Danh sách Blog của Tôi

Thứ Tư, 28 tháng 6, 2017

Con có yêu mến Thầy không ?




Đây là một câu hỏi ‘xoáy’ vào nội tâm người được hỏi. Câu trả lời đương nhiên là ‘có’, nhưng tại sao lại có những hành vi này nọ không tương hợp mà hai người đã biết và phải điều chỉnh lại. Chúa Giêsu hỏi ông Phêrô đến ba lần câu hỏi trên và ông Phêrô cảm thấy buồn về sự việc nầy. Nhưng có lẽ Chúa không hỏi như thế để bù lại ba lần ông chối Thầy cho bằng muốn nhấn mạnh đến tình yêu mến ông phải có khi dẫn dắt con thuyền Giáo Hội.

Quả vậy, phải yêu mến Chúa Giêsu như là đối tượng duy nhất của lòng mình, con người mới có thể tận tâm phục vụ Giáo hội của Người. Thử hỏi một vị Giáo hoàng, một giám mục, một linh mục hay một vị lãnh đạo cộng đoàn trong giáo xứ mà không đặt trọng tâm đời sống mình trên lòng yêu mến Giáo hội và không gắn kết mật thiết với Chúa Kitô thì chuyện gì sẽ xảy ra ?- Họ yêu chính bản thân họ khi tìm kiếm danh vọng và lợi lộc qua chức vụ họ nắm giữ, họ là con người hai mặt giữa việc làm và lời nói. Trong một Thánh lễ mừng kính hai thánh Phêrô và Phaolô, cha quản xứ đặt một câu hỏi với  ông chủ tịch HĐGX rằng: “Ông có yêu mến Giáo xứ không?” – Ông trả lời: “Thưa cha, con đã yêu mến giáo xứ nầy từ thời còn nhỏ”. Cả cha xứ và cộng đoàn đều bằng lòng với câu trả lời nầy, nhưng đây cũng là một câu hỏi ‘xoáy’ vào nội tâm để buộc người ta phải điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với điều mình đã khẳng định.

Chính lòng yêu mến hay còn gọi cách bình dân là ‘thích’ sẽ giúp ta hoàn thành những công việc và dự tính một cách vui vẻ, linh hoạt và kiên trì. Có lần một người bạn giới thiệu với tôi về một môn học hữu ích cho cuộc đời là học đàn guitar, tôi trả lời mà mình quá bận rộn không có giờ để học thêm nó, người kia mới trả lời: “Đó là do mình không thích, nếu thích sẽ thu xếp được thời giờ”. Đúng vậy, nếu ta yêu mến giáo xứ hay tập thể mình đang tham gia, mình sẽ thu xếp được thời giờ. Khi mình cảm thấy mệt mỏi trong đời sống gia đình, trong sinh hoạt tập thể, trong công việc làm ăn… thì đó là biểu hiện mình thiếu lòng yêu mến và mình cần phải điều chỉnh lại thái độ với cuộc sống.

Trong cuộc sống tâm linh của mỗi người luôn có những mắt xích vô hình, gắn kết với nhau mạch lạc và nếu mắt xích dưới tách rời khỏi mắt xích trên thì tất cả sẽ rối loạn và mất trật tự. Mắt xích đầu tiên là Thiên Chúa, Ngài là Alpha và Omega của vũ trụ và của mọi vấn đề. Khi ta yêu mến và kính sợ Chúa, ta nhận ra mình là phàm nhân yếu đuối và mọi người là anh em một Cha trên trời. Khi ta không nhìn nhận vai trò của Chúa trong vũ trụ và trong cuộc đời mình thì ta sẽ thờ lạy các bụt thần thời đại (cái tôi, danh lợi thú) và coi anh em như những đối thủ tranh giành lợi lộc. Khi nhìn nhận Chúa, ta sẽ nhận ra những mắt xích khác như các vị lãnh đạo đạo đời như những người thay mặt Chúa để tạo nên sự hài hòa trong xã hội theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Trong những mắt xích thứ cấp nầy, tôi muốn nói đến vai trò của các bậc cha mẹ trong gia đình. Khi con cái có lòng kính sợ Chúa và yêu mến cha mẹ, chúng sẽ coi nhau như anh em; nhưng nếu thiếu lòng yêu mến trên, chúng sẽ bất hòa và thiếu sự nhường nhịn thông cảm nhau.

Con người không thể sống mà không yêu mến, nếu không yêu mến điều cao siêu thì nó sẽ tìm kiếm những điều phù phiếm. Hãy hướng lòng yêu mến của ta về những điều cao siêu trên trời, yêu mến Thiên Chúa và Giáo hội của Người một cách tận tình. Có vậy, cuộc đời ta không kết thúc ở tuổi 100 mà còn kéo dài sang cõi vĩnh cửu trong nhà Cha nhân lành.

Thứ Tư, 14 tháng 6, 2017

Sống có nhân cách




Trong mỗi con người đều có khuynh hướng vị kỷ mà biểu hiện của nó là ta thường nghĩ rằng mình trổi vượt hơn người khác và dễ coi thường người khác. Dĩ nhiên những biểu hiện nầy là không tốt và ta cần phải thay đổi để chính mình và xã hội được thoải mái hơn. Tôi chỉ nêu lên một vài ví dụ cụ thể trong cuộc sống.

Ngày xửa ngày xưa còn đi học phổ thông, có kiểu làm bài ‘toán chạy’: thầy ra đề toán, thường là đại số, ai làm xong trước thì chạy nộp bài ngay, nếu trúng thì sẽ được điểm cao. Điều nầy khuyến khích sự nhanh trí và gây hào hứng cho lớp học. Nhưng nếu trong xã hội, ‘đức tính’ nầy được áp dụng thì sẽ gây nên sự bực bội cho người khác, vì mất trật tự: giành giật nhau để sống, mất nhân cách và không tôn trọng người khác. Người Pháp có câu ‘faire la queu’ để diễn tả văn hóa tây phương: văn hóa xếp hàng. Không biết đến bao giờ, người Việt mình mới học được việc ‘xếp hàng’ cho có thứ tự: ai đến trước vào trước. Điều nầy khó không phải vì không biết cách xếp hàng mà vì người Việt mình quen sống xô bồ, giành giật và thiếu tôn trọng tha nhân. Hãy cứ đến rạp chiếu bóng, điểm mua hàng theo tem phiếu, mua vé tàu, tòa giải tội, nơi rước lễ ngoài trời… thì thấy rõ: ai nhanh người ấy được, ai mua được trước người ấy khéo, và nhân cách đi chỗ khác chơi. Thật buồn.

Một đám tiệc. Trong Tin Mừng, khi nói về chuyện mời khách dự tiệc, Chúa bảo ta đừng nghĩ đến mình nhưng hãy nghĩ đến tha nhân: mời những kẻ đui mù què quặt ăn một bữa cho tử tế, họ không có gì trả công ngươi và Cha trên trời sẽ trả công cho ngươi. Còn chúng ta, khi mời tiệc ta thường chỉ nghĩ đến vinh dự của mình mà mời tràn lan khách dự tiệc quá mức cần thiết, không nghĩ đến sự phiền phức khó xử của người khác, nhất là vấn đề kinh tế. Chuyện thứ hai trong một bữa tiệc: rượu làm hoan hỷ lòng người. Nhưng chính chuyện uống rượu nhiều cũng gây nên nhiều hệ lụy trong cuộc sống và các mối quan hệ: bệnh tật, giao thông, không làm chủ bản thân và trong thâm sâu của việc ép nhau uống rượu bia là muốn chứng tỏ mình trổi vượt hơn người kia về tửu lượng và phong cách, coi thường nhân phẩm của nhau. Điều thứ ba, tại sao các tấm thiệp không thường xuyên ghi số ĐT để báo lại trong trường hợp ‘không thể’ dự tiệc mừng nhỉ ? Tôi nghĩ rằng việc ghi số ĐT cũng là thể hiện một nét văn hóa của người có nhân cách và tránh mất lòng nhau. Chuyện thứ tư trong việc mời khách dự tiệc là chuyện mời những người già. Người cao tuổi thường không có thu nhập, nhưng họ lại là nguồn cội còn sót lại của nhiều dòng tộc, không mời không được nhưng mời thì quá bất tiện cho họ. Xử lý sao đây ? Tôi nghĩ đến hai giải pháp: họ nhận được tấm thiệp trong đó có ghi "sự hiện diện và lời chúc mừng thay cho tặng vật" hoặc nên chuẩn bị sẵn những phần quà tặng lại họ. Không biết có thực tế không ? Tôi biết có những người cao tuổi chẳng có thu nhập gì nữa, hằng tháng xã hội trợ cấp 270.000đ, vậy mà khi được mời dự tiệc họ cũng bỏ 200.000đ, hơn 20 ngày tiền trợ cấp đã bay vèo chỉ vì một thiệp mời.

Lời Tin Mừng: Có thì nói có, không thì nói không, thêm thắt bịa đặt là do ma quỷ. Đạo đức con người đáng báo động đỏ khi sự trung thực trong lời nói cũng trở nên hiếm hoi trong cuộc sống. Trong xã hội, để ‘đấu tố’ một người nào đó, người ta dựng nên một câu chuyện và  một số nhân chứng, thế là đủ để khép tội; nhưng nay ngay trong cuộc sống thường ngày, nhiều người nói ngược với sự thật, về những chuyện rất bình thường và làm cho các mối quan hệ giữa người với người thật sự rối loạn: chẳng biết tin ai ! Chúa Giêsu đã từng dạy: “Nếu các con không trở nên như trẻ nhỏ, các con chẳng được vào nước trời”. Chúa muốn nói rằng: hãy sống trung thực và khiêm nhường cậy dựa vào Cha trên trời. Không gì làm mất nhân cách của ta hơn là khi người khác biết ta dối trá và lật lọng: nói dối như cuội.

Trước khi sống đúng tư cách người con cái Chúa, ta phải sống cho ra con người: sống tử tế và có nhân cách, biết tôn trọng tự do và nhân phẩm của người khác và tôn trọng chính mình. Mỗi ngày, hãy xét mình để nhận ra những ‘lỗi phạm’ cần thay đổi. Có câu danh ngôn nói rằng: ‘Nhiều điều rắc rối đã xảy ra vì bạn không biết ngồi yên một chỗ’. Ai trong chúng ta cũng nghĩ rằng mình trổi vượt hơn người khác về một điều gì đó, nên ta thường hành động vì cái ‘tôi’ của mình hơn là vì đại nghĩa. Lời Kinh Thánh: "Anh em hãy tự khiêm dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa và Người sẽ cất nhắc anh em lên khi đến thời Người viếng thăm".

Thứ Ba, 13 tháng 6, 2017

Những lời lẩm bẩm




Có câu danh ngôn nói rằng: Trong cuộc đời, có hai thứ cần phải tiết kiệm là lời nói và thời gian. Thời gian là vàng là bạc nên việc sử dụng nó cho có ích là điều dễ hiểu. Nhưng lời nói thì khác, nhiều người thích ăn to nói lớn để lấn át người khác và người ít nói thường được đánh giá là yếu thế và chậm chạp.

Sách Gương Phúc dạy ta rằng: “Con ơi, đừng bao giờ dám tranh luận về những vấn đề siêu việt thuộc lý đoán nhiệm mầu của Thiên Chúa: tại sao người nầy bị ruồng rẫy, người khác lại được ân sủng dư dật ? Tại sao người nọ bị cực khổ, người khác lại được may mắn ? Những điều đó vượt tâm trí nhân loại, chả có lý luận nào thăm do được lý đoán nhiệm mầu của Thiên Chúa”.

Thế nhưng, trong cuộc sống ta luôn mở miệng để trách cứ việc làm của người khác và thường dùng những từ thô lỗ bị tiêm nhiễm từ xã hội: thằng nghiện, thằng say, thằng làm đường, thằng xây dựng.. gì mà ngu dốt! Kể cả những ông tổng thống, những diễn viên bậc cha chú, kể cả linh mục cũng được gọi là ‘thằng’ một cách bình dân. Thứ nhất là trong lời nói ta nên thể hiện văn hóa: con người có nhân phẩm nên tránh dùng những tiếng miệt thị  và đừng dùng tiếng ‘ngu dốt’ vì sẽ bị án lửa thiêu. Thứ hai, quyền xét đoán là của Thiên Chúa, còn ta là ai mà dám xét đoán tha nhân: "Đừng xét đoán để khỏi bị Chúa đoán xét".

Trong các giáo xứ, người ta thường bàn nhiều đến cha quản xứ và các vị HĐGX, khía cạnh tốt là người giáo dân vẫn còn quan tâm đến giáo xứ, nhưng khía cạnh xấu là người ta thường phạm thánh và phạm tội xét đoán tầm phào: không đủ thẩm quyền và không đủ dữ liệu. Tốt nhất là nên tiết kiệm lời trong chuyện nầy, vì nó sẽ tạo một thói quen xấu và đôi khi mình trở thành người bất nhất: trước chê nhưng sau lại khen vì thấy hiệu quả công việc ‘họ’ làm quá tốt đẹp.

Những lời xét đoán tầm phào và mang tính miệt thị sẽ làm nhụt chí cho những người làm việc chung, làm giảm giá trị của người phát ngôn và làm mất đức bác ái trong một cộng đoàn. Những lời ‘xì xào’ là những gáo nước lạnh tạt vào thiện chí của người khác, trừ một vài người bản lãnh xem thường dư luận mà thôi. Đức cha Vinh Sơn đã từng nói: “Khi đi tu triều, các ứng viên đều có lòng quảng đại muốn phục vụ dân Chúa trong công tác mục vụ, nếu không thì các ngài đã chọn lối sống tu dòng hay bậc giáo dân, nên đừng quá khắt khe khi nói về công việc mục vụ của các cha xứ, hãy cho các ngài thời gian và sự cộng tác”.

Tập thói quen kềm hãm miệng lưỡi là điều cần thiết để tiến đức: chỉ nói những điều có ích cho người nghe, vì Chúa biết rõ tâm tư con người và Ngài trả lại cho mỗi người tùy theo việc họ làm. Nhưng có những lúc ta buộc phải nói để sửa lỗi anh em và khi việc im lặng của ta lại gây hại cho cộng đoàn. Hãy nói ít với tạo vật để nói nhiều hơn với Thiên Chúa: xin Chúa giải thoát con khỏi những sầu muộn và lo lắng vô ích. Hãy đến với Thánh Tâm Chúa Giêsu để học nơi Ngài bài học tự hủy, khiêm nhường và hiền lành.


Thứ Hai, 1 tháng 5, 2017

Sợ cái chết





Cuộc đời con người chất chứa bao nỗi sợ, trong đó có nỗi sợ chết. Dù một người sống gần 100 tuổi (với tật nguyền và bao nỗi vất vả), nhưng khi phải đi bệnh viện và thấy không còn hy vọng khỏe lại thì có vẻ thất vọng và không muốn về nhà: sợ chết.

Cái chết là một kết thúc tất yếu của thế giới vật chất, giống như chiếc lá già phải rụng đi để những chiếc lá non lại mọc ra một cách hài hòa. Chúng ta tự hỏi: nếu nguyên tổ không phạm tội và loài người sống trong tình trạng ân sủng thì có lẽ thân xác con người không phải trải qua tình trạng mục nát chờ ngày phục sinh, mà cái chết chỉ là bước chuyển dịch vào cõi thiên đàng. Nếu không có tội Adam thì có lẽ kinh Tin Kính sẽ rất ngắn gọn, vì không có phần tuyên xưng về Ngôi Hai cứu chuộc và về Hội Thánh; và có lẽ con người không sợ chết vì không có sự quyến luyến quá mức về vật chất và sự phán xét cũng rất nhẹ nhàng. Đó chỉ là những giả thuyết, và chúng ta phải tạ ơn Chúa vì công trình cứu chuộc do Chúa Kitô mang lại còn tuyệt vời hơn công trình sáng tạo gấp bội phần và chúng ta có cơ hội cảm nghiệm được tình thương xót của Thiên Chúa qua những mạc khải và cái chết cứu độ của Chúa Giêsu.

Ai đó đã từng phân tích: sở dĩ chúng ta sợ chết là vì chúng ta thiếu lòng tin vào sự nhân lành của Chúa. Sách tu đức dạy có 3 mức độ đạt đến sự trọn lành trong đời sống đạo: sống ngay lành để tránh phạm tội và bị phạt trong hỏa ngục, làm việc lành để tích lũy phần thưởng trên trời, làm mọi sự vì yêu mến Chúa – còn công trạng thế nào là do Chúa ban tặng. Trở lại vấn đề sợ chết ở trên, ta có thể nói rằng: một người có niềm tin vững vàng vào tình thương Chúa, luôn biết tìm kiếm ý Chúa và làm mọi việc vì yêu Chúa thì họ không sợ chết. Nhưng vì ma quỷ cám dỗ, vì niềm tin và tình mến của con người khó đạt đến mức vẹn toàn nên hầu như ai cũng sợ chết. Bởi vậy, bổn phận của những người mạnh khỏe là phải nâng đỡ sự yếu hèn của những ai lâm cảnh khốn cùng và cầu nguyện cho họ luôn cảm nghiệm được tình thương Chúa trong cơn thử thách.

Quê hương chúng ta ở trên trời và cuộc sống trần gian chỉ là kiếp lữ khách. Hãy cố gắng tập sống cho thanh thoát nhẹ nhàng, vì sau khi chết những thứ ta vất vả tích góp và những mưu toan vất vả của ta chẳng có mấy ý nghĩa. Người trinh nữ khôn ngoan biết mang theo chút dầu là tình mến Chúa yêu người, còn mọi sự khác cứ để Ngài lo liệu. Tập thói quen từ bỏ ý riêng để vâng theo ý Chúa mỗi ngày là một bài tập hữu ích giúp ta tránh được nỗi ‘sợ chết’.

Thứ Bảy, 29 tháng 4, 2017

Đường Emaus





Khi đọc đoạn Tin Mừng kể về câu chuyện Chúa Giêsu đồng hành với hai môn đệ trên đường Emaus, trao đổi nỗi thao thức của hai ông và dùng Kinh Thánh để giải thích sự việc vừa xảy ra, thì ai trong chúng ta cũng dễ dàng rút ra một kết luận thực tiễn: Chúa vẫn hẹn gặp ta trên khắp nẻo đường dương thế. Thế nhưng, thực tế ta có dễ gặp Ngài hay không?

Trong tác phẩm ‘Chuyện người hành hương’ (suyniemhangngay.net), kể về một người đi bộ rong ruổi trên nhiều nẻo đường nước Nga, ăn uống đạm bạc, vừa đi vừa thực hành câu Lời Chúa: hãy cầu nguyện không ngừng. Nỗi hân hoan tràn ngập tâm hồn khi ông tìm được cách thực hành lời cầu nguyện với Đức Giêsu: “Chúa Giêsu Kitô, xin thương xót con”, "Lạy Chúa Gieessu, xin thương xót con là kẻ có tội" suốt ngày suốt đêm, bằng cách đọc ra bằng miệng, trong tâm trí và nơi con tim. Lời cầu nguyện Chúa Giêsu biến đổi cuộc sống của ông trở nên thánh thiện và ông coi nhẹ mọi sự xảy đến với mình để luôn phó thác mọi sự cho Chúa định liệu đến độ ai cũng nhận thấy anh là một người đạo đức; và câu chuyện anh quan tâm trao đổi với mọi người luôn là cùng nhau tiến đến sự trọn lành qua việc cầu nguyện.Và một điểm son khác: những người anh gặp trong cuộc hành trình luôn giúp đỡ anh và nhiệt tình tiếp đón người khác; phải chăng văn hóa thời hiện đại đã đánh mất nhân đức nầy, một thói quen giúp ta gặp được Chúa Giêsu?

Thử nhìn lại cuộc sống của những Kitô hữu và nghe những chuyện ta thường nói với nhau là gì, thì biết được đâu là trọng tâm cuộc sống của họ. Thật đáng buồn là hầu như chúng ta chỉ trao đổi với nhau những tin tức thời sự như để khoe kiến thức, những  chuyện dễ dãi về tình dục để khoe mình rành đời, những lời bình phẩm để khoe mình biết sống và khôn khéo trong chuyện đời. Tựu trung lại cũng chỉ là những chuyện danh lợi thú, ít ai nói với nhau những chuyện đạo đức để giúp nhau nên tốt hơn.

Khi đọc chuyện Thánh Augustinô, có một chi tiết đáng lưu tâm: Thánh nữ Monica có biệt tài nói chuyện đạo hạnh với chồng con. Lòng nhiệt thành cầu nguyện, khéo léo nói chuyện ‘đàng lành’ với chồng con, kiên nhẫn theo gót con đến tận Ý, và với gương sáng của bà, Thánh nữ đã cải hóa được cả chồng lẫn con về với Giáo hội. Bạn hãy quyết tâm trở thành người bạn đồng hành tốt của anh em bằng cách tránh nói đến những điều gây hoang mang, những chuyện tục tĩu và những chuyện tầm phào; tốt hơn là nên nói đến những chuyện giúp mình và anh em tiến lên trên đường lành.

Chúa vẫn hẹn gặp ta trong các biến cố cuộc đời. Nhiều người tin rằng khi một người được sinh ra thì mọi sự đã được an bài đến từng chi tiết và dứt khoát không thể thay đổi được, con người không có khả năng thay đổi số phận mình và thế là họ an phận. Người khác thì lại cho rằng chỉ có khoa học và bản thân mình làm nên số phận, chẳng có trời phật gì hết. Người Kitô hữu thì tin rằng Thiên Chúa tình yêu đã tạo dựng nên vũ trụ và từng người để họ được hạnh phúc ở đời nầy và đời sau. Ngài dự liệu mọi sự để mỗi người đạt được hạnh phúc đó và Ngài không ngừng ‘vận hành’ vũ trụ nầy một cách tài tình. Bên cạnh đó Ngài cũng tôn trọng tự do của con người và Ngài mời gọi con người cộng tác vào kế hoạch mưu tìm hạnh phúc cho mình và anh em. Hãy nghiên cứu và học hỏi Kinh Thánh, vì chỉ có ánh sáng Lời Chúa mới đem lại lời giải đáp cho những thao thức đời người và soi dẫn cho những uẩn khúc cuộc đời. Một lỗ hổng đạo đức cho tín hữu Việt Nam là họ ít tiếp xúc với cuốn Kinh Thánh, Lời của Chúa nói với loài người.

Trong cuộc sống đảo điên với đủ thứ chủ thuyết thực dụng, hãy biết rằng chỉ có Chúa Giêsu là chuẩn mực để ta định hướng đời mình và chỉ có Ngài là Đấng cứu độ, hãy củng cố mối liên lạc thân tình với Chúa Giêsu và ghi nhớ Lời Ngài, để vượt qua kiếp trần gian nầy với niềm hân hoan. Hãy tìm gặp Chúa nơi tha nhân và giúp tha nhân nhìn thấy Chúa nơi cuộc sống của ta.

Thứ Ba, 25 tháng 4, 2017

CHỦ NHÂN FACEBOOK




Bí mật cuộc sống đáng ngưỡng mộ của ông chủ Facebook: không phải có siêu xe và biệt thự mới là hạnh phúc.
Nhắc đến tên tuổi những nhà tỷ phú trẻ, cái tên Mark Zuckerberg, nhà sáng lập ra mạng xã hội nổi tiếng toàn cầu Facebook là nhân vật nổi bật nhất. Theo như Forbes đánh giá, năm 2016 anh lọt vào danh sách top 5 nhà tỷ phú giàu nhất thế giới. Anh không chỉ khiến mọi người kinh ngạc vì giá trị tài sản giàu lên một cách nhanh chóng mà còn khiến mọi người ngạc nhiên hơn nữa bởi lối sống giản dị khác thường của mình. Anh mặc một bộ quần áo mỗi ngày, ở trong căn nhà và lái chiếc xe thuộc tầng lớp trung lưu ở Mỹ.
Mark Zuckerberg thành lập công ty mạng xã hội toàn cầu Facebook vào năm 2004, là một trong những công ty có lợi nhuận cao nhất thế giới. Năm 2016, theo đánh giá của tạp chí Forbes, giá trị tài sản mà tỷ phú trẻ nhất thế giới có là 51,6 tỷ đôla.
Mặc dù sở hữu một khối tài sản khổng lồ như vậy, tiền đủ để anh chi tiêu trong 10 kiếp sống xa hoa, nhưng cuộc sống sinh hoạt của anh còn đơn giản và đạm bạc hơn cả cuộc sống của những gia đình trung lưu ở Mỹ. Anh thường đi lại bằng chiếc xe bình dân Honda Fit trị giá 16.000 đôla. Tuy nhiên, cũng giống như gia đình trung lưu ở Mỹ, Zuckerberg cũng có thêm hai chiếc xe khác, không phải là những chiếc xe siêu sang đắt tiền mà là chiếc Acura TSX, có giá bán tại Mỹ là 30.000 đôla và chiếc Volkswagen Golf có giá khoảng 18.000 đôla.
Trước khi kết hôn, anh chỉ sống trong một căn hộ chung cư nhỏ được thuê lại. Sau khi cưới Priscilla Chan vào năm 2012, anh và gia đình nhỏ của mình đã chuyển đến sống trong một căn biệt thự, nhưng thực tế nhiều gia đình trung lưu ở Mỹ còn sống trong những căn biệt thự xa hoa hơn của anh rất nhiều lần. Anh không chỉ đi lại bằng chiếc xe bình dân, anh còn thường đến các trạm xăng tự phục vụ để nạp nhiên liệu cho chiếc xe hơi của mình. Nhìn thấy cảnh tượng này, thật khó để có thể tưởng tượng anh đang sở hữu khối tài sản lên đến hơn 50 tỷ đôla.
Thực tế thì, ngoài việc không đi những chiếc xe hơi siêu sang như các đại gia giàu có khác, Mark Zuckerberg còn mặc một bộ quần áo cực giản dị mỗi ngày, đó là chiếc áo phông ngắn tay màu xám. Mệnh danh là một trong những tỷ phú giàu nhất thế giới, cả hai vợ chồng đều rất hiếm khi mặc hàng hiệu. Nếu như ai đó chưa từng biết về sự giàu có của anh, họ cũng chỉ nghĩ vợ chồng anh cũng chỉ giống như cặp vợ chồng bình thường khác mà thôi.
 Năm Mark Zuckerberg học Đại Học Harvard đã gặp được vợ mình, cô Priscilla Chan trong một lần cả hai cùng đứng xếp hàng chờ sử dụng nhà vệ sinh công cộng. Hai người đã cùng nhau trải qua thời gian 9 năm yêu đương. Ngay cả khi trở thành một người giàu có, hai người vẫn duy trì một lối sống như thời còn là sinh viên, vẫn thường mua thức ăn tại một quán nhỏ gần nhà, thỉnh thoảng còn mua thức ăn nhanh. Có những lúc, họ ngồi lại cùng nhau, truyền cho nhau cảm hứng và khơi gợi những ý tưởng mới mẻ.
Hai người kết hôn năm 2012 nhưng đã không tổ chức một “đám cưới thế kỷ”. Họ chỉ tổ chức một đám cưới rất đơn giản tại sân sau của căn nhà anh đang ở, khách tham dự là những người bạn thân thiết và người thân trong gia đình. Anh cũng không tặng vợ nhẫn kim cương đắt tiền. Chiếc nhẫn cưới anh tặng vợ là chiếc nhẫn mặt đá ruby được đặt thiết kế tối giản nhất theo ý tưởng bản vẽ của riêng anh.
Rất nhiều người không hiểu được lý do vì sao anh sống đơn giản như thế, đặc biệt là người Mỹ. Họ thường có những câu hỏi: “Anh là một thanh niên trẻ tuổi, lại có rất nhiều tiền, sao lại mua chiếc xe trị giá hơn 10 ngàn đôla ? Vậy, anh dùng tiền vào việc gì ?” Kỳ thực cả hai vợ chồng anh Zuckerberg đều có một ước nguyện chung là kiếm tiền vì mục tiêu lợi ích xã hội.
Ngày 23.9.2013, Mark Zuckerberg đã tặng 100 triệu đôla để giúp sửa chữa các trường học tại Newark, bang New Jersey, Mỹ. Số tiền quyên tặng đạt cao nhất trong những người trẻ ở Mỹ làm từ thiện. Ngày 10.2.2014, tờ Chronicle of Philanthropy đưa tin vợ chồng Mark Zuckerberg đã dẫn đầu nước Mỹ trong bảng xếp hạng người làm từ thiện.
Chia sẻ về lối sống giản dị của mình, Zuckerberg nói: “Để cho cuộc sống trở nên đơn giản nhất, không mất quá nhiều thời gian và tâm sức để nghĩ ngày hôm nay mặc gì, tôi đã mua cả kiện áo phông có màu sắc giống nhau. Bởi vì chuyện nhỏ nhặt này rất dễ khiến tinh thần mệt mỏi, tôi cũng không muốn hao tổn năng lượng cho những việc như thế. Tôi dùng tất cả tinh lực vào công việc, làm sao phục vụ xã hội được tốt hơn… đó mới là việc trọng yếu”.
 Zuckerberg cho biết: “Tôi thực sự may mắn, với mỗi sáng thức dậy có thể giúp đỡ hàng tỷ người. Nếu như đem tinh lực lãng phí vào những việc không cần thiết, tôi sẽ cảm thấy bản thân mình không làm việc”.
Mark Zuckerberg là người trẻ nhất toàn thế giới gây dựng công ty bạc tỷ, không lái siêu xe, nhưng lời nói của anh lại rất có sức nặng đối với thế hệ trẻ. Trong suy nghĩ của Zuckerberg, tiền không phải là vấn đề quan trọng nhất. Nguyện vọng đời này của anh là làm thế nào để biến những lý tưởng của mình thành hiện thực, để giúp đỡ được càng nhiều người hơn.
Nhìn vào cuộc sống bình dị của anh, chúng ta thật sự phải suy ngẫm lại về giá trị của sự giàu sang. Sự giàu có không phải thể hiện ở việc mình có bao nhiêu tiền, mà là ở chỗ mình có thể cho đi bao nhiêu, mình sử dụng nó vào mục đích gì.
Anh Zuckerberg không chỉ khiến con người nể phục khả năng làm giàu mà còn là tấm gương về sự giúp đỡ và cho đi.
SAN SAN
 (Ephata 742)

Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2017

Charles Feeney: Tỷ phú từ thiện 8 tỷ USD




Sinh ra tay trắng, cuối đời cũng muốn trắng tay

Charles Feeney: Tỷ phú từ thiện 8 tỷ USD: Sinh ra tay trắng, cuối đời cũng muốn trắng tay. - Tỷ phú Chuck Feeney là người đầu tiên ở Mỹ bỏ ra số tiền lớn là tài sản của mình để làm từ thiện . Ông chính thức rỗng túi, đi ở thuê vào tuổi ngoài 80, nhưng đã hoàn thành khát vọng "cho đi khi còn đang sống". (VietCatholic News 11-04-2017)
"James Bond" của giới từ thiện
Tỷ phú Charles F. Feeney (1931) là một người Mỹ gốc Ireland. Ông thường được gọi với cái tên thân mật Chuck Feeney, thời gian gần đây ông được giới truyền thông Mỹ đặt cho biệt danh "James Bond của giới từ thiện".
Vị tỷ phú Mỹ này nói thông thạo 2 tiếng Pháp và Nhật, là người xây lên đế chế các cửa hàng miễn thuế. Từ nhỏ, ông đã nghỉ ra đủ mọi cách để kiếm tiền như: gõ cửa từng nhà để bán thiệp Giáng sinh, dọn tuyết trên đường hay nhặt bóng trên sân golf.
Charles F. Feeney bắt đầu sự nghiệp kinh doanh cùng với bạn học cùng đại học từ đầu thập niên 1950: bán rượu không thuế cho thủy thủ Mỹ. Sau đó, ông bán xe hơi cho cho lính Mỹ và lập nên chuỗi cửa hàng miến thuế (DFS) ở các cửa khẩu, với doanh thu đạt 3 tỷ USD/năm.
Vào những năm 60, khi Nhật Bản tổ chức thế vận hội và dỡ bỏ hạn chế du lịch nước ngoài, Chuck Feeney đã chộp cơ hội này để thu tiền của khách du lịch Nhật. Ðó là những khoản tiết kiệm khổng lồ người Nhật bỏ ra mua sắm rượu, nước hoa, đồ trang sức miễn thuế,... tại các địa điểm nổi tiếng như Hawaii, Hong Kong, San Francisco, Saipan và Guam.
Mặc dù kiếm được rất nhiều tiền từ rất sớm, với tổng tài sản theo New York Times lên tới 8 tỷ USD, nhưng Chuck Feeney có cuộc sống riêng tư rất bình lặng và đơn giản, không xa hoa, không bao giờ thắt cà-vạt Hermes hay mang giày Gucci.
New York Times tiết lộ, trong nhiều năm ở New York, bữa trưa của ông không phải ở các nhà hàng sang trọng mà là ở khu nhà Irish Pavillion Tommy Makem trên phố East 57th - nơi ông ăn bánh mì kẹp thịt.
Feeney kín tiếng tới mức, mãi tới 1988, thế giới mới biết đến sự giàu có của ông. Khi đó, lần đầu tiên Forbes ước tính Feeney có khoảng 1.3 tỷ và xếp thứ 31 tại Mỹ. Tuy nhiên, tài sản thực của ông vẫn là một ẩn số, chỉ sau những lần làm từ thiện, thế giới mới biết được.
Công chúng còn kinh ngạc về cuộc sống giản dị và tiết kiệm tới mức tối đa. Ông keo kiệt với bản thân, gia đình nhưng hào phóng với người dưng. Ông ghét sự phung phí, không muốn con cái trở thành con nhà giàu hư hỏng và bắt chúng làm hầu bàn, bồi phòng khách sạn, thu ngân trong các kỳ nghỉ hè ngay từ khi còn nhỏ.
Sự hà khắc của Feeney không làm cho con cái khó chịu, thậm chí con gái đầu của Feeney còn cho rằng, cách làm của người cha đã giúp họ sống như những người bình thường khác, làm được việc đáng làm và vẫn có đủ tiền để chi tiêu cho cuộc sống.
Theo quan điểm của vị tỷ phú này, "bạn chỉ có thể mặc một chiếc quần vào cùng một thời điểm". Ông thích kiếm tiền nhưng không muốn sở hữu chúng, tiền quá nhiều cũng không thể đem ra tiêu xài hết. Một thời gian dài, ông sống trong căn hộ đi thuê và toàn bộ tài sản được dần hiến tặng cho các tổ chức từ thiện. Các con ông cũng phải tự lăn lộn kiếm sống khi đến tuổi trưởng thành. Feeney cho biết, đây chính là cách để ông giáo dục các con biết quý trọng giá trị của đồng tiền.
"Sinh ra tay trắng thì khi trở về cũng phải trắng tay"
Suốt hơn 30 năm qua, Chuck Feeney đã đi khắp thế giới để làm từ thiện từ tài sản 8 tỷ USD của mình, tập trung và giáo dục, khoa học, chăm sóc y tế,... tại Mỹ, Úc, Việt Nam, Nam Phi và Ireland.
Quỹ từ thiện Atlantic Philanthropies do ông sáng lập đã rót khoản tiền cuối cùng trị giá 7 triệu USD vào cuối 2016 cho Ðại học Cornell nhằm hỗ trợ sinh viên làm công tác dịch vụ cộng đồng. Chuck Feeney đã hoàn thành khát vọng "cho đi khi còn đang sống" và chính thức rỗng túi.
Trả lời trên tờ New York Times, ông Feeney cho biết: "Bạn luôn lo lắng khi phải quản lý quá nhiều tiền như thế, nhưng chúng tôi dường như đã làm việc đó khá tốt".
Tới đầu 2017, tổng giá trị tài sản còn lại của Feeney là hơn 2 triệu USD. Hiện ông và vợ (Helga) đang sống trong một căn hộ thuê ở San Francisco.
Tại Việt Nam, quỹ Atlantic bắt đầu rót tiền vào chỉ vài năm sau khi chiến tranh kết thúc, tài trợ bắt đầu từ miền Trung như xây dựng trường Ðại học Ðà Nẵng.
Cho đến nay, 2 người còn gái của ông là: Diane Feeney và Juliette Feeney cũng tiếp tục theo gót cha làm từ thiện. Họ làm chủ tịch của một số tổ chức từ thiện của gia đình và cộng đồng.
Quỹ Atlantic Philanthropies của Feeney bắt đầu sứ mệnh "làm rỗng túi" từ năm 1982 với ước mơ muốn tạo ra sự thay đổi lớn cho cuộc sống của những người gặp khó khăn. Ông ước mơ mang lại hòa bình cho Bắc Ireland, hiện đại hóa hệ thống chăm sóc y tế của Việt Nam hay biến Roosevelt Island của New York trở thành một trung tâm công nghệ.
Tỷ phú Chuck Feeney đã quyên tặng tổng cộng 8 tỷ USD tài sản và giờ chỉ còn lại 2 triệu USD.
Cho đến nay, Feeney đã xây cả ngàn tòa nhà khắp châu lục, nhưng tên của ông không hề xuất hiện trong bất cứ công trình nào, từ trên các viên đá ốp tòa nhà hay trong các văn bản. Trong nhiều năm, quỹ Atlantic Philanthropies của Feeney yêu cầu những người được hưởng lợi không được công khai sự tham gia giúp đỡ của họ.
"James Bond" của giới từ thiện cho biết, ông làm từ thiện và quyên tặng hết tài sản rất đơn giản là bởi vì, "vải liệm không có túi", người chết ra đi không mang được gì. Con người "sinh ra tay trắng thì khi trở về cũng phải trắng tay".
Khối tài sản lớn cuối cùng được Chuck Feeney quyên tặng vào cuối năm 2016. Ông Feeney giờ 86 tuổi và quỹ Atlantic Philanthropies theo kế hoạch sẽ đóng cửa vào năm 2020.
Giàu có không lộ diện, nhiều tiền không tiêu xài sang, làm từ thiện không cần ghi danh nhưng những việc làm của ông được cả thế giới biết đến. Hành động cao cả của Feeney là động lực cho nhiều người, là nguồn cảm hứng cho cả những người rất giàu có và nổi tiếng, cũng hay làm từ thiện như Bill Gates và Warren Buffett.

Hà Vinh