Thể và là hạnh phúc thiên đàng. Mỗi ví dụ về Nước Trời nói lên một khía cạnh nào đó trong một bức tranh quá tuyệt diệu mà đôi mắt phàm nhân của con người chưa từng chiêm ngắm. Xin Chúa cho con hiểu những vị ngọt của Nước Thiên Chúa qua dụ ngôn tiệc cưới Chúa dạy hôm nay.
Trong dụ ngôn tiệc cưới có nhiều hình ảnh nổi bật: Thiên Chúa mời gọi trước một số người nhưng họ lại coi thường lời mời đó vì những tham lam của cải và những bận tâm về cuộc sống, có kẻ lại còn giết chết sứ giả; nhà vua đã nổi cơn thịnh nộ sau khi thời hạn mời gọi đã kết thúc và đã chứng kiến sự kiên quyết chối từ của những người bỏ qua tình thương bao dung của Ngài; tiếp đó, vì không thể để uổng phí những ân lộc đã dọn sẵn và để vui thỏa niềm vui của chính mình, ông chủ mời gọi đủ hạng người vào dự tiệc cưới và phòng tiệc đã đầy người, một món quà nhưng không mà ông chủ đã rộng rãi tặng ban; thế nhưng, có oan uổng quá cho một người đi đường vì nể lời mời của vua mà vào dự tiệc với chiếc áo không đẹp chăng? 

Dụ ngôn này Chúa trực tiếp nói với các thượng tế và kỳ mục, nên điểm nổi bật chính là sự từ chối của những kẻ được mời. Quả vậy, khi ông Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu kêu gọi sự thống hối để đón nhận Đấng Cứu Thế thì các thượng tế và kỳ mục là những người có phản ứng tiêu cực nhất, họ không ăn năn và thay lòng đổi dạ đã đành mà còn treo Con Thiên Chúa lên cây thập giá. Sau đó, bữa tiệc nước trời được dành cho mọi nước mọi dân (Mt 28,19). Mặc dầu các đầy tớ của vua tha thiết mời gọi, nhưng con người vẫn có quyền tự do quyết định vào hay không vào phòng tiệc, đã vào thì phải có thái độ và y phục xứng hợp với niềm vui của nhà vua, bởi đó nhà vua đã ra lệnh phạt nặng kẻ không mặc y phục lễ cưới. Khi tham dự bữa tiệc Thánh Thể, hãy dọn mình cho xứng đáng, kẻo rước lấy án phạt: nhiều người đã ly dị và đang bồng đèo thế nhưng họ vẫn rước lễ; nhiều người nói chuyện ồn ào trong thánh lễ nhưng vẫn chịu lễ cách vô ý thức. Còn khi tham dự bàn tiệc thiên quốc, con người không còn cơ hội để thay đổi y phục là tình trạng tâm hồn nữa, họ sẽ trải qua cuộc phán xét riêng để chịu thưởng phạt. Phúc cho kẻ nào đã trang bị cho cuộc đời mình chiếc áo bác ái, yêu thương, tử đạo: “Thiên Chúa không thương xót kẻ không biết thương xót, còn ai yêu thương thì coi thường việc xét xử” (Giacôbê 2,13).
Đức Phanxicô luôn nói về niềm vui của những kẻ được đón nhận niềm tin vào Đức Kitô, niềm vui đó không phải là giả tạo nhưng là niêm hạnh phúc đích thực vì được làm con cái Thiên Chúa, vì biết rõ đích đến của cuộc sống là hạnh phúc thiên đàng: Giáo hội chỉ có thể truyền giáo khi các Kitô hữu biết sống niềm vui. Đức Thánh Cha cũng khuyến cáo về sự tham lam của cải và quyền lực luôn cám dỗ con người khước từ sứ điệp Tin Mừng. Thánh Phaolô nói: “Thật vậy, nhờ đức tin, tất cả anh em đều là con cái Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Kitô, đều mặc lấy Đức Kitô” (Galat 3,26-27). 

Nói tóm lại, bài Tin Mừng nói lên rằng đời sống ân sủng do Đức Giêsu tái lập trong giao ước mới trước hết được dành cho dân Do Thái là dân riêng Chúa chọn, nhưng sau đó cũng được dành cho các dân ngoại trên khắp địa cầu. Được lãnh nhận đức tin và gia nhập Giáo hội là một hồng ân Chúa ban mà mỗi ngày ta phải dâng lời cảm tạ. Người Kitô hữu đã chết một lần với tội lỗi khi lãnh bí tích rửa tội, nhưng mỗi ngày còn phải cố gắng để nên thánh thiện hơn phù hợp với lời dạy của Tin Mừng, và chấp nhận cuộc thanh luyện cuối cùng là cái chết để tham dự bữa tiệc thiên quốc cách trọn vẹn vì được chiêm ngắm Thiên Chúa trực tiếp, diện đối diện.

Thứ Năm, 2 tháng 10, 2014

Luật yêu thương




Thời sự xã hội và Giáo hội đang nóng lên vì những người Hồi Giáo quá khích Boko Haram (ở Nigiêria) và IS (ở Iran – Syria). Đức Phanxicô kêu gọi thế giới và nhất là cộng đồng Châu Âu đừng làm ngơ trước sự hoành hành và lớn mạnh của những lực lượng nầy, mỗi cá nhân và cộng động phải tích cực tìm ra những biện pháp để các tôn giáo cùng chung sống hòa bình, những biện pháp tối ưu là cùng cầu nguyện và thông qua các đàm phán, vì chiến tranh chỉ đem đến giết chóc và hận thù. Thế nhưng, hiện nay, những cuộc không kích của các nước Mỹ - Pháp – Anh đang diễn ra trên những vùng đất mà lực lượng IS chiếm đóng.
Ngày xưa, thánh Phêrô cũng đã từng rút gươm ra để bảo vệ Chúa Giêsu, nhưng rồi Chúa bảo ông “hãy xỏ gươm vào vỏ, ai dùng gươm sẽ chết vì gươm”. Thánh Phêrô đã hành động vì lòng nhiệt thành với Chúa, nhưng theo kiểu tính toán của con người. Thời trung cổ, Giáo hội đã tổ chức nhiều cuộc thánh chiến, dùng chiến tranh để giải quyết những xung đột về vùng đất Thánh; nhưng kể từ thời Đức Phaolô VI đến nay, Giáo hội đã không ngừng đẩy mạnh việc hòa giải và hòa hợp với các tôn giáo, đã nhiều lần hối lỗi vì những lỗi lầm trong quá khứ. Nhiều người đã đặt câu hỏi về Đức Piô XII: “Giáo hội ở đâu khi nạn diệt chủng người Do Thái do Đức Quốc Xã chủ trương đang diễn ra?”- Những tài liệu đã cho biết rằng: Giáo hội đã mạnh mẽ can thiệp bằng văn thư và biện pháp cứu giúp nhiều người Do Thái được trốn thoát.
Cuộc sống thường không tránh khỏi sự va chạm đất đai với người khác, khi họ vượt qua sự tự trọng để tham lam lấn chiếm thêm một chút đất chung làm của riêng. Trường hợp như vậy, nếu mình không lên tiếng là hèn nhát, nhưng đấu tranh thế nào cho hợp tình hợp lý và hợp với giáo lý Chúa dạy? Đôi khi ta thoáng nghĩ: người Kitô thấm nhuần giáo lý sẽ trở nên nhu nhược và hèn yếu trước thế gian, vì đạo Chúa dạy ta phải tha thứ và không được trả thù, phải thực thi bác ái, đừng chống cự với người ác mà phải trốn chạy sang thành khác khi bị bắt bớ ở thành nầy. Thầy chí Thánh đã bằng lòng chịu chết treo trên thập tự mà vẫn tha thứ giữa những tiếng thách thức xuống khỏi thập giá để người khác tin. Thánh Phaolô đã ca tụng đức mến như một điều rất cần thiết của đời sống đạo: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi. Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật” (1Cor 13,1-6).

Thế nhưng, học thuyết xã hội của GHCG dạy ta phải dấn thân xây dựng trái đất nầy cho công bằng, bảo đảm công lý và tình thương, tôn trọng phẩm giá con người và hợp tác giữa các dân tộc; Chúa còn dạy ta phải biết sửa lỗi người anh em, chứ không phải hoàn toàn chịu đựng mọi sự xảy đến như là thánh giá Chúa gửi cho mình… vì như thế sẽ giống như người lính đầu hàng trước khi nổ súng và có thể nói ở đâu có người Kitô thì ở đó chỉ có cam chịu và bất công. Nhưng cách đấu tranh của người Kitô hữu luôn được thực hiện bằng con đường cầu nguyện và đối thoại, khác với cách của người đời là dùng thủ đoạn, bạo lực, chiến tranh và hận thù.

Đối với người Kitô hữu, lề luật tối thượng là tôn thờ Thiên Chúa, bảo vệ sự sống của mình và anh em, của cải vật chất không quan trọng bằng gia tài vĩnh cửu trên trời. Dựa vào thứ tự ưu tiên nầy, ta nhận ra có nhiều sự việc xảy ra thật ra không đáng cho ta bận tâm một cách quá đáng dẫn đến việc mất đức bác ái và có tính cách trả thù. Như vậy, để bảo vệ tài sản mình, người Kitô sẽ dùng đến phương pháp ôn hòa là cầu nguyện, đối thoại và nhờ luật pháp can thiệp, nếu không đạt mục đích thì đành chịu thua thiệt chứ không được trả thù và ghen ghét kẻ làm khốn mình. Các Thánh Tử Đạo đã cam lòng chịu chết mà không oán hận, các tín hữu Irăk đã trốn chạy khỏi các thành phố để tránh bị giết hại, trong lúc luật công bằng cho phép họ trả thù tấn công những kẻ làm khốn mình. Trên truyền thông, chúng ta không đọc được một lời kêu gọi chiến tranh nào của các vị mục tử ở Irăk.

Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2014

Hành trình đức tin






Tuy sống bên cạnh nhau trong cùng một cộng đoàn, nhưng hành trình đức tin của mỗi người không ai giống ai về độ khó, độ dài và về kết quả. Bởi đó mà chúng ta cần dùng những lời lẽ tích cực mà an ủi nhau, nhất là khi tha nhân đang trải qua giai đoạn khốn khó vì bệnh tật hay bị thử thách niềm tin. Một trong những lời khuyên rất cần thiết cho cuộc sống: “Hãy nhìn thấy khía cạnh tích cực trong mọi điều xảy ra”. Quả vậy, con người thường hay đau khổ vì trí tưởng tượng của mình và vì thói quen so sánh mình với người khác.

Khi một người bị phát hiện là có khối u (cancer) trong cơ thể mình, những người thân và chính bản thân họ thường choáng váng vì tin sét đánh này: tương lai gia đình sẽ ra sao? Tại sao mình phải chịu sự xui xẻo nầy, đây phải chăng là một sự trừng phạt? Rất nhiều người đến để chia sẻ gánh nặng mà gia đình bệnh nhân đang và sẽ trải qua, họ nói những lời động viên và thông cảm, sự hiệp thông và chung sức trong lời nguyện cầu. Những ngày đầu tiên trôi qua thì mọi người sẽ bình tĩnh đón nhận sự kiện hơn. Họ dần khám phá sự hiện diện của Thiên Chúa trong cơn hoạn nạn.
Có thể nói việc ‘Thiên Chúa chăm sóc và lo liệu cho con người đến mức độ nào’ là một trong những vấn đề khó lý giải. Người không có niềm tin thì cho rằng mọi sự đều là tự nhiên, chẳng có một Đấng nào tạo dựng và đang điều hành vũ trụ nầy cả. Con người bệnh hoặc chết là do hậu quả của việc giữ gìn sức khỏe hoặc do đoản mệnh mà thôi. Thế nhưng, người có niềm tin thì vẫn nhớ Lời Chúa nói: “Mọi sợi tóc trên đầu các con đều được đếm cả rồi và không có sợi nào rơi xuống đất mà Cha các con không biết. Đừng lo lắng về của ăn áo mặc, vì Cha anh em biết rõ anh em cần gì. Không ai trong các con, nhờ lo lắng mà có thể kéo dài thêm đời mình, dù chỉ một gang tấc. Tiên vàn hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn mọi sự khác Người sẽ ban cho anh em”(Mt 6,25-34)
Quả thật, khi đến thăm người bệnh, chúng ta phải lựa lời mà nói để tránh những kiểu nói không phù hợp với niềm tin. Đừng xem bệnh tật là một hình phạt của Chúa để ta đền tội, vì như vậy Chúa là Đấng hay trả thù. Đừng xem bệnh tật là thánh giá Chúa gửi, vì như vậy ta dễ nhận xét Chúa là một vị thần độc ác. Đừng xem bệnh tật là sự xui xẻo của vận hạn mà mình không biết để kiêng cữ, vì quan niệm nầy sẽ dẫn ta đến thói quen đi xem bói toán. Sách GLHTCG nói với chúng ta rằng: Không thể dùng một câu Kinh Thánh đơn thuần để trả lời cho vấn nạn tại sao có đau khổ mà phải dùng đến toàn bộ pho Kinh Thánh và phải xin ơn soi sáng. Bao lâu còn ở trần gian, con người chỉ có thể hiểu một phần nào đó về đau khổ, mọi sự sẽ được phơi bày khi con người bước qua ngưỡng cửa sự chết. Sách Giáo lý còn dạy thêm rằng: đau khổ và bệnh tật là hậu quả của tội lỗi, Thiên Chúa cho phép sự dữ xảy ra và Ngài sẽ dùng quyền năng vô biên của Ngài để rút ra nhiều sự lành cho phần rỗi linh hồn, Thiên Chúa là người Cha nhân lành luôn muốn cho con người hạnh phúc, Ngài hiện diện và đồng hành với con người đang trải qua đau khổ. Những đau khổ ta chịu nếu được đón nhận với lòng yêu mến Chúa sẽ trổ sinh những hoa trái thiêng liêng vô cùng quý giá cho mình và đồng loại: cộng tác vào chương trình cứu độ mà Chúa Kitô cho ta dự phần, đền tội mình và tội nhân loại, rèn luyện nhân đức và được trở nên giống Chúa Kitô.
Bởi vậy, hãy nhìn bệnh tật như cơ hội thuận tiện để gần gũi Chúa và lo lắng cho phần hồn, giúp mình dần từ bỏ ý riêng và những giá trị vật chất – chuẩn bị cho cuộc từ bỏ cuối cùng lúc ta ra đi khỏi trần thế nầy. Mọi sự ở trần gian nầy, dù ta miệt mài và vất vả làm việc mới có được, cũng chỉ là chiếc áo ta bỏ lại khi ta trở về lòng đất mẹ, chỉ còn lại tấm linh hồn trinh trong phản chiếu lòng mến Chúa yêu người mà ta đã chắt lọc qua cuộc sống trần gian. 

Dù trong hoàn cảnh nào, hãy không ngừng thưa lên: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa”, và tâm hồn ta sẽ tìm được bình an ngay bây giờ và mãi mãi.

Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014

Thánh lễ giỗ giáp năm cho cha Phaolô Nguyễn Công Minh (1.8.2013 - 1.8.2014)




Người bạn linh mục của chúng ta, Phaolô Nguyễn Công Minh, đã từ giã trần thế một năm trước đây để đi trình diện Chúa để được chiêm ngưỡng thánh nhan Ngài: “Từ nay không còn đau đớn và muộn phiền nữa, không còn những lỗi phạm đến Chúa và anh em nữa, và cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác nơi bản thân cũng không còn diễn ra nữa, chỉ còn lại một sự im lặng và an nghỉ trong Thiên Chúa.
Sự im lặng ở đây không phải là cõi hư vô, nhưng là một thực tại mà Thiên Chúa muốn giữ bí mật tuyệt đối, là một yếu tố cấu thành đức tin: “phúc cho ai không thấy mà tin”. Trí tò mò của con người đã nhiều lần tự đặt những câu hỏi về đời sau, về số người được cứu rỗi, về tình trạng hạnh phúc và điều kiện để vào nước trời. Những câu hỏi đó, người Do Thái đã từng hỏi Chúa Giêsu và Ngài đã trả lời rất rõ ràng và không úp mở trong các sách Tin Mừng. Nhưng vì không thể kiểm chứng bằng lý chứng khoa học, nên đầu óc con người cứ mãi phân vân: không biết lời nói của Chúa Giêsu có thật không?
Con người được cấu thành bởi một thân xác và một linh hồn. Thân xác được cấu thành bởi những yếu tố vật chất, luôn tìm kiếm và lệ thuộc vào vật chất, lý trí chỉ muốn tin nhận những gì có thể kiểm chứng bằng giác quan. Còn linh hồn là phần thiêng liêng được Chúa trực tiếp tạo dựng để kết hợp với thân xác, làm thành một ‘hữu thể’ duy nhất. Nơi từng người, Thiên Chúa còn đặt để một thiên thần bản mệnh để giúp ta đi trên con đường trọn lành.

Nơi cha Phaolô, những cuộc chiến nơi bản thân để hướng đến sự trọn lành, và những giằng co với lý trí trên lãnh vực đức tin nay không còn nữa. Cha đã tiến vào vùng ánh sáng để có thể chiêm ngưỡng Thiên Chúa diện đối diện, cha đã thấu hiểu bàn tay dịu dàng của Chúa ủ ấp trên từng biến cố cuộc đời, những điều mà khi ở trần thế trí óc cha không ngừng vật lộn để giữ vững niềm tin. Thế nhưng, đến lượt cha cũng phải giữ im lặng để chúng ta tin.

Giáo hội dạy ta rằng: ngoài những vị được tuyên phong là thánh, Giáo hội không biết rõ về phần rỗi của một ai khác. Đúng là một bức màn bí mật luôn bao phủ ‘sự chết’, để con người luôn tin nơi tình thương vô biên của Thiên Chúa và không đưa ra những tính toán thực dụng cho cuộc sống mình ở trần gian nầy. Nhưng chúng ta cũng biết được rằng Thiên Chúa luôn là người cha nhân từ, Ngài còn thương từng người con cái được sinh ra, còn hơn cả cha mẹ đẻ của ta nữa. Đó luôn là một lý chứng để ta tin rằng: Thiên Chúa không nỡ vứt bỏ những kẻ tin vào Ngài vào lửa hỏa ngục, có chăng là các linh hồn ấy đang trải qua tình trạng thanh luyện nơi luyện ngục, và họ rất cần sự giúp đỡ của chúng ta.
Những người đã lìa thế trước chúng ta vẫn tiếp tục cuộc sống của họ, nhưng ở một trạng thái khác với chúng ta là những kẻ đang tại thế. Thân xác họ đã trở về tro bụi. Còn linh hồn họ, với bản tính thiêng liêng, không cần ăn uống nên chẳng có lo âu, họ không còn phạm tội và cũng không còn cơ hội lập công. Tuy vậy, những người đã khuất có một khả năng rất quý giá là có thể chuyển cầu cho chúng ta, và với bản tính thiêng liêng, họ thấu hiểu nhu cầu và cùng đích cuộc sống ta đang trải qua một cách tỏ tường. Bởi đó hãy cầu nguyện cho những người đã khuất được hưởng lòng thương xót Chúa, và cũng luôn tin tưởng cầu nguyện với họ để xin sự trợ giúp thiêng liêng và cả những nhu cầu cần thiết trong cuộc sống.

Thứ Ba, 24 tháng 6, 2014

Thói quen nói xấu




Một điều gì xấu được lặp đi lặp lại được gọi là tật xấu. Nói xấu là một tật xấu phổ biến mà nhiều người khắp thế giới mắc phải. Chính Đức Phanxicô cũng luôn nhắc nhở tín hữu phải tránh tật xấu nầy, vì nó gây chia rẽ trong các mối quan hệ giữa con người và trong Giáo Hội. Và Ngài còn nói thêm: thói quen nói xấu bề trên và các linh mục là thói xấu rất phổ biến mà chính ngài cũng đã từng mắc phải.
Nói xấu một ai đó là nói cho người khác biết một điều xấu có thật của một người thứ ba. Cả người nghe và người nói cùng mang tội nói xấu, còn người thứ ba thì bị tô màu xấu xí ‘đen như quạ’. Khi hai người bạn gặp nhau, họ thường chia sẻ cho nhau những tin tức trong cuộc sống, và cũng thường chia sẻ cho nhau những chuyện xấu của một ai đó. Họ tưởng rằng đang trao nhau những món quà, nhưng thực tế lại là tặng nhau những ‘quả cấm’. Ma quỷ luôn tìm mọi cơ hội để tạo ra sự nghi kỵ và chia rẽ, vì chúng biết sự hiệp nhất là món quà của Chúa Thánh Thần.
Có nhiều lý do tạo nên sự khác biệt giữa người nầy với người kia: khi sinh ra đời, mỗi người là một cá vị độc đáo không ai giống ai, ân điển Thánh Thần ban cho mỗi người mỗi khác để họ xây đựng cộng đoàn, hoàn cảnh sống, môi trường giáo dục, nỗ lực thăng tiến bản thân cũng tạo nên những khác biệt đáng kể. Chính những khác biệt đã tạo nên sự so sánh, sự cạnh tranh giữa người nầy với người khác. Và để cho mình được nổi bật lên, người ta thường dùng đến chiêu thức nói xấu. Họ quên rằng: đích đến của con đường trọn lành mỗi người mỗi khác tùy theo ơn gọi của họ, sự so sánh về những điều vụn vặt trong cuộc sống thật không đáng kể tí nào!
Ngay phía trước bàn làm việc của cha tân tổng đại diện giáo phận Banmêthuột có một tấm bảng ghi chú: “TẠI ĐÂY KHÔNG NÓI XẤU”. Một câu nhắc nhở thật ấn tượng cho những ai đến gặp gỡ ngài. Quả thật, những lời rỉ tai và những câu chuyện ngồi lê đôi mách làm ta mất nhiều thời gian và hạ thấp giá trị tâm hồn của những người hiện diện, nhất là nói xấu các linh mục. Và một linh mục có thói quen nói xấu sẽ tự hạ thấp giá trị cũng như uy tín của mình.Trong cuộc gặp gỡ gần đây, Đức Phanxicô nói: làm linh mục khó hơn là làm giáo hoàng, vì trực tiếp mục vụ tại giáo xứ thường có nhiều sự đụng chạm với giáo dân.

Hiện trạng của nhiều giáo xứ trong giáo phận mà chúng ta biết được là người giáo dân thường không bằng lòng với các linh mục: không đạo đức, không tế nhị, không giảng hay, không ngồi tòa, không cẩn thận trong lời nói, không gần gũi giáo dân, hay đua đòi vật chất… Có nhiều người rất ưa nói chuyện xấu của các cha và các ‘đấng làm thầy’, nhưng cũng có một số giáo dân khôn ngoan tránh xa đề tài đó như là ‘vùng cấm địa’.
Có lẽ nhiều người đã nghe sự ví von của đức cha Vinh Sơn trước thói đua đòi mua sắm quá khả năng tài chính của nhiều gia đình. Ngài bảo: Xe cũ vẫn tốt nếu mình biết cách sử dụng, nó vẫn đưa mình đến nơi muốn đến, lẽ dĩ nhiên là xe mới thì đẹp và an toàn hơn. Người giáo dân thường đòi hỏi quá nhiêu điều nơi các linh mục mà dễ quên đi rằng ngài cũng là con người như mọi người và ngài cũng đang nỗ lực trên con đường nên trọn lành. Hãy cầu nguyện cho các ngài và hãy cho các ngài cả thời gian nữa.

Thứ Bảy, 21 tháng 6, 2014

Những nẻo đường phục vụ




Thánh Augustinô đã nói: “Hãy yêu đi rồi làm gì thì làm”. Câu nói nầy chứa đựng cả một triết lý sống: Thiên Chúa yêu thế gian nên mới tạo dựng vũ trụ, ban cho họ Người Con duy nhất làm Đấng Cứu Độ và Thiên Chúa không ngừng âu yếm chăm sóc từng người qua từng ngày sống; về phía con người, cuộc đời họ chỉ có giá trị và được gọi là thành công khi họ biết làm mọi việc vì yêu mến Chúa và tha nhân.

Thế nhưng, trong con người khuynh hướng tự nhiên lại thúc đẩy họ thu vén và yêu bản thân mình, ta thường gọi là tính vị kỷ. Nơi mỗi người, cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng vị tha và vị kỷ sẽ còn tiếp diễn đến giây phút cuối đời. Có những lúc lòng ta cảm nghiệm được giọt mật hạnh phúc vì sự phục vụ, nhưng có những lúc sự phục vụ trở nên như gánh nặng cuộc đời mà ta muốn tìm cách trút bỏ càng sớm càng tốt.
Chúng ta cảm phục sự phục vụ người nghèo của mẹ Têrêxa Calcutta và các chị em trong dòng tu của mẹ. Dòng tu của mẹ chăm sóc những người bị xã hội bỏ rơi, vì họ nghèo, bẩn thỉu và bệnh tật. Thế nhưng các sơ lại chăm sóc họ cách chu đáo và tận tâm, như là chăm sóc cho chính Chúa Kitô vậy. Đáng nể phục nữa là có rất nhiều bạn trẻ tình nguyện đến phục vụ theo sự sắp xếp của các sơ, họ phục vụ miễn phí và rất vui vẻ, nhẫn nại. Chúng ta cũng cảm phục các linh mục và tu sĩ nam nữ, đã hiến cả cuộc đời phục vụ Giáo hội trong nhiều lãnh vực và môi trường.

Có nhiều con đường để sống tốt cuộc đời nơi dương thế, tựa như vườn hoa muôn sắc mà Thánh Linh đã dệt nên để làm cho Giáo hội được sống động và xinh tươi bội phần. Đời sống các vị Thánh được Giáo hội tuyên dương đã nói lên điều đó. Nhưng một đời sống thánh phải được đặt trọng tâm nơi lòng yêu mến bí tich Thánh Thể và khiêm tốn phục vụ tha nhân.
Xã hội càng tân tiến bao nhiêu thì người ta càng đề cao giá trị của đồng tiền và tự do cá nhân. Bởi đó, sự phục vụ dường như trở nên lạc lõng và trở nên một thách đố. Có kẻ nghĩ: sự phục vụ cần có nhiệm kỳ, đừng lấn chiếm thời giờ lao động thì còn chấp nhận được! Sự phục vụ dễ trở thành gánh nặng một phần là do tính ganh tị, do sự trái ý riêng và do nó rút bớt thời gian kiếm tiền của ta.

Thế nhưng, hãy xác định lại một lần nữa rằng: sự phục vụ là nẻo đường giúp ta nên thánh và là cơ hội để ta tập từ bỏ ý riêng, để rồi ta phục vụ giáo xứ cho vui vẻ và tận tình, dù ta ở mắt xích nào trong cơ thể Giáo hội địa phương. Đừng đợi đến lúc có tiền và có giờ ta mới phục vụ người nghèo, đừng đợi có cơ hội bách hại để chịu tử đạo…tốt hơn là mỗi ngày ta đang sống hãy tận tâm phục vụ cho vui vẻ và khiêm tốn, vì lòng yêu mến Chúa và mưu ích cho phần rỗi anh em mình. Hãy nghĩ rằng: khi ta quảng đại phục vụ Chúa thì Ngài sẽ lo liệu cho cuộc đời ta, Chúa không thua lòng quảng đại của ta bao giờ!

Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

Chứng nhân Tin Mừng




Mỗi Kitô hữu là một chứng nhân Tin Mừng, theo cách của mình và trong hoàn cảnh sống của mình. Điều nầy không thể chối cãi, vì là một đòi hỏi của bí tích rửa tội: trở nên muối cho đời và là ánh sáng cho trần gian (Mt 5,13-14). Lệnh truyền ‘đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân” của Chúa Giêsu trước khi về trời có tính cách bó buộc mọi người chứ không phải là một lời khuyên, một điều được phép tự do chọn lựa làm hay không làm (Mt 28,19).
Câu chuyện của chàng dũng sĩ  trong bài “cửa tùng đôi cánh gài” được đăng trên trang lebaotinhbmt.com làm người ta giật mình nghĩ lại mình. Chàng dũng sĩ ra đi để cứu đời giúp người, những ngày đầu chàng rất hăng say diệt trừ yêu quái và thường sử dụng kính chiếu yêu. Thế nhưng mới 7 năm trôi qua thôi mà chàng đã trở nên yêu quái lúc nào không hay, đã từ lâu chàng không còn sử dụng kính chiếu yêu vì thấy những nét quen thuộc của mình nơi mọi người. Câu chuyện gợi cho ta đôi nét về đời sống đạo và sứ mạng làm chứng cho Đức Kitô. Lúc lãnh nhận bí tích rửa tội, người Kitô hữu lãnh nhận chiếc áo trắng với lệnh truyền hãy giữ tâm hồn luôn tinh trắng cho đến ngày trình diện trước tòa Chúa; người Kitô hữu còn được trao cho ngọn nến sáng với lệnh truyền làm chứng nhân cho Đức Kitô. Đặc biệt hơn, bí tích thêm sức kiện toàn ơn của bí tích rửa tội, ban dồi dào ơn Chúa Thánh Thần để ta trở nên chiến sĩ Chúa Kitô ra đi xây dựng Hội Thánh.

Những chàng dũng sĩ trẻ ra đi, lòng hăng say và đầy nhiệt huyết, với kính chiếu yêu là Tin Mừng Đức Kitô, họ phát hiện có nhiều giả trá và nhiều lối sống không phù hợp với lời dạy của Chúa và Giáo hội. Thế nhưng, càng lăn lộn với đời nhiều, họ không còn bực mình về những thói đời, họ dần dần chấp nhận chúng như những điều bình thường: sự dối trá như một điều khôn khéo để sống còn, sự gian dối nơi học đường như một sự thật không thể khác hơn, sự đua đòi vật chất như điều cần thiết để thể hiện bản thân, sự hối lộ như là một thủ tục không cần phải suy nghĩ; sự ngừa thai và phá thai là một lựa chọn tất yếu và nhẹ nhàng cho cuộc sống, ly dị là cách giải quyết cho những cuộc hôn nhân ‘khó chịu’, ai sao tôi vậy: luật pháp cho gì tôi xài thứ ấy…

Đến một lúc nào đó, những chàng dũng sĩ cảm thấy mệt mỏi với đời, họ thấy mình cũng đã nhiễm thói đời lúc nào mà không hay: muối đã nhạt và đèn đã cất ở đáy thùng! Đã từ lâu nay họ không dùng ánh sáng Tin Mừng để đối chiếu cuộc đời. Đọc Tin Mừng thì đọc qua loa, chẳng thấm nổi vào quả tim đã đầy tràn những tham lam và chất chứa nhiều hận thù.

Chàng dũng sĩ thất thểu trở về am để gặp lại sư phụ, tu luyện cho lòng mình được thanh tịnh.
Đừng quá hăng say với sứ mạng cứu đời và giúp người mà quên tĩnh dưỡng tâm hồn, để rồi một khi nhìn lại thì đời ta đã trở nên vô dụng vì đã bị đời đồng hóa: muối đã nhạt và đèn đã hết sáng!