Danh sách Blog của Tôi

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

Phòng tĩnh nguyện




Bản tin từ Email của anh Trần Khánh Điệp: “Sáng hôm qua Chúa nhật 28/7/2013, cha quản xứ Châu Sơn, cha Jn. Bùi Quang Đạo đã làm lễ khánh thành "PHÒNG TĨNH NGUYỆN" .
                 Sau Thánh lễ I, cộng đoàn dân Chúa tập trung về Phòng Tĩnh Nguyện, mới được xây dựng theo như mong muốn và đề nghị của ngài khi vừa mới về nhận giáo xứ.... và sáng nay 29/7/2013 khi vừa kết thúc Thánh lễ, là cuộc rước Mình Thánh Chúa về đặt nơi Phòng Tĩnh Nguyện. Các nghi thức rất gọn nhẹ nhưng luôn giữ được sự trang nghiêm sốt sắng.
                 Còn nhớ trước đây giáo xứ Kim Phát (cha Jac. Phạm xuân Lương), giáo xứ Buôn Hồ (cha Phêrô Trương Văn Khoa) cũng đã xây dựng những nhà phòng để bất cứ lúc nào giáo dân cũng đều có thể đến viếng Chúa Thánh Thể. Chúng ta cũng không thể quên những giây phút viếng Thánh Thể Chúa khi còn là các chú Tiểu chủng sinh, những việc làm hằng ngày đó đã ăn sâu vào tâm khảm, đã cho ta sự an bình cho tới tận bây giờ mỗi khi ta đến với Thánh Thể.
                 Phòng Tĩnh Nguyện khá rộng rãi, có chiều sâu, thiết kế đẹp, các vật liệu được sử dụng tạo một bầu khí vừa tôn nghiêm vừa ấm cúng”.

Bản tin tuy đơn sơ nhưng gợi lên một thực tế của các xứ đạo tại Việt Nam: cửa nhà thờ luôn đóng kín vì sợ kẻ xấu nên người giáo dân bỏ mất một thói quen tốt là viếng Thánh Thể. “Phòng tĩnh nguyện” có lẽ là một giải pháp tình thế phù hợp và cần thiết cho nhiều giáo xứ trong tương lai gần. Có người từng đặt câu hỏi: “tại sao nhà chùa luôn mở cửa trong lúc nhà thờ lại đóng cửa im lìm?”

Ai cũng biết, bí tích Thánh Thể là trung tâm của đời sống đạo của mọi Kitô hữu, mọi hoạt động tông đồ đều múc lấy sức mạnh từ Đức Kitô. Chúa Giêsu Thánh Thể luôn khao khát tình yêu của con người, mà cách thể hiện tình yêu tốt nhất là gặp gỡ, chuyện trò, tâm sự và rồi Chúa sẽ mạc khải cho bạn tình con đường nên thánh cũng như tăng thêm sức mạnh giúp họ rũ bỏ những tham sân si không phù hợp với Tin Mừng.
Ngày xưa, khi còn ở trong chủng viện, cứ sau mỗi tiết học thì được giải lao 5 – 10’ và việc viếng Thánh Thể luôn được khuyến khích. Mỗi cộng đoàn tu đều có Chúa Giêsu hiện diện trong một căn phòng thuận tiện, để các tu sĩ đọc kinh thần vụ và thưa chuyện lâu giờ với Chúa Giêsu, Đấng họ tôn thờ. Đó là phòng tĩnh nguyện của cộng đoàn, ở đó có sự hiện diện của vị Vua vũ trụ nhưng cũng là người bạn chân tình của mỗi tâm hồn, nơi Ngài họ tìm được sức mạnh cho từng ngày sống và ý nghĩa cho một cuộc đời tận hiến.
Nếu ta xác tín rằng Thánh lễ là vô giá, vì sự hiến tế của chính Con Thiên Chúa được tái diễn và ơn cứu rỗi được hiện tại hóa cho những người tham dự, thì hãy thu xếp để đến dâng Thánh Lễ hằng ngày bạn nhé, ít là để viếng thăm Chúa Giêsu Thánh Thể vì Ngài luôn mong chờ ta ở đó. Tôi vẫn thường nói với con cái: “Việc có ý nghĩa nhất cho một ngày sống là đi dâng Thánh Lễ”.

Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2013

Dòng sông và cuộc đời




Khi nghĩ về dòng sông, ta thường nghĩ về cuộc đời, vì giữa chúng có nhiều điểm tương đồng. Cả hai đều là dòng chảy, ngày nầy qua ngày khác – năm này qua năm khác, cứ chảy mãi, tuy có thăng trầm và biến đổi nhưng luôn là chính nó.
Dòng sông không biết đâu là nguồn cội, vì một giọt nước không thể chảy ngược để tìm về nơi mình đã xuất phát. Con người không nhận diện được những tế bào đầu tiên của mầm sống được hình thành nơi lòng mẹ của chính mình, không ai đã từng chứng kiến giây phút tạo dựng con người đầu tiên ra sao. Chỉ với sự mạc khải của Thánh Kinh, con người biết Thiên Chúa là nguồn cội của vũ trụ và là cùng đích của muôn loài.
Dòng sông cứ chảy mãi về chỗ trũng và luôn tiến lên phía trước, nó chảy vòng qua những rặng núi, có lúc hòa mình vào những hồ lớn để rồi lại tiếp tục hành trình của riêng mình và mất hút trong biển cả. Đời người cũng vậy, cũng có những gian lao thử thách phải vượt qua để lớn lên, thử thách của tuổi trẻ và tuổi già, thử thách của tình dục nơi mình và hấp lực của những đam mê thế gian, những gian lao vất vả vì cuộc sống, những đớn đau của bệnh tật và cuối cùng là sự chết – một sự trút bỏ mọi thứ ta đã cố công gom góp cả đời để an nghỉ nơi lòng đất mẹ.
Dòng sông có một quy luật nữa là càng ngày càng lớn hơn, vì nó tiếp nhận thêm những thành viên mới, giữa chúng luôn có sự hòa nhập và chia sẻ các yếu tố cấu thành. Để lớn lên, con người cũng phải biết sống vì tha nhân, đón nhận và chia sẻ. Thi sĩ Tagore nói rất chí lý: "Tôi nằm ngủ mơ thấy đời sống là niềm vui. Khi thức dậy tôi khám phá ra rằng, sống là phục vụ. Tôi dấn thân phục vụ và khám phá ra rằng phục vụ chính là niềm vui".
Dòng sông khi ngắn khi dài, nhưng dường như nó không quan tâm đến mục đích tồn tại của mình, nó cứ tưới gội vùng đất nó đi qua - nó cứ reo ca qua từng ngày được là chính nó và nó cũng nhẫn nhục khi đã mất tên gọi nơi biển rộng. Đời người tuy ngắn hay dài đều có nhiệm vụ và ơn gọi và mục đích riêng mà Chúa đã dự liệu,  dù nhiều khi ta chẳng ý thức, vì chính Chúa đã khắc tên từng người trong lòng bàn tay Chúa.

Ông Luther Martin King nói về chiều dài, chiều rộng và chiều cao cuộc đời. Chiều dài cuộc đời thì ai cũng có, đó là quãng thời gian tồn tại của họ trên trần gian nầy với những bận tâm thỏa mãn nhu cầu bản thân. Chiều rộng cuộc đời là mối tương quan với tha nhân và chiều cao cuộc đời là mối tương quan với Đấng Tạo Thành. Một cuộc đời thành đạt và phong phú phải có đủ ba mối tương quan nầy, tựa như 3 cạnh của một tam giác đều. Bạn hãy có những chương trình đủ dài hạn để đưa Thiên Chúa vào đó và đủ rộng lớn để bao gồm thời gian vĩnh cửu.
Dòng sông dù hiền hòa hay giận dữ luôn tiến lên không bao giờ lùi. Đời người dù vắn dài sướng khổ cũng là cuộc hành trình tiến về điểm hẹn ta vẫn chờ mong, nơi Đức Kitô đã dọn chỗ và đang chờ đợi người con trở về nhà, sau cuộc hành trình trong tin yêu và phó thác.

Thứ Năm, 27 tháng 6, 2013

Dòng đời dần trôi…




Sông Sêrêpôk nằm ở phía Tây Trường Sơn, con sông này chảy sang đất Campuchia trước khi nhập vào sông Mê Kông để sau đó con sông lớn này trở lại Việt Nam.  Dòng nước cứ chảy về chỗ trũng như một điều tự nhiên. Dòng nước khi hiền hòa khi lại giận dữ tùy thời tiết và địa hình nó đi qua. Cuộc đời mỗi người và sinh hoạt của một giáo xứ cũng được ví như dòng sông đầy kỷ niệm và dấu ấn của tình Chúa và tình người. Tôi muốn nói tới cuộc chia tay của giáo xứ Vinh Hương với cha Phêrô Cao Tiến Hà và nói tới giáo xứ Đức lệ là nơi cha Phêrô được bổ nhiệm là vị quản xứ tiên khởi.
Năm 1995, thầy Phêrô Cao Tiến Hà đi học ở Đại Chủng Viện Sao Biển Nha Trang, chương trình học chỉ 5-6 năm là hoàn tất, các bạn lần lượt lãnh nhận sứ vụ linh mục, thế nhưng thầy Phêrô bôn ba mãi tới năm 2009 mới bước lên bàn Thánh và được bổ nhiệm là cha phó giáo xứ Vinh Hương. Trong 4 năm sống đời cha phó, dưới sự dìu dắt của cha Phaolô Nguyễn Công Minh, cha Phêrô nay đã trưởng thành để nhận một giáo xứ còn non trẻ với vài năm tuổi. Chắc chắn đây là cơ hội tốt cho cả hai: cha xứ trẻ với đầy nhiệt huyết và đàn chiên cũng quyết tâm cộng tác với vị chủ chăn để đưa giáo xứ hòa nhập với bạn bè bốn phương, cả trong lãnh vực đạo cũng như đời, cho thỏa tình mong ước bấy lâu nay. Còn nhớ ngày lễ mở tay của cha Phêrô ở giáo xứ Kim Mai, cha nghĩa phụ Stephanô Nguyễn Văn Đậu đã giảng: Bí tích truyền chức thánh và ơn của Bí tích này không làm phép lạ ngoạn mục để biến một người bình thường, trong nháy mắt, thành một vị thánh, thành người hoàn thiện, một người tốt lành. Ngày lãnh chức linh mục không phải là đạt đến đích điểm đời tu, nhưng chỉ là bước qua một giai đoạn mới, khởi đầu lên đường đi loan báo Tin Mừng. Ai cũng biết linh mục cũng là con người, nên có rất nhiều hạn chế về mọi mặt và suốt cuộc đời  tận hiến  linh mục luôn phải phấn đấu để trở nên trọn lành. Ý thức thân phận mỏng dòn của mình, cha Phêrô đã chọn khẩu hiệu ‘Hồng Ân của Chúa, đời đời con ca ngợi'. Và hôm nay 27/6/2013, cha nghĩa phụ lại căn dặn: Linh mục là người dẫn dắt người ta đến với Thiên Chúa, xây dựng sự hiệp nhất và yêu thương. Linh mục được trao cho chìa khóa nhà tạm là để nhắc nhở rằng: Thánh Thể là trung tâm đời sống đạo và là nơi linh mục kín múc sức mạnh. Linh mục quản xứ được dẫn ra tháp chuông để nói lên rằng Ngài có bổn phận quy tụ cộng đoàn đến tụ họp cầu nguyện. Linh mục còn được đưa đến tòa giải tội để nói lên rằng ngài được trao cho quyền tháo cởi trong nhiệm sở mình và phải biết cách dẫn con chiên năng đến tòa cáo giải để giao hòa với Thiên Chúa. Ngày 24/6/2013, mừng lễ quan thầy Gioan Baotixita, đoàn con giáo xứ Vinh Hương đã có lời từ biệt cha Phêrô để cha ra đi theo bài sai của đức cha Vinh Sơn. Đã có những giọt ngắn giọt dài vì bùi ngùi thương tiếc, vì những cảm xúc tạ ơn  cũng như xin lỗi nhau, khi những bước chân cha con cùng song hành trong suốt 4 năm trời, dù những bước chân có lúc khập khiễng. Và ngày hôm nay, 27.6.2013, khá đông bà con giáo dân đã tự nguyện đưa tiễn cha về vùng đất mới, cùng dâng thánh lễ để cầu xin ơn Chúa xuống trên cha và bà con giáo xứ Đức Lệ, là con đẻ của Vinh Hương. Xin cho dòng đời cha càng ngày càng trở nên hùng vĩ, lôi cuốn được nhiều tâm hồn về bên Chúa Tình Yêu.

Đến với giáo xứ Đức Lệ, ai cũng nhận thấy sự trưởng thành rõ rệt. Những năm 1960, chỉ có một nhóm nhỏ tìm đến đây lập nghiệp, tựa như những dòng suối róc rách khởi nguồn cho một dòng sông lớn trong tương lai. Thập niên 70, giáo họ Đức Lệ được thành lập, có nhà thờ để cha xứ vào dâng lễ và có tượng thánh Antôn Padua. Đặc biệt từ năm 1997-2012, có cha Isidorô Lê Hướng về giúp giáo họ và tiếp đó đến nay có cha xứ Xã Đoài làm cha quản nhiệm. Thời gian gần đây, giáo xứ Đức Lệ được giáo quyền cũng như chính quyền công nhận và đã có một giáo điểm Đức Hòa. Sự phát triển âm thầm mà mạnh mẽ của giáo xứ Đức Lệ được ví như dòng sông càng ngày càng lớn, tuôn chảy về biển khơi cội nguồn là Thiên Chúa. Nơi dòng sông nầy, muôn sinh linh tìm được môi trường tốt để sống đạo, để minh chứng tình Chúa và thể hiện tình người, họ cùng nhau trẩy hội tiến về đền thánh Giêrusalem trên trời.
Giáo xứ Vinh Hương cũng đang trải qua một giai đoạn có nhiều biến động, tiễn cha phó đi và chỉ vài ngày tới lại đón cha phó Phaolô từ giáo xứ Vinh An về. Thêm vào đó, đầu tháng 7 cha xứ đi Saigon để được bác sĩ giỏi chẩn đoán lại, chuẩn bị cho một cuộc giải phẩu cài ‘chip’ điện tử vào não. Có thể nói lòng người ai cũng cảm thấy nao nao khi dòng sông đi qua vùng thác ghềnh, nhưng tiếng nói của Thầy Giêsu vẫn vang vọng trong ta: “Thầy Đây, đừng sợ, hỡi đàn chiên bé nhỏ”.


Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2013

Lòng yêu mến



Khi ta bị bệnh về mắt, ta buộc phải mang kính và vạn vật biến đổi bởi lăng kính ta mang, từ màu sắc cho đến kích thước. Nếu ta biết nhìn nhận thân phận tội lỗi của chính mình và nhìn ra lòng yêu mến (sự tử tế) của người khác, thì thái độ sống của ta với người người khác sẽ trở nên dễ dàng hơn nhiều.
Quả thật, nhìn ra tội mình là một điều khó và nhìn ra lòng yêu mến của người khác cũng là điều khó. Vua Đavit đã say đắm bà Betsabê nên đã lập mưu giết chồng bà là tướng Uria. Tiên tri Nathan được Chúa sai đến nói với vua về câu chuyện “một người rất giàu đã lấy con chiên duy nhất của một người nghèo để thết đãi bạn…” vậy mà vua Đavit cũng vẫn chưa nhận ra tội mình, vẫn còn cao giọng lên án sự bất công tầy đình kia. Chỉ đến khi tiên tri Nathan phải nói thẳng: “Kẻ đó chính là nhà vua!” thì Đavít mới nhận ra lỗi lầm của chính mình và ăn năn (2 Sam 12,7-10).
Câu chuyện Tin Mừng Luca 7,36-50 kể về một người đàn bà tội lỗi hôm nay cũng có nhiều điều đáng cho ta suy nghĩ. Ai cũng dễ nhận ra ngay rằng người đàn bà đầy tiếng tăm kia là kẻ tội lỗi đáng bị loại trừ khỏi mặt đất mà không nhận ra lòng yêu mến bà đang diễn tả là điều đáng đề cao và là điều đẹp lòng Chúa. Và không ai trong cử tọa hôm ấy nhận ra mình là kẻ tội lỗi.
“Kẻ được tha nhiều thì yêu mến nhiều, kẻ được tha ít thì yêu mến ít”. Trong ví dụ Chúa đưa ra, sự tha thứ của ông chủ là do lòng thương xót, vì cả 2 con nợ đều không có gì để trả. Chúa Giêsu đưa ra nhiều so sánh để ông Simon nhận ra những hành động lạ kỳ đang diễn ra trước mắt: người phụ nữ tưới ướt chân Chúa bằng nước mắt và lấy tóc mà lau, chị không ngừng hôn chân Chúa và xức lên đó dầu thơm quý giá. Và chắc chắn người biệt phái đã phải ‘tâm phục khẩu phục’ trước lý luận của Chúa hôm ấy: chị phụ nữ kia không còn là người tội lỗi nữa vì chị đã được tha rồi, bằng chứng là chị đã biểu lộ lòng biết ơn một cách ngoại thường, ngoài sức tưởng tượng của ông. Câu nói của Chúa gợi lên điều gì cho ta? – Nhiều khi chúng ta không yêu Chúa nhiều là vì ta không nhận ra thân phận tội lỗi và mất cảm thức về tội đã phạm; nhiều khi ta nghĩ tội lỗi là do mình tưởng tượng hoặc tha thứ là chuyện bình thường của Thiên Chúa. Hãy sửa lại điều đó bằng cách năng hồi tâm, đặt bàn tay phải lên tim và nói lời xin lỗi Chúa. Hãy tri ân Chúa nhiều vì quả thực Thiên Chúa tha thứ cho ta nhiều lắm và Ngài không mỏi mệt trong sự tha thứ.

“Tội con được tha rồi!” Lời nói của Chúa với người phụ nữ tăm tiếng hôm ấy đã đem lại bình an cho chị và chứng tỏ quyền năng tha tội của Chúa. Có lẽ không ai trong chúng ta có thể bắt chước được chị phụ nữ ấy: chị đi tìm Chúa để thống hối, chị không thuộc công thức xưng tội nhưng lòng chị đã tràn đầy sự thống hối và quyết tâm sửa đổi đời sống cho phù hợp với giáo lý Chúa dạy, chị khóc nhiều đến nỗi ướt chân Chúa và lấy tóc mà lau, chị còn hôn chân Chúa và lấy dầu thơm mà đổ lên. Ở đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta nhận ra hình ảnh của bí tích hòa giải: ăn năn hối cải và xưng thú lỗi lầm, đó là những điều kiện cần thiết để lãnh nhận ơn tha thứ. Thật đáng tiếc là ngày nay người ta ngại xưng tội, các cha thì ngại ngồi tòa mà giáo dân thì ngại xét mình, việc xưng tội chỉ là việc làm định kỳ 2-3 lần/ năm chứ không phải là việc tắm rửa khi bị bẩn. Ngày nay, người giáo dân được khuyến khích rước lễ (khi không phạm tội trọng) để được hưởng ơn thánh trợ giúp chống lại các cơn cám dỗ; nhưng điều nầy dễ dẫn đến một tình trạng là càng ngày người ta càng thấy tội nào cũng là tội nhẹ và rước lễ theo thói quen. Có một nghịch lý là: nếu là tội nhẹ thì càng nên rước lễ và càng rước lễ thì càng thấy mình không có tội, đúng ra hai bí tích Thánh Thể và Hòa Giải phải luôn song hành. Người ta dễ quên lời nhắc nhở của Thánh Phaolô trong thư 1Cor 11,28-29: “Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình”.
Để kết luận, xin kể một câu chuyện. Một cô giáo tiểu học rất vất vả để điều hành lớp học của mình, vì có một cậu học trò chuyên phá phách trong lớp và chọc ghẹo cô giáo, cậu xem đó như một trò chơi và làm cả lớp không thể học được. Một hôm, cậu thấy cô giáo đang ngồi trầm ngâm ở bàn giáo viên và đang ghi chép gì đó vào một tờ giấy. Cô vội cất tờ giấy vào cuốn sách trên bàn và bảo đó là một lời cầu nguyện nhưng cậu không tin. Dĩ nhiên cậu cũng tìm cách lấy được mẩu giấy đó, nhưng không thể đọc được vì viết bằng ngoại ngữ và chuyện đó cũng chìm vào quên lãng. Hai mươi năm sau, cậu học sinh ấy đã trưởng thành và làm ăn lập nghiệp, cậu đang dự tính cho một vụ làm ăn bất chính lớn, tình cờ cậu lục lọi trong phòng và tờ giấy cũ ngày xưa rơi xuống. Cậu cũng vẫn không hiểu nổi những chữ bí ẩn trong tờ giấy, cậu đưa nó cho cô thư ký và cô ta đã đánh máy lại cho ông chủ lời cầu nguyện của cô giáo năm xưa: “Lạy Chúa, con khổ tâm và cảm thấy bất lực trước người học trò hay phá phách nầy. Với tính khí nầy, cậu ấy có thể là một vĩ nhân nhưng cũng có thể là một kẻ đại bịp. Xin Chúa biến đổi lòng cậu để cậu ấy trở nên một người hữu ích”. Đọc xong lời cầu nguyện trên, cậu như choàng tỉnh khỏi dự án xấu đang mưu tính thực hiện và quyết tâm trở thành một người tốt, vì không muốn phụ lòng ao ước của cô giáo và sau đó cậu đã tìm đến thăm người cô ấy, nay đã là một người già. Người học trò ấy là Theodore Roosevelt, vị tổng thống đầu thế kỷ 20, đã đem nước Mỹ đến cường thịnh. Thế đó, nhìn ra lòng yêu mến mà Chúa và tha nhân quanh ta dành cho ta là điều rất quan trọng giúp ta sống tốt và hạnh phúc trên đời.
(Viết theo bài giảng của cha Phaolô Nguyễn Công Minh)

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013

Chúa Ba Ngôi trong đời sống người Kitô hữu






Một đứa nhỏ đang chơi đùa với con chó nhỏ. Đứa nhỏ nói với mẹ nó rằng: “Mẹ xem, con chó thông minh hơn con người, vì nó vừa có thể hiểu tiếng nói của chó và vừa hiểu tiếng nói của người, trong lúc con người chỉ hiểu được tiếng người mà không hiểu gì về tiếng của chó”. Lý luận của trẻ con như trên là rất đúng, vì 2 thì hơn 1.
Thực ra con chó chỉ hiểu được vài dấu hiệu của con người, không thể đưa một cuốn sách mà dạy cho nó bất cứ môn học nào, và sự hiểu của nó chỉ có khi được con người huấn luyện cho. Không thể nói con chó hay bất cứ loài vật nào hiểu được con người, vì con người là một sinh vật ở ‘bậc cao và thuộc đẳng cấp khác’.
Đối với Chúa Ba Ngôi cũng vậy. Ngài là Đấng Tạo Hóa và con người chỉ là loài thụ tạo. Con người dù trổi vượt đến mấy cũng chỉ là một trong các tạo vật được Ngài dựng nên vì tình yêu thương. Không bao giờ con người có thể hiểu được Thiên Chúa một cách đầy đủ, vì Ngài thuộc một ‘đẳng cấp’ khác. Những hiểu biết mà con người có được về Thiên Chúa đều do Ngài tỏ lộ qua dòng lịch sử và qua dòng đời ta sống. Đỉnh điểm của mạc khải là sự xuất hiện của Chúa Giêsu, Người Con Một yêu dấu của Chúa Cha. Chúa Giêsu trở nên gương mẫu thờ phượng và tỏ lộ nhiều mầu nhiệm kín ẩn của Thiên Chúa từ tạo thiên lập địa. Những mạc khải của Chúa Giêsu được các Thánh Sử ghi lại trong Tân Ước. Chính Chúa Thánh Thần không ngừng soi sáng trí khôn ta để nhận ra nơi vũ trụ xinh đẹp nầy những dấu ấn của Đấng Tạo Thành, mở lòng trí ta để hiểu những Lời trong Kinh Thánh, uốn nắn cõi lòng ta biết hướng về cõi trời cao là quê hương thật của mình.
Nhờ những lời dạy của Thiên Chúa từ trong Cựu Ước và nhất là trong Tân Ước, một dòng dõi mới được khai sinh, họ sống một cuộc sống khác với số còn lại trên địa cầu. Thực ra, với bản chất của mình, ngay từ thời ‘ăn lông ở lỗ’, con người luôn giành giật và vơ vét vào mình bao nhiêu có thể. Nhưng Chúa lại dạy: phải biết thương người khác, không được làm hại người đồng loại, không được trộm cắp và tham lam. Chúa Giêsu đã nêu gương hy sinh tự hiến để cứu thoát con người và Chúa cũng dạy ta phải yêu thương người khác như gương Chúa dạy. Thật là kì dị đời sống của người con Chúa. Thuở xưa, những người man di đã xâm chiếm Châu Âu, với bản chất tự nhiên họ chỉ biết giết chóc và tàn phá những gì họ thấy, bất kể cả những di sản văn hóa. Về sau, họ được dạy cho biết văn minh Kitô giáo và chính họ đã lập nên một Châu Âu ngày nay.

Khi chia sẻ Lời Chúa, có lẽ đề tài khó nhất là Chúa Ba Ngôi: Ba Ngôi cùng một bản tính, luôn hoạt động trong nhau và vì nhau. Có người dùng hình ảnh một gia đình có cha  mẹ và người con được sinh ra trong tình yêu. Ngôn ngữ quảng cáo thường nói là ‘3 trong 1’ với nghĩa là một sản phẩm có 3 tính năng. Điều ta hiểu về Chúa Ba Ngôi chỉ có hạn, tốt hơn là nên sống mầu nhiệm đó trong đời ta:
Ba Ngôi luôn yêu thương nhau và sống hài hòa với nhau, ta hãy tập sống hòa hợp với anh em. Ta được Thiên Chúa yêu thương tạo dựng và cứu chuộc, hãy cảm nếm niềm vui đó trong đời. Ta trở thành con cái Thiên Chúa nhờ công ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu, hãy tri ân và sống tư cách con cái Chúa. Nếu ta không cảm nghiệm được Thiên Chúa Ba Ngôi trong cuộc đời thì việc đi lễ, sống yêu thương, chung thủy… chẳng có một giá trị gì và không tìm được một nền tảng vững chắc. Thiên Chúa Ba Ngôi không hề mỏi mệt để yêu thương che chở và tha thứ cho ta và Chúa Ba Ngôi luôn đồng hành với ta trong đời sống, đó là một niềm vui lớn lao cho mỗi người.

(Viết theo bài giảng của cha Phaolô Nguyễn Công Minh)

Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2013

SỐNG MẦU NHIỆM CHÚA BA NGÔI





Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi được mạc khải một cách tiệm tiến và được trở nên sáng tỏ khi Ngôi Hai nhập thể. Khi nói về Chúa Ba Ngôi, chúng ta thường nghĩ về hoạt động riêng biệt của mỗi ngôi: Ngôi Cha tạo dựng muôn loài, Ngôi Con cứu chuộc và Ngôi Ba Thánh Thần thánh hóa. Nhưng hôm nay chúng ta để ý đến sự cộng tác của cả Ba Ngôi, sự chia sẻ trách nhiệm với nhau giữa Ba Ngôi Thiên Chúa, vì Ba Ngôi luôn hiện diện và hoạt động trong nhau.

Một gia đình, một cộng đoàn và một quốc gia được lớn mạnh là nhờ sự cộng tác và chia sẻ trách nhiệm của các thành viên. Một vị Tổng thống Mỹ đã từng nói: “Đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho tôi, mà phải hỏi tôi đã làm gì cho tổ quốc”. Tôi nhớ lại trong một cuộc họp mở rộng của giáo xứ, gồm có cha xứ, HĐGX cùng các ban ngành đoàn thể, để bàn về những sinh hoạt trong dịp tết – phân công cho các đoàn thể phụ trách về văn nghệ, hội chợ, giữ xe… Ai cũng tìm cách chối khéo với những lý lẽ rất đa dạng và thuyết phục.  Buổi họp trôi qua khá nặng nề mà việc phân công hầu như đi vào bế tắc. Cha quản xứ phát biểu: “Nếu ai có khả năng gì thì nên đem ra mà phục vụ giáo xứ, chính lúc phục vụ thì đoàn thể mình mới lớn mạnh được, đừng tìm cách đẩy quá bóng trách nhiệm cho người khác vì sợ mệt”. Kể từ đó đến nay, các buổi họp phân công trong giáo xứ luôn nhẹ nhàng và nhanh gọn, dường như ai cũng muốn góp một tay để giáo xứ được lớn mạnh, ai không cáng đáng được công việc nào đó thì cứ lên tiếng để người khác giúp một tay.

Ba Ngôi Thiên Chúa luôn chia sẻ trách nhiệm với nhau, luôn hoạt động trong nhau. Chúa Giêsu đã nhiều lần nói cho ta biết điều đó: “Cha với Ta là một, Ta không hành động một mình, Ta không tự mình mà nói hay làm gì, Cha luôn ở trong Ta và Ta luôn ở trong Cha” (Ga 10,30); và dĩ nhiên Chúa Thánh Thần là Tình Yêu luôn liên kết để tuy Ba Ngôi, nhưng lại là Một Chúa.

Để nhìn ra được sự chia sẻ trách nhiệm với nhau trong một giáo xứ là cần thiết, ta hãy nhìn khía cạnh tiêu cực của một số người quanh ta. Có những người khi giáo xứ mời gọi đóng góp xây dựng nhà thờ thì họ lại tìm cách gia nhập vào một giáo xứ khác, đến lượt giáo xứ đó xây dựng thì họ lại tìm cách nhập lại giáo xứ cũ. Có những người khi có những người quyên góp tiền cho một công việc nào đó thì họ đóng cửa lại, chờ khi đoàn đi qua thì lại mở cửa ra. Ngày xưa chúng ta học giáo lý có 6 điều răn Hội Thánh, nhưng nay sách giáo lý mới chỉ còn lại 5 điều răn Hội Thánh, và điều răn thứ năm dạy ta phải có bổn phận đóng góp xây dựng giáo hội địa phương.

Chúng ta phải thừa nhận rằng: ‘Dấn thân phục vụ là bằng chứng xác thực của niềm tin’; vì có vững tin thì người ta mới dám bỏ thế gian mà đi tu, mới dám bỏ công việc nhà mà giúp việc cho giáo xứ. Khi quan sát một xứ đạo nào đó, tuy lớn về số lượng giáo dân và các tổ chức bề ngoài, nhưng thực sự xứ đạo đó  không vững mạnh khi có nhiều rạn nứt chia rẽ, khó kiếm người làm việc cho các hội đoàn và HĐGX. Thật may mắn được sống trong một xứ đạo mà ở đó còn có những tấm gương hy sinh của các vị mục tử và những người làm việc ‘không lương’, vì những gương sáng đó như những ngọn đuốc hâm nóng quả tim những người khác muốn bắt chước họ phục vụ vô vị lợi. Có người đến tuổi 60 đã chia sẻ: “càng ngày mình càng nghiệm ra rằng những người sống quảng đại với người khác thường có một cuộc đời thanh thản, thành công và sung túc; còn những kẻ bon chen với đời và với người thì cuộc đời mãi trôi nổi”. Âu đó cũng là lời tiền nhân để lại cho ta: “Xởi lởi thì trời gửi của cho – Cha mẹ hiền lành để đức cho con”.

Thánh Gioan Tông Đồ đã diễn tả: “Thiên Chúa là Tình Yêu”. Ta có thể đảo ngược lại: “Đâu có tình yêu thương, ở đó có Đức Chúa Trời”. Một gia đình, một cộng đoàn hay một giáo xứ có những người biết chia sẻ trách nhiệm cho nhau, biết cộng tác với nhau để làm việc thiện một cách vui vẻ, thì quả thật nước trời đang ở giữa họ.
(Viết theo bài giàng của cha Phaolô Nguyễn Công Minh)

Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2013

TÔI CHỌN GIÊSU.





            Con người Giêsu vẫn luôn là một huyền bí và là một thách đố qua mọi thời đại và với mọi dân tộc. Trong đoạn Tin Mừng Mt 8:28-34 nói đến việc Chúa trừ quỷ cho 2 người bị quỷ ám, ma quỷ xin Chúa cho chúng được nhập vào bầy heo 2000 con và cả bầy đã nhào xuống biển mà chết. Nghe biết những chuyện ấy thì cả thành tiến đến gặp Chúa Giêsu và xin Người ra khỏi vùng của họ. Thái độ của dân thành là khiếp sợ Chúa, sợ bị Chúa quấy rầy và làm cho cuộc sống họ bị xáo trộn – bị thiệt hại.

            Đứng trước nhân vật Giêsu, người ta thường có 2 thái độ phải lựa chọn: đón nhận Ngài đến độ trở nên giống như Ngài, sẵn sàng mất mạng vì Ngài; và thái độ khác là từ chối Ngài, xem Ngài như một sản phẩm của trí tuệ và như một kẻ quấy rầy.

            Chuyện kể rằng hôm ấy trên bờ hồ Giênêgiaret, ông Phêrô cùng các bạn vâng lời Chúa ra chỗ nước sâu và thả lưới, lưới nặng đến gần chìm… và Thánh Phêrô đã thưa với Chúa Giêsu: “Xin Ngài tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”. Nhưng Chúa tiến đến gặp gỡ ông và nói: “từ nay con là kẻ chài lưới người”. Một câu chuyện khác cũng rất thú vị, đó là chuyện 2 môn đệ đi Emaus. Họ nói với người khách bộ hành: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều và đường hãy còn xa”, và người bộ hành ấy đã ở lại với họ - họ nhận ra Ngài và lòng họ đã bừng cháy.

            Nếu ta đón nhận Đạo Chúa vì lý do cơm – áo – gạo - tiền, vì để được yên ổn… thì ta đã định hướng sai! Vì thực ra không thấy ở đâu trong Tin Mừng Chúa hứa với ta chuyện ấy cả: Chúa không phải là công ty bảo hiểm; trái lại Chúa hứa nhiều lần: ai theo Ta thì sẽ bị người đời bách hại, phải vác thập giá, bị quấy rầy, phải chịu cảnh phân rẽ trong cùng một gia đình, phải lội ngược dòng đời. Làm gì có sự yên ổn khi theo Chúa! Vì trong chính bản thân, mỗi người Kitô hữu được mời gọi từ bỏ những hành vi ám muôi để sống theo ánh sáng Tin Mừng. Và trong xã hội, người Kitô hữu được mời gọi xây dựng một xã hội công bình - bác ái, chống lại những bất công – tội ác, bảo vệ nhân phẩm… để xây dựng một môi trường sống tươi đẹp hơn cho đồng loại. Chừng ấy thôi cũng đủ để cho người Kitô hữu phải gánh chịu biết bao ghen ghét và bắt bớ.

            Vậy ta được lợi gì khi theo Chúa? – Đó là sự bình an – hạnh phúc trong tâm hồn (Hạnh phúc cho các con là những kẻ khó nghèo, hiền lành, xây dựng hòa bình…Mt 5:1-12), đó là niềm hạnh phúc vì có Chúa cùng đi, vì có sức hộ phù của ơn Thánh và được Chúa làm gia nghiệp muôn đời. Nếu ta chọn Chúa để được hạnh phúc: có bình an, có Chúa đồng hành, có ơn thánh trợ giúp và sự sống đời đời thì không bao giờ bị vỡ mộng cả vì đó là những sự thật đã được Chúa hứa trong Kinh Thánh.

            Lạy Chúa,
            Dù con đi qua trong thung lũng tối đen hiểm nguy, lòng con không e ngại lo sợ gì. Vì Chúa ở cùng tôi, cây trượng và cây gậy Chúa khiến con an lòng (TV 23)
            Tạng phủ con ấy chính Ngài cấu tạo – dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân.
            Cảm tạ Ngài đã dựng nên con cách kỳ diệu, chi thể con Ngài biết rõ mười mươi.
          Dù bay về phía hừng đông, dù xuống cõi âm ty… thì con vẫn gặp thấy Ngài – cánh tay hùng mạnh đỡ nâng con.(TV 139)

            Lạy Chúa, xin hãy vào và ở lại với con luôn mãi.