Danh sách Blog của Tôi

Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013

MỘT THÁI ĐỘ SỐNG





            Trong kinh ‘Lạy Cha’ chúng ta vẫn đọc hằng ngày: “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”. Lời cầu nguyện nầy diễn tả một thái độ tin tưởng - phó thác vào Cha nhân lành về những nhu cầu cơm ăn – áo mặc và mọi nhu cầu cần thiết cho cuộc sống của con người trên quả địa cầu nầy, kể cả những lương thực thiêng liêng.

            Tôi có một đứa con nhỏ 8 tuổi, khá lém lỉnh, những câu nói  ‘trẻ con’ của nó thường mang lại nhiều niềm vui cho mọi người trong gia đình. Và câu nói đem lại nhiều ngọt ngào nhất là những câu: “Con cám ơn ba - con cám ơn má – em cám ơn anh, chị”. Câu nói nầy phát xuất từ tâm hồn của một trẻ thơ, diễn tả lòng biết ơn một cách chân thành và có lẽ không mang tính vụ lợi. Có câu danh ngôn: “Người ta thường cảm ơn nhau để được nhận lãnh thêm”. Sự cám ơn của đứa trẻ là một thái độ biết ơn thuần khiết, chẳng cầu kỳ, chẳng vụ lợi… và điều đó làm cha mẹ vui lòng. Cha mẹ vẫn biết nó cảm ơn về một điều quá nhỏ trong chuỗi hồng ân bao la mà cha mẹ dành cho nó, nhưng cũng chẳng sao. Nếu đứa trẻ soạn ra được một bài tạ ơn đầy đủ, liệt kê chi tiết những hồng ân nó đã cảm nhận được, rồi đọc cho cha mẹ nghe để tỏ lòng tri ân, thì chưa chắc điều đó đã làm cha mẹ vui lòng: có thể đây không phải là thái độ tâm hồn mà chỉ là sáo ngữ!

            “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”. Trong bản dịch cũ là “xin cho chúng con rày hằng ngày dùng đủ”. Dân gian độ chế ra: xin cho chúng con thịt cá hằng ngày; … của cải dồi dào; …khỏi phải đói nghèo…. Điều quan trọng ở đây là tâm tình của một người con tạ ơn Cha vì những của ăn – của uống – của mặc hằng ngày, là thái độ biết ơn của người con trước từng hồng ân và trọn cuộc sống đối với cha mình. Lời tạ ơn này không cần cầu kỳ- đầy đủ- văn vẻ, nhưng cần nhất là thái độ biết ơn.

            Có người nghĩ: cơm bánh tôi có là do cung cầu xã hội, là do sự trao đổi công sức của tôi, là do các cơ quan từ thiên… Nhưng trên hết mọi sự, chúng ta phải nhận ra được rằng: Cha trên trời lo liệu cho ta lương thực hằng ngày thông qua những cơ cấu xã hội. Và vì thế, phải dâng lời tạ ơn Chúa.

 Hãy tạ ơn Chúa mỗi lúc có thể. Hãy chọn thái độ khiêm tốn, phó thác và tạ ơn vì bầu trời xanh, vì những hạt mưa mát mẻ và cần thiết, vì bầu trời lung linh muôn vì sao, vì vẻ diễm lệ của chị Hằng Nga – gợi cho lòng người bao cảm xúc ngọt ngào. Tạ ơn khi một ngày đang trôi qua, về những thành quả lao động, về những cuộc gặp gỡ trong ngày, về những nụ cười và những lời thân ái tha nhân trao cho ta. Tạ ơn vì những tiếng chim ca, vì những làn gió thổi, về cả những điều không vui và không may. Hãy học tạ ơn và vui lòng chấp nhận cả những đau đớn nơi thân xác cũng như trong tâm hồn, cả những thánh giá tha nhân tạo cho ta, và cả chị chết – khi đến giờ Chúa gọi ta.Ông Gióp đã thốt lên: “Thân trần truồng, tôi sinh ra từ lòng mẹ. Tôi sẽ trở về đó, cũng trần truồng. Chúa đã ban cho – Chúa lại lấy đi, xin chúc tụng danh Chúa. Mình biết đón nhận ơn lành từ tay Chúa, còn điều dữ lại không biết đón nhận sao?”

Thực ra, nếu đứa con không cảm ơn cha mẹ, thì cha mẹ vẫn lo liệu cho nó đến nơi đến chốn, đầy đủ và hạnh phúc, và còn trao lại cho nó cả gia sản. Có những đứa trẻ không nói lên lời cảm ơn cha mẹ vì nó ngại hoặc vì nó nghĩ: cha mẹ cũng chỉ chu toàn bổn phận thôi. Nhưng nếu đứa con biết thưa với cha mẹ những tiếng ‘cám ơn’ và ‘xin lỗi’ thì nó làm cho cha mẹ vui sướng và biểu lộ một nhân cách. Vì một trong những thước đo của nhân cách là lòng biết ơn và biết quan tâm đến người khác.

“Xin cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày” là một lời cầu xin và tạ ơn đơn sơ nhưng thật cần thiết đến nỗi chúng ta phải khiêm tốn dâng lên Thiên Chúa mỗi ngày, dù cho lời tạ ơn này chẳng đầy đủ so với cả một kho hồng ân Thiên Chúa dành tặng ta. Nhưng điều Thiên Chúa cần là một thái độ sống chứ không phải là những lời sáo rỗng.

Thứ Ba, 19 tháng 3, 2013

KHI TA GIÀ.





Dù muốn hay không, mỗi người chúng ta đều già đi một chút sau từng ngày sống. Dù muốn hay không, mỗi người đều có lúc phải nghĩ tới tình trạng già đi của chính mình, vì già là một trong 4 nỗi khổ của nhân sinh (sinh-lão-bệnh-tử). Khi ta già đi thì sức khỏe giảm sút, thị giác kém dần, tóc bạc nhiều lên, sự lanh lợi tinh thần và của chân tay có phần nào bị hạn chế…nhưng chắc chắn suy tư sẽ chín chắn hơn: khôn chi trẻ, khỏe chi già!

            Điều đáng nói là tình trạng già tâm lý: có người khi tuổi thanh niên thì sống rất đẹp và gương mẫu, nhưng chưa được mấy tuổi đầu (U50) đã khiến người khác chịu hết nổi và đàn ông thường sớm biểu lộ là con người ích kỷ - bạo chúa : anh ta rơi vào tình trạng không muốn tiếp nhận những cái mới về kiến thức đạo - đời, tự cho mình là vẹn toàn về kinh tế - xã hội, tự hào mình biết nhiều thứ mà người khác không biết: quán nhậu, món nhậu và sành điệu trong những kiểu ăn chơi. Tuy vậy, họ chẳng bao giờ cầm lấy cuốn sách và cũng chẳng hề biết gì về vi tính. Nguồn tư liệu chính của cuộc đời họ chỉ là tivi và vài tờ báo lá cải nào đó: chừng đó thôi cũng đủ cho họ tự cao tự đại, dành hết quyền ăn nói của người khác. Sở thích chính của họ là ngồi tán phét và nhậu hằng ngày. Người ta càng già càng sợ bị mất thế đứng trong gia đình và xã hội, nên họ phải nói nhiều để phô trương quan điểm sống và tài nghệ riêng mình, họ sinh ra tật nói dai - nói dài để xử lý những chuyện hết sức là ‘vụn vặt’ trong đời sống: họ có mặt ở đâu là tạo nên sự căng thẳng và không ai chịu nổi: con cái xấu hổ vì có những ông bố như thế, còn bà vợ thì chịu tử đạo hằng ngày!

            Đừng tự đánh mất bản thân mình như thế. Ai cũng mến và yêu quý những người có kiến thức, sống giúp ích, biết nói và biết nghe, khiêm tốn làm việc bổn phận trong gia đình, biết nhạy cảm về cách cư xử của mình và cảm xúc của người chung quanh, yêu thương gia đình và người thân của mình. Cho dù bệnh tật, nhưng nếu ta giữ được nhân cách và đạo đức thì ta vẫn được người khác quý mến.

“Chúa Giêsu càng thêm tuổi càng thêm khôn ngoan và đạo đức trước mặt Thiên Chúa và loài người”. Đó phải là mẫu gương cho mọi lứa tuổi phải bắt chước. Thân xác buộc phải già đi và không có thuốc chữa, nhưng điều quan trọng là phải giữ cho tâm hồn được trẻ trung: khả năng tiếp thu và khả năng hòa nhập. Muốn vậy phải có thói quen học hỏi không ngừng, có phương pháp tích lũy kiến thức: đừng cho rằng mình là con người lỡ thời về học vấn. Có câu danh ngôn nói rằng: ‘mình đứng thứ mấy khi học ở trường không quan trọng, điều quan trọng hơn bây giờ là mình phải là người ‘số một’ trong cuộc sống’. Phải có niềm tin như thế thì ta mới sống đẹp và thăng tiến được.

Tôi đã gặp một ông cụ 70 tuổi, hai ông bà đã lo xong gia đình cho các con, nên họ sống riêng với nhau. Tôi nghĩ cuộc sống của họ chẳng có gì phải học hỏi, họ đang sống những ngày cuối đời thôi mà. Một hôm ông cụ đưa tôi vào căn phòng ngủ vì trong đó có bàn để ông vẽ tranh: ông vẽ những ảnh Chúa – Mẹ và các Thánh. Ông tâm sự: vẽ cho trôi thời giờ, vừa vẽ vừa suy niệm! Ôi, thật là một khám phá bất ngờ: tranh ông vẽ chẳng chuyên nghiệp tí nào, chỉ để treo trong phòng ngủ của mình. Tôi nghĩ công việc vẽ tranh đã làm cho ông tiêu tốn nhiều công sức và thời giờ, nhưng là những giờ phút hạnh phúc vì ông làm việc trong an bình và trong nguyện cầu: đây là một cách giải trí lành mạnh và là một phương pháp giữ cho tâm hồn ông trẻ trung và đáng yêu.

Để giữ mãi được tuổi thanh xuân tâm hồn, bạn hãy tìm cho mình những cách giải trí và sinh hoạt tinh thần lành mạnh và hãy bước đi trong niềm an bình vì có Chúa Giêsu cùng đi với mình:

RA ĐI VỚI MẶT TRỜI TRONG TRÁI TIM.
RA ĐI NGƯỜI HÃY NHỚ MANG THEO TÌNH YÊU CHA…
NGUYỆN GIÊSU BAN ĐẦY ÂN PHÚC HẰNG DẪN LỐI TA:HÃY ĐI TRONG AN BÌNH!


ĐẤNG CỨU THẾ TRÁ HÌNH.





            Câu chuyện cổ tích ngày xưa cách đây 2000 năm, ngày nay vẫn xảy ra giống như thế: Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể và đang ở giữa chúng ta!(Ga 1,14).

            Sự thật trên đã được Thánh Gioan Tông Đồ xác minh một cách rõ ràng. Thánh Tông đồ còn nói rõ về Ngôi Lời: “Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, Ngôi lời là Thiên Chúa. Người đã đến nhà của mình mà các gia nhân không đón nhận, còn những ai tiếp nhận thì Người ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa” (Ga 1,1-12).

Và chính Thánh Gioan Baotixita, vị tiền hô của Chúa Cứu Thế đã nói một cách ý nhị: “Ở giữa các ông có một Đấng mà các ông không biết”. Quả đúng như thế, vì lúc ấy Chúa Giêsu đã lớn khôn và đang trải qua thời kỳ ẩn dật tại làng quê Nagiaret… và có lẽ không mấy ai nhận ra con người thật của Ngài.

Thực tế đó vẫn còn đeo đuổi Chúa Giêsu trong suốt đời rao giảng, mãi cho đến giây phút bị treo trên cây thập giá: Hỡi Giêsu, ông là ai? Ông có phải là Đấng Kitô không để chúng tôi tin? Chúa Giêsu đã từng nói với thiếu phụ Samaria: “Nếu chị biết hồng ân của Thiên Chúa và Người đang nói với chị là ai, thì chắc chắn chị sẽ xin tôi nước uống”. Và Chúa Giêsu  than khóc thành Giêrusalem: “Đã bao lần ta muốn tụ họp ngươi như gà mẹ ấp ủ con dưới cánh, ước gì ngươi nhận biết giờ Thiên Chúa đến viếng thăm ngươi”.

Đấng Cứu Thế vẫn luôn hiện diện trên quả địa cầu nầy, vẫn đồng hành với từng người trong ta, vẫn đến với ta và thánh hóa ta bằng những biến cố cuộc đời, có điều là ta có nhận ra những cử chỉ âu yếm của Ngài, có nhận diện được khuôn mặt và hồng ân của Ngài hay không?

Trong tác phẩm The Prayer Of The Frog của tác giả Anthony De Mello có thuật lại một câu chuyên thật cảm động: Một ngày nọ Đức viện phụ của một tu viện Tây Phương tìm đến vị minh sư trên dãy Hy Mã lạp Sơn để hỏi xem tại sao tu viện của mình ngày xưa rất nhiều người đến tu trì, nguyện đường vang lên tiếng cầu kinh, nhưng ngày nay chỉ còn lại một nhóm người thi hành phận sự với con tim trĩu nặng. Phải chăng vì tội lỗi nào đó của chúng tôi mà chúng tôi phải rơi vào tình trạng nầy?

            Minh sư trả lời: “Đúng thế, đó là tội vô minh: Một trong các ngươi là Đấng Cứu Thế trá hình mà các ngươi không biết”.

Đức viện phụ xuống núi để trở về nhà, vừa nghiền ngẫm với ý nghĩ: Đấng Cứu Thế - vâng chính Đấng Cứu Thế - đã trở lại trần gian và đang sống ngay trong tu viện. Làm sao mà ngài viện phụ không thể nhận ra Ngài? Và ai có thể là Ngài đây? Thầy nhà bếp ư? Thầy lo việc bàn thờ ư? Thầy thủ quỹ ư? Thầy lo việc nhà tập ư? Không, không phải thầy đó: thầy có quá nhiều tính xấu, tiếc thay! Nhưng mà vị minh sư nói là Đấng Cứu Thế đã trá hình. Biết đâu những tính xấu đó là một trong những trá hình của Ngài? Đức viện phụ thuật lại câu chuyện bí mật trên cho các anh em trong dòng. Mọi người nhìn nhau một cách bán tín bán nghi: Đấng Cứu Thế là ai đây? Phải chăng là thầy này, hay là thầy kia? Mỗi người trong họ nhìn nhau với con mắt thiện cảm và đối xử tốt với nhau với ý nghĩ: biết đâu đây chính là Đấng Cứu Thế đang trá hình. Kết quả là bầu khí trong tu viện đã bừng lên niềm vui, chẳng bao lâu hàng hàng lớp lớp người dự tu đã xin nhập dòng – và rồi nguyện đường lại bắt đầu vang vọng tiếng cầu kinh thánh thiện và sự vui mừng của các tu sĩ chiếu tỏa Đức Mến.

Chuyện cổ tích ngày xưa mà Thánh Gioan Tông Đồ và Gioan Tẩy Giả mách bảo, chuyện cổ tích của Đức viện phụ nọ cũng vẫn là chuyện đang xảy ra bây giờ, ở trên thế giới nầy và chung quanh môi trường ta đang sống:
NGÔI LỜI ĐÃ LÀM NGƯỜI, ĐANG Ở GIỮA CHÚNG TA
Ở GIỮA CÁC ÔNG CÓ MỘT ĐẤNG MÀ CÁC ÔNG KHÔNG BIẾT
NẾU CON BIẾT HỒNG ÂN CỦA THIÊN CHÚA LUÔN TRÀN TRỀ BÀN TAY CON
ĐỪNG VÔ MINH NỮA.
Hãy bước đi trong ánh sáng thì ánh sáng sẽ rọi sáng đường đời ta.

Hãy bước đi trong sự thật thì sự thật sẽ giải thoát ta.

Hãy bước đi trong hòa bình thì qua Chúa Kitô, ta sẽ được hưởng sự bình an vượt quá mọi hiểu biết”




Lệch pha (hors de jeu)



Tin mừng Thánh Gioan 21,15-17 kể lại cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu với riêng Thánh Phêrô sau khi Chúa sống lại. Câu chuyện cảm động đến rơi lệ và nó chạm vào nỗi đau của Thánh Phêrô. Chúa Giêsu hỏi đến 3 lần “Con có yêu mến Thầy không?” . Nhiều người cho rằng Chúa muốn bắt ông Phêrô chuộc lại lỗi ‘đã chối Chúa đến 3 lần’. Nhưng đúng hơn, có lẽ Chúa muốn nhấn mạnh đến tình mến là điều cốt yếu Chúa đòi hỏi nơi người lãnh đạo trong Giáo hội, vì sau khi hỏi lần thứ 3 và Thánh Phêrô đã trả lời rất xác tín- rất khiêm tốn: “Lạy thầy, Thầy biết mọi sự, Thầy biết con yêu mến Thầy” thì Chúa đã phán: “hãy chăn dắt đàn cừu của Ta”. Tình yêu mến phải là sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọi hành vi trong từng ngày sống của ta, để làm cho nó có một giá trị vĩnh cửu.

Chính Thánh Phaolô sau này cũng đã thốt lên: “Tình mến Đức Kitô thúc bách tôi”. Tình mến đã làm cho Thánh Phaolô như điên như dại vì Đức Kitô, Ngài coi mọi sự ở đời là phân bón trước cái lợi tuyệt vời là được biết Chúa, tình mến đã thúc bách Ngài rao giảng Tin Mừng trong mọi hoàn cảnh – dù thuận lợi hay bất lợi: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc Âm”, tình mến đã thúc bách Thánh nhân trở nên giống hệt Đức Kitô từ trong lối sống và cả trong gian lao – tù ngục – đòn vọt – hiến mạng sống mình: “Anh em hãy bắt chước tôi như tôi đã bắt chước Đức Kitô”. Chính tình mến Chúa đã thúc đẩy một Phanxicô Assisi trở nên nghèo hèn cùng cực – để được nên giống Thầy, một Phanxicô Xaviê bỏ cuộc sống tiện nghi đầy đủ - lên đường đi sang châu Á truyền giáo, đến cả trong giấc mơ vẫn còn xin chịu khổ hơn nữa: “Lạy Chúa, còn nữa …”, và cũng chính tình mến đã làm cho một nữ tu dòng kín bình thường - chết rất trẻ - trở thành một vị Thánh tiến sĩ của Giáo Hội, đó là Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu.

 Nói đến tình mến, ta dễ liên tưởng đến một bếp than hồng. Ánh lửa bập bùng trong đêm tối gợi lên một sự ấm áp của lửa hồng và sự liên đới của tình người. Bếp lửa có thể tàn nếu không được chăm sóc và nó sẽ tàn lụi - chì còn lại một lớp tro tàn khi mọi người đã đi ngủ. Cũng thế, tình mến Chúa dù nồng nàn đến đâu, cũng không giữ mãi được một cường độ: nó có thể suy yếu hay mãnh liệt dần lên theo ngày tháng dần trôi. Điều nầy nhắc nhở ta: phải vun vén tình mến Chúa như là một điều then chốt của cuộc đời. Bạn thử nghĩ coi, lúc ta lìa thế, ta bỏ lại tất cả: của cải, danh vọng, những tác phẩm, thành đạt, người thân: : “Thân trần truồng, tôi sinh ra từ lòng mẹ. Tôi sẽ trở về đó, cũng trần truồng. Chúa đã ban cho, Người lại lấy đi. Xin chúc tụng danh Chúa”. Lúc đó, chỉ còn lại tình mến thôi, vì chính lúc ấy chúng ta sẽ bị xét xử về tình mến. Trong Mt 25,31: vì xưa ta đói, các ngươi đã cho ăn…

            Khi đôi bạn trẻ yêu nhau, họ tìm mọi cách để thể hiện tình yêu của mình, vậy tại sao ta không lo lắng tìm cách thể hiện tình cảm mình dành cho Chúa bằng những lời tâm sự ngắn trong ngày, bằng những bài thánh ca có lời súc tích, bằng thu xếp thời giờ để tham dự phụng vụ - cơ hội để thăm viếng Chúa Giêsu Thánh Thể, bằng việc đọc và suy niệm phụng vụ Lời Chúa hằng ngày. Tình mến ta dành cho Chúa sẽ lớn lên nếu được nuôi dưỡng bằng những hy sinh nho nhỏ: chấp nhận thái độ sống của tha nhân quanh ta, khí trời mưa nắng như Chúa cho xảy ra, hoàn cảnh sống không được như ý…Tình mến đó chỉ tồn tại được khi ta biết sống phục vụ, biết nghĩ tới điều tốt cho người khác.

Lạy Chúa, Chúa biết mọi sự, Chúa biết tỏ lòng con: con còn yêu Chúa ít lắm, còn lo vun vén cho mình những giá trị chóng qua đời này. Mỗi ngày con dành cho Chúa được mấy thời gian và mấy tình cảm đâu? Xin Chúa giúp con luôn biết định hướng cuộc sống lại: biết ưu tiên trau dồi tình mến Chúa và yêu người, có vậy con mới không bị Chúa kết án là ‘lệch pha’(hors de jeu).

Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2013

Niềm tin và những thách đố




Trong Tin Mừng, khi Chúa Giêsu rao giảng về những "mầu nhiệm nước Trời", có 3 đề tài đã gây nên những vấn nạn lớn và là những thách đố cho người nghe.

Vấn nạn thứ nhất là về sự tái sinh, Chúa nói người ta phải tái sinh trong thần khí. Đây quả là điều khó hiểu cho Nicôđêmô và sau nầy Thánh Phaolô cũng luôn hướng dẫn những người đã chịu phép rửa trong Chúa Kitô là họ đã được tái sinh nên họ phải sống theo Thần Khí.
Vấn nạn thứ 2 là mầu nhiệm Bánh: “Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống. Ai ăn Thịt và uống Máu Ta thì được sống đời đời. Ta là Bánh hằng sống từ trời xuống”. Những lời của Chúa đã làm cho nhiều người rút lui, họ nói: “Lời chi mà sống sượng thế!”.
 Vấn nạn thứ 3 là cuộc tử nạn của Chúa. Các môn đệ đều ngán ngẩm khi nghe Chúa nói về cuộc tử nạn: “Con Người sẽ bị nộp, bị xỉ vả và bị chết treo Thập giá…”. Thánh Phêrô mạnh dạn can ngăn Thầy, xin Chúa tránh cho Thầy những điều ấy và đã bị Chúa mắng: “Đồ satan, hãy lui ra đàng sau, Thầy không uống chén Cha đã định hay sao?”.

 Đọc lại lịch sử Thánh Têrêxa Hài Đồng và tiểu sử 2 vị Á Thánh là song thân của Thánh Nữ, chúng ta nhận ra một điều: chỉ mới đây thôi, chỉ trên 100 năm thôi (Lễ thành hôn của 2 vị song thân vào năm 1858), đời sống đạo đức ở nước Pháp rất cao! Bằng chứng là có rất nhiều người đi tu ở thời ấy. Bà Guérin, mẹ Thánh Têrêxa có người chị đã đi tu và bà cũng tìm mọi cách để được nhận vào dòng “Nữ tử Bác Ái”, nhưng ý Chúa lại định khác. Còn ông Martin, cha của Thánh Nữ đã muốn gia nhập tu viện thánh Bernard, nhưng vì không biết tiếng Latinh, nên đành chịu. Gia đình Thánh Nữ chỉ còn lại 5 chị em thì đều đi tu cả! Vậy mà giờ đây số người còn hành đạo ở nước Pháp rất thấp.
Hiện trạng tôn giáo ở Philippin 85% là công giáo, nhưng số người hành đạo chỉ là 25%. Còn ỏ  Đông Timor 90% là công giáo, nhưng nhiều người đang dần cải đạo sang các tôn giáo khác, vì họ không hiểu biết nhiều về giáo lý Công giáo. Những vùng có nhiều tôn giáo lớn cùng hiện diện (Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Ấn độ giáo, Cao đài – Hòa Hảo, Phật giáo, Nho giáo và Khổng giáo…) cùng cạnh tranh tín đồ, thì có những xung đột niềm tin và có nhiều người cải đạo.

Ngay tại Việt Nam thôi, đang dần mất đi một cách nhanh chóng những thói quen đạo đức đã có lâu đời: đi lễ và đọc kinh ở nhà thờ mỗi ngày, kinh tối sáng ở gia đình, kinh ăn cơm… để nhường chổ cho những giải trí truyền hình và sinh hoạt riêng tư của mỗi thành viên trong gia đình. Ngay các xứ di cư toàn tòng mà giờ đây nhiều nhà thờ chỉ có đông người vào ngày chủ nhật và mùa chay, còn mùa thường niên thì đang vắng dần và mất dần con chiên. Phải chăng niềm tin đang trải qua những ‘khúc quanh’ để chuyển qua một giai đoạn ‘lỏng lẻo’ hơn?. Cuộc sống luôn tạo nên những thách đố cho niềm tin, cho dù là xã hội đó theo thể chế nào và dù giàu hay nghèo. Vì đường dài luôn làm cho lữ khách mòn mỏi chân và những canh khuya luôn làm cho lính canh mệt mỏi. Thật là có lý khi Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn 10 cô trinh nữ đi đón chàng rể, tất cả họ đều đã thiếp ngủ vì mỏi mệt, nhưng vẫn có 5 cô khôn ngoan vẫn chịu khó mang theo dầu: biểu hiện của lòng mến và niềm hăng say dành cho chàng rể. Thật phúc cho chúng ta khi vẫn kiên trì tìm cách bày tỏ tình yêu của mình đối với Đức Lang Quân, miệt mài tìm gặp Ngài trong cuộc sống, kết hiệp với Ngài trong Thánh Thể và cả trong gian khó.
Có một vị truyền giáo Việt Nam được gửi sang Tây tạng để truyền giáo. Sau một thời gian ngắn học ngôn ngữ và tiếp xúc với dân chúng, nhà truyền giáo bị khủng hoảng niềm tin vì thấy cảnh lầm than của dân bản xứ, Ngài tự hỏi: “phải chăng không có Thiên Chúa?”. Và bề trên phải đưa vị ấy trở về lại Việt Nam. Nhưng trái lại cũng có những người khi có của một chút, khi trào lưu hưởng thụ đang trên đà phát triển, thì họ đã rơi vào những kiểu ăn chơi – đua đòi đến nỗi hạt giống Đức Tin phải chết ngạt.
Con cái chúng ta đang lớn lên và đang vào đời. Cuộc sống với trào lưu thế tục, với tàn phá của sự dữ và sự lan tràn của tội lỗi, với những đau khổ và hoàn cảnh nghèo túng… cũng gây ra những xung đột niềm tin, nếu niềm tin đó không vững vàng và có tư duy độc lập. Để mang theo được bình dầu bên mình, các cô khôn ngoan phải chấp nhận sự lỉnh kỉnh, phiền toái và gò bó một chút, chứ không được thong dong, dễ dãi và thoải mái như các cô kia.
Dù là ai, là cha mẹ hay con cái, nếu không học hiểu giáo lý, nếu không cầu nguyện và nếu không có sự gắn bó với các sinh hoạt giáo hội địa phương… thì con người có thể mất dần sự tin tưởng nơi Thiên Chúa, nơi Kinh Thánh và đi đến tình trạng khô đạo và bị cải đạo: “Liệu khi Con Người đến, còn tìm thấy niềm tin trên mặt đất này nữa chăng?"

Cúi mình xuống




Trong câu chuyện người phụ nữ ngoại tình được các kinh sư và những người Pharisiêu mang đến với Chúa Giêsu (Ga 8,1-11), Thánh sử Gioan kể đến 2 lần “Chúa Giêsu cúi xuống”.
Đám đông ồn ào, đằng đằng sát khí kéo đến trước mặt Chúa, họ đặt cho Chúa một câu hỏi thật hóc búa không thể trả lời nước đôi. Dạng câu hỏi nầy chỉ có cách trả lời có hoặc không! Mà trả lời ‘được phép ném đá’ thì Chúa vượt quyền quan Tổng trấn và đi ngược giáo lý ‘tha thứ’ mà Chúa dạy bấy lâu; nhưng nếu trả lời ‘không được ném đá’ thì Chúa lại vi phạm luật Moisen, mà ai chống lại Thiên Chúa và luật Moisen thì cũng phải chết mà thôi.
Trước đám người đằng đằng sát khí với hòn đá sẵn trong tay, trước đám người lòng như mở cờ trong bụng vì tâm địa gian manh, trước đám người với ánh mắt đầy dâm dật cứ lén nhìn người phụ nữ để thèm thuồng, trước những ánh mắt nhìn Chúa một cách thách thức vì ghen tị… Chúa Giêsu cúi xuống viết trên đất.
Chúa cứ viết gì đó trên đất. Không phải Chúa viết đáp án cho câu trả lời của họ, vì nếu vậy họ đã nhận ra và Thánh sử Gioan có lẽ cũng đã nhận ra, vì lúc đó ai cũng để ý đến từng hành vi và biểu hiện của Chúa. Người phụ nữ đứng đó, vừa xấu hổ vừa sợ hãi, nhưng dường như Chúa cũng không nhìn chị và không trao đổi với chị một lời nào để tìm hiểu nguyên do có thể giúp chị cách nào đó. Chúa Giêsu cúi xuống để không làm tăng sự xấu hổ của chị.
Vì Chúa viết nguệch ngoạc quá lâu trên đất, người Do Thái mất kiên nhẫn nên họ hỏi dồn Chúa: “Thầy dạy sao???”. Chúa ngẩng lên để nói với họ một câu: “Ai trong các ngươi vô tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” Có lẽ cả đám cử tọa hôm ấy không ai tưởng tượng được Chúa lại có một câu trả lời như thế.
Nói xong câu đó, Chúa lại cúi xuống viết trên đất. Đám đông rút lui dần, bắt đầu từ người lớn tuổi nhất. Khi chỉ còn lại người đàn bà đứng đó, Chúa ngẩng lên và nói với chị: “Ta không kết án chị đâu, chị hãy về và từ nay đừng phạm tội nữa”. Và có lẽ khi mọi người ra về hết thì Chúa ngẩng đầu lên, vì Chúa cúi đầu là để dạy cho họ một bài học và tạo cơ hội giúp họ phản tỉnh.

Câu chuyện xảy ra hôm ấy đầy kịch tính từ đầu đến cuối và Chúa Giêsu xuất hiện như nhà mô phạm cho mọi thời đại:
Sự cúi mình của Chúa là gương mẫu cho cách sống của chúng ta. Khi ta cãi cọ và tranh giành quyền lợi, ai cũng ngẩng cao đầu, phùng mang trợn mắt hoặc cười mỉa mai cho người kia mất tinh thần. Nhưng Chúa lại dạy ta “ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống và ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên”. Chính Chúa đã không ngừng tự hạ trong kiếp làm người: mặc phận hèn nô lệ, sinh ra trong kiếp nghèo và chết trong tủi nhục. Chúa đã cúi xuống rửa chân cho từng người chúng ta và dạy ta hãy rửa chân cho nhau như thế.

Đứng trước một phạm nhân, ta cũng phải cúi mình xuống mới có thể đồng hành với họ, vì ai cũng là phạm nhân trước mặt Chúa và ‘nhân bất thập toàn'. Nếu ta cao ngạo và làm nhục kẻ có lỗi thì chẳng bao giờ ta có thể cải hóa họ được. Hãy học người cha nhân lành để biết dùng tình thương mà đón tiếp và cư xử với kẻ có tội, có thể là chính con cái chúng ta. Hãy biết tôn trọng nhân phẩm kẻ có tội và biết kích thích họ vươn tới sự trọn lành. Người cha nhân hậu dường như quên hết những tội tầy đình của con, ông không nhiếc mắng và nhục mạ, ông phục hồi tước vị làm con và cư xử với con với tình thương dạt dào. Chúa Giêsu cũng không bới móc quá khứ của người đàn bà ngoại tình, Chúa mở ra cho chị một tương lai: “Từ nay đừng phạm tội nữa”. Đây chẳng phải là một phương pháp giáo dục tốt hơn những đòn vọt và nhục mạ mà ta vẫn xử với con cái sao?


Khi ta làm việc lành phúc đức, khi đảm trách những chức vụ lớn hoặc phục vụ tha nhân, rất cần thiết phải cúi đầu: để nhận ra thân phận tầm thường của người tôi tớ, nhận ra mình cũng là kẻ yếu đuối hay sa ngã, nhận ra những cái hay tốt nơi tha nhân để ta cần học hỏi. Và chính sự khiêm tốn, không khoác lác khoe khoang của ta sẽ là cơ hội giúp cho tha nhân hướng đôi mắt tìm kiếm những sự cao siêu trên trời, tìm gặp Đấng là Chân Thiện Mỹ.
Thật cần thiết biết bao những giây phút tĩnh lặng để hồi tâm. Chỉ cần một khoảng thời gian Chúa cúi xuống viết trên đất cũng đủ để cho đám đông thay lòng chuyển dạ, thay vì hung hăng kết án thì họ cũng cúi đầu xuống và âm thầm rút lui vì đã học được bài học nhân từ của Con Thiên Chúa.

Thứ Bảy, 16 tháng 3, 2013

Tâm trong sáng




Quả tim con người được xem như trung tâm tình cảm. Trong Giáo Hội có lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, là biểu tượng của tình thương của Thiên Chúa. Chúa Giêsu cũng dạy ta: những điều phát xuất từ đáy lòng mới làm cho con người ra ô uế. Những vị đạo sĩ thường dạy ta những bài học về cái tâm trong sáng, xin kể vài câu chuyện:

Một chàng thanh niên tìm đến vị đạo sĩ để học đức khiêm tốn. Chàng thanh niên hỏi: “Thưa thầy, con muốn học và sống đức khiêm tốn. Con phải làm gì để đạt được đức khiêm tốn?” Đạo sĩ đáp, “Hãy đi ra phố chợ và tìm gặp những ai thấp kém hơn con và làm điều tốt cho họ và sẵn sàng giúp họ những gì họ muốn giúp.” Nghe xong, chàng thanh niên vội vã ra phố, anh nghĩ rằng: người thấp kém hơn anh chính là những người ăn xin vô gia cư… Nhưng, đạo sĩ dạy: “Để học được đức khiêm tốn, không phải là số việc tốt con làm, nhưng là cách nhìn của con. Con chỉ có thể đạt đức khiêm tốn khi con không còn thấy bất cứ một ai là người thực sự thấm kém hơn con. Đức khiêm tốn mời gọi ta nhìn nhận sự giống nhau theo bản chất của mỗi con người, chỉ khác nhau ở chỗ đứng” (Br. Huỳnh Quảng).

Một môn sinh khác tìm đến tu luyện nhân đức nơi ngôi chùa trên núi cao, sau mỗi năm đều phải gặp tôn sư để đánh giá lại sự tiến bộ của chính mình về con đường tu luyện. Năm thứ nhất anh ta thưa với thầy: “Con thấy mình đã tiến được một bước dài – xem chừng vượt xa một số bạn đồng môn, con đã tìm được sự hài hòa trong chính bản thân”. Thầy bảo anh: “con cứ tiếp tục như thế và phải cố gắng nhiều”.
Mùa xuân sang năm, thầy lại gọi anh tới để trình bày cõi lòng. Anh thưa: “con rất hạnh phúc, tâm trí con đã hòa cùng đại ngã vạn vật để luôn thuận theo ý trời”. Thầy lại bảo anh: “con cứ tiếp tục như vậy và gắng để thanh luyện cõi lòng cho thanh thản”.
Lần thứ ba đến trình diện thầy, người môn sinh tỏ ra rất bình thản, tay chắp và miệng lâm râm lời tụng kinh. Cũng như lần trước, Thầy hỏi xem học trò đã tiến bộ ra sao trên con đường tu luyện, người môn sinh trả lời: “Bạch thầy, đã lâu rồi, con không quan tâm mình đã tiến tới đâu nữa rồi”. Vị thầy mới mỉm cười và nói với người đệ tử: “Khá lắm, đó mới là diệt dục”.
Khi ta còn tìm hiểu kiến thức hoặc viết lách để muốn thể hiện cái tôi của mình chứ không phải để tìm kiếm sự trọn lành, khi ta còn làm tốt công việc để thể hiện bản thân mình và để tìm tiếng khen lao của người đời thay vì biết chu toàn bổn phận hằng ngày như một phương cách để nên thánh, khi một học sinh học hành chỉ để bảo đảm cho tương lai hơn là để học biết lẽ đời và lẽ trời, khi kết hôn mà chỉ nghĩ đến sung sướng cho bản thân mình cách thái quá đến nỗi vô tâm với người bạn đời, khi một vị tu sĩ chỉ nỗ lực để tìm chỗ đứng cao hơn và để được uy tín trong một cộng đoàn… thì cái tâm của họ chưa trong sáng, còn chất chứa đầy kiêu ngạo và ích kỷ (ngôn ngữ nhà Phật gọi là tham sân si).

Hãy học nơi Chúa Giêsu để thanh luyện cái tâm mình nên trong sáng để đừng xét đoán khắc nghiệt với anh em, để biết phận người là yếu đuối, để biết Chúa thưởng phạt mỗi người cả những suy nghĩ và ước ao nữa. Trong năm Đức Tin, nếu tôi chỉ làm một việc nhỏ là đọc kỹ lưỡng và cầu nguyện với đoạn Kinh Thánh của từng ngày thì rất tốt, vì chính Lời Chúa sẽ hướng dẫn tôi thanh luyện tâm tư nên trong sáng, và cái tâm sẽ hướng dẫn hành động nên tốt lành: mình chỉ là người tôi tớ hèn mọn, chỉ biết làm việc phải làm.