Danh sách Blog của Tôi

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2022

TRƯƠNG VĨNH KÝ, NHÀ BÁC HỌC THIÊN TÀI

 



Sưu tầm

Trương Vĩnh Ký ( 6.12.1837 – 1.9.1898 ) khi mới sinh có tên là Trương Chánh Ký, tự Sĩ Tải, theo đạo Công Giáo nên có tên thánh: Jean Baptiste Petrus, nên còn gọi tắt là Petrus Ký. Ông là một nhà giáo, nhà báo, nhà văn, nhà ngôn ngữ học và là nhà bác học Việt Nam, thông thạo 26 ngôn ngữ, được ghi trong Bách Khoa Tự Điển Larousse và là một trong 18 văn hào thế giới của thế kỷ 19. Ông để lại hơn 100 tác phẩm về văn học, lịch sử, địa lý, từ điển và dịch thuật.

Trương Vĩnh Ký thiết tha với nền văn học Quốc ngữ và được coi là người đặt nền móng cho báo chí Quốc ngữ Việt Nam. Ông sáng lập, là tổng biên tập những tờ báo quốc ngữ đầu tiên ( Gia Định báo ), cũng là cây bút chủ chốt của rất nhiều báo khác. Tên ông từng được đặt tên cho trường Trung học Petrus Ký, nay là Trường Trung học Phổ Thông Lê Hồng Phong.

Trương Vĩnh Ký sinh tại ấp Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoàng An, tỉnh Vĩnh Long ( nay thuộc huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre ). Ông là con thứ ba của Lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu. Năm ông 3 tuổi, thân phụ ông được triều đình cử đi sứ sang Cao Miên rồi mất ở bên ấy.

Nhờ mẹ tần tảo, lên 5 tuổi Trương Vĩnh Ký được đi học chữ Hán tại Cái Mơn. Năm 9 tuổi, ông được Linh mục Tám đem về nuôi, vì nhớ ơn ông Thi ( cha của Petrus Ký ) đã hết lòng che giấu ông lúc nhà Nguyễn cấm đạo Công giáo gắt gao.

Ông Tám mất, hai nhà truyền giáo người Pháp ( thường gọi là Cố Hòa, Cố Long ) thấy Petrus Ký vừa thông minh vừa chăm học, nên đem về trường dòng ở Cái Nhum dạy chữ La tinh. Năm 1848, Cố Long đưa Petrus Ký sang học tại Chủng viện Pinhalu ở Phnom Penh.

Năm 1851, trường này chọn 3 học sinh xuất sắc, trong số đó có Petrus Ký, để cấp học bổng đi du học tại Chủng viện Giáo Hoàng ở Penang thuộc ( Malaysia ). Đây là một trường chuyên đào tạo các tu sĩ cho vùng Viễn Đông...

Năm 21 tuổi ( 1858 ), Trương Vĩnh Ký đang học đến nửa năm thứ 6 ( chỉ còn một năm nữa là tốt nghiệp để chịu chức Linh mục ) thì phải vội về nước vì mẹ ông qua đời.

Lúc Petrus Ký trở về quê hương Cái Mơn, cũng là lúc thực dân Pháp đem quân sang xâm chiếm Việt Nam ( Đà Nẵng bị tấn công ngày 1 tháng 9 năm 1858 ). Vì thế, việc cấm đạo Công Giáo cũng diễn ra gay gắt hơn.

Năm 1861 Petrus Ký thành hôn với bà Vương Thị Thọ ( con gái ông Vương Ngươn, hương chủ làng Nhơn Giang ( Chợ Quán ) do Linh Mục Đoan, Họ Đạo Nhơn Giang, mối mai, và dời về cư ngụ ở Chợ Quán, Sàigòn.

Ngày 8 tháng 5 năm 1862, Pháp thành lập trường Thông ngôn ( Collège des Interprètes ), ông được nhận vào dạy.

Năm 1863, triều đình Huế cử một phái đoàn do Phan Thanh Giản đứng đầu sang Pháp xin chuộc ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, và ông Giản đã xin Trương Vĩnh Ký đi theo làm thông ngôn.

Sang Pháp, Petrus Ký cùng phái đoàn nhà Nguyễn được triều kiến Hoàng đế Napoléon III, gặp nhiều nhân vật tên tuổi thuộc nhiều lãnh vực khác nhau. Ngoài ra, ông còn được sang thăm Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý và được yết kiến Đức Giáo Hoàng tại Rôma.

Về nước, năm 1865, Trương Vĩnh Ký viết cho tờ Gia Định báo ( tờ báo bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên ) do ông Ernest Potteaux làm quản nhiệm.

Năm 1866, ông thay thế Linh Mục Croc làm Hiệu trưởng Trường Thông ngôn. Ngày 15 tháng 9 năm 1869, ông được Thủy Sư Đô Đốc Pháp là Ohier bổ nhiệm làm Chủ Bút tờ Gia Định báo và tờ An Nam chính trị và xã hội.

Ngày 1 tháng 1 năm 1871, Trường Sư Phạm ( École normale ) được thành lập, Petrus Ký được cử làm Hiệu Trưởng. Đến ngày 1 tháng 4 cùng năm, Petrus Ký được Pháp phong hạng nhất huyện ( hàm ), được cử làm Thư Ký Hội Đồng châu thành Chợ Lớn.

Năm 1873, Petrus Ký được giao nhiệm vụ điều hành trường Tham Biện Hậu Bổ ( Collège des administrateurs stagiaires ), dạy Việt và Hán văn và cũng bắt đầu viết sách.

 Năm 1876, Thống đốc Nam Kỳ Duperré cử ông ra Bắc Kỳ tìm hiểu tình hình miền Bắc. Năm 1877, ông là hội viên duy nhất và đầu tiên người Việt Nam, được cử làm ủy viên hội đồng cai trị Sàigòn.

Năm 1883, ông được Hàn Lâm Viện Pháp phong hàm Viện sĩ ( Officier d'Académie ).

Năm 1886, Paul Bert ( nghị sĩ, hội viên Hàn Lâm, bác học gia Sinh Vật học ) được cử sang Đông Dương làm khâm sứ Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Vốn là bạn từ trước, nên Paul Bert mời Trương Vĩnh Ký ra Huế giúp việc.

Đến Huế, Petrus Ký được vua Đồng Khánh cho lãnh chức trong Cơ Mật Viện Tham tá, sung Hàn Lâm Viện Thị Giảng Học Sĩ.

Ngày 11 tháng 11 năm đó, Paul Bert bất ngờ bị bệnh chết, Trương Vĩnh Ký bị nhóm thực dân không cùng cánh bỏ rơi, bạc đãi; và bản thân Petrus Ký sau đó cũng bị triều đình Huế nghi kỵ và trù dập nên ông lấy cớ đau phổi xin từ chức về lại Sàigòn dạy học tại trường Hậu Bổ, trường Thông ngôn và viết sách... 

Mặc dù đã trở về đời sống của một viên chức, nhưng Trương Vĩnh Ký vẫn bị người khác phe tìm cách hạ bậc lương và làm khó dễ việc vào ngạch giáo sư sinh ngữ Đông Phương của ông. Rồi năm 1888, trường Thông ngôn đóng cửa, Petrus Ký gần như thất nghiệp. Và khi trước, lúc còn được ưu ái, những sách của Trương Vĩnh Ký đều được nhà cầm quyền Pháp bỏ tiền ra in, để phân phối cho học sinh. Nhưng từ khi bị hất hủi, lui về ẩn dật ở Chợ Quán, ông phải bỏ tiền riêng ra in ấn và tự phát hành. Sách ế ẩm khiến Petrus Ký phải mắc nhiều nợ.

Năm 1887, sau khi đi công tác ở Bangkok để giải quyết vấn đề giữa Thái Lan và Đông Dương, ông nghỉ hưu. Năm 1888, ông xuất bản tạp chí tư nhân Thông Loại Khóa Trình ( Miscellanées ) được 18 số ( 1888-1889 ).

Sống trong hoàn cảnh buồn bã, túng quẫn, bệnh hoạn luôn, Petrus Ký qua đời vào ngày 1 tháng 9 năm 1898. ( Ảnh chụp: Mồ Trương Vĩnh Ký tại Chợ Quán ). Mộ phần và nhà ở khi xưa của ông ( nay là nơi thờ phụng ông ), hiện nằm nơi góc đường Trần Hưng Đạo và Trần Bình Trọng thuộc quận 5, Sàigòn.

Không những Trương Vĩnh Ký là một nhà văn tiền phong của nền văn học chữ quốc ngữ mà ông còn là một học giả rất nổi tiếng. Trong quá trình hoạt động, ông đã được nhận các chức việc và huân huy chương:

Nhận huy chương Dũng Sĩ Cứu Thế của Tòa Thánh Roma ngày 1 tháng 10 năm 1863. Năm 1871, được cử làm hội viên Hội Nhân Văn và Khoa Học vùng Tây Nam nước Pháp, Hội Nhân Chủng học, Hội Giáo Dục Á Châu. Năm 1874, được phong giáo sư ngôn ngữ Á Đông, vì Petrus Ký đã thông hiểu 27 sinh ngữ trên thế giới.

Trong cuộc bầu chọn “Toàn Cầu Bác Học Danh Gia” vào năm 1874, Petrus Ký đã được bình chọn đứng hàng thứ 17 trong 18 “Thế giới Thập Bát Văn Hào”.

Trở thành hội viên Hội chuyên khảo về Văn Hóa Á Châu ngày 15 tháng 2 năm 1876.

Trở thành hội viên Hội Chuyên Học Địa Dư ở Paris ngày 7 tháng 7 năm 1878.

Nhận huy chương Hàn Lâm Viện đệ nhị đẳng của Pháp ngày 17 tháng 5 năm 1883.

Nhận Tứ đẳng Long Tinh, Ngọc Khánh, Long Khánh của Nam triều ngày 17 tháng 5 năm 1886.

Nhận Bắc Đẩu Bội Tinh đệ ngũ đẳng của Pháp ngày 4 tháng 8 năm 1886.

Nhận Hàn Lâm Viện đệ nhất đẳng của Pháp ngày 3 tháng 6 năm 1887.

Nhận Hàn Lâm Viện đệ nhất đẳng của Hoàng Gia Cam Bốt.

Vua Đồng Khánh ban cho ông chức Hàn Lâm Viện Thị Giảng Học Sĩ.

Vua Khải Định ban hàm Lễ Bộ Tham Tri.

Vua Bảo Đại ban hàm Lễ Bộ Thượng Thư.

Ông có rất nhiều tác phẩm ( 118 tác phẩm hoặc 121 tác phẩm ), lược kê một số như:

Truyện đời xưa

Abrégé de grammaire annamite ( Tóm lược ngữ pháp An Nam )

Kim Vân Kiều ( bản phiên âm ra chữ quốc ngữ đầu tiên )

Petit cours de géographie de la Basse-Cochinchine

Cours de langue annamite ( Bài giảng ngôn ngữ An Nam )

Voyage au Tonkin en 1876 ( Đông Kinh du ký )

Guide de la conversation annamite ( Hướng dẫn đàm thoại An Nam )

Phép lịch sự An Nam ( Les convenances et les civilités annamites )

Lục súc tranh công

Cours de la langue mandarine ou des caractères chinois.

Cours d'histoire annamite ( Bài giảng lịch sử An Nam )

Dư đồ thuyết lược ( Précis de géographie )

Đại Nam tam thập nhất tỉnh thành đồ

Cours de littérature annamite, 1891 ( Bài giảng văn chương An Nam )

Cours de géographie générale de l'Indochine ( Bài giảng địa lý tổng quát Đông Dương )

Đại Nam tam thập nhứt tỉnh địa đồ

Grand Dictionnaire Annamite-Français ( Đại tự điển An Nam-Pháp ) v.v...

Hiện còn nhiều trước tác của Trương Vĩnh Ký đã bị thất lạc, không còn đầy đủ hoặc nằm ở thư viện nước ngoài.

Cuối thế kỷ 19, Jean Bouchot gọi Trương Vĩnh Ký là "một nhà bác học duy nhất ở Đông Dương và cho đến ở nước Trung Hoa hiện đại nữa." Học giả người Pháp này cũng đã viết: “Ta phải xem đời của cụ Trương Vĩnh Ký là một bài học và một gương tốt cho ta. Một bài học vì, vì ta thấy người dân hoàn toàn Nam Kỳ ấy sánh kịp với các nhà thông thái xứng đáng nhất của Âu châu trong đủ ngành khoa học...”

Các nhà văn, nhà nghiên cứu Việt Nam nhận xét:

Vũ Ngọc Phan: “Trong số những sách dịch thuật, khảo cứu và sáng tác của ông, người ta thấy chỉ những sách khảo cứu của ông là có giá trị hơn cả... Người ta thấy ông rõ là một nhà bác học có óc tổ chức và có phương pháp...”

Vương Hồng Sển: “Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của là ba ông minh triết bảo thân, gần bùn mà chẳng nhuốm mùi bùn, không ham "đục nước béo cò" như ai, chỉ say đạo lý và học hỏi, sống đất Tào mà lòng giữ Hán, thác không tiếng nhơ, thấy đó mà mừng thầm cho nước nhà những cơn ba đào sóng gió còn hiếm người xứng danh học trò cửa Khổng.”

Sơn Nam: “Ông Trương Vĩnh Ký từ khi đỗ đạt cho đến khi mất vẫn tỏ ra thân Pháp. Tuy nhiên, người ở miền Nam không bao giờ khinh rẻ ông. Ông không gia nhập Pháp tịch; trước khi mất, ông biết thân phận của người học giả sống trong thời kỳ khó khăn...”

Khi phong trào Duy Tân hoạt động công khai rầm rộ, ông Trần Chánh Chiếu cổ động lạc quyên đúc tượng kỷ niệm ông Trương Vĩnh Ký với bài trong báo Lục Tỉnh Tân Văn nhan đề “ông Đốc Ký”.

Con người giàu tài năng và có sức làm việc to lớn như thế, đến cuối đời đã rơi vào hoàn cảnh nghèo nàn, túng bấn. Về mặt tinh thần, lúc sinh thời ông cũng đã bộc lộ nhiều băn khoăn, khắc khoải. Hai câu cuối của Bài thơ tuyệt mệnh như muốn gửi gấm tâm sự cho người đời sau, khi phẩm bình về sự nghiệp của ông:

Cuốn sổ bình sanh công với tội

Tìm nơi thẩm phán để thừa sai. 

Ngoài ra, ông còn được xem là có công trong ngành làm vuờn ở Cái Mơn. Các giống cây ăn trái như là sầu riêng, chôm chôm tróc, măng cụt tróc, bòn bon đều do ông đem từ Penang mỗi khi bãi trường về thăm nhà.

NHÀ MỒ GIỮA THỦ ĐÔ SÀIGÒN XƯA



Có một nhà mồ nằm ngay mặt tiền đường Trần Hưng Đạo, Sàigòn mà không phải ai cũng biết có một thân phận đặc biệt đang yên nghỉ. Trên cửa nhà mồ, dòng chữ Latin Miseremini mei saltem vos amici mei ( Xin hãy thương tôi, ít ra là những bạn hữu của tôi ) như nói lên nỗi lòng thiên cổ của một người Việt đã được vinh danh là một trong 18 nhà thông thái của thế kỷ 19: Trương Vĩnh Ký. ) Ảnh chụp: Mộ ngài TRƯƠNG VĨNH KÝ ở giữa và vợ con hai bên và ba miếng đá lát phẳng với nền nhà mồ.

Lặng lẽ bên đường

Lách cách mở ổ khóa đã hoen gỉ ở cửa nhà mồ, ông Trương Minh Đạt, hậu duệ đời thứ tư của Trương Vĩnh Ký, ngậm ngùi: “Lâu lắm rồi mới có khách đến viếng !”

Chúng tôi nhẹ bước qua những chiếc lá vàng khô bị gió cuốn bay vào nhà mồ, mà ngẩn ngơ nhìn thực tế khác nhiều với điều mình hình dung. Nền bằng phẳng, không một gò đất, công trình nào nhô lên như những nấm mộ thường hay nhìn thấy. Dưới ánh chiều đang sậm dần, phải nhìn kỹ mới thấy ba phiến đá khác màu có chiều rộng khoảng 1m, dài gần 2m được lát bằng phẳng mà mới nhìn cứ tưởng là nền nhà mồ. Ông Đạt bùi ngùi: “Các ông nhà tôi yên nghỉ dưới đấy !”

Dưới phiến đá trắng đã ngả màu vàng nhạt, nơi Trương Vĩnh Ký yên nghỉ, ở giữa người vợ Vương Thị Thọ và con trai cả Trương Vĩnh Thế. Sinh thời Trương Vĩnh Ký đã nổi danh. Và hơn một thế kỷ trôi qua bao ngòi bút ngược xuôi vẫn còn rỏ mực về ông, nhưng bia mộ lại chỉ vài dòng ngắn ngủi. Nó được khắc ngay trên phiến đá làm nắp mộ với vài dòng danh phận người yên nghỉ: J.B. Petrus Trương Vĩnh Ký. Chữ Pháp đầu dòng không phải tên Tây của ông mà là tên đạo ông theo từ thuở ấu thơ ở quê hương Cái Mơn, Bến Tre. Bia mộ không ghi năm ông sinh ( 6.12.1837 ), nhưng khắc rõ ông mất ngày 1.9.1898. Trang trí mộ bia cũng giản dị với hình một cành lá, không hoa bao quanh.

Mất sau chồng đến chín năm, nhưng bia mộ bà Vương Thị Thọ lại bị thời gian làm phai mòn nhiều hơn. Bà yên nghỉ dưới phiến đá màu nâu đỏ đã ngả màu sậm có nhiều vết nứt, vỡ cùng năm tháng. Lau lớp bụi thời gian, ông Đạt ngậm ngùi kể mình 58 tuổi. Từ nhỏ, ông đã được cha là Trương Vĩnh Thạnh dặn dò phải gìn giữ nhà mồ các cố để hậu sinh truyền đời tưởng nhớ, nhưng không thể ngăn được sự tàn phá của thời gian và bao biến động thời cuộc.

Giữ đúng đạo “xuất giá tòng phu” xưa, dòng đầu trên bia mộ cụ bà mang tên chồng là Maria Trương Vĩnh Ký. Dòng nhỏ dưới mới khắc tên mình là Vương Thị Thọ mất năm 1907 và không trang trí một hoa văn nào ngoài hình cây thánh giá. Nằm bên trái cha, tình trạng bia mộ người con Trương Vĩnh Thế cũng bị nhiều vết hư hại của thời gian. Trong gia phả dòng họ, Trương Vĩnh Thế là anh cả ông nội Trương Vĩnh Tống của ông Trương Minh Đạt, hiện đang sống ở đây để gìn giữ nhà mồ. Sinh thời, ông Thế làm quan đốc phủ sứ mà dòng chữ khắc trên bia vẫn còn rõ nét.

Ông Đạt trầm ngâm: “Hồi xưa, khu nhà mồ này còn nhiều di vật ông cố Trương Vĩnh Ký để lại với các sách vở, hình ảnh được giữ gìn cẩn thận. Về sau, một số được tặng cho Viện Khảo Cổ Sàigòn, nhiều cái còn lại đem qua Pháp trong năm 1975”. Thuở trước, nhà mồ còn có bức tượng bán thân cụ cố Trương Vĩnh Ký. Tượng được đắp bằng ximăng, sơn đen. Những năm khó khăn sau năm 1975, kẻ xấu đã lẻn vào lấy trộm vì tưởng là “đồng đen” quý hiếm. Thời ấy, phải vật vã kiếm miếng ăn, anh em ông Đạt đã bỏ nhiều ngày lang thang các khu “chợ trời” vỉa hè để tìm chuộc lại nhưng cuối cùng đành gạt nước mắt về không. Họ nghĩ có lẽ kẻ gian phát hiện tượng ximăng, không phải kim loại quý, đã đập mất rồi !

Hiện nay, toàn bộ khuôn viên nhà mồ còn rộng hơn 2.000m2. Ngoài nhà mồ Trương Vĩnh Ký, bãi đất còn khoảng 60 ngôi mộ khác của gia tộc và một nhà ngói cổ được xây từ năm 1937 đến giờ vẫn đang là nơi ở của gia đình ông Đạt. Mang nét kiến trúc Pháp với nhiều cửa, cột, vòm cong, nhà mồ Trương Vĩnh Ký rộng khoảng 50m2, trang nhã với các chi tiết nhẹ nhàng nhưng tinh tế.

Thiên tài và định mệnh

Theo chân ông Đạt, tôi trở ra đường Trần Hưng Đạo. Cảm giác bùi ngùi khi chẳng thể tìm được tấm bảng nào chỉ dẫn đây là nơi Trương Vĩnh Ký, người Việt đã được vinh danh một trong 18 nhà thông thái thế giới, sử dụng thành thạo 26 ngôn ngữ, yên nghỉ. Bên góc cổng, người anh Trương Minh Tấn của ông Đạt đang cặm cụi với quán cà phê kiếm sống qua ngày. Gương mặt ông Tấn hằn nét khắc khổ, già hơn tuổi 68. Nhắc chuyện xưa, ông Tấn tràn ngập ký ức: “Hồi tôi còn nhỏ, đường này thưa thớt lắm, bên đây nhìn thấy con kênh đào ven đại lộ Võ Văn Kiệt bây giờ. Thuở đó, kênh vẫn còn trong xanh và là nơi ông cố Trương Vĩnh Ký dựng nhà mát bên sông để đọc sách, dạy học trò”.

Khi anh em ông Tấn, ông Đạt chào đời, Trương Vĩnh Ký đã mất cả nửa thế kỷ. Ký ức hai anh em được ông nội Trương Vĩnh Tống ( con trai thứ Trương Vĩnh Ký ) truyền kể rằng nhà mồ nằm bên đại lộ Gallieni, nay là đường Trần Hưng Đạo. Vùng đất ngày xưa còn gọi Chợ Quán này là quê vợ Trương Vĩnh Ký. Còn nơi chôn nhau cắt rốn của ông ở Cái Mơn, Bến Tre. Là con trai lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu, Trương Vĩnh Ký sớm mồ côi khi cha đi công vụ ở Cao Miên.

Trong gia đình có Đạo, tuổi thơ Trương Vĩnh Ký sớm thăng trầm khi triều Nguyễn ra lệnh “sát tả” ngăn chặn Thiên Chúa Giáo. Ban đầu, Trương Vĩnh Ký học chữ Nho với thầy đồ, và ông chỉ lộ rõ thiên tài khi được các Linh Mục Pháp dạy học. Đặc biệt là ở Chủng Viện Penang ( Malaysia ), ông đã làm cả thầy lẫn bạn học khâm phục sự đam mê đọc sách cùng trí nhớ siêu việt và khả năng học nhanh chóng cùng lúc nhiều ngoại ngữ khó như Latin, Hy Lạp, Pháp, Ý, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Thái Lan. Nhờ vậy mà nghiệp bút của Trương Vĩnh Ký đã đạt kỷ lục khoảng 120 cuốn sách gồm đủ các lĩnh vực, đặc biệt là các sách đạo làm người, từ điển Pháp – Việt...

Và rồi định mệnh như an bài với Trương Vĩnh Ký. Chính thiên tài ngoại ngữ, tri thức sâu rộng nhờ đọc sách, đi xa đã cuốn ông vào vòng xoáy lịch sử chênh vênh, phức tạp trong thời cuộc nước nhà bị Pháp tiến chiếm. Trở thành thông ngôn cho Pháp, rồi cho cả sứ bộ triều đình, phải kề cận kẻ đô hộ lẫn gần gũi chính nhà vua nước mình, Trương Vĩnh Ký đã bị người đời nhìn nhận ngược xuôi công tội.

Để rồi trước khi nhắm mắt xuôi tay, chính ông phải cảm thán viết bài thơ đầy nỗi niềm: 

Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quai

Xô đẩy người vô giữa cuộc đời

Học thức gửi tên con sách nát

Công danh rốt cuộc cái quan tài

Dạo hòn lũ kiến men chân bước

Bò xối, con sùng chắc lưỡi hoài

Cuốn sổ bình sanh công với tội

Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.

( Quốc Việt )

Năm 1898, Cụ mất đi để lại rất nhiều thương tiếc, mãi đến sau này, một số trí thức miền Nam, trong đó có một nhà Cách Mạng là ông Trần Chánh Chiếu đã đứng ra vận đông và quyên góp khắp Nam Kỳ lục tỉnh để xây dựng Tượng Đài Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký. Kết quả là vào ngày 24 tháng 12 năm 1927, tượng của Cụ đã được long trọng khánh thành tại vườn Norodom ngay trung tâm của thành phố Sàigòn ( góc công viên Thống Nhất cạnh Nhà Thờ Đức Bà ). Sau năm 1975, tượng đài của Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký bị phá bỏ.

Sau hơn 30 năm từ ngày tượng đài của Cụ dựng tại trung tâm thành phố Saigon đã bị hạ bệ và thủ tiêu mất tích… Cho đến ngày hôm nay, đại đa số những nhà trí thức miền Nam từng ngưỡng mộ và yêu mến nhà Bác Học khả kính này, đã rất muốn xây dựng lại tượng Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký, nhưng qua bao sự biến chuyển và thay đổi của cái gọi là “Đổi Mới” của chế độ, yêu cầu đó đã không được đáp lời !

Tại hải ngoại, trong cùng một ý nghĩa đó, để nhớ lại công ơn của Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký, điêu khắc gia Phạm Thế Trung đã thu thập tài liệu, hình ảnh để tạc lại bức tượng toàn thân ( 7 feet ) cao như người thật với quốc phục Việt Nam, áo dài khăn đống, tay cầm quyển sách chữ Quốc Ngữ, với bước đi thong dong của một kẻ sĩ miền Nam ( Ảnh chụp kèm theo ). Với hoài bão sẽ cùng với Cộng Đồng người Việt Hải Ngoại có thể vận động để xây dựng lại tượng của Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký nơi xứ người. Tượng Đài của Cụ là một biểu tượng Văn Hóa đã gắn bó với người dân miền Nam Việt Nam tự bao giờ…

HẢI ĐĂNG, Toronto 

 

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2022

Tìm mộ cụ Nguyễn Hiến Lê

 



Sưu tầm

Trung ThuNguyệt san Pháp Luật TP.HCM tháng 12-2009


“Mộ Nguyễn Hiến Lê hả? Chị không biết. Chị chưa nghe cái tên này bao giờ” - chị D. lắc đầu. Nhìn sâu vào mắt chị, tôi biết chị nói thật. Tôi cứ nghĩ một học giả tài đức vẹn toàn như cụ thì ai từng cắp sách đến trường đều biết. Huống hồ chị - người công tác trong lĩnh vực văn hóa...

"Ông này cũng nổi tiếng dữ!”

Tôi chạy hơn 150 km bằng xe Honda đến Đồng Tháp để tìm mộ cụ Nguyễn Hiến Lê. Tôi đi chỉ để thắp một nén nhang trước linh cữu con người đáng kính ấy. Đọc sách, tôi biết mộ cụ nằm ở Lai Vung. Với một người có nhiều đóng góp cho nền văn hóa như cụ, tôi tin người dân ở đó sẽ chỉ cho tôi mộ cụ dễ dàng như trở bàn tay.

Câu nói chân thật của chị D. không khiến tôi suy suyển. Tôi cẩn thận ghi tên cụ vào giấy rồi đưa chị đọc. Cuối cùng, chị trả lại mảnh giấy với nụ cười e lệ: “Chị không biết thật rồi. Để chị giới thiệu cho em một người khác nhé!”.

Sau khi nghe nguyện vọng của tôi, người này nhún vai nói chắc nịch: “Anh chưa nghe tên ông ấy bao giờ. Em có lầm với ai không?”. Tôi cố nở nụ cười méo xệch: “Anh không biết ông ấy thật à?”. “Thật mà. Ông ấy là ai vậy em?”. Anh hỏi lại tôi hết sức bình tĩnh như đang chờ được cung cấp thông tin về một con người xa lạ.

Nhìn chiếc máy tính nối mạng của anh, tôi dè dặt hỏi nhờ tra cứu thông tin về cụ. Google sổ ra cả một núi thông tin về cụ, nhưng chi tiết về mộ cụ hiện ở đâu thì không hề thấy. Anh đứng cạnh tôi nheo mắt đọc chăm chú. Cuối cùng anh a lên một tiếng: “Ông này cũng nổi tiếng dữ!”.

Câu nói của anh khiến tôi đau nhói. Ngồi xuống chiếc ghế đá lạnh lẽo chiều mưa, tôi tự hỏi mình còn cách nào để tìm ra mộ cụ. Tôi cảm tưởng mình đang phiêu lưu trong khu rừng rậm rạp để truy tìm kho báu.

Cuộc tìm kiếm vô vọng

Chợt nhớ cô giáo dạy văn cấp ba quê ở Lai Vung, tôi liền bấm số điện thoại của cô, hy vọng tìm được đôi chút thông tin. Nhưng cô giáo tôi không biết. Cô hứa sẽ gọi điện hỏi thăm bà con ở Lai Vung xem thử có ai biết mộ cụ ở đâu không.

Tôi lại không ngần ngại bấm số điện thoại của một nhà văn. Anh là người miền Tây, chắc sẽ có những thông tin hay. Kết quả là anh biết rất rõ về cụ, nhưng cái vụ mồ mả của cụ thì anh bí. Tôi lại lục trí nhớ để để tìm số điện thoại của một nhà báo. Sau khi nghe tôi hỏi, anh cười sặc sụa và mạch lạc trả lời là anh... không biết.

Không bó tay, tôi bèn bấm số 1080 và nghe giọng nhẹ nhàng của một nữ điện thoại viên. Tôi dám chắc là cô đã phải nhịn cười. Mất năm phút tra cứu thông tin, cô nói tổng đài chưa cập nhật thông tin này và mong khách hàng thông cảm. Tôi thông cảm. Cụ Nguyễn Hiến Lê mất đến nay đã tròn 25 năm, không ai nghĩ đến chuyện nghiên cứu về cụ, một vị học giả dành cả đời đóng góp vào tàng thư dân tộc những tác phẩm giá trị nhất.


 

Mở đầu cuốn Đông Kinh Nghĩa Thục, Nguyễn Hiến Lê viết: “Mà có bao giờ người ta nghĩ đến việc thu thập tài liệu trong dân gian không? Chẳng hạn khi một danh nhân trong nước qua đời, phái một người tìm thân nhân hoặc bạn bè của người đã mất, để gom góp hoặc ghi chép những bút tích về vị ấy, rồi đem về giữ trong các thư khố làm tài liệu cho đời sau. Công việc có khó khăn tốn kém gì đâu, mà lại có lợi cho văn hóa biết bao”. Thật không ngờ, điều cụ luôn canh cánh trong lòng, đến khi mất lại vận vào chính đời cụ.

Vỡ òa niềm vui

Tôi đứng ở Lai Vung và biết mộ cụ cũng chỉ nằm đâu đó quanh đây. Chợt nhớ đến người thầy đã dạy cho tôi biết về Nguyễn Hiến Lê, lòng tôi vỡ òa như đứa trẻ. Tôi cuống quýt gọi điện cho thầy. Thầy cười rồi gửi tin nhắn. Tin nhắn không dấu. Một người dân đoán nơi tôi cần đến là chùa Phước Ân, gần ngã tư Cai Bường, Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Võ.

Người địa phương nhìn tôi dặn dò: “Từ Lai Vung, con đi thêm khoảng 10 km nữa dọc theo quốc lộ 80 là sẽ tới ngã tư Cai Bường. Tới đó con hỏi chùa Phước Ân ai cũng biết hết”.

Mưa bắt đầu nặng hạt quất vào mặt, vào mũi, vào áo mưa ràn rạt nhưng tôi không cảm thấy rét buốt. Có điều gì đó cựa quậy trong lòng, vừa đê mê vừa phấn khởi. Con đường trắng xóa trong màn mưa như những bông tuyết bay lững lờ trong không trung. Giọt mưa nào ngọt ngào rớt lên môi mắt tôi. Giọt mưa nào tắm mát tâm hồn tôi. Tôi phóng xe trên con đường thênh thang, lòng rộn ràng như đã đặt được bước chân vào chốn cần tìm.

Nơi an nghỉ của người nổi tiếng

Vĩnh Thạnh nghèo nàn và ướt át. Tôi phải hỏi tới người thứ tư mới biết chính xác đường vào chùa Phước Ân. Từ ngã tư Cai Bường rẽ tay trái vào hơn 1 km đường đất nữa mới tới. Con đường len lỏi qua những vườn cây ăn trái xanh mướt và một cây cầu gỗ bắc ngang con kênh. Nhà dân nằm im lìm dưới tán lá như trái chín giấu mình sau vòm lá. Không khí thuần khiết hòa vào hương xoài dịu êm khiến tôi ngẩn ngơ. Gia quyến cụ Nguyễn Hiến Lê phải cực kỳ tinh tế và hiểu ý cụ mới đem cụ về an nghỉ chốn bình yên này.

Chùa Phước Ân hiện ra trước mắt tôi vừa trang nghiêm vừa thân thiện. Ngôi chùa đơn sơ ẩn hiện sau lớp lá bồ đề lóng lánh nước mưa. Không một bóng người. Không gian im ắng. Tôi dắt xe chầm chậm qua sân chùa. Một bà cụ mặc áo nâu sòng, mái tóc hoa râm xuất hiện. Biết tôi muốn tìm mộ cụ Nguyễn Hiến Lê, bà chậm rãi trả lời. “Trong chùa này chỉ có thầy trụ trì với bà biết ông ấy thôi”.

Bà dẫn tôi vào chánh điện. Sau lớp kính mờ ảo của khung ảnh, nụ cười cụ Nguyễn Hiến Lê vẫn tươi rói và đôi mắt dường như vẫn dõi theo trần gian, đôi mắt như thăm thẳm một niềm an lạc. Di ảnh cụ được treo bên cạnh người vợ thứ hai là bà Nguyễn Thị Liệp. Sau khi cụ mất, bà xuất gia đi tu và mong muốn được an nghỉ tại chùa Phước Ân cùng chồng.


 

Mộ cụ Nguyễn Hiến Lê nằm lọt thỏm trong khoảng 20 ngôi mộ khác. Ngôi mộ của một con người lỗi lạc nhỏ nhắn và giản dị đến nỗi bát nhang không một nén. Nhưng tôi biết, cụ rất ấm cúng khi nằm chung với toàn thể gia quyến trong một khu mộ.

Không hoành tráng lộng lẫy. Không bia đá trường cửu. Không khoa trương diễm lệ. Cụ nằm đó bên ngôi chùa trầm mặc nghe kinh kệ là một diễm phúc hiếm ai nghĩ tới. Có lẽ đây là lối đi mãn nguyện nhất đối với một tâm hồn vốn giản dị và thanh sạch.

Trong gian phòng ấm cúng bên ly trà nóng, bà cụ hỏi tôi có thân thích gì với cụ Lê không mà lại đi thăm mộ lúc trời mưa gió. Tôi thưa thật, tôi chỉ là người đọc sách của cụ. Tôi tìm mộ cụ chỉ để thắp một nén nhang trước hương hồn cụ để tỏ lòng cảm phục.

Bà chưa đọc sách cụ nên hỏi tôi rằng cụ viết sách hay lắm sao mà mất lâu thế vẫn có người nhắc đến. Bà nói nhỏ: “Con đã tìm được đến đây thì làm cách nào đó cho mọi người cùng biết nhé”.

Tôi cắm vào lư hương trên mộ cụ một nén nhang thành kính. Hương trầm tỏa bay làm cay cay khóe mắt.

Đôi nét về cụ Nguyễn Hiến Lê

Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) quê ở làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội. Ông được biết đến như một nhà văn, học giả, dịch giả, nhà giáo dục.

Xuất thân từ một gia đình nhà Nho, ông học tại Hà Nội. Năm 1934, ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng Công chính Hà Nội, sau đó làm việc tại Nam Bộ. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông đi dạy học ở Long Xuyên. Năm 1952, ông chuyển lên Sài Gòn mở nhà xuất bản và biên dịch sách, sáng tác, viết báo.

Nguyễn Hiến Lê đã dành trọn phần đời còn lại của mình để miệt mài viết sách. Ông có khoảng 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn, dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký, gương danh nhân, chính trị, kinh tế...

Ông làm việc đều đặn 13 tiếng đồng hồ mỗi ngày, gồm sáu tiếng đọc tài liệu và hơn sáu tiếng để viết. Nhờ áp dụng nghiêm ngặt thời gian biểu này, ông đã hoàn thành một khối lượng tác phẩm đồ sộ. Nhiều tác phẩm của ông trở thành cuốn sách gối đầu giường của thanh niên trẻ.

TH.C sưu tầm (Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

 

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2022

 


Lỗi Lầm và Ân Hận

Sưu tầm

 
Vào những ngày cuối năm 2002, trên các trang báo của Ý đã xuất hiện một thông báo tìm người rất đặc biệt:
 
“Ngày 17/5/1992, ở bãi đậu xe đường số 5, khu thương nghiệp thành phố Avenue, một người phụ nữ da trắng bị một chàng trai da đen cưỡng hiếp.
Không lâu sau, người phụ nữ kia đã sinh ra một bé gái da đen.
Hiện tại cô bé bị bệnh máu trắng, cần phải làm phẫu thuật cấy ghép tủy gấp, ba ruột của cô bé chính là niềm hy vọng duy nhất để cứu sống cô.
Hy vọng người năm xưa sau khi đọc được lời nhắn này, hãy mau chóng liên hệ với bác sĩ Adrew làm việc tại bệnh viện Elizabeth.”
 
Bản tin đã nhanh chóng tạo ra một chấn động trong dư luận.
Đây là một câu chuyện có thật, và nó sẽ có kết cục như thế nào?
Đối diện với một kẻ cưỡng bức… bạn có tha thứ cho anh ta không?
 
Xin hãy xem tiếp…
 
Cô bé bị bệnh máu trắng liên quan đến một bí mật…
Ở một khu dân cư thuộc thành phố Foyer nước Ý, Marda 35 tuổi là người phụ nữ luôn bị mọi người xì xào bàn tán, bởi cô và chồng cô Peter đều là người da trắng, nhưng trong hai đứa con của họ lại có một đứa là da đen.
Điều này đã khiến cho những người hàng xóm xung quanh không khỏi cảm thấy tò mò.
Marda luôn cười nói với họ rằng, do bà nội của mình là người da đen, ông nội là người da trắng, nên đứa con gái Monica mới xuất hiện sự lại giống như vậy.
 
Và bí mật đã không thể che đậy được nữa…
 
Mùa thu năm 2002, cô bé da đen Monica bị chẩn đoán mắc bệnh máu trắng, biện pháp chữa trị duy nhất là làm phẫu thuật cấy ghép tủy.
Hết thảy những người thân họ hàng hai bên đều đến bệnh viện làm xét nghiệm nhưng không có ai thích hợp cả.
Một buổi tối, bác sĩ Andrew đang trực ban thì có tiếng gõ cửa, là vợ chồng Marda.
 
Và ông đã được nghe bí mật mà hai vợ chồng họ chôn giấu bao năm nay.
“Chuyện xảy ra vào tháng 05/1992, lúc đó là 10h tối, trời mưa rất to. Marda vừa tan ca làm.
Khi cô đi ngang qua một bãi đậu xe bị bỏ hoang, Marda nghe thấy sau lưng có tiếng bước chân; cô sợ hãi quay đầu lại nhìn, là một chàng trai da đen đang đứng phía sau cô.
Anh ta tay cầm một khúc cây, đánh cô ngất đi, và làm nhục cô.
Không lâu sau đó, Marda phát hiện mình đã mang thai.
Họ đã vô cùng sợ hãi, lo sợ rằng đứa con này chính là của người da đen kia.
Marda muốn phá bỏ cái thai, nhưng Peter đã ngăn cản cô bởi anh vẫn hy vọng đứa bé trong bụng chính là con của họ.
 
Cứ như vậy, họ đã thấp thỏm chờ đợi…
Tháng 03/1993, Marda hạ sinh một bé gái, là da đen.
Họ đã hoàn toàn tuyệt vọng, và quyết định sẽ đem đứa bé cho cô nhi viện, nhưng mỗi lần nghe thấy tiếng khóc của nó thì lại không nhẫn tâm.
 
Và cuối cùng họ quyết định sẽ nuôi nấng cô bé này như con gái…
Mắt Peter bắt đầu nhòe đi, anh tiếp tục nói:
Dù sao thì Marda cũng đã mang thai nó, đứa bé không có tội gì cả.
Nó xứng đáng được sống và yêu thương.
 
Sống mũi bác sĩ Andrew cũng đã cay cay, ông im lặng một lúc rồi cuối cùng mở lời:
“Ông bà phải tìm được cha ruột của Monica, ông nói: không chừng tủy xương của anh ta, hoặc tủy xương của con cái anh ta có thể thích hợp với Monica”.
“Nhưng… ông bà có bằng lòng để cho anh ta xuất hiện trong cuộc đời mình lần nữa hay không?”
 
Marda nói:
“Vì Monica, chúng tôi bằng lòng tha thứ cho anh ta, nếu như anh ta chịu bước ra để cứu đứa bé, tôi hứa sẽ không khởi tố”.
 
Bác sĩ Andrew không khỏi chấn động sâu sắc bởi tấm lòng lòng thương con của người mẹ này.
Marda và Peter suy nghĩ hết lần này đến lần khác, quyết định dùng hình thức giấu tên, để đăng một bản tin tìm người trên báo.
 
Tháng 11/2002, trên hầu hết các tạp chí thành phố Foyer đều đăng một bản tin tìm người.
Nhưng trong biển người mênh mông, huống hồ chuyện đã nhiều năm như vậy, biết đi đâu để tìm tên cưỡng dâm năm xưa?
 
Câu chuyện này đã làm cảm động rất nhiều người, một làn sóng hiến tủy lan khắp cả nước, không ít người tự nguyện làm xét nghiệm tủy để xem mình có thích hợp hay không.
Và điều đó đã cứu được rất nhiều bệnh nhân bị bệnh máu trắng, nhưng Monica lại không nằm trong số những người may mắn.
 
Bản tin cũng truyền đến tai những tội phạm da đen năm đó.
Rất nhiều người đã tự nguyện trình báo để làm xét nghiệm xương tủy, hi vọng có thể hiến tủy cho Monica.
 
Cả những tù nhân da trắng cũng bị cảm động trước tình mẫu tử của Marda, họ bày tỏ sự quan tâm chân thành đến cô và cung cấp nhiều manh mối hỗ trợ cảnh sát và gia đình tìm ra kẻ cưỡng dâm năm xưa.
 
Nhưng đáng tiếc thay, họ vẫn không thể tìm ra cha ruột của Monica.
 
Hơn hai tháng trôi qua, người đàn ông da đen kia vẫn không xuất hiện… Marda và Peter vẫn hồi hộp lo lắng chờ đợi phép màu sẽ đến với con gái của họ.
 
Sau khi bản tin tìm người này xuất hiện trên trang báo ở thành phố Napoli, trong lòng ông chủ của một nhà hàng cao cấp là Achlia bắt đầu dậy sóng.
Ngày 17/05/1992, trong cuộc đời anh đã trải qua một đêm mưa gió bão bùng tựa như ác mộng, anh rất có thể là người được nhắc đến trong câu chuyện trên.
 
Không ai có thể ngờ được rằng triệu phú Achlia của ngày hôm này từng là một người rửa chén thuê trong một nhà hàng ở thành phố Foyer.
Cha mẹ mất sớm, anh phải nghỉ học, lăn lộn kiếm sống ngoài xã hội.
 
Trớ trêu thay, ông chủ của anh lại là một kẻ phân biệt chủng tộc.
Dẫu anh có cố gắng làm việc chăm chỉ thế nào thì vẫn luôn phải chịu sự đánh đập chửi mắng từ ông ta.
 
Đó là sinh nhật lần thứ 20 của Achlia.
Anh dự định sẽ nghỉ làm sớm để đón mừng sinh nhật của mình, không ngờ trong lúc loay hoay đã vô tình làm rơi một cái đĩa, ông chủ túm chặt lấy cổ anh bắt anh phải nuốt hết những mảnh vỡ đó.
Achlia phẫn nộ cho ông ta một đấm, rồi xông ra khỏi quán.
 
Anh quyết tâm báo thù người da trắng.
Buổi tối hôm đó trời mưa tầm tã, trên đường dường như không có một bóng người đi lại, trên bãi đậu xe anh gặp Marda, căm phẫn dâng trào trong anh về sự phân biệt chủng tộc, lòng căm thù đối với người da trắng đã khiến anh phạm phải tội ác lớn nhất trong cuộc đời mà đến tận bây giờ anh vẫn không thể tha thứ cho chính mình: Anh đã cưỡng bức người phụ nữ vô tội đó.
 
Hối hận vô cùng, anh đã mua vé xe lửa đến thành phố Napoli, rời xa khỏi thành phố này trong đêm hôm đó, hi vọng có thể quên đi cảm giác tội lỗi mà anh đã gây ra.
 
Về sau, Achlia đã tìm được công việc thuận lợi ở nhà hàng của một người Mỹ, đôi vợ chồng đó rất quý sự cần cù của anh, còn đem cô con gái Lina gả cho anh, về sau còn giao cho anh quản lý toàn bộ công việc kinh doanh của nhà hàng.
 
Mấy năm trở lại đây, anh đã phát triển nhà hàng thành một nhà hàng cao cấp sang trọng. Anh và Lina cũng có với nhau ba đứa trẻ vô cùng đáng yêu.
Đối với mọi người, Achlia thật sự là một ông chủ tốt, người chồng tốt và người cha tốt.
 
Achlia vẫn không sao quên được tội ác năm xưa.
Anh luôn cầu nguyện Thượng Đế, xin Người hãy phù hộ người phụ nữ đã từng bị anh làm hại kia, hy vọng cô có thể bình an vô sự sống một cuộc sống hạnh phúc, và không bị tổn hại bởi tội lỗi anh đã gây nên.
 
Nhưng anh trước giờ chưa từng đem bí mật trong lòng này nói với bất kỳ ai.
Buổi sáng hôm đó, Achlia đã đọc đi đọc lại bản tin đó đến mấy lần, trực giác mách bảo rằng anh chính là kẻ cưỡng gian được tìm trên tờ báo đó.
 
Anh không bao giờ nghĩ rằng, người phụ nữ đáng thương đó đã mang thai và đã nuôi dưỡng đứa con vốn không thuộc về mình.
Cả ngày hôm đó, Achlia đã gọi điện thoại cho bác sĩ Andrew mấy lần, nhưng điện thoại còn chưa quay xong anh liền vội cúp máy.
 
Trong lòng anh đang giãy giụa đau đớn.
Nếu như đứng ra thừa nhận tất cả, mọi người sẽ biết được quá khứ xấu xa của anh, những đứa con sẽ không còn yêu thương anh nữa, anh sẽ mất đi gia đình hạnh phúc và người vợ xinh đẹp, cũng sẽ mất đi sự tôn trọng của xã hội đối với mình.
 
Anh đã rất khó khăn để có một cuộc sống như ngày hôm nay, anh không thể để hạnh phúc tuột mất được.
Bữa tối hôm đó, mọi người trong nhà đều bàn luận về những tin tức có liên quan đến Marda trên báo chí như những lần trước.
 
Người vợ Lina nói:
“Em thật sự rất khâm phục người phụ nữ này. Nếu như đổi lại là em, em sẽ không đủ can đảm để nuôi dưỡng con gái đã được sinh ra vì bị cưỡng hiếp.
Em càng khâm phục chồng của cô ấy, anh ta quả thật là một người đàn ông đáng được tôn trọng, có thể chấp nhận một đứa con như thế”.
 
Achlia im lặng hồi lâu rồi hỏi:
“Vậy em nhìn nhận kẻ cưỡng hiếp đó như thế nào?”
 
Lina căm phẫn nói:
“Em tuyệt đối không thể tha thứ cho hắn ta được.
Năm xưa đã làm sai rồi, vào thời khắc then chốt của bây giờ, hắn ta lại rụt cổ trốn tránh.
Hắn ta thật đúng là quá đê tiện, quá ích kỷ, thật là quá ghê tởm!
Hắn ta là con quỷ hèn nhát!”
 
Nghe Lina nói vậy, Achlia càng không dám nói ra sự thật với vợ.
 
Anh trằn trọc suốt đêm không sao ngủ được, cảm giác bản thân như bị đày đọa dưới địa ngục, những khung cảnh trong đêm mưa gió tội ác đó không ngừng xuất hiện trước mắt.
 
Anh dằn vặt tự hỏi:
“Mình rốt cuộc là người tốt, hay là người xấu?”
 
Mấy ngày sau, Achlia không cách nào im lặng được nữa, tình thương của người cha đã bùng lên từ nơi sâu thẳm trong tâm hồn anh, anh muốn cứu con gái mình.
Anh đã phạm sai lầm một lần rồi, bây giờ không thể phạm sai lầm tiếp nữa.
Anh gọi cho bác sĩ Andrew bằng điện thoại công cộng.
 
Cũng trong tối hôm đó, anh lấy hết can đảm để nói với vợ tất cả.
Lina bật khóc, cô không thể nào có thể chấp nhận được người chồng rất mực yêu thương cô lại chính là một tên tội phạm.
Cô chạy ào ra khỏi cửa, lái xe đi suốt đêm trong vô vọng, cô chưa từng trải qua đêm nào khủng khiếp như vậy trong cuộc đời.
 
Sau một đêm dằn vặt đau khổ, cô đã quyết định trở về.
Achlia ra mở cửa, hai mắt đỏ hoe.
Lina kiên định nói:
“Achlia, anh hãy đến chỗ bác sĩ Andrew! Em sẽ đi cùng với anh!”
 
Ngày 08/02/2003, vợ chồng Achlia đã đến bệnh viện Elizabeth và làm xét nghiệm ADN, kết quả anh thật sự chính là cha ruột của Monica.
 
Khi biết được người đàn ông da đen từng làm nhục mình cuối cùng đã dũng cảm bước ra, những giọt nước mắt hạnh phúc không ngừng lăn dài trên má Marda.
 
Cô đã căm hận trong suốt 10 năm, nhưng thời khắc này đây cô vô cùng cảm động.
Tất cả đều được tiến hành cực kỳ bí mật, bệnh viện đã không tiết lộ thân phận của người trong cuộc cho báo chí mà chỉ thông báo với ký giả rằng đã tìm được cha ruột của Monica.
 
Thông tin này đã khiến người dân cả nước quan tâm, họ không ngừng gọi điện thoại và viết thư cho bác sĩ Andrew, nhờ ông gửi sự tha thứ và lòng tôn kính của họ đến người da đen này:
“Anh ấy từng là tội nhân, nhưng giờ đây anh ấy là một anh hùng!”
 
Ngày 18/02, dưới sự sắp xếp bí mật, Marda gặp Achlia trong phòng khách của bệnh viện.
 
Khi nhìn thấy Marda, bước chân Achlia nặng nề, sắc mặt tái nhợt.
Marda và chồng bước đến, nắm chặt lấy tay anh, ba người nhìn nhau khóc không thành tiếng, nước mắt hòa lẫn vào nhau.
 
Rất lâu sau, Achlia nghẹn ngào nói:
“Xin lỗi, xin lỗi, xin hãy tha thứ cho tôi!
 
Câu nói này tôi đã chôn sâu trong lòng suốt hơn 10 năm nay rồi, hôm nay cuối cùng đã có cơ hội để nói với chị.
 
Tôi thực sự hi vọng Monica và anh chị sẽ sống hạnh phúc bên nhau.
 
Tôi rất cảm ơn Monica, con bé đã cho tôi một cơ hội để chuộc tội và có thể sống thanh thản trong nửa đời còn lại. Đây chính là món quà mà con bé đã ban tặng cho tôi.”
 
Marda nói:
“Cảm ơn cậu đã có thể bước ra.
Cúi xin Thượng Đế phù hộ, tủy xương của cậu đã cứu sống con gái tôi!”
 
Ngày 22/02/2003, thời khắc mà mọi người chờ đợi từ lâu cuối cùng đã đến, xương tủy của Achlia được cấy ghép vào trong thân thể của Monica.
 
Một tuần sau đó, Monica khỏe mạnh xuất viện. Vợ chồng Marda đã hoàn toàn tha thứ cho Achlia…
Cám ơn các bạn đã đọc hết!
 

Thái Tùng Quân
(TTQ theo Inspirations)

 

Christiano Nomine Deleto

 


Sưu tầm: phần đầu của cha Minh Anh, phần sau của Rick Warren, người viết phần kết luận.

“Christiano Nomine Deleto”, “Danh Kitô hữu đã bị xoá sạch”, đó là những lời đắc thắng được khắc vào đồng tiền thời bách hại đầu thế kỷ thứ tư đời hoàng đế Diocletianus. Hoàng đế này đã chết, đế quốc vô địch Rôma đã tan, nhưng Giáo Hội Công Giáo của Chúa Kitô vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt cho đến hôm nay. Đó chẳng phải là điều khiến cho thế giới phải kinh ngạc’ sao?

 

Với phương tiện truyền thông hiện đại, mọi tội lỗi và sai lầm của các thành viên trong Giáo Hội đều có thể được nhiều thế lực ‘mổ xẻ’ và phổ biến tức khắc cho thế giới, thì nơi chúng ta, có thể nảy sinh một cám dỗ tự nhiên là coi thường Giáo Hội. Những vụ bê bối, chia rẽ, tranh cãi và những điều tương tự có thể gây chấn động niềm tin của chúng ta đến tận cốt lõi; từ đó, một số người đặt lại vấn đề về sự dấn thân và tham gia liên tục của họ trong Giáo Hội. Vậy mà sự thật là, mọi yếu nhược, sai lầm của các thành viên trong Giáo Hội thực sự phải là nguyên nhân và là cơ hội để chúng ta canh tân và đào sâu đức tin của mình vào chính Giáo Hội, mẹ chúng ta. Chúa Giêsu không hứa, các lãnh đạo của Giáo Hội sẽ là những vị thánh, nhưng Ngài hứa, “Cửa địa ngục sẽ không thắng được”. Vì thế, hãy an tâm, hãy an tâm! Thánh Thần luôn hoạt động để canh tân Hội Thánh, canh tân mỗi người, hầu chúng ta mãi thánh thiện, tinh tuyền, không vết nhăn, không tì ố.

Đức Thánh Cha Phanxicô nói, “Chúng ta hãy yêu mến Giáo Hội, bất chấp rất nhiều vấn đề đang tồn tại trong Giáo Hội, cũng như bất chấp những nghịch cảnh và bất chấp việc có rất nhiều tội nhân trong đó. Vì Giáo Hội là thánh, là Hiền Thê của Chúa Kitô với bao nhiêu điều tốt lành thánh thiện; thế nhưng chúng ta, những người con của Giáo Hội lại là những tội nhân, một số rất lớn trong chúng ta là tội nhân. Chúng ta hãy yêu mến Giáo Hội, như Giáo Hội là, chúng ta không huỷ hoại Giáo Hội bằng việc dè bỉu như đang là mốt của thời đại. Không, chúng ta yêu mến! Ai yêu mến Giáo Hội, người ấy có thể tha thứ, vì người ấy biết, chính bản thân mình cũng là một tội nhân đang cần ơn tha thứ của Thiên Chúa”. Mỗi người hãy cầu nguyện và ra sức nên thánh, tiếp tục yêu mến Giáo Hội và đó cũng là điều ‘khiến cho thế giới phải kinh ngạc’.



Khi nói về việc bảo vệ Hội Thánh, Rick Warren có những lời rất đáng nhớ. {Công việc của bạn là bảo vệ sự hiệp nhất Hội Thánh, sự hiệp nhất quan trọng đến nỗi Tân Ước chú ý đến nhiều hơn cả thiên đàng hỏa ngục. Với Thiên Chúa, trên mặt đất nầy không có gì quý hơn Hội Thánh, Người trả giá cao nhất cho Hội Thánh, đó là giá của Con Một Người, Người bảo vệ Hội Thánh khỏi những phá hủy gây nên bởi chia rẽ, xung đột và bất hòa. Nên nhớ rằng Chúa Ki tô kêu gọi chúng ta gia nhập Hội Thánh, rất khác biệt nhau về cá tính – bối cảnh- chủng tộc, để mỗi người nên thánh trong cá tính riêng của mình, và Người muốn sự hiệp nhất – chứ không phải sự đồng dạng!

Người ta thất vọng với Hội Thánh vì nhiều lý do dễ hiểu. Bảng liệt kê hẳn phải khá dài: xung đột, tổn thương, giả hình, tắc trách, nhỏ nhặt, nệ luật, và những tội khác. Thay vì sốc và kinh ngạc, chúng ta hãy nhớ: Hội Thánh được hình thành từ những tội nhân thực thụ, kể cả chúng ta; vì là những tội nhân, chúng ta gây tổn thương cho nhau, khi hữu ý khi vô tình. Nếu mỗi Hội Thánh phải hoàn hảo mới thỏa mãn bạn, thì chính sự hoàn hảo đó sẽ loại trừ bạn, bởi vì bạn cũng không hoàn hảo! Mỗi cộng đoàn Giáo hội địa phương có thể treo lên một tấm bảng: “Người hoàn hảo không cần gia nhập, đây là nơi chỉ dành cho ai nhận mình là tội nhân, cần ân sủng và muốn lớn lên”}.



Chúng ta đang nói nhiều về Giáo hội hiệp hành: hiệp nhất, tham gia và sứ vụ. Hiệp hành là cùng nhau bước đi: không loại trừ một ai, nhất là những người tội lỗi, những người có hoàn cảnh gia đình đặc biệt. Khởi đầu bằng việc chúng ta hãy tích cực cầu nguyện cho kẻ có tội được hoàn lương, cho các chủ chăn được nên giống Chúa, và đừng nói xấu Giáo hội, đừng nghe nói xấu Giáo hội: nghe lời nói xấu cũng như nhận đồ ăn cắp, việc đó khiến bạn trở nên tội phạm.

 

MẸ LÀ BÓNG MÁT ĐỜI CON

 

 

 

 


 


 

Riêng tặng K.L. và các bà mẹ nhân ngày Hiền Mẫu

 

 

Trần Mỹ Duyệt

 

 

Có lẽ hình ảnh đem lại nhiều ấn tượng nhất mỗi khi về thăm quê hương, và đặc biệt là lần về thăm gần đây năm 2013 là hình ảnh mẹ tôi, một người mẹ già, tóc bạc, lưng gù, và hàm răng cái còn, cái mất. Một người mẹ quê ngày ngày ngồi đó, bên chiếc võng, ru mấy đứa cháu và chắt. Ngày xưa thì mẹ đưa võng ru con, bây giờ con khôn lớn thì đưa võng ru cháu và chắt. Một người mẹ mà những nét nhăn nheo, cằn cỗi theo thời gian và tuổi đời đang hằn sâu trên khuôn mặt xinh đẹp thuở nào của một thời xuân trẻ. Một người mẹ mà nụ cười như mếu mỗi khi thấy con về từ xa xa. Nhưng dù vẻ đẹp của mẹ có phai nhòa theo tháng năm, nét tinh anh của mẹ có bị dòng đời xói mòn, nhưng tình yêu mẹ dành cho con vẫn nguyên vẹn, vẫn như thuở nào khi con còn bé nhỏ.

 

Như người cha già mỏi mòn chờ con và sung sướng, vui mừng, vội vã ôm choàng lấy đứa con  sau bao ngày xa vắng trở về thế nào, thì cái tâm tình nôn nao và niềm vui hạnh phúc của mẹ tôi cũng òa vỡ như vậy mỗi lần tôi trở về thăm mẹ. Mỗi lần như thế là mẹ tôi vồn vã ra lệnh cho đứa con này, đứa cháu nọ:

 

-Mau bổ trái dừa tươi cho bác uống vì bác đi đường xa khát nước.

-Mau mở quạt máy mạnh lên một chút để căn phòng khách mát.

-Mau xịt thuốc muỗi để muỗi khỏi đốt bác.

-Mau dọn cơm lên vì bác đi đường xa mệt và đói…

 

Và còn nhiều cái mau mau như thế khiến cho người con xa nhà bỗng trở nên quan trọng, được ưu đãi một cách đặc biệt.

 

Nhưng nếu để ý quan sát, thì qua những đối xử đặc biệt ấy hoàn toàn không phải vì người con mới từ Mỹ về. Không phải vì người con mang nhiều quà, bánh về cho mẹ; càng không phải vì người con ấy có chút ít tiền bạc để biếu mẹ. Nhưng tất cả chỉ vì “tình mẹ thương con.” Tình người mẹ thương và dành cho đứa con sau nhiều ngày vắng nhà như một đền bù vì đã không được mẹ quan tâm, săn sóc. Tôi học được và biết được tâm tình này sau những giờ phút mẹ con trao đổi, tâm sự.

 


Trong những ngày tháng ít ỏi, và trong những giờ phút chỉ có hai mẹ con ấy, mẹ tôi thường kể cho tôi nghe những chuyện đã qua, những chuyện có liên quan đến thầy tôi, đến tuổi thơ của tôi, nhất là những chuyện xảy ra sau khi thầy tôi qua đời khiến mẹ tôi phải cô đơn vì không những không còn thầy tôi mà còn không có tôi bên cạnh. Hoàn toàn không một lời than van! Không một tiếng trách móc. Hoàn toàn không một tiếng “tiền”, tiếng “giàu có”… trong những trao đổi ấy. Nếu có nhắc đến tiền thì đại khái những mẩu đối thoại ấy như thế này:

 

“Những lần anh chị và các cháu gửi tiền về, mẹ không tiêu xài vào việc gì hết. Mẹ chỉ để dành mua mấy hộp sữa, còn bao nhiêu là cất đi để hễ có chuyện cần thì lại mang ra mà dùng.” Vừa nói, mẹ vừa chỉ tay lên chỗ này, chỗ nọ xem như có chút hãnh diện về cái tài tháo vát, xoay xở, dành dụm, và nhất là sự hy sinh cho con, cho cháu:

 

“Đây này cái trần nhà kia mới sửa mất hơn 4 triệu, cái bàn thờ kia mới sơn lại gần 2 triệu. Mộ của thầy và của bà ngoại mới sửa lại cũng tốn hơn 3 triệu. Còn dư chút nào nữa thì đứa này, đứa khác lâu lâu lại đến bà. Đấy có được đồng nào thì cũng chỉ lo cho con, cho cháu, cho nhà cửa thôi. Mẹ mà không dè sẻn thì làm gì có được như vầy, như vầy…” 

 

Cũng trong những lúc chỉ có hai mẹ con như thế, tôi lại nghiệm ra thêm cái chân lý “làm mẹ” của người phụ nữ, dĩ nhiên, ở nơi mẹ của mình. Khi còn là sinh viên, khi đọc nhận xét của Freud: “không biết phụ nữ muốn gì” cứ tưởng là một nhân xét tiêu cực hay một nhận xét có vẻ coi thường người hỏi. Nhưng nay càng lớn, càng hiểu sâu hơn về lý lẽ cuộc đời, về tâm lý sống con người, mới hiểu rằng biết về người phụ nữ quả là khó, càng khó đo lường hơn tấm lòng bao la của một người mẹ. Có thể nói như Y Vân về lòng mẹ: “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình”. Tình thương của bà chiếu tỏa như ánh trăng rạng ngời trên bầu trời thanh bình của lòng con: “Tình mẹ thương con như vừng trăng tròn mùa thu”.

 

Ôi! Tấm lòng của một người mẹ là tấm lòng của cả biển trời bao la cộng lại. Nó bao la, nó man mác, và nó vời vợi đến độ khó lòng mà hiểu nổi. Và như Y Vân đã diễn tả, dù đứa con sau này có đi đâu chăng nữa, chân trời góc biển, nơi mà nó muốn quay về vẫn là bóng mát của tấm lòng người mẹ:

 

Dù ai xa vắng trên đường sớm chiều về đâu.
Dù khi mưa gió tháng ngày trong đời bể dâu.
Dù cho phai nắng nhưng lòng thương chẳng lạt mầu.
Vẫn mong quay về vui vầy dưới bóng Mẹ yêu.

 

 

Và Honoré de Balzac đã viết về trái tim của người mẹ:

“Trái tim của người mẹ là một vực thẳm vô tận, ở đáy của nó luôn luôn tìm thấy sự tha thứ.”

-The heart of a mother is a deep abyss at the bottom of which you will always find forgiveness. (Honoré de Balzac).

Tổng Thống Abraham Lincoln thì suy tôn lời cầu nguyện của mẹ Ông:

“Tôi ghi nhớ những lời cầu của mẹ tôi và chúng luôn theo tôi. Những lời cầu đã bám sát tôi trong suốt cuộc đời tôi.”

- I remember my mother’s prayers and they always followed me. They have clung to me all my life. (Abraham Lincoln).

 

Công nương Diana đã viết về vòng tay của người mẹ:

“Vòng tay của người mẹ dịu dàng hơn bất cứ vòng tay của ai khác.”

- A mother’s arms are more comforting than anyone else’s. (Diana, Princess of Wales).

Những cử chỉ lo lắng của người mẹ dành cho con không chỉ là vòng tay vỗ về êm ái, và không chỉ lo cho con khi còn còn nhỏ. Mấy ngày ở với mẹ quả là hạnh phúc. Vòng tay săn sóc của mẹ luôn bao phủ và đầy ắp yêu thương. Một hôm đang còn nằm nướng trong căn phòng để tránh cái nóng như thiêu như đốt bên ngoài, thì mẹ đập cửa và nói to: “Dậy mà đi tắm cho nó mát đi chứ?” Hôm sau, sau bữa cơm trưa đang còn vui với mấy cháu nhỏ, thì mẹ lại giục: “Đi nghỉ trưa một chút cho nó khỏe đi chứ. Thức trưa mệt chết à!” Nghe sao mà nó thấm thía tình mẫu tử đến thế. Trước những tâm tình ấy, tự nhiên tôi liên tưởng đến những lần bà xã vẫn thường nhắc mình sau mỗi lần đi làm về :“Anh đi tắm cho mát rồi ăn cơm!” Không lẽ cách thức chăm sóc con của bà mẹ và cách thức lo lắng của người vợ đối với chồng cũng có cùng một mẫu số như nhau? 

 

Chắc chắn là thế! Trái tim người phụ nữ dù mẹ hay vợ, là nơi ngự trị của tình mẫu tử, một thiên chức thiên phú đã được ban cho họ. Bất ngờ thấy nhớ bà xã quá chừng. Nhớ lại mỗi lần được nhắc đi tắm, tôi thường tìm lý do này, lý do khác kéo dài cái lười của mình. Nhưng lười hay không thì vẫn thua cái tình mẫu tử thiêng liêng tiềm ẩn bên trong sự săn đón của một người vợ hiền. Vì một nghĩa nào đó, mình cũng như một “baby” mà nàng rất lấy làm hạnh phúc để săn sóc. Không biết các đấng ông chồng có hiểu ra chân lý này để yêu thương và đền đáp lại tình thương săn sóc của vợ hay không. Nếu vô tình mà không nhận ra được điều này thì thật là một thiếu sót, một sự lơ là đáng trách!

 

Mẹ tôi bây giờ đã già. Như một gốc cây cằn cỗi nhưng lại là một gốc cây hiếm quí. Trong những vườn cây bonsai mà người Nhật thường nuôi trong nhà, những gốc bonsai quí và hiếm là những gốc già và lâu năm. Người chơi cảnh thích những gốc cây già, cổ và lâu năm vì cái giá trị thời gian và sức sống tiềm ẩn của nó. Tôi cầu xin cho mẹ tôi sống lâu, bởi tôi chỉ sợ rằng sẽ có một lúc nào đó gốc cây cổ thụ ấy được cất đi khỏi phần đất nhân sinh này, và khi ấy bóng mát tinh thần của nó sẽ không còn để tôi nương tựa nữa. 

Tổng Thống Abraham Licohl đã nói rất đúng:

 “Mẹ tôi là người phụ nữ tuyệt vời nhất tôi đã gặp. Tất cả những gì tôi có tôi đều nợ từ mẹ tôi. Tôi qui hướng mọi thành công trong đời cho nền giáo dục trí, đức và thể dục tôi nhận được từ người.”

-My mother was the most beautiful woman I ever saw. All I am I owe to my mother. I attribute all my success in life to the moral, intellectual and physical education I receive from her. (George Washington)  

 

Hôm nay nhân Ngày Hiền Mẫu, hướng nhìn về bên kia bờ Thái Bình nơi đó có người mẹ hiền đang chờ đợi tôi, tự nhiên tôi thấy nhớ mẹ, thương mẹ. Tôi muốn như những ngày còn thơ trẻ, chạy về ôm choàng lấy mẹ, hôn lên trán mẹ, và nói với mẹ một câu: “Mẹ ơi! Con yêu mẹ!”.

 

 

Ngày Hiền Mẫu

 

11 tháng 5 năm 2014