Danh sách Blog của Tôi

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2022

Tìm kiếm Đấng ban quà tặng

 



Một nhà tu đức đã nói: “Bạn đừng tìm kiếm quà tặng, nhưng hãy tìm kiếm Đấng ban quà tặng”. Nhiều người trong chúng ta rất ngại xin ơn, vì điều này phản ảnh não trạng vụ lợi và xem Chúa như ông bụt; kẻ khác lại hướng về lời cầu nguyện trưởng thành hơn như ca tụng, tạ ơn, sám hối; kẻ khác lại rất ngại hình thức khẩu nguyện vì kiểu cầu nguyện này nên dành cho giới bình dân; và rất nhiều người hướng việc cầu nguyện của họ đến việc suy niệm và chiêm ngắm những mầu nhiệm được Chúa diễn tả trong những bản văn Kinh Thánh. Điều quan trọng nhất trong cuộc đời này và cụ thể trong đời sống tâm linh là tìm gặp Chúa Ki tô. Cha Anthony de Mello có những lời rất lạ về việc cầu nguyện là chiếc cầu dẫn ta đến gặp Chúa, Đấng là nguồn mọi phúc lành, là Đấng tặng quà.

Trong Tin Mừng, Chúa Giê su đã lên tiếng trách những thành và những người đã chứng kiến rất nhiều phép lạ Chúa làm nhưng lại không ăn năn hối cải – họ sẽ bị lên án nặng hơn những người được lãnh ít hơn. Điều này cũng đang xảy ra trong cuộc sống: nhiều người cứ tìm kiếm phép lạ, nhưng lại không chịu thay đổi đời sống. Có câu chuyện kể về một người hành khất, được thần báo mộng rằng ngày mai anh sẽ gặp một người có cách ăn mặc và điệu bộ như vậy, như vậy… người đó sẽ cho anh một món quà giúp anh thay đổi hoàn toàn cuộc sống. Đúng như thần báo mộng, trên đường đi khất thực, người hành khất gặp ngay một vị sư đang ngồi thiền, anh ta quỳ xuống xin sự giúp đỡ, nhà sư dường như không mở mắt – tiện tay lấy từ chiếc túi vải của mình một viên ngọc quý và trao cho người hành khất. Anh này quá mừng rỡ, tạ ơn nhà sư và rút êm,vì biết rõ giá trị của món quà, nhưng suốt đêm không ngủ được vì mừng – vì lo – vì nghĩ đến tấm lòng của nhà sư mới là điều khiến anh có thể thay đổi cả cuộc đời. Chờ trời sáng, anh tìm gặp nhà sư để trả lại món quà, anh muốn tìm gặp tấm lòng của đấng tặng quà. Chúng ta cũng nhớ lại câu chuyện 10 người phong cùi được chữa lành, nhưng chỉ có một người trở lại để gặp lại Chúa Giê su để tạ ơn vì nhận ra đây mới là Đấng mở mắt đức tin cho anh. Hãy cầu xin Chúa ban cho mình mọi sự trong cuộc sống, ơn lành hồn xác, nhưng điều quan trọng hơn là hãy tìm gặp Đấng tốt lành, Đấng trọn lành và tin cậy vào Ngài trong mọi sự. Hãy biết rằng: nhiều phép lạ xảy ra là để ta thêm lòng tin vào Cha nhân lành, Đấng luôn gần gũi  chăm sóc và yêu thương ta.

Lời nguyện xin ơn. Hãy xin Chúa Giê su dạy ta cầu nguyện. Những người có một số kiến thức về triết học và thần học thường nghĩ rằng phải tránh xa lối cầu  nguyện xin ơn, nhất là những ơn phần xác và những ơn liên quan đến lợi lộc vật chất như được lành bệnh, được thi đậu, được may mắn, được bằng an… vì những lời cầu xin này quá vụ lợi và coi Chúa như ông bụt hoặc như thần may mắn; những người này thường hướng việc cầu nguyện đến những hình thức cao hơn như suy niệm và kết hiệp với Chúa cách sâu xa gọi là nhiệm hiệp. Khi các môn đệ xin Chúa Giê su dạy cách cầu nguyện thì Chúa đã dạy họ kinh Lạy Cha. Nội dung của kinh này là một chuỗi những lời cầu xin, kể cả những chuyện danh Chúa cả sáng mà cũng phải cầu xin và cả những nhu cầu vật chất và tinh thần của ta đều là những điều ta phải cầu xin mỗi ngày. Chúng ta tin cậy vào Chúa bao nhiêu thì những phép lạ trong cuộc sống xảy ra bấy nhiêu. Nhiều người hầu như không thấy và không tin phép lạ xảy ra mỗi ngày trong cuộc sống mình, vì thực ra họ có mong chờ phép lạ đâu và họ có cầu xin đâu!

Khẩu nguyện, Lời kinh Thánh Danh là cửa ngõ dẫn vào đời sống nhiệm hiệp. Nhiều người nghĩ phải có những xác tín tôn giáo như là con đường cần thiết để nên thánh – bởi đó họ miệt mài suy nghĩ và suy niệm, nhưng thực ra điều cần thiết nhất để nên thánh là quyết tâm, nỗ lực, sức mạnh… là những thứ ta phải tha thiết nài xin Chúa. Ngay cả trong giờ cầu nguyện suy gẫm, nếu chia trí thì hãy lần hạt – đọc kinh cầu Đức Bà, kinh cầu các thánh, kinh lòng thương xót cũng được. Nhiều khi ta suy gẫm mà không cầu nguyện, chính những lời cầu nguyện mang lại cho ta sức mạnh để tiến tới trên con đường nên thánh, dĩ nhiên những suy gẫm và suy nghĩ cũng trợ giúp cho đời sống cầu nguyện. Hãy chọn cho mình những lời cầu xin Thánh Danh, để lặp đi lặp lại trong ngày sống, khi chưa đi vào giấc ngủ, ví dụ: “Chúa Giê su Ki tô, xin thương xót con”; hãy đọc chậm rãi, lời kinh đó sẽ biến đổi cuộc sống ta nên tốt và lành thánh một cách không ngờ. Bạn có thể chọn một lời kinh Thánh Danh  khác cũng được, tùy hoàn cảnh và tâm tình.



Để gặp Chúa Giê su, bạn hãy xin ơn khao khát Ngài, hãy cầu nguyện với Chúa Thánh Thần để được ơn hiểu biết về Chúa Giê su, được ơn trở nên như trẻ nhỏ tin tưởng vào Thiên Chúa trong mọi sự. Trong mọi việc xảy đến, người có đức tin luôn phân biệt nguyên nhân đệ nhất và nguyên nhân đệ nhị. Ví dụ khi ta bị nhức đầu, ta uống thuốc Aspirine và cơn đau giảm đi rõ rệt: người có đức tin thì tin rằng Thiên Chúa trực tiếp chữa lành, Ngài là nguyên nhân đệ nhất, hoặc Ngài làm tăng sức đề kháng nơi ta hoặc Ngài hành động qua hoạt chất của thuốc khiến cho tôi được chữa lành; thuốc Aspirine chỉ là nguyên nhân đệ nhị. Khi ai đó xúc phạm đến tôi, có thể vì yếu đuối của họ hoặc sự cố tình của họ, người có đức tin nhận ra hoạt động của Thiên Chúa trong biến cố này, không những Chúa cho phép sự dữ xảy ra – mà tích cực hơn là Chúa có chủ đích và định liệu cho nó xảy đến, vì những lợi ích nào đó mà ta chỉ có thể đọc được một phần; người xúc phạm đến ta chỉ là nguyên nhân đệ nhị. Ngay cuộc thương khó của Chúa Giê su là một cuộc hy tế cứu độ theo Thiên ý đã định, những người tham dự vào cái chết của Chúa chỉ là nguyên nhân đệ nhị. Hãy xin ơn Thánh Thần để ta có được cái nhìn của Chúa trong mọi biến cố xảy đến. Chúa dạy ta: Hãy cầu nguyện luôn kẻo sa chước cám dỗ.

Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2022

Làm giàu trước mặt Thiên Chúa

 



Chúa Giê su đã kết thúc bài Tin Mừng về người phú hộ (Lc 12,13-21) bằng một câu đáng cho chúng ta ghi nhớ: “Kẻ nào thu tích của cải cho mình mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa thì thật là ngu ngốc!”. Vậy , làm giàu trước mặt Thiên Chúa là việc gì?

Không khó để chúng ta có thể liệt kê những việc phải làm để làm giàu trước mặt Thiên Chúa, đó là thực hành các nhân đức như tin cậy mến, khiêm nhường, bác ái, đọc kinh lần hạt, hy sinh hãm mình, phục vụ Giáo hội… Nhưng thực ra, trong bài Tin Mừng, Chúa muốn nói với chúng ta một điều quan trọng hơn: ưu tiên lo lắng cho phần rỗi linh hồn. Nhiều chỗ khác Chúa còn nói cách khác: hãy sám hối và tin vào Tin Mừng, hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, hãy nên trọn lành như Cha trên trời.

Sách Giảng Viên nói với chúng ta về hai chữ ‘phù vân’: phù là trôi nổi, vân là mây. Phù vân là nói về sự biến đổi hình dạng liên tục của những áng mây trời. Của cải, danh vọng, đam mê, tình yêu… là những thứ phù vân chóng qua, là những thứ ta phải bỏ lại khi lìa bỏ trần thế. Người khôn ngoan là người biết tìm kiếm những của cải tồn tại muôn đời, những chân lý vĩnh cửu, đó là Thiên Chúa, đó là phần rỗi cho linh hồn. Nhưng không phải bằng cách tích lũy công đức cho bằng thực hiện lẽ hoán đổi, như lời Thánh Phao lô: “Tôi coi mọi sự là thua thiệt, là rơm rác trước mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Ki tô, Chúa tôi”. Đọc tiểu sử các Thánh, chúng ta thấy nhiều vị rất giàu có, đang có một cuộc sống tốt đẹp và một tương lai sán lạn, thế nhưng họ đã bỏ tất cả để hiến cả cuộc đời nơi những miền đất xa xôi, phục vụ những người nghèo và bệnh tật, theo lời mời gọi của Chúa Giê su. Con đường nên thánh không ai giống ai, bạn và tôi có thể không có được sự nhiệt tình của những vị thánh đó, nhưng đừng nản chí, hãy cố gắng nên giống Chúa Giê su hơn và hãy khao khát Chúa đêm ngày và rồi với sự tác động của ơn thánh cuộc sống của ta sẽ tốt hơn – đẹp lòng Chúa hơn qua từng ngày sống.

Hãy coi chừng não trạng kể công, tự hào khi lo lắng phần rỗi cho linh hồn, đừng nghĩ rằng với bao công đức - với bao phụng thờ, mình đáng được vào nước trời! Vì mọi sự ta có, đều là do Chúa ban, kể cả thiên đàng. Đừng tự hào mình không như người biệt phái, không như người nọ người kia, mà chỉ nên khiêm tốn nỗ lực bước theo Chúa Ki tô từng ngày, từng ngày, mọi sự còn lại xin giao phó cho Chúa định liệu. Có người hỏi: “Nếu biết chắc ngày mai là ngày tận thế, hôm nay bạn sẽ làm gì? – Đa số người trả lời: họ sẽ đi xưng tội, bồi thường, đi làm hòa… Điều đó nói lên một não trạng rằng chúng ta muốn tìm một ‘vé vớt, một sự hối lộ’ để vào cổng thiên đàng. Thực ra, hạnh phúc thiên đàng là việc chiêm ngắm và kết hiệp với Thiên Chúa, hòa tan trong tình yêu Chúa; còn hỏa ngục là sự thiêu đốt của tình yêu: mình nhận ra sự tốt lành vô biên của Thiên Chúa nhưng lại bất lực vì không thể đến gần Ngài, vì sự khốn nạn và vô phúc của mình.



Tin Mừng Gioan nói rõ: Công việc của Thiên Chúa là tin vào vào Thiên Chúa và Đấng Ngài sai đến. Hạnh phúc nước trời không tùy thuộc công trạng của ta mà là quà tặng của Chúa dành cho người đã tin yêu Ngài, là lô độc đắc bất ngờ đối với từng người – nên cửa thiên đàng rộn ràng tiếng reo mừng: không ngờ mình lại được thương xót, không ngờ ở đó cũng có mặt những kẻ mình tưởng là rất tội lỗi nữa! Chúng ta khám phá ra điều đó khi đọc dụ ngôn về người công nhân thứ 11 và về câu chuyện người trộm lành khi Chúa bị treo trên thập giá.

Lạy Chúa, trước mặt Chúa, con người chẳng là gì cả, chỉ là chiếc bình trong tay người thợ gốm, chẳng có quyền gì mà đòi quyền nọ quyền kia. Con người đón nhận mọi sự từ nơi Chúa, nên nó chẳng có công trạng gì để đáng tự hào và kể công trước mặt Chúa: Lạy Chúa Giê su xin thương xót con là kẻ tội lỗi. Tội đầu tiên và tội thường xuyên của con người là tội quên rằng mình là tạo vật, là tội kiêu ngạo khi cho rằng mình có thể lo liệu cho đời mình và loại bỏ Chúa ra khỏi cuộc đời, vì Ngài quá thừa và thường làm mình vướng bận, trong lúc Chúa là khởi nguyên và là cùng tận của vũ trụ, là ý nghĩa của mọi sự trên cuộc đời này. Con người thường bị tật cận thị, chỉ thấy những sự trước mắt như danh lợi thú mà không thấy những sự vật xa hơn và thường nghi ngờ sự tồn tại của những thực tại đó. Chúa luôn nói với chúng con rằng: có sự sống đời đời, có ngày tận thế, ai tin vào Chúa thì có sự sống đời đời… ấy vậy mà chúng con cứ quá bận tâm đến những thực tại chóng qua ở đời này mà không  lo tìm kiếm những sự cao siêu trên trời, đó là sự đáng thương của con người chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con, vì nếu Chúa không xót thương thì chẳng còn ai sống sót trên đời.

Thứ Năm, 28 tháng 7, 2022

ĐÓN CHÚA VÀO NHÀ MÌNH

 


Hôm nay, ngày 29.7, trước đây là ngày kính Thánh Matta, nhưng nay Giáo hội dành để kính thêm 2 vị thánh nữa là Maria và Lagiarô . Căn nhà của ba chị em là nơi Chúa Giê su đã ghé lại nhiều lần. Lần cuối cùng là lần Chúa làm phép lạ cho Lagiarô được sống lại. Câu hỏi của Chúa Giê su với Matta rất đáng cho chúng ta suy nghĩ: Con có tin vào Thầy là sự sống và tình yêu không?- Thưa Thầy có, con tin Thầy là Đấng Cứu Độ, Đấng phải đến trong thế gian này.

Trước hết, chúng ta học nơi 3 vị thánh này thái độ đón tiếp Chúa. Mỗi người mỗi tính cách, Matta nổi bật với việc tiếp rước Chúa bằng việc chu đáo lo lắng cho nhu cầu vật chất, tượng trưng cho đời sống hoạt động; Maria nổi bật với việc ngồi nghe Chúa chuyện trò, chia sẻ những tâm tình của Chúa, tượng trưng cho đời sống nội tâm của việc phụng sự Chúa; còn La gia rô là người rất được Chúa thương mến, anh phải trải qua cái chết là để danh Chúa được tôn vinh, và nơi anh quyền năng Thiên Chúa được thể hiện. Đời sống đạo của người Ki tô hữu cốt yếu là nhận biết, yêu mến và phụng sự Ngài trong suốt cuộc đời này. Thế nhưng, nhiều khi chúng ta dễ biến đạo thành một mớ nghi lễ và bó buộc phải theo, vì sợ phạt ở đời này và nhất là đời sau. Những bổn phận đạo đức và những quy luật được ghi trong 10 điều răn Đức Chúa Trời và 5 điều răn Hội Thánh, những lời dạy của Tin Mừng, sách Giáo lý HTCG … chỉ là những dấu chỉ đường cho ta khỏi lạc lối. Điều quan trọng nhất trong cuộc đời này là nhận biết Thiên Chúa là tình yêu, đã yêu chúng ta vô điều kiện, và sống đạo là thể hiện tình yêu của mình với Chúa. Hai người nam nữ khi yêu nhau tha thiết thường tìm mọi cách để thể hiện tình yêu của mình: gọi tên nhau, tìm gặp nhau, tặng quà, tìm biết mong ước và nỗi buồn của người kia. Cũng vậy, chúng ta có thể nên thánh khi đặt để tình yêu vào cuộc sống, cho dù là nghề nghiệp gì và hoàn cảnh sống thế nào đi nữa. Hãy nghiệm ra điều đó khi chiêm ngắm đời sống của Thánh Tê rê xa Hài Đồng Giê su: một cuộc sống ngắn ngủi, bề ngoài quá bình thường, bệnh tật, chẳng làm được việc gì to tát… nhưng chị đã đặt để tình yêu vào từng giây phút sống và đã được tuyên phong là Thánh Tiến sỹ của Giáo Hội. Bắt đầu mỗi việc, hoặc thỉnh thoảng bạn hãy thưa với Chúa: “Lạy Chúa, con xin làm công việc này vì yêu mến Chúa”.

Trong pho sách Kinh Thánh có 365 lần Chúa nói với con người ‘đừng sợ’, vì sao con người lại sợ hãi nhiều?- Thưa, vì họ không tin vào tình yêu Chúa. Người ta thường sợ gì?- cô đơn, bất lực, không được nhìn nhận và yêu thương, bị trù dập, bị giết, bị đau đớn khổ cực, và cuối cùng là sợ bị phạt sau khi chết. Nhưng nếu người ta tin rằng có một Đấng rất mạnh và Đấng ấy lại yêu thương mình vô điều kiện thì người ta sẽ bớt sợ. Cứ nhìn xem những người không có mối liên lạc tốt với Thiên Chúa thì họ sợ đủ thứ trên đời, tin vào bất cứ chuyện gì mà người ta đồn đại và cúng vái tứ phương, trong lúc kẻ tin vào Chúa thì chỉ tin rằng Chúa lo liệu cho mình mọi sự, những điều đang xảy ra trong hiện tại là những điều tốt lành nhất mà Chúa ban tặng cho mình – dù bây giờ mình chưa hiểu – vì đường lối của Chúa vượt xa suy tưởng của con người. Thỉnh thoảng bạn hãy giục lòng mà thưa lên với Chúa: Lạy Chúa, con tin vào tình yêu và sự quan phòng của Chúa, con tạ ơn Chúa vì đã nhậm lời con cầu xin, con tin Thầy là đường là sự thật và là sự sống.

Trong cuộc sống, thỉnh thoảng chúng ta cảm thấy khó chịu và khó hiểu về những người khó liên lạc: không xài di động, họ gọi mình thì được mà mình gọi họ thì không được. Tại sao vậy? – Họ không cảm thấy cần thiết đến ai mà quên rằng người khác cần đến sự giúp đỡ của họ. Thiên Chúa chúng ta thì luôn ở bên cạnh ta, tuy vậy nhiều khi ta vẫn cảm thấy xa cách Ngài, vì những quan niệm sai về Ngài. Ta vẫn thường cầu xin với Chúa mà thật khó để dâng lời cảm tạ, ta nói liên lăng mà chẳng bắt máy khi Chúa muốn nói điều gì đó với ta, ta quá bận tâm đến việc trần thế mà quên lãng những thực tại trên trời và quên cả Chúa đang ở ngay trong lòng mình. Hãy học 3 vị thánh mừng kính hôm nay về việc tiếp rước Chúa vào đời mình: có phục vụ, có lắng nghe và có thể hiện quyền năng Chúa cho người khác. Amen.

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2022

Có lý và vô lý

 



Có câu chuyện kể về một phiên tòa xét xử về một vụ trộm. Vị thẩm phán triệu tập nguyên cáo và bị cáo để xét xử vụ án. Sau khi nghe nguyên cáo trình bày sự kiện và tình tiết mình bị thiệt hại, thì tuyên bố: “ông có lý”. Đến lượt bị cáo trình bày hoàn cảnh của mình và lý do tại sao mình lại đi trộm của người khác, ông quan tòa cũng tuyên bố: “ông có lý”. Người con trai vị quan tòa ngồi nghe xử vụ án, nói với bố mình: Thật vô lý, khi cả hai bên cùng có lý, ông quan tòa nói: “Con có lý”.

Bất cứ ai khi hành động cũng đều có lý của họ, chúng ta cần hiểu được cái lý ẩn chứa bên trong tâm hồn họ, nhiều khi họ không tiện nói ra. Bất cứ sự kiện nào xảy ra, cũng có cái ‘vô lý’ và ‘có lý’ của nó, tùy cách nhìn của ta. Ngay trong tâm hồn ta luôn xảy ra những suy nghĩ đan xen giữa suy lý trần tục và giáo huấn của Tin Mừng, nên sự có lý và vô lý luôn xảy ra tùy cái nhìn. Ví dụ ngay trong vấn đề cầu nguyện, kinh nghiệm cuộc sống cho thấy rằng nhiều lần ta cầu nguyện mà không được như ý, khiến ta nghi ngờ tình thương và quyền năng Chúa; nhưng những trang Tin Mừng lại dạy ta rằng: Cha trên trời biết rõ chúng ta cần gì ngay trước khi ta xin, từng sợi tóc trên đầu đã được đếm cả rồi, cứ quấy rầy và cứ xin thì sẽ được. Ví dụ thứ hai là sự chết: ai cũng phải chết và cái chết dường như là ngõ cụt và là điều phi lý nhất trên cuộc đời; nhưng nhìn từ khía cạnh khác, cái chết lại là lô độc đắc mà mỗi người chỉ trúng một lần: họ được giải thoát khỏi vũ trụ vật chất để trở về nhà, cuộc sống trong thân xác được ví như sống trong một căn nhà, có xiêu vẹo hư hại và nước trời mới là đích đến của ta – đáng cho ta mong chờ.



Những khái niệm trừu tượng thường là những điều gây nên những suy nghĩ trái nhiều nhất, mỗi người suy nghĩ mỗi cách: tự do, hạnh phúc, tình yêu, đau khổ, chết, khôn và dại, lý tưởng… Sống trong một môi trường ‘lạc hậu’, ít thay đổi và không chịu thay đổi, tâm hồn ta dễ chùng xuống và buông xuôi mọi sự: không muốn lên tiếng bất cứ chuyện gì vì dường như ngoài khả năng của mình và muốn tìm sự an toàn. Tưởng rằng đó là sự khôn ngoan của người từng trải, nhưng chợt nhận ra rằng đó là tâm thế của người tuyệt vọng. Sống trên đời mà không còn hy vọng ở những điều kỳ diệu nữa thì cũng tựa như cây đã bị cắt đi nguồn sống, bởi vậy hãy tiếp tục học hỏi kiến thức và đóng góp cho hạnh phúc của tha nhân tùy theo khả năng Chúa ban cho mình. Chúa muốn ta sử dụng những nén bạc Chúa cho ta mượn để xây dựng xã hội trần thế cho tốt đẹp hơn: mỗi người là mắt xích trong sự quan phòng của Thiên Chúa.

Chúa Giê su đã nói rõ Ngài đến không phải để đem bình an mà là đem gươm giáo, sự chia rẽ xảy ra ngay giữa những người thân cho đến xã hội, và ngay trong tâm hồn mỗi người luôn phải có sự chọn lựa. Chúa muốn có sự tồn tại của cỏ lùng ngay trong ruộng lúa trần gian mãi cho đến ngày tận thế. Điều này muốn nói rằng: chúng ta phải liên tục chọn lựa và thanh tẩy tâm hồn mình mỗi ngày để sống phù hợp với tinh thần tin mừng hơn, theo hai tiêu chuẩn: Chúa là trên hết, luôn cư xử với đồng loai bằng tình yêu thương.

Thứ Ba, 28 tháng 6, 2022

BAO LA TÌNH CHA

 


(Sưu tầm)


 


Nước biển mênh mông không đong đầy tình Mẹ

Mây trời lồng lộng không phủ kín công Cha.

Câu nói này tôi đã được nghe nhiều nhưng tôi chỉ thật sự cảm nghiệm ý nghĩa của nó khi tôi rời xa mái ấm gia đình, xa ba mẹ, xa các em để bước vào một cuộc sống mới nơi thành thị xa lạ.

 

Nơi khung trời mới này cuộc sống với nhiều tranh chấp, bon chen khiến tôi thèm khát tình cảm gia đình, những mơ ước về một mái ấm có ba mẹ cứ ùa về trong tâm trí tôi. Tôi chợt nghĩ về ba tôi- người đã dạy cho tôi cách sống bao dung không bằng lời nói nhưng bằng hành động, và đặc biệt là bằng một niềm tin tuyệt đối vào Mẹ Maria.

Lúc nhỏ tôi luôn nghĩ ba là một người khó tính, nghiêm khắc, lạnh lùng. Chính vì lúc nào cũng suy nghĩ về ba mình như vậy nên tôi không bao giờ nói chuyện thân mật với ông. Tôi luôn coi việc ông vất vả lao nhọc lo cho chúng tôi là quy luật, là lẽ tất nhiên nên tôi không chút mảy may xúc động mỗi khi thấy ông bệnh nặng nhưng vẫn cố gắng ra ruộng, chứ nhất định không chịu nghỉ ngơi.

Tôi luôn trách ba tôi “khờ” mỗi khi thấy ông vất vả lo giấy tờ không công cho người ta, việc nhà không lo cứ lo việc thiên hạ! (mà thực ra ba tôi đâu có bỏ bê việc nhà). Những lúc nghe tôi trách móc ba tôi vẫn chỉ đáp lại bằng điệp khúc: “Sau này con sẽ hiểu, ba làm tất cả chỉ vì các con mà thôi!”

Ba tôi gia nhập quân đội từ khi còn rất trẻ, chiến tranh đã cướp đi của ba tôi một con mắt, và mỗi khi “trái gió trở trời” là ba tôi lại bị những cơn đau nhức do vết thương từ chiến tranh hành hạ.

Vì thương tật như vậy nên ba tôi được lãnh lương dành cho thương binh hằng tháng, thế nhưng mỗi khi lãnh lương, thay vì mua đồ bồi dưỡng cho mình ba dành tất cả để mua sắm cho chúng tôi, ông luôn nói: “Ba ăn gì cũng được chỉ cần nhìn các con vui là đủ rồi!” Không chỉ lo cho chúng tôi về thể xác, mỗi ngày ông đều “bắt” chúng tôi dự lễ Misa và quãng đường đi bộ từ nhà tôi đến nhà thờ là giờ “huấn đức” của ba tôi (hồi đó tôi thấy rất khó chịu và muốn bỏ ngoài tai những lời nhắc nhở đạo đức của ba tôi nhưng sau này nghĩ lại tôi thấy những lời dạy dỗ mà tôi cho là chói tai đó đã giúp ích cho tôi rất nhiều).

Ba tôi thương con là vậy, nhưng cách ông giáo dục chúng tôi cũng thật “kinh khủng”, tôi luôn bị ám ảnh về những roi đòn mà ông giáng xuống mỗi khi chúng tôi sai phạm, những lúc đó tôi quên sạch những điều tốt ông đã làm cho chúng tôi, tôi đã thầm ước tôi có một người cha hiền lành hơn, yêu thương chúng tôi nhiều hơn. Tôi cứ luôn nghĩ ba không hề thương chúng tôi - nếu thương thì đâu thể “ra tay” với chúng tôi mạnh như thế?!?

Có lẽ tôi sẽ không bao giờ thay đổi suy nghĩ ấy cho đến một ngày, ngày tôi bỏ nhà ra đi. Lang thang phiêu bạt hết nhà đứa bạn này đến đứa khác, vài ngày đầu bọn bạn còn tiếp rước, đến bốn năm hôm sau, đứa nào cũng tỏ ra khó chịu! Tôi biết vậy nên cố tìm việc làm để tự nuôi thân, nhưng tìm việc không đơn giản như tôi nghĩ, công việc tôi cảm thấy thích hợp thì lương không đủ sống; còn công việc mang lại cho tôi món tiền kha khá đủ trang trải thì tôi lại không đủ khả năng để làm. Thất vọng. Chán nản. Tôi nghĩ đến việc khấn xin Đức Mẹ cho tôi đủ can đảm  trở về (lòng sùng kính Đức Mẹ đã được ba tôi gieo vào lòng chúng tôi từ bé tí nên dù hư hỏng, tôi cũng không quên Mẹ). Sau nhiều ngày suy nghĩ cầu nguyện, tôi liều gọi điện thoại về nhà, lòng hồi hộp khi giọng nói đầu dây bên kia cất lên! Nhận ra tiếng ba, tôi khẽ nói: “Con đây, Ba!” Tôi tưởng tượng ông sẽ cho tôi một “bài trường ca”, không ngờ ông chỉ đáp ngắn gọn: “Đọc địa chỉ nơi ở đi!” Trên đường chở tôi về, ông cũng không hề cất lên nửa lời. Sự im lặng của ông khiến tôi ngạc nhiên vô cùng!

Sáng hôm sau, để cám ơn Đức Mẹ, tôi xách nước lau lại bức tượng Mẹ, tình cờ tôi  phát hiện một hộp thư được đặt dưới chân Đức Mẹ, tò mò tôi mở ra xem: Là nét chữ của ba! “Mẹ Maria ơi, con rất buồn vì đã không chu toàn trách nhiệm của một người cha, con đã không biết cách thể hiện tình yêu của con đến các con của con khiến chúng phải phiền lòng. Dù phải đánh đổi bất cứ điều gì cũng được, con chỉ xin Mẹ gìn giữ, đưa con của con trở về nhà  bình yên. Xin Mẹ soi sáng để con của con biết rằng: lòng con cũng đau lắm sau mỗi lần sửa phạt con cái! Không biết những ngày con của con rời xa gia đình nó có được một chỗ nghỉ ngơi, có ai cho nó ăn uống hay phải lang thang như trẻ bụi đời. Càng nghĩ con càng thấy thương con của con và buồn cho cách giáo dục con cái của con. Mẹ ơi, Mẹ cứ trút hết những đau khổ mà con của con đang chịu lên người con…” Tôi không thể đọc đến cuối vì nét chữ đã nhòe đi bởi những giọt nước mắt rơi tự do từ khóe mắt tôi. Thì ra tôi đã hiểu lầm ba! Gấp mẩu giấy lại đặt vào hộp thư (tôi gọi là hộp thư vì trong đó ba tôi viết rất nhiều), tôi chạy đi tìm ba. Hôm đó, không biết sức mạnh từ đâu mà tôi đã có thể chạy một đoạn đường dài từ nhà tôi tới ruộng lúa nơi ba đang làm. Tôi ôm chầm lấy ba và khóc, khóc thật nhiều! Trong tiếng nấc nghẹn, tôi nói với ba tôi: “Ba ơi, con sai rồi!” Ba vỗ nhẹ vào vai tôi, nhìn vào mắt ông, tôi thấy mắt ông ướt nhòe - lần đầu tiên tôi nhìn thấy ba tôi khóc! Khoảng thời gian sau đó là thời gian hạnh phúc nhất nhưng cũng ngắn ngủi nhất của tôi trong gia đình. Chỉ đúng một tháng sau ngày tôi “làm hòa” với ba tôi là tôi đã phải khăn gói lên Thành phố để bắt đầu tương lai mới, không còn cơ hội để ở bên chăm sóc ba nữa! Ngày tôi lên đường, ba với đôi mắt buồn, tiễn tôi lên đường kèm theo lời nhằn nhủ ngắn gọn: “Ráng sống cho xứng là một CON NGƯỜI và nhớ không quên ĐỨC MẸ nghen con!”

Giờ đây, giữa sóng gió cuộc đời tôi luôn nhớ về ba, nhớ những lời khuyên dạy của ba và đó chính là động lực để tôi vươn lên trong cuộc sống.

Cảm ơn Ba, cảm ơn vì cách sống của Ba, cảm ơn vì “Ba đã làm tất cả chỉ vì chúng con mà thôi!”

Nguyễn Nữ Thuỳ Dương (Theo gxdaminh.net)

 

Thứ Hai, 27 tháng 6, 2022

NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ và NHỮNG CÂU CHUYỆN ĐẶC BIỆT

 


 (Sưu tầm)

Trong quyển sách mới Thức Tỉnh Hôm Nay (


Waking Up to This Day), bà Paula D’Arcy đã chia sẻ câu chuyện sau về một người bạn: Bà này mất người con trai trong một tai nạn.  Vài năm sau, có người nói chuyện với bà ấy, chia sẻ nỗi buồn khi bà không được nhìn đứa con khôn lớn, lập gia đình, không có cháu để ẵm.  Bà trả lời: “Tôi không nghĩ giới hạn ngang đó.  Câu trả lời là tôi không biết.  Tôi không biết cuộc sống con tôi sẽ như thế nào.  Giờ đây, tôi nhận ra rằng: linh hồn của con tôi có hành trình riêng, và mức giới hạn riêng trong cuộc đời của nó.  Tôi chẳng làm được gì trong việc này.  Nhưng tôi đã dự phần trong một thời điểm của hành trình tâm hồn nó.  Vì vậy, tôi biết ơn đến không nói nên lời.”

 

Câu chuyện này nhắc tôi nhớ một câu chuyện khác của một bà đã chia sẻ gần đây trong một cuộc tĩnh tâm.  Mẹ của bà là một phụ nữ thăng bằng vững vàng và có lòng tin ngoại hạng.  Câu tâm niệm bà sống cho chính bà trước, rồi sau này bà lặp đi lặp lại mãi cho các con là: chúng ta chỉ hạnh phúc khi chúng ta biết ơn về những gì chúng ta có, vì, và duy nhất chỉ vì vậy, đó là những gì đủ cho chúng ta.  Lời dạy mãi mãi của bà là: Như vậy là đủ!

 

Và bà sống điều này trọn vẹn cho đến giờ cuối đời: Bà nhập viện vì một căn bệnh chưa có thuốc trị, nhiễm trùng máu và rất ít hy vọng cứu chữa.  Khi sức khỏe bà ngày càng sa sút, gia đình túc trực bên giường bệnh của bà trong vòng mấy tuần.  Cuối cùng, bà đưa ra quyết định: Bà gọi cả nhà lại và bảo rằng, tất cả đã ở đây với bà và bỏ bê gia đình lâu quá rồi, bà cho biết đã liên hệ với khoa chăm sóc chờ chết trong bệnh viện và yêu cầu được chuyển đến đó, bà sẽ có thể chết trong ngày hôm đó.

 

Bà được chuyển đến khoa chăm sóc này, y tá báo cho cả nhà biết sẽ tiêm cho bà một liều thuốc mạnh để bà chìm sâu vào giấc ngủ và có thể bà sẽ không bao giờ tỉnh lại.  Lúc chuẩn bị chích, con gái bà, người kể câu chuyện này, ngồi cạnh giường bà, cầm tay bà, ôm chặt bà như đứa trẻ và nói: “Mẹ ơi, một lúc nữa thôi!  Chỉ một lúc nữa thôi!  Đừng ngay bây giờ!  Ở lại với chúng con một chút nữa thôi!”  Nhưng bà, với nghị lực lâu nay của bà, bà nói: “Đủ rồi, vậy là đủ rồi.”  Đó là những lời cuối cùng của bà với cô con gái và với cả gia đình.

 

Đó là các câu chuyện kiên quyết về những người đàn bà nghị lực, với đủ khôn ngoan và lòng tin để loại bớt các tình cảm ủy mị sai lầm dễ làm cho chúng ta tê liệt khi đứng trước mất mát.  Cả hai đều biết sẽ có lúc ra đi và cách thức ra đi đã không làm giảm đi, nhưng lại tăng thêm tình yêu.  Cả hai đều biết sự thật sâu xa của phục sinh: rằng đức tin không đòi hỏi chúng ta ướp xác chết, nhưng phó thác nó cho trần gian và cho Thiên Chúa, đấng ban sự sống và sự sống lại.  Cả hai đều biết bí mật sâu xa nhất của cuộc sống không bị tê liệt vì cái chết, nhưng để nó ra đi, chuyển tiến và thấm sâu hơn.  Và cả hai đều tôn trọng thích đáng các nhịp điệu sâu lắng của cuộc sống.

 

Tôi nhận ra rằng linh hồn của con tôi có hành trình riêng và mức giới hạn riêng trong cuộc đời của nó.  Điều này không thuộc về tôi…  Tôi biết ơn đến không nói nên lời vì được dự phần vào bí nhiệm đó.  Như những phụ nữ này, chúng ta sẽ tôn trọng người khác vô cùng nếu chúng ta biết chấp nhận hiện thực đó.  Tình cảm sai lầm thường kéo chúng ta theo các hướng khác.  Chúng ta khóc rất nhiều, vì chúng ta muốn cuộc đời người khác hướng về chúng ta.  Tôi có thể là cha mẹ, vợ chồng, bạn bè, anh chị em, thầy dạy, bảo hộ hay người bảo vệ của ai đó, nhưng xét đến cùng, linh hồn người đó có sự riêng tư, tự do, ác tính và số mệnh cho riêng họ mà thôi.  Những người khác không vì tôi mà sống.  Hầu hết các giọt nước mắt chúng ta khóc là khóc cho mình, không phải cho người khác.

 

Đủ rồi!  Đây là những từ quan trọng mình phải có cho hành trang của mình.  Với Thomas Merton, nhận thức (“Đủ rồi!”) tạo nên phần bí mật khó lường của hạnh phúc.  Sau đây là những gì ông mô tả về cách thức tìm kiếm bình an trong cuộc đời của ông.  Trong nhật ký hàng ngày, có một hôm ông chia sẻ ngày hôm đó, ông đã tìm thấy bình an.  Tại sao?  Vì hôm nay đã đủ, sống như một người bình thường, với đói khát và ngủ nghỉ, lạnh lẽo và ấm áp, thức dậy và đi ngủ.  Đắp chăn rồi tung chăn, pha cà-phê rồi uống.  Xả đá tủ lạnh, đọc sách, suy ngẫm, làm việc, cầu nguyện.  Tôi sống như những tổ tiên của tôi đã sống trên trái đất này cho đến giờ cuối của tôi.  Amen.  Không cần phải làm một khẳng định về cuộc sống của tôi, đặc biệt về những cái gì của tôi, dù chắc chắn nó không phải của ai khác.  Tôi phải tập quên dần dần các lập trình và tính toán.  Vào một ngày đó trong cuộc đời, ông có thể nói: “Đủ rồi!” Và nó là vậy.

 

Và chỉ duy nhất sự thừa nhận này mới có thể cắt bớt khối u bất mãn của chúng ta.

 

Rev. Ron Rolheiser, OMI

           

 

Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2022

ĐIỀU KHÔNG BÌNH THƯỜNG

 




   Larry và Jo Ann là một đôi vợ chồng bình thường. Họ sống trong một ngôi nhà bình thường trên một con phố bình thường. Giống như bao đôi vợ chồng bình thường khác, họ phải vật lộn với cuộc sống để lo cho con cái ăn học nên người.

Ngoài ra, họ còn bình thường về một phương diện khác: họ luôn có những cuộc cãi vặt. Đề tài là những bất đồng trong cuộc sống, và… ai là người có lỗi. 

 

Cho đến một hôm, một sự kiện ngoại lệ đã xảy ra.
- Bà biết đấy, Jo Ann, tôi có những ngăn tủ kỳ diệu. Mỗi lần tôi mở chúng, chúng luôn có sẵn vớ và quần lót – Larry nói – Tôi muốn cảm ơn bà vì đã để mắt đến chúng suốt những năm qua.
Jo Ann nhìn chồng qua đôi kính:
- Ông muốn gì, Larry?
- Chẳng gì cả. Tôi chỉ muốn nói tôi đánh giá cao việc bà đã chăm sóc tôi.
Đây chẳng phải là lần đầu Larry có hành động kỳ lạ nên Jo Ann bỏ ngoài tai, cho đến vài hôm sau…
- Jo Ann, cám ơn bà đã ghi những con số chi phiếu rất đúng tháng này. Trong 16 con số thì bà đã ghi đúng hết 15 con. Quả là một kỷ lục.
Không tin vào những gì đang nghe, Jo Ann ngừng may.
- Larry, ông luôn cằn nhằn tôi về những con số sai, sao bây giờ lại thế?
- Vô lý. Tôi lúc nào cũng muốn bà biết tôi luôn ghi nhận những cố gắng của bà. 

Jo Ann lắc đầu và tiếp tục may. “Ông ta làm sao ấy nhỉ?...”, bà tự hỏi.
Dù vậy, ngày hôm sau, khi Jo Ann ghi vào sổ tại cửa hàng tạp hóa của gia đình, bà cẩn thận để viết đúng số chi phiếu. Bà cố không nghĩ đến những điều không bình thường này nhưng thái độ kỳ lạ của Larry cứ tiếp tục.
- Jo Ann, thật là một bữa ăn ngon – ông ta nói trong một bữa tối – Tôi rất biết ơn bà. Trong 15 năm qua bà đã nấu hơn 14.000 bữa ăn cho tôi và lũ trẻ.
Rồi: “Ôi! Jo Ann, ngôi nhà mới ngăn nắp làm sao. Bà hẳn vất vả để giữ chúng luôn như thế…”.
Thậm chí: “Cảm ơn Jo Ann vì đã luôn bên cạnh tôi”. 

Jo Ann trở nên lo lắng: “Đâu rồi những lời chê bai, chỉ trích?”.
Nỗi lo có điều gì không ổn xảy ra với chồng càng mạnh mẽ hơn khi Shelly, cô con gái 16 tuổi của bà, cằn nhằn:
- Bố lẩm cẩm rồi mẹ ạ! Bố bảo con xinh lắm với bộ quần áo cũ mèm này! Thật không phải là bố. Có gì xảy ra với bố rồi ấy! 

Nhiều tuần trôi qua, Jo Ann trở nên quen thuộc với thái độ kỳ lạ của người bạn đời, và thỉnh thoảng bà cũng đáp trả lại “cảm ơn…”. Bà cảm thấy tự hào về bản thân như đã vượt qua được một chướng ngại vật. Nhưng đến khi một việc bất thường xảy ra thì bà hoàn toàn lúng túng.
-Tôi muốn bà nghỉ tay một chút – Larry nói – Tôi sẽ rửa chén. Nào, hãy bỏ cái chảo đó xuống và lên phòng khách xem tivi!
- (Sau một lúc lâu im lặng) Cảm ơn Larry, cảm ơn… 

Bước chân của Jo Ann đột nhiên trở nên nhẹ tênh. Bà cảm thấy tự tin hơn và lần đầu tiên bà nghe mình khe khẽ hát. Câu chuyện sẽ dừng ở đây nếu không có một sự kiện đặc biệt nhất xảy ra. Lần này tác giả là Jo Ann. Một hôm, bà nói:
- Larry, tôi muốn cảm ơn ông vì đã làm việc nuôi sống gia đình suốt những năm qua. Tôi chưa từng nói cho ông biết, nhưng tôi rất biết ơn ông… 

Larry đã không bao giờ hé mở lý do khiến ông thay đổi cách cư xử một cách tuyệt vời như thế, dù Jo Ann lục vấn đến đâu. Và điều này đã thành một trong những bí ẩn của cuộc sống, một điều bí ẩn mà tôi rất thích – vì tôi chính là… Jo Ann.

Võ Hoàng Lan
Từ Chicken soup for the soul 

Sưu tầm. (Theo Tủ sách Dũng Lạc.)