Danh sách Blog của Tôi

Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

VẪN CÒN ĐÓ NHỮNG NIỀM HY VỌNG





Nhờ những tiến bộ vượt bậc của nghành truyền thông và sừ bùng phát của kỹ nghệ du lịch, ngày nay con người hiểu rõ nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới… nhiều người bị chao đảo về tâm linh và nghĩ rằng: luân lý nhân loại hôm nay càng ngày càng tồi tệ và họ dễ than thở ‘còn đâu nữa những ngày xưa oanh liệt vàng son của đạo giáo?’.

Nhưng nếu ta mở mắt  ra mà quan sát thì  thấy nhiều điều ‘dễ thương’ vẫn tồn tại, tựa như những bông hoa dại nở tươi ngay giữa bụi gai trần thế - ngay giữa một xã hội bon chen hưởng thụ - lắm điều oan nghiệt về tình người và lăng loàn về tình dục. Tôi vẫn cảm phục hội đoàn Lêgiô Mariae, gồm các ông bà – anh chị - và cả các em thiếu niên, họ vẫn âm thầm cầu nguyện và sống theo điều lệ của hội: các nhóm thay nhau cầu nguyện những giờ rất khác nhau trong tuần và làm việc bác ái trong cộng đoàn giáo xứ. Tôi vẫn thấy nhiều ông bà và anh chị tụ tập nhau cầu lòng thương xót Chúa vào lúc 3 giò chiều mỗi ngày – dựa vào mạc khải được Thánh Faustina kể lại… dường như môi trường luân lý và đời sống tâm linh của nhân loại được hưởng nhờ những ân lộc của những lời nguyện cầu nầy. Tôi vẫn thấy những thiện nam tín nữ ngày ngày đến nhà thờ tham dự thánh lễ ngày thường – như  nguồn sức mạnh cần thiết cho một ngày sống lành thánh, bên cạnh đó nhờ có những bài hát thánh ca vang lên từ nóc giáo đường – làm cho giờ tụ họp bớt quạnh hiu và tràn lên một niềm hăng say vui vẻ. Tôi vẫn thấy cha quản xứ, dù có những lúc mệt vì bệnh, vẫn ngày ngày chu toàn những trách vụ của người mục tử chăm chút cho đoàn chiên, bên cạnh đó còn có những hy sinh của các ca đoàn và các hội đoàn… nhằm giúp nhau sống tốt đời đẹp đạo. Và đặc biệt trong tháng 5 và tháng 6 này, giáo xứ chúng tôi chia thành từng nhóm 10 gia đình, thay phiên nhau chủ trì những giờ kinh tối, nhằm khởi động lại một truyền thống đạo đức tốt đẹp – đã phần nào bị mai một, và cũng nhằm để nối kết tình làng nghĩa xóm – vì ngày ngay người ta có khuynh hướng co cụm vào gia đình mình thôi.

Khi nói về Thánh Linh, Chúa Giêsu nói: “Gió muốn thổi đâu thì thổi, không ai biết gió từ đâu tới và lại đi đâu. Cũng vậy về mọi kẻ sinh bởi Thần Khí”(Ga 3,8). Thời đại chúng ta đang sống là thời đại của ‘Chúa Thánh Thần’, cũng là một Thánh Thần đã làm những điều kỳ diệu mà sách Công Vụ Tông Đồ đã kể lại. Ngài được ví như cục than hồng dưới đám tro tàn: tuy ta chỉ nhìn thấy đám tro tàn lạnh lẽo, nhưng ẩn chứa bên dưới là một năng lực mãnh liệt tỏa ra sức nóng và ánh sáng cho muôn người. Hãy nhìn vào Mẹ Giáo hội hôm nay đang bị tấn công và chối từ, hãy nhìn vào xã hội đang chao đảo ngả nghiêng, và hãy nhìn vào những nỗ lực sống lương thiện của những cá nhân và tập thể quanh ta. Điều quan trọng là đừng nhát đảm mà nghĩ rằng thế giới này ngày càng tồi tệ, đừng sợ rằng tinh thần thế gian sẽ thống trị thế giới này, vì Thần Khí vẫn bay là là trên mặt địa cầu này (Kn 1,2).

Vẫn còn đó niềm hy vọng, dù một đội banh ‘kèo’ dưới phải thi đấu với một ‘kèo’ đàn anh, vì chỉ có niềm hy vọng tràn trề mới đem lại cho họ sức mạnh để chiến thắng. Vẫn còn đó niềm hy vọng, dù chiếc thuyền Giáo hội vẫn bị trôi dạt bồng bềnh trên biển đời, vì như Thánh Phaolô nói: “Ước gì tôi đừng khoe mình về một điều gì khác ngoài Thập giá Đức Kitô, vì lúc tôi yếu – chính là lúc tôi mạnh”; và vì sức mạnh của Giáo Hội và của tôi là chính  là Thần Khí Chúa, mang dáng vẻ cục than hồng hực nóng dưới lớp tro tàn có vẻ nguội lạnh.

NHỮNG CÂU CHUYỆN NHỎ MANG NHỮNG NỘI DUNG LỚN





            Câu chuyện thứ nhất là câu chuyện các ứng sinh của Giáo phận nhà. Những năm gần đây các khóa học tại Đại chủng viện Sao Biển Nha Trang diễn ra hằng năm. Các ứng sinh trải qua một năm chuẩn bị tại Tòa Giám Mục, sau đó sẽ được gửi đi Đại Chủng Viện.  Con số tựu trường những năm gần đây có phần giảm sút so với những năm trước.
 Đã đến lúc Giáo phận chúng ta phải báo động về ơn gọi: sẽ đến ngày chúng ta không đủ số người nhập học theo chỉ tiêu cho phép. Thời gian trước đây, ơn gọi thì nhiều nhưng lại không có điều kiện để phát huy và học tập. Xin hiệp lời cầu nguyện để xin Chúa thúc đẩy nhiều tâm hồn quảng đại dấn thân cho nước trời, xin cho Giáo phận có thêm nhiều ơn gọi linh mục, là những người điều hành và đồng hành cùng đoàn dân đông đúc.

            Câu chuyện thứ hai là một câu chuyện Tin Mừng (Lc 7,36-50). Đoạn Tin Mừng kể lại chuyện Chúa Giêsu được một người biệt phái mời dự tiệc, có một người đàn bà tội lỗi đã khóc lóc ăn năn tội – nước mắt chảy ướt chân Chúa – bà dùng tóc mình mà lau chân Chúa – bà không ngớt hôn chân và xức dầu thơm lên chân Chúa. Người biệt phái rất khó chịu khi phải chứng kiến cảnh quấn quýt của hạng phụ nữ này với người khách của mình, ông càng khó chịu hơn khi tự hỏi: ‘tại sao Chúa không xua đuổi bà ta ra, mà xem chừng lại rất bằng lòng!’… Quả thật, trước đây khi đọc đến đoạn Tin Mừng nầy, chính tôi cũng phải bối rối vì thấy suy luận Thần học ở đoạn tiếp theo không được logic mấy: Người biệt phái trả lời Chúa: “Người được tha nợ nhiều ắt sẽ yêu nhiều hơn”. Đúng thế! Ông đã trả lời rất đúng, Chúa nói. .. Ông thấy người đàn bà này chứ, Tôi nói cho ông biết, tội của chị tuy nhiều, nhưng đã được tha hết, bằng chứng là chị đã yêu mến nhiều, ai được tha ít thì yêu mến ít. Cha Phaolô Nguyễn Công Minh đã dùng một hình ảnh đơn giản làm cho ta dễ ngộ ra chân lý: Một quả cầu tuyết! Vâng, vào mùa đông tuyết, trẻ em thường vắt một cục tuyết bằng nắm tay và ném xuống sườn dốc. Quả cầu đó càng lăn thì càng lớn dần và càng ngày càng lăn nhanh hơn… Cũng thế, khi ta yêu nhiều thì tội lỗi ta được tha thứ, mà càng được tha nhiều thì ta lại càng yêu nhiều hơn. Còn ngược lại - giống như khi ta ném quả cầu tuyết ngược lên dốc, người yêu mến ít thì được tha ít, và vì được tha ít nên họ lại ít yêu mến hơn nữa: quả cầu tuyết nhỏ lại dần. Tình Chúa yêu ta cũng được ví như quả cầu tuyết càng ngày càng lớn, có thể nói là Chúa đã bị ‘sa lầy’ vì nhân loại: Đức Giêsu đã từ bỏ phận Thiên Chúa để mặc kiếp phàm nhân- Chúa hạ mình chịu khó nghèo và vâng lời đến chết thảm trên thập tự - Chúa lại còn lập bí tích Thánh Thể để ở lại cùng nhân loại cho đến ngày tận thế - Chúa khao khát tình yêu của các tâm hồn… Hãy yêu mến thật nhiều thì sẽ được tha nhiều. Hãy đến lãnh lấy nguồn bổ dưỡng nơi bí tích Thánh Thể.

            Câu chuyện thứ ba do Đức cha Vinh Sơn kể: “Thời gian còn dạy ở Đại Chủng Viện Sao Biển, tôi đã soạn một tài liệu thần học bằng tiếng Pháp, tôi gửi sang cho vị thầy dạy Thần học trước đây – để Ngài xem có được không? Thầy đã hồi âm: ‘soạn như thế là rất tốt, nhưng trò đừng quên mất đặc ân âm nhạc nhé!”. Thiên Chúa ban cho mỗi người những khả năng mà người khác không có. Vậy đừng để nó uổng phí mà không dùng đến.

            Vào dịp tĩnh huấn các ca trưởng năm 2009, các bài hát được hát trong Thánh lễ là của các nhạc sĩ trong giáo phận. Đức cha nhắc nhở là chúng ta phải mạnh dạn sáng tác, các ca trưởng cứ can đảm sử dụng những sáng tác của ‘nhà mình’, đừng luôn nghĩ rằng nhạc ‘nhà mình’ không hay bằng của các nhạc sỹ lớn… Khi ta không viết lách – sáng tác với lý do là mình tài mọn hoặc quá bận rộn…, ta cứ tưởng như thế là vì tính tự ti – khiêm tốn. Không phải đâu, vì ta tự đề cao mình và khả năng của mình quá, nên không dám viết lách - sợ người khác chê nếu không đạt, như thế là tự tôn rồi. Hãy nỗ lực cộng tác sức mình để làm vinh danh Chúa. Dĩ nhiên những bài hát phải được ‘kiểm duyệt’ trước khi lưu hành rộng rãi.


            Câu chuyện cuối cùng là một phân tích tâm lý của người Việt mình của một tờ báo: “Người Việt mình (ở Hải ngoại cũng như trong nước), luôn có khuynh hướng ‘co cụm’: không muốn quan tấm đến quốc sự, Giáo phận hay giáo xứ, ai sao mặc họ - miễn là để yên cho tôi hành đạo”. Chúng ta nên cố gắng mở rộng sự quan tâm đến những lãnh vực rộng lớn hơn là cá nhân – gia đình – xứ đạo – giáo phận… để hướng đến cộng đồng dân tộc cũng như giáo hội hoàn vũ, vì tôi không nên thánh một mình.

NHỮNG CHUYỆN ĐAU LÒNG





Môi trường sống của chúng ta đang bị ô nhiễm trầm trọng. Xin đan cử một số chuyện thực sự đang diễn ra hằng ngày, rất đau lòng và đáng xấu hổ: không biết nghĩ đến người khác, sống vô ý thức và vô trách nhiệm.

Những chiếc xe khách chạy vun vút trên những con đường quốc lộ vừa nhỏ vừa nhiều ổ gà… tài xế đã coi thường mạng sống của hành khách và người  đi đường, đa số họ lại còn sử dụng ít nhiều bia rượu, thường bóp còi inh ỏi và pha đèn vào mặt người đi ngược chiều. Nhiều thanh niên lạng lách xe máy trên những quãng đường đông đúc mà không ý thức rằng mình có thể gây tai nạn cho ai đó, người kia cũng có những người con thơ dại phải nuôi nấng. Những bao rác được vứt xuống những đoạn đường vắng vẻ và chúng sẽ nằm ở đó rất lâu dài, những chiếc áo mưa được vứt xuống đất khi trời đã tạnh mưa, nằm bừa bãi khắp nơi... mới thấy được sự vô tâm trâng tráo của một kiếp người. Những thông tin về nạn phá thai bừa bãi, chẳng còn tình mẫu tử - mà cũng chẳng còn chi tình người. Nhiều thanh thiếu niên thường dùng đến bạo lực gây nên nhiều cái chết thương tâm và  trở thành tội phạm; một số em bỏ học và sống bám vào gia đình, bê tha và lười biếng. Có những em nhỏ phá phách và phóng uế các lớp học của nhà trường, nơi mà đa số thầy cô  là những người ngoại… một hành động vô giáo dục và ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc làm chứng cho Tin Mừng. Muốn thức tỉnh lòng người, con cái Chúa phải sống khác với lương dân: sống yêu thương, gia đình hòa thuận, con cái ngoan hiền. Thật đáng tiếc là hình ảnh tốt đẹp về đạo Chúa nhiều lúc bị hoen ố bởi một số con cái mình.


Ta phải sống là người trước khi là người con Chúa. Sống là người có nghĩa là sống có ý thức và có trách nhiệm về hành vi của mình, biết nghĩ đến người khác, sống không dối trá, và sống theo tiếng lương tâm ngay thẳng. Giáo dục học đường chỉ có thể đầu tư cho các con em chúng ta về kiến thức, về khoa học, nhưng lại rất khiếm khuyết về khía cạnh nhân bản: nhân, lễ, nghĩa và tín. Mỗi gia đình và mỗi giáo xứ đừng quá đề cao việc xây dựng cơ sở vật chất mà quên mất việc giáo dục tâm hồn các thành viên. Có lẽ môi trường gia đình là nơi thuận tiện nhất để cha mẹ dạy cho con cái đức tính vị tha, biết quan tâm đến người khác. Này nhé, tập cho con cái đừng nghe nhạc và tivi quá lớn, nói vừa đủ nghe, đi lại nhấc cao chân để đừng nghe tiếng lê dép, đóng cửa nhẹ nhàng, sống trật tự ngăn nắp, lễ phép lịch sự với người lớn hơn mình, bỏ rác vào giỏ…  ‘Biết quan tâm đến người khác’ được ví như gói hành trang cần thiết để tạo lập một gia đình hạnh phúc và một tâm hồn bình an.


Có thể thấy được rằng nền đạo đức của người Việt chúng ta đã xuống rất thấp: tinh thần vị kỷ đang dần thống trị, con người không còn biết nghĩ đến người khác. Hãy tìm lại chính mình trước khi quá muộn. Hãy góp tay tạo nên một môi trường luân lý lành mạnh quanh mình càng rộng càng tốt, bắt đầu từ nơi tâm hồn mình và gia đình mình. Hãy dùng hành động, lời nói, các phương tiện truyền thông và những lời cầu nguyện để xây dựng nền văn minh tình thương trên quả địa cầu nầy.


Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013

TÌNH GIA ĐÌNH.





Khi bước vào đại học, nhiều sinh viên đã chọn những thành phố lớn như Hà Nội hay TP. Hồ Chí Minh để tiếp tục việc học hành, và ở đó hình thành những ‘cụm gia đình nội trú’. Có những cụm nhà do tư nhân tổ chức, nhưng đa số là do các dòng tu đứng ra điều hành sinh hoạt. Khi có nhiều nhà trong một khu vực thì họ lập thành một cụm, có một cụm trưởng và vị nầy cắt cử một số trưởng nhà lo điều tiết sinh hoạt cho 20-30 đàn em dưới quyền. Và những người chung sống cùng một mái nhà được mời gọi sống tình gia đình với nhau.

Có vị tổng thống Mỹ đã từng nói: “Bạn đừng đòi hỏi tổ quốc đã làm gì cho tôi, nhưng hãy tự hỏi tôi đã làm gì cho tổ quốc”. Khi sống chung với nhau hình thức một nhà trọ: góp gạo nấu cơm chung và cùng đọc kinh xem lễ, còn cả ngày mỗi người mỗi ngả đi học… ta dễ ỉ lại, chỉ biết hưởng dùng mà ít nghĩ tới đóng góp. Thực ra, khi ta chỉ biết đòi hỏi và mong chờ, thì cuộc sống dễ phơi ra những cái không hay và trở nên nặng nề. Nhưng nếu mỗi người ý thức đóng góp phần ít ỏi của mình thì bầu khí chung trong ‘gia đình góp’ nầy chắc chắn sẽ tươi vui hơn nhiều, vì sẽ lộ ra phần tinh túy của tình người, tình huynh đệ và tình con cái Chúa. Những hành vi bác ái yêu thương rất có khả năng truyền cảm và hay lây; nhưng những biểu hiện vô tâm ích kỷ cũng là những virut rất nhạy cảm.

Khi thay thế một trưởng nhà, và nếu người mới nầy không đắc nhân tâm, thì tình hình trong gia đình sẽ rất khác. Các thành viên nghiệm ra được rằng: trước đây, vì nể phục đàn anh mà mình nỗ lực và tích cực trong mọi sinh hoạt. Giữa cha mẹ và con cái trong gia đình ruột thịt cũng cần phải có sự nể phục nầy, cha mẹ phải có uy tín và là người cầm cân nảy mực trong giáo dục và sinh hoạt gia đình, và con cái cần có sự vâng phục như vâng lời Chúa. Trong một giáo xứ cũng vậy, cha xứ và những vị lãnh đạo hội đoàn phải giữ uy tín với các thành viên, và các thành viên nên vâng phục các vị ấy như vâng lời Chúa. Như vậy mới có trật tự, an bình và công đức.

Đã là người, ai cũng có lầm lỗi; và đã là người, ai cũng bị con quỷ kiêu ngạo rình mò xúi giục bất tuân. Điều đáng thương cho nhân loại sống trong thời đại bùng nổ thông tin là họ muốn giải quyết mọi chuyện nhanh gọn và bằng bạo lực. Ngay một đứa trẻ bậc tiểu học, một hôm đi dọc hành lang đụng nhẹ vào cô giáo, cô nghiêm giọng bảo: “lần sau còn đụng vào cô nữa thì cô đánh cho mà chừa”. Bạn đứa trẻ bảo nó: “Nếu cô giáo mà dám đánh tao thì tao sẽ gọi cha mẹ lên đánh lại cô giáo cho mà biết”. Thế đó, cô giáo thì quá dữ dằn và các em cũng chỉ biết một phương án giải quyết là dùng bạo lực.


Sống trong cuộc đời, con người cũng cần phải học chữ nhẫn: nhẫn nại và nhẫn nhịn. Nóng nảy và háo thắng là khuynh hướng sơ đẳng của loài vật và chẳng có gì đáng tự hào. Sự nhẫn nhịn bỏ qua những điều vặt vãnh vì một mục tiêu cao hơn là phẩm chất của người biết sử dụng lý trí để minh xét sự việc dưới nhiều góc cạnh và họ thường đưa ra nhiều phương án giải quyết vấn đề. Khi biết nhẫn nhịn, nhiều lúc ta nhận ra rằng thời cơ sẽ khác, lòng người cũng thay đổi và lòng mình cũng can trường hơn…đến nỗi khó khăn lúc trước không còn là ‘vấn đề’ nữa.

Cuộc đời giống như dòng nước chảy, nó không bao giờ êm đềm như ta định trước, sẽ có những bất trắc và sẽ gặp người ‘trái khuấy’… nếu không học được chữ nhẫn thì nguy cơ thất bại sẽ là rất lớn và tâm hồn luôn bất an. Có những danh từ tối kỵ trong những mối giao tiếp, vì nó gây nên những tình cảm tiêu cực cho người nghe và người nói. Trong tình yêu, đó là chia tay; trong hôn nhân đó là ly dị; trong hợp đồng kinh tế, đó là hủy hợp đồng; trong việc phục vụ Giáo hội, đó là từ chức và bỏ việc.

Để cuộc sống luôn hạnh phúc, xin gửi tặng quý vị câu danh ngôn: “Tất cả kho tàng trên trái đất này không thể nào sánh bằng hạnh phúc gia đình”. (Calderon). Để xây dựng một gia đình hạnh phúc, cần nhất là vợ chồng biết khiêm tốn và tha thứ (cho mình và cho nhau). Hãy học chữ nhẫn nơi Thiên Chúa là Đấng dự liệu cho cỏ lùng và lúa cùng mọc chung cho tới mùa gặt.

Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2013

PHỤC HỒI NIỀM TIN





Trong đoạn Tin Mừng Luca 17,5-10 nói đến 2 vấn đề có liên quan chặt chẽ với nhau: niềm tin và sự phục vụ, các môn đệ xin Thầy thêm lòng tin và liền đó là giáo huấn của Chúa về việc phục vụ vô vị lợi.. Hoặc như cách diễn tả của Thánh Giacôbê: Đức tin không việc làm là đức tin chết.

“Lạy Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con” cũng là lời cầu xin của mọi tín hữu, kể cả linh mục và tu sĩ. Các môn đệ đã nhiều lần nghiệm ra mình thiếu lòng tin qua những lần thấy Chúa đi trên biển mà tưởng là ma; có lần các ông trừ quỷ mà không được, các ông hỏi lý do tai sao, và Chúa đã trả lời là vì các ông thiếu lòng tin. Nhất là trong những hoàn cảnh đau thương, khi gặp thất bại và thử thách, lòng tin của ta vào Chúa rất dễ lung lay. Có lời một bài hát: “Con tưởng rằng con vững tin, khi đời sống đầy những hoa hồng, khi cuộc sống nhẹ trôi êm đềm, khi đất trời ngập nắng bình yên. Nhưng khi đời gặp bao giông tố, khi trời vừa lập đông băng giá, con lo âu lạc bến xa bờ, con mới biết rằng con chưa vững tin”

Trong trại tập trung Austruitch, là nơi khoảng 4 triệu người Do Thái đã bị giết, trong đó có cha Maximilien Kolbê, là nơi niềm tin vào Thiên Chúa Giavê bị thử thách ghê gớm. Khi lực lượng đồng minh đến, các hồ sơ đang bị tiêu hủy, người ta giành lại được một số hồ sơ đã cháy dở, và có một bức thư ghi lại thử thách niềm tin của một tử tội: “Lạy Chúa, con tin là có Ngài, nhưng con không thể hôn cái gậy của Ngài; con tin là Ngài hiện hữu, nhưng con không thể tin được là Ngài yêu thương con người, nhất là những người thuộc dân tộc Do Thái…”. Người ta cũng ghi nhận rằng trong số 6 triệu nạn nhân Do Thái, có những thầy dòng đã treo cổ tự tử trong nhà giam.  Dù họ là người được huấn luyện Thần học rất kỹ càng, nhưng khi chứng kiến cảnh hành hạ con người dành cho nhau, niềm tin họ đã trải qua cơn thử thách nặng nề…

Không ai trong chúng ta có thể nói rằng niềm tin của mình là kiên vững cả. Ngay các cha ông chúng ta, trong suốt 300 năm bắt đạo của Giáo hội Việt Nam, đã có nhiều người quá khiếp sợ cực hình mà chối đạo, có vị sau đó ăn năn hối cải và xin nộp mình cho quan để chịu tử vì đạo. Chính Chúa Giêsu cũng dạy ta phải kiên trì cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ, vì tinh thần thì lanh lợi nhưng xác thịt lại yếu đuối. ..

Tuy vậy, cũng có cách để hồi phục niềm tin! Đó là bằng việc làm. Thánh Giacôbê nói: Đức tin không việc làm là đức tin chết. Anh hãy cho tôi thấy niềm tin không việc làm của anh, còn tôi –tôi sẽ dùng hành động mà chỉ cho anh biết niềm tin của tôi. Chuyện kể rằng có một người phụ nữ đang trong tình trạng thất vọng vì cuộc sống, không tin vào cuộc đời và chính mình nữa. Bà đến văn phòng tư vấn tâm lý và gặp vị giám đốc điều hành của công ty. Sau khi nghe chuyện đời bà, ông giám đốc đề nghị bà gặp cô thư ký trẻ của mình đang ngồi ở bàn làm việc. Cô này lễ phép thưa chuyện: “Thưa bà, con cũng đã trải qua những giây phút nặng nề của cuộc đời giống như bà bây giờ, lúc đó chồng con vừa mới mất vì bệnh và đứa con duy nhất của con lại bị tai nạn chết tại chỗ chỉ mấy ngày sau, con chán nản cực độ và muốn quyên sinh cho rảnh nợ đời. Thế nhưng, vào một đêm mưa gió, con đang ở nhà – tâm trạng buông xuôi, thì nghe tiếng cào nhẹ ở cửa – con nhìn ra và thấy một con mèo, nó bị ướt và cào cửa để xin vào nhà tránh mưa gió lạnh. Con mở cửa đưa nó lại gần lò sưởi và lau khô cho nó, con cho nó ăn chút ít vì thấy nó có vẻ đói, và chỉ một lúc sau nó cuộn tròn ngủ ngon lành trong vòng tay con. Con nghiệm ra rằng kể từ ngày tai ương xảy đến, đây là những giây phút con cảm nếm được niềm an bình hạnh phúc, con nghĩ chỉ một việc chăm sóc một sinh vật nhỏ bé đáng thương đã làm cho lòng mình ấm lên, thì tại sao ta không chăm sóc những người bất hạnh ngay trong xóm của mình xem sao. Và thật lạ lùng, khi con dấn thân giúp đỡ những người đáng thương đang sống quanh con thì con tìm lại được ý nghĩa cho đời mình, con được an bình – vui sống và hạnh phúc. Con trao cho họ thời giờ và sức lực của mình, nhưng con lại nhận được nhiều hơn về hạnh phúc và bình an tâm hồn".

Vây đó, khi ta dấn thân cho những công việc phục vụ cộng đoàn, giúp cho người khác thăng tiến tinh thần, chia vui sẻ buồn, quan tâm đến những người bất hạnh hơn mình…một cách vô vị lợi, thì bình an của Chúa sẽ xuống trên ta, và đó là cách phục hồi niềm tin yếu kém của ta.

XIN CHÚA Ở LẠI VỚI CON






“Xin mời Ngài ở lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều và ngày sắp tàn”. Đây là một lời mời tha thiết của hai môn đệ trên đường Emaus và cũng rất thích hợp cho chúng ta luôn lặp lại trong từng ngày sống. Nhưng trong thực tế, nhiều khi chúng ta không được nhiệt tình và đon đả như hai môn đệ Emaus, vì ngại cuộc sống bị xáo trộn và không được nghỉ ngơi.

Cuộc sống vốn phức tạp với nhiều mối quan hệ, đòi chúng ta phải ra khỏi nhà để chia sẻ tình cảm, tiền bạc và thời giờ cho những cuộc hẹn – và cả những người bị bỏ rơi. Mỗi lần ra đi như thế, đòi ta phải xáo trộn giờ giấc, từ bỏ ý riêng và bớt đi một chút của cải. Nhưng nếu ta từ bỏ hết những quan hệ xa gần, nếu ta không có một chút hăng say để đón nhận những dòng đời khác vào với đời mình, thì có lẽ tâm hồn ta không được tận hưởng những niềm vui huynh đệ. Biết bao gia đình các thành viên tẩy chay nhau vì những lý do thật nhỏ nhen và ích kỷ; nhưng nhiều khi chúng ta làm khổ nhau khi tổ chức ‘ma chay cưới hỏi’ quá rình rang.

Các bậc cha mẹ luôn lo lắng cho con cái: con trai cũng lo mà con gái cũng lo, nhỏ cũng lo mà lớn càng lo hơn, hiền quá cũng lo mà nghịch ngợm cũng lo, con ra cửa nhà rồi cũng chỉ mới giảm nỗi lo.  Ai cũng nghiệm ra rằng: “cha mẹ sinh con, trời sinh tính”; và dù mình có tài giỏi đến đâu cũng không thể quản và yên tâm về con cái… chỉ biết chạy đến với Chúa để Chúa lo liệu cho chúng thôi. Trong tác phẩm Đường hy vọng có kể câu chuyện một bà mẹ với một đàn con đông đến 10 đứa phải nuôi, vậy mà bà vẫn đến cầu nguyện một giờ vào mỗi buổi trưa và gia đình bà có đến 4 linh mục và 3 nữ tu. Chân phước GioanPhaolô II luôn chìm sâu trong cầu nguyện: Ngài cầu nguyện cho những người Ngài vừa tiếp xúc và cầu nguyện theo những ý chỉ được vị thư ký ghi sẵn trên bàn… Để Chúa ở lại trong lòng mình và trong đời con cái mình, để Chúa thực hiện những kỳ công trên vũ trụ nầy, chúng ta phải luôn cầu nguyện: “Xin cho ý Chúa được thể hiện dưới đất cũng như trên trời” và phải dành thời giờ cho công việc quan trọng nầy.


Khi đến với bàn tiệc Thánh Thể, không phải chỉ là Chúa vào nhà sống bên cạnh ta, mà là Chúa sống trong ta và trở nên một với ta. Ấy vậy mà nhiều khi ta vẫn ngại đến với Thánh Thể, vì ta chưa nhận ra đó là chính Chúa. Ta vẫn sợ được Chúa yêu, vì sợ Chúa ban đau khổ - như là quà tặng của tình yêu để ta nên giống Ngài. Xin trích một đoạn suy niệm ngắn của Chân phước Gioan Phaolô II: “Khi những môn đệ trên đường đi Emaus mời Chúa Giêsu ở lại với họ, Ngài đáp lại bằng cách trao ban cho họ một món quà còn lớn lao hơn nhiều: qua bí tích Thánh Thể, Ngài hiện diện trong họ. Khi đón nhận Thánh Thể, ta đi vào mối kết hiệp sâu xa với Chúa Giêsu. “Hãy ở lại trong Thầy và Thầy ở trong anh em” (Jn 15:4). Mối tương quan sâu xa và ở lại trong nhau nầy cho phép ta nếm cảm trước một chút về Thiên đàng, ngay lúc còn ở nơi dương thế. Đó không phải là ao ước lớn lao nhất của con người hay sao? Đó không phải là điều Thiên Chúa đã dự liệu cho lịch sử cứu độ hay sao? Thiên Chúa đã để lại trong quả tim con người một cơn đói khát Lời Chúa (Am 8:11), và nó chỉ được thỏa mãn bởi sự kết hợp với Ngài. Sự kết hợp trong bí tích Thánh Thể cho ta được no thỏa Thiên Chúa ngay trên quả đất nầy, trong khi mong chờ sự kết hợp trọn vẹn trên nước Trời”.

Các môn đệ Emaus đã bừng cháy cõi lòng và đã nhận ra Chúa, vì họ đã lắng nghe một cách khiêm tốn và để cho lòng mình lắng đọng. Chúa vẫn đến thăm ta trong cuộc sống sôi động và tất bật nầy, Ngài luôn muốn ta mời vào nhà cho được giãn cơn khát tình yêu; thế nhưng ta có biết hồi tâm trong giây lát, suy niệm một vài câu Kinh Thánh và giục lòng yêu mến Ngài hay không – đó mới là những điều kiện cần thiết để tiếng Chúa vang vọng trong lòng ta.

Hai môn đệ làng Emaus đã tha thiết mời Chúa vào nhà mình và lòng họ đã cháy bừng lửa mến. Còn chúng ta, khi vẫn còn ngại đến với bí tích hòa giải và Thánh Thể, khi vẫn ngại hòa đồng với anh em, khi vẫn dành ít giờ cầu nguyện và hồi tâm… ấy là chúng ta đã bỏ qua những cơ hội để nhận ra Chúa nơi anh em, trong lòng mình và trong cuộc đời nầy.

Thứ Ba, 9 tháng 4, 2013

LỜI CHỨNG




Maria Macđala được gọi là người chứng thứ nhất, vì theo Tin Mừng Thánh Gioan, bà đã đi ra mồ từ sáng sớm tinh mơ để thăm mộ và xức dầu thơm cho Chúa. Chúa đã hiện ra, đã gọi tên bà và sai bà đi báo tin cho các môn đệ. Liền sau đó, bà đã vội vã trở về nói với các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa”. Lời chứng của bà Maria có một tác động rõ rệt là cả hai môn đệ Phêrô và Gioan cùng vội vàng chạy đến mồ để xem thực hư thế nào (Ga 20,11-18).
Thật khó cho chúng ta phải làm chứng cho Chúa một cách rõ ràng như lời chứng của bà Maria, vì chúng ta chỉ thấy Chúa bằng đức tin và nhiều khi chúng ta khó mà nhận ra sự hiện diện của Chúa ngay trong cuộc sống. Chúng ta thường oằn lưng vì gánh nặng nuôi dưỡng và giáo dục con cái, vì những luật lệ và những bất toàn của xã hội, vì bệnh tật và những đau khổ. Ngay những xã hội rất tiến bộ như Hàn Quốc và Thụy Điển, tỷ lệ người trẻ tự tử rất cao – cao hơn cả những nước kém phát triển, vì người trẻ không thấy ý nghĩa cuộc đời và chỉ thấy đời là một bể khổ triền miên.
Nhiều người Kitô hữu cũng mất đức tin, không còn tin vào Chúa nữa, nhất là khi đối mặt với thử thách gian truân. Có một hối nhân đến tòa giải tội và thú nhận rằng mình đã mất đức tin. Cha giải tội có lời khuyên: “Muốn phục hồi niềm tin, mỗi tối con hãy cầu nguyện một cách đơn giản: tạ ơn Chúa vì một ngày đã qua, đọc một kinh lạy Cha, kính mừng và sáng danh, dâng giấc ngủ cho Chúa… và rồi con sẽ tìm lại được đức tin”.

Chúa luôn hiện diện trong Lời và trong Thánh Thể. Muốn phục hồi niềm tin thì hãy tìm gặp Chúa ở đó. Dù không có cơ hội nói về Chúa, cha mẹ có bổn phận gặp gỡ và truyền lại cho con cái kinh nghiệm gặp gỡ của chính mình với Đấng Phục Sinh.
Đọc những trình thuật Phục Sinh, ta luôn thấy có một lộ trình giống nhau: con người không nhận ra Chúa, họ biểu lộ lòng yêu mến, Chúa tỏ mình ra cho họ, lòng tràn ngập vui mừng họ hân hoan ra đi làm chứng. Ta đọc được lộ trình nầy trong câu chuyện bà Maria Macđala, hai môn đệ đi làng Emaus, câu chuyện xảy ra trên bờ hồ (Ga 21,1-14), cuộc ngã ngựa của Thánh Phaolô. Nói tóm lại con người tỏ thiện chí và Chúa sẽ đi bước trước để tìm gặp con người.
Chúa đã dạy ta: “Phúc cho kẻ khao khát điều công chính vì họ sẽ được no thỏa”. Thiên Chúa không thể hẹp hòi để bắt con người phải chịu thiệt thòi, vì Chúa luôn chìa tay ra cứu vớt con người và lặn lội đi tìm con chiên lạc. Chỉ có điều là Ngài luôn tôn trọng tự do của con người, nên Ngài cứ đứng ngoài cửa, Ngài gõ cửa tâm hồn ta, chờ đợi, mong ta mở để vào dùng bữa tối thân mật với ta.

Đối với con người thời đại, chấp nhận Chúa Giêsu là Thiên Chúa làm người, đã tử nạn và phục sinh không phải là điều khó, nhưng chấp nhận sống theo những đòi hỏi Tin Mừng: ‘yêu mến Chúa trên hết mọi sự và yêu tha nhân như Chúa đã yêu’ mới là điều khó, và đó là điều người Kitô hữu cần làm chứng.
Đức Thánh Cha Phanxicô đã có những mẩu chuyện được xem như huyền thoại về một nhân chứng cho Chúa Phục Sinh qua tinh thần khiêm nhường và khó nghèo. Ngài cúi đầu xin mọi người cầu nguyện cho mình được Chúa chúc lành, Ngài thường sống trong một căn hộ bình thường, tự nấu ăn, thường cử hành ‘nghi thức rửa chân’ cho những người sống bên lề xã hội. Ngài dạy: hãy vui lên vì được làm con Chúa và đừng sợ tuyên xưng mình là Kitô hữu, đừng để ai đánh cắp niềm hy vọng. Ngài đứng để nhận lời thề tuân phục của các Hồng y và Ngài chỉ ban phép lành cách âm thầm cho các ký giả dù vẫn ý thức rằng mọi người là con cái Chúa.

Đừng nghĩ Đức thánh cha Phanxicô đóng kịch cách tài tình mà hãy nghĩ những cử chỉ đó là biểu hiện của một lòng thánh thiện thuần khiết. Còn chúng ta, mỗi ngày sống, hãy tỏa chiếu niềm tin vào Chúa Giêsu phục sinh bằng cuộc sống xứng danh người con cái Chúa: vui tươi, phó thác, nguyện cầu và thân ái.