Danh sách Blog của Tôi

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2022

VIẾT CHO MẸ

Sưu tầm 



 

“Ầu ơ, ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi.

Khó đi mẹ dẫn con đi,
Con thi trường học mẹ thi trường đời…”
Tiếng ru trong đêm văng vẳng của ai đó gợi lên trong lòng con một nỗi niềm xao xuyến. Mẹ ơi con nhớ mẹ thật nhiều!



Ngày ấy khi con còn thơ bé, nhà mình nghèo lắm mà lại đông anh em; không những thế Bố phải vắng nhà trong suốt một thời gian dài “Cải tạo”; một mình Mẹ vừa nuôi bảy anh em con mà còn phải phụng dưỡng ông bà Nội; vậy mà chưa một lần con nghe Mẹ than vãn…

Một chốn đôi nơi khi thì ở vùng kinh tế mới, khi ở thị xã để chạy chợ. Mẹ đi về như thoi đưa để cố kiếm cho chúng con những bữa cơm hằng ngày… Mỗi đêm dường như Mẹ chỉ ngủ khoảng 3 giờ đồng hồ. Mẹ nhận may gia công quần áo để tăng thêm thu nhập… Những lúc thức một mình giữa đêm khuya thanh vắng, con biết mẹ muốn có con ở bên cạnh cho đỡ buồn, nhưng tuổi còn ham ngủ có mấy lần con thức cùng mẹ được đâu. Con cứ vô tư lớn lên trong sự chăm lo tần tảo của mẹ...

Năm tháng trôi nhanh, con trở thành thiếu nữ. Con bước vào đời đầy tự tin với tuổi trẻ, con có biết đâu Mẹ vẫn đang âm thầm lặng lẽ dõi theo bước con đi, mẹ cầu cho con trong từng lời kinh nguyện… Mẹ lo cho con thân gái dặm trường và hằng đêm mẹ không ngủ... Mỗi lần đi xa về con hồn nhiên mà kể cho mẹ chuyện này chuyện nọ… mà chẳng khi nào con hỏi thăm được mẹ một câu. Tuổi xuân phơi phới và tình yêu đến với con, con buâng khuâng mơ mộng nhiều hơn là chuyện trò với Mẹ. Mẹ lại ân cần đến bên con thỏ thẻ lo con gái mẹ “khôn ba năm dại một giờ”.

Ngày con về nhà chồng, con thấy mắt mẹ xa xăm, Mẹ lại lo cho niềm hạnh phúc của con gái mẹ. Con an vui trong hạnh phúc, tình yêu gia đình mà ít khi về thăm Mẹ. Ở nơi xa xôi có một người Mẹ luôn lo âu cho người con gái bé bỏng của mình.

Khi con sinh cháu đầu lòng Mẹ mừng vui khôn xiết nhưng rồi Mẹ lại lo con gái mẹ vụng về không biết chăm em bé... Có cháu rồi thỉnh thoảng con đưa cháu về thăm Ngoại nhưng có lần nào con ở bên Ngoại được lâu, con phải vội về. Bà Ngoại nựng cháu, ánh mắt đăm chiêu nhìn con gái-thương cho số nó tất bật... Nghe tin con nhập viện vì bị viêm ruột thừa, Mẹ vội vã đến với con và ở  bên con đến khi con xuất viện. Mẹ lo con gái mẹ tủi thân khi trong những ngày bệnh hoạn.

Năm tháng trôi qua, con tận hưởng tình thương của mẹ như ân huệ của đất trời, như những hạt sương đêm làm cho vạn vật tỉnh lại sau một ngày oi bức, như cơn gió mát thổi đến giữa mùa hè. Con tận hưởng và ngụp lặn trong tình yêu mẹ; vậy mà có mấy khi con bộc lộ với Mẹ những tình cảm chân thành? chỉ thỉnh thoảng đôi lần về thăm Mẹ...

Tuổi già đến vùi Mẹ lúc nào con chẳng biết. Năm tháng trôi qua, tuổi đời chồng chất, những tích lũy của một thời gian khổ đổ sụp xuống trên đôi vai mẹ. Tin Mẹ nhập viện vì căn bệnh xuất huyết bao tử, con lật đật xắp xếp việc gia đình về bên Mẹ không quên mang theo chiếc phong bì ... biếu Mẹ lo viện phí. Đến cạnh Mẹ con cũng chẳng hỏi lời nào (vì BS đã thông báo bệnh tình của Mẹ), con lặng lẽ cầm chiếc phong bì trong tay, ngồi xuống bên Mẹ. Đôi mắt Mẹ đục mờ nhìn con tha thiết, bàn tay xương xẩu run run của Mẹ đưa ra vội vàng như chờ mong con đã lâu. Cái siết tay nồng nàn yếu ớt như cuốn chặt cổ tay con, chiếc phong bì rơi xuống…

Con sững sờ đắng trong cổ họng… Mẹ ơi! Mẹ muốn con ở bên Mẹ như thuở xưa lúc Mẹ một mình thức giữa đêm… đã bao giờ con ở với Mẹ được đâu? Mẹ ơi, làm Mẹ rồi mà con vẫn chưa hiểu hết tình Mẹ. Tiếng cám ơn con thường nói với Mẹ mỗi ngày sao bỗng dưng sáo rỗng và vô vị quá!...

Thanh Loan

NHỮNG GIỌT LỆ HỒNG

 


Sưu tầm


 



… Nhưng khi mùa Vu Lan về, cầm hoa trắng trên tay, tôi không thể ngăn được những giọt lệ hồng phát xuất từ trái tim tôi… Than ôi! Khi tôi biết nghĩ tới mẹ, biết giá trị của trái tim bồ tát, biết thương mẹ thì bà đã không còn nữa trên đời…





Mẹ tôi không muốn di cư sang Mỹ ở tuổi sáu mươi. “Già rồi, sang bên ấy chỉ ăn bám vợ chồng chúng mày!”. Bà nói khăng khăng như thế nhưng con gái xuống nước năn nỉ ỉ ôi, bà lại xiêu lòng. Ờ, nó nói cũng phải, mình qua bên ấy giữ cháu ngoại cũng vui, lại đỡ nhớ, khỏi phải chờ mong. Mình ở đây nó phải gửi tiền về cấp dưỡng, tốn kém lắm chớ chẳng không!” Dì tôi cười, nói như lẩy: “Nợ đòi rồi đấy, cứ sang mà trả cho xong!”

 

Nghe mẹ kể lại lời dì, tôi cảm thấy hơi áy náy. Quả thật tôi cần mẹ không chỉ thuần túy vì tình cảm. Tôi cầu cứu bà sang để chăn bầy cháu bốn đứa. Dạo này buôn bán ể ẩm, tôi không kham nỗi tiền giữ trẻ, cũng không thể tiếp tế đều đặn cho mẹ nên rước bà qua là nhứt cử lưỡng tiện… Căn nhà ba phòng của vợ chồng tôi, bề ngoài trông cũng khang trang với cây cảnh chung quanh và cửa garage tự động nhưng thật ra chỉ rộng 1100 sf. Trừ phòng ngủ chánh tương đối rộng rãi, hai phòng còn lại vuông vức, nhỏ xíu xiu. Đất ở San Francisco là đất vàng. Căn nhà cũ kỷ năm mươi tuổi này trị giá chừng sáu chục ngàn nhưng lô đất 4000 sf của nó giá hơn bốn trăm, dù là nằm ở vùng ngoại ô xa tít. Thành ra cứ rán giữ, rán nắm dù mệt muốn hụt hơi. Cửa tiệm fast food bán cho nhân viên các hãng xưởng gần đây cũng theo đà lay-off mà đi xuống. Đến đầu tháng là chúng tôi điên đầu với đủ thứ tiền phải thanh toán. Tư trang sắm từ những năm phồn thịnh buôn may bán đắt lặng lẽ nối đuôi nhau đi hết, vào nằm im nơi các tiệm cầm đồ. Chúng tôi không hề nghĩ đến giải pháp bán nhà vì đó là gia tài duy nhất, cũng là mối kinh doanh không sợ lỗ vốn; vả lại bây giờ đi mướn một apartment tồi tàn đủ chỗ chứa sáu người, giá thuê hàng tháng còn mắc hơn số tiền trả góp nhà.

 

Trong tình thế kiệt quệ này, nếu có mẹ tôi lo cho tụi nhỏ, đưa đón đi học, quán xuyến việc nhà, tôi sẽ rảnh rang hơn để đi làm thêm lặt vặt buổi sáng, trưa về phụ tiệm ăn với chồng tôi. Buổi tối chúng tôi sẽ đi clean các tiệm ăn, chợ búa. Chịu khó một thời gian hi vọng kinh tế sẽ phục hồi trở lại. Mọi người đã hăm hở đón chào thiên niên kỷ mới, ai ngờ nó bắt đầu bằng sự xuống dốc!

 

Mẹ sang Mỹ vào mùa Thu. Trời khá lạnh đối với mẹ vì chưa quen, nhưng màu xanh của biển trời đã thu hút mẹ. Lũ cháu xúm xít lấy bà vì ngày thường không ai gần gũi chúng cả. Chúng xổ tiếng Anh líu lo, thậm chí cô bé út mới bốn tuổi cũng không rành tiếng Việt. Bà cười dễ dãi: “Sẽ có cuộc trao đổi nhé! Bà dạy các cháu nói tiếng Việt, các cháu dạy cho bà nói tiếng Anh.” Thấy mẹ vui, tôi an lòng. Thế là bên cạnh cái giường hai tầng của hai cô bé gái là tấm nệm của bà ngoại. Ban đêm, ba bà cháu nói chuyện rì rầm; có khi hai cậu trai cũng gõ cửa xin vào để được hưởng không khí đầm ầm bên bà ngoại rất hiền và rất vui. Mẹ như bà tiên có chiếc đũa thần đã biến căn nhà bừa bãi đầy phiền muộn của chúng tôi thành một tổ ấm ngăn nắp, sạch sẽ và đầy tiếng cười. Trước kia, chúng tôi chỉ dùng những thức ăn ế ẩm từ cửa hàng, lắm khi nuốt chẳng trôi. Mẹ bảo cứ bỏ thịt bỏ rau và tủ lạnh cho bà. Thế là mỗi chiều về gia đình tôi được quây quần chung quanh bàn ăn có cơm canh nóng hổi, hương vị ngọt ngào.

 

Chỉ sau vài tháng, các con tôi khỏe mạnh ra, lễ phép ra và biết phụ giúp công việc lặt vặt trong nhà. Hai cậu con trai lớn, bà phân công lo vườn tược cây kiểng: “Thằng Hùng mười hai tuổi, lớn rồi, lo chăm sóc các cây lớn, tỉa lá, bón phận, Hậu cũng mười tuổi rồi, thay vì ôm máy chơi game, có thể phụ anh quét sân, tưới nước.” Bà hiền lành nhưng nói gì các cháu cũng nghe. Chúng không còn là những đứa bé “vô tích sự” như thuở trước. Thật ra chúng không đến nỗi tệ nhưng vợ chồng tôi quần quật với công ăn việc làm, không có thì giờ dạy dỗ, chỉ vẽ. Bảo làm chuyện gì, chúng thực hiện qua loa lấy có, rầy mãi phát mệt thành ra không thèm sai biểu nữa, tự mình làm chóng xong mà vừa ý hơn. Con Hoa hãnh diện khoe với mẹ: “Bà dạy con nấu cơm. Con biết lặt rau, rửa chén, lại biết tráng trứng nữa cơ!” Tôi hôn con, thầm cám ơn mẹ đã cho gia đình tôi cơ hội để sống có hạnh phúc thay vì cứ mãi rầy rà, cãi vả, gây ó nhau trong một căn nhà bề bộn, dơ bẩn.

 

Mẹ vốn là một Phật tử thuần thành. Thỉnh thoảng bà giảng dạy cho tôi về đạo lý: “Hạnh phúc không phải là món quà từ đâu đến, không phải tự nhiên mà có, cũng chẳng thể do phúc đức mà được. Mình phải biết cách sống, biết cách hợp tác xây dựng thì mới có hạnh phúc.” Thuở ấy, đầu óc tôi quá dầy đặc với những con số để có thể hiểu lời mẹ khuyên, vả lại cũng không có thì giờ… Thôi thì để mẹ lo giùm. Mỗi chiều về nhìn các con ngoan, được ăn bữa cơm tối ngon, đối với tôi đã là đủ rồi.

 

Tôi bận rộn với nợ nần đến nỗi không mấy khi chú ý đến tâm tình của mẹ. Bây giờ kiểm điểm lại mới nhớ rằng tôi ít hỏi thăm về sự buồn vui của bà. Thay đổi môi trường sống, bà bỏ lại sau lưng biết bao nhiêu thứ: chị em, họ hàng, lối xóm, sư ông, bằng hữu… Đôi khi, mắt mẹ thoáng buồn. Tôi chỉ hỏi qua loa: “Mẹ có mệt không?” Chao ôi, rõ tệ, miệng hỏi mà lòng vái thầm: “Mẹ đừng ngã bệnh, khổ con!” Là con một nên cách suy nghĩ của tôi thường ích kỷ như thế. Cái gì cũng qui về mình, cho mình thôi! Thấm thoát, mẹ ở với chúng tôi đã được một năm rồi. Gia đình thì ổn thỏa nhưng tình trạng tài chánh càng ngày càng bết bát mặc dù vợ chồng tôi bỏ sức lao động gấp đôi. Giao kèo mướn cửa tiệm sắp hết hạn mà chẳng tìm được người sang lại. Không ký thêm thì mất tiệm, mất luôn năm mươi ngàn bỏ ra sang tiệm trước kia, nhưng tiếp tục thì ngày càng thua lỗ, chẳng kham được nữa.

 

Chuyện gì đến, phải đến. Tháng sau đó, vợ chồng tôi lủi thủi dọn đồ về trả lại cửa hàng cho người ta sau mười năm làm chủ. Bây giờ hóa ra là kẻ làm công, lại làm những nghề linh tinh quét dọn. Tủi thân mà tức số phận mình. Mẹ an ủi: “Thôi, như thế đỡ lo con ạ. Tinh thần căng thẳng quá có khi phát dại, hóa cuồng! Trong cái dở có cái hay là thế!” Chúng tôi lợi dụng thời gian tương đối rảnh rang này để sửa chữa căn nhà hư dột. Anh Thắng chịu khó và khéo tay nên cái gì cũng tự làm được, đỡ tốn tiền mướn thợ. Một hôm anh leo lên mái nhà để lợp lại mấy miếng ngói bể. Sơ ý thế nào chẳng rõ, anh trợt chân té xuống bất tỉnh. Chỉ có mình mẹ ở nhà! Bà bình tĩnh gọi 911, vắn tắt vài câu tiếng Anh: “He falls down from the roof. He stops breathing!” Và rành rọt đọc địa chỉ, số phone nhà cho họ. Ai ngờ bà âm thầm học chữ Anh mau đến thế! Bà đã cứu mạng chồng tôi!

 

Thắng bị gãy chân và dập ống quyển. Phải nằm tại chỗ từ năm đến sáu tháng. Tình cảnh này đưa mẹ tôi vào môi trường mới. Bà tự nguyện thế chỗ cho chồng tôi để quét dọn, lau chùi các cửa tiệm hầu phụ giúp tôi về tài chánh. Mẹ hăng hái trong công việc. Tôi đoán rằng ở nhà mãi mẹ cũng buồn, nay được ra ngoài bà cảm thấy vui hơn. Bà có những người bạn mới: cô thâu ngân vui tính, bà lão phụ trách hàng rau cải, chú “Thoòng” chuyên khuân vác. Mẹ hòa mình với họ, với cuộc sống của những người lao động tay chân. Đâu ai biết rằng trước 1975, mẹ là giáo sự dạy Pháp văn tại một trường công lập lớn ở Sài Gòn. Các con tôi biết hoàn cảnh bi đát của gia đình nên mỗi đứa một tay, cùng nhau lo chuyện nhà. Mẹ tôi hài lòng thấy các cháu tự ý thức được trách nhiệm, biết thương mẹ thương cha.

 

Ngày anh Thắng trở lại công việc, tôi xin mẹ ở nhà nghỉ ngơi. Mẹ nói: “Con ơi, ra ngoài cũng vui, lại kiếm được đồng tiền. Từ ngày đi Mỹ đến nay đã gần hai năm, mẹ chưa gửi tiền về giúp các em, các cháu bên ấy. Tụi nó nghèo lắm mà chẳng có cách kiếm ra tiền cho kịp đà leo thang của vật giá. Bên này kiếm tiền dễ hơn. Có tiền, mẹ lại có phương tiện cúng dường, bố thí…” Tôi im lặng nghẹn ngào, chợt nhớ rằng mẹ chưa hề hỏi tôi một đồng xu nào và tôi quên bẵng rằng mẹ cũng có nhu cầu tiêu xài. Trên thế gian này, không có nhân viên nào làm việc cật lực mà không đòi hỏi thù lao như thế! Vô tình, tôi đã “đòi nợ” mẹ tôi một cách tận tình. Dì tôi cũng có lý khi bà mỉa mai tôi. Trong lúc tôi đăm chiêu, mẹ nhẹ nhàng tiếp: “Mẹ đã xin được chân rửa chén trong nhà hàng. Rửa bằng máy chả cực nhọc gì!” “Trời đất ơi, rửa chén, cần sức lực của người đàn ông Mễ mới kham nỗi. Nồi niêu son chảo to như cột đình, nặng như búa tạ, làm sao mẹ nhấc cho nổi!” Tôi xuống giọng tiếp: “Mẹ nhìn lại mẹ xem. Tay mẹ gầy yếu, lưng mẹ đã cong, bước đi không còn nhanh nhẹn. Dù họ cần người, mướn tạm, vài hôm cũng cho nghỉ việc thôi!”

 

Bấy giờ tôi mới có dịp nhìn kỹ mẹ. Bà già thật rồi, cái già đến nhanh quá. So với hồi mới qua, bà như tăng thêm năm, bảy tuổi. Mẹ tôi cúi đầu xuống thấp. Hình như bà cố giấu giọt lệ vừa ứa ra. Tôi nhẹ nâng cầm mẹ lên và nhìn sâu vào đôi cửa sổ tâm hồn ấy. Trời ơi, mắt mẹ đã kéo mây! Đôi mắt bồ câu đen láy ngày nào từng làm điên đảo các chàng trai cùng trang lứa, cột chân ba tôi vào tổ ấm gia đình, giờ đã một phần ngả màu đục lờ như nước gạo vo. Tóc mẹ trắng bơ phờ, đuôi mắt nhăn như rẻ quạt, vầng trán sạm đen vết đồi mồi… Tôi mủi lòng xót xa. Hai mẹ con ôm nhau, nước mắt người này thấm ướt vai áo người kia. Tôi nhỏ nhẹ: “Con không dám trái ý mẹ, nhưng mẹ rán chờ. Con hứa sẽ tìm công việc nhẹ nhàng hợp với mẹ hơn, mẹ nhé! Vong hồn ba mà biết mẹ cực khổ thế này chắc khó siêu.” Trời cũng thương tình. Đâu chừng một tháng sau thì bà lão làm rau cải xin nghỉ việc về hưu. Mẹ tôi trở thành “bà cụ hàng rau”.

 

Danh xưng và chức vụ gắn liền với mẹ tôi từ đấy. Vậy mà bà vui. Mỗi tháng bà lãnh được hơn ngàn bạc. Phân nửa số tiền, bà gửi về Việt Nam: phần cúng dường, phần bố thí, phần giúp đỡ các em, các cháu. Số còn lại, bà dành dụm mấy kỳ lương, đưa tôi hơn ngàn bạc. “Mẹ thấy người ta dựng phòng trong garage cũng tiện lắm. Nếu chồng con không phiền, con lấy tiền này nhờ nó mua vật liệu, che tạm cho mẹ một căn phòng nhỏ. Con Hoa, con út bắt đầu lớn, tụi nó cần sự riêng tư. Mẹ cũng vậy, có phòng riêng mẹ sẽ dựng kệ thờ Phật, mỗi ngày mẹ có thể lễ bái, tụng kinh, niệm Phật…” Chồng tôi nghe kể lại, vui vẻ đáp: “Chuyện nhỏ! Mẹ muốn gì anh cũng xin vâng, nói chi việc ấy!” Từ đấy, mẹ lộ vẻ hoan hỉ lắm. Sáng tối hai thời, ít khi nào bà bỏ lỡ công phu. Bà như một người đạt được mục tiêu cho đời mình, không có gì để ưu tư, khắc khoải.

 

Mùa Đông năm ấy, thời tiết hơi khác thường. Ban ngày ấm áp xen kẽ với những đêm buốt giá mà nhiệt độ đôi khi hạ thấp đến không ngờ. Vợ chồng tôi mời mẹ tạm trở về phòng cũ vài ba tháng, ngoài garage lạnh quá dễ sinh bịnh. Mẹ nói: “Ở chỗ này quen rồi, dời đi khó ngủ.” “Mẹ nhớ vặn heat cho đủ ấm nhé!” “Ờ, tao biết mà!” Ngờ đâu mẹ đã không qua khỏi mùa Đông! Buổi sáng chẳng thấy mẹ dậy sửa soạn để đi làm, tôi bảo “đứa nào ra đánh thức bà dậy, nhanh lên kẻo trễ!” Con Hoa quấn mền đẩy cửa bước ra garage miệng kêu léo nhéo. “Ngoại ơi, ngoại à…” Không có tiếng trả lời… Nọ bật đèn, tiến đến cạnh giường: ngoại quấn hai cái mền kín mít, nằm im ỉm. Nó lắc chân ngoại, bà chẳng đáp. Nó lôi cái mền xuống: mặt bà xám xịt, lạnh ngắt, đôi mắt khép hờ… “Mẹ ơi, mẹ! sao kỳ vầy nè!” Cả nhà đổ xô ra. Chồng tôi đạo Chúa, vội làm dấu thánh giá… Tôi xỉu ngay tại chỗ khi loáng thoáng nghe thằng Hùng la lên: “Sao bà không mở heat?”

 

Cuộc điều tra của cảnh sát quấy rầy chúng tôi một thời gian, cuối cùng họ kết luận: “Bà cụ không thường mở heat; cái máy mua hai tháng về trước còn mới tinh chưa hề được sử dụng!” Tôi như người mất hồn trong đám tang của mẹ. Sự hối hận như lưỡi dao có răng, nó cưa xé lòng tôi. Trái tim tôi cơ hồ rỏ máu thành những giọt lệ hồng. Bạn bè khuyên tôi nên đến chùa xin cúng thất, thiết lễ cầu siêu cho bà. Tôi chẳng thể nói năng chi cùng vị sư ở chùa, chỉ biết dập đầu lạy cầu cứu với đôi mắt sưng húp. Chồng tôi bình tĩnh hơn, anh buồn bã kể đầu đuôi tự sự. Câu chuyện khiến thầy thương tâm, thầy thường an ủi, khuyên giải sau những thời lễ cúng. Khi thấy tôi bắt đầu trở lại bình thường, thầy dành cho gia đình chúng tôi một lời pháp thoại. Thầy giảng về lý vô thường, khổ, không. Các con tôi tỏ ra thích thú với sự thật giản dị và sâu sắc này, chúng đòi được học giáo lý đạo Phật thay vì đi nhà thờ với ba.

 

Riêng tôi, tôi nhớ mãi câu kết luận của thầy trong buổi nói chuyện ấy: “Con người ta sở dĩ đau khổ triền miên là tại mình muốn nắm giữ! Cái gì cũng khư khư ôm chặt. Làm sao giữ mãi được vì bản chất của chúng là vô thường, là không. Hãy buông bỏ hết đi, chừng nào bỏ được, chừng ấy mới có chân hạnh phúc!” Phải rồi, nếu chúng tôi không bám chặt vào căn nhà thì mẹ tôi đã không phải vất vả đến thế, không đến nỗi chết cóng ngoài garage. Và gia đình tôi không lụy đến mức này. Tôi thỏ thẻ bàn với chồng: “Anh à, căn nhà này mình không giữ nỗi thì bán nó đi. Em tính rồi, sau khi thanh toán hết nợ nần mình cũng còn vài trăm ngàn. Dọn sang Texas, nhà cửa rẻ hơn, mình có thể tậu căn khác hoặc là giữ làm vốn, tính chuyện làm ăn…” ” Ờ nhỉ, hồi đó sao mình ngu quá, cứ ôm lấy nó mà cắm cổ đi cày trả nợ. Liệu giữ không được thì sớm buông đi… Nhờ ông thầy giảng dạy, mình mới sáng mắt ra!”

 

Sau khi dọn sang Texas, trước khi bắt tay vào công ăn việc làm, tôi đến quì dưới chân sư ông kể lể hết sự tình, xin sám hối thì lòng tôi mới có thể yên. Sư ông trầm ngâm và yên lặng nghe tôi vừa khóc rấm rức vừa kể về mẹ tôi, đệ tử mà người rất quí mến. Sư ông không hề cắt ngang bằng những câu hỏi. Người không phê phán gì, chỉ để yên cho tôi khóc, khóc oà vỡ như cái đập nước bị ngăn chận, nay có người tháo ra… Mãi một lúc lâu lắm sau đó, sư ông mới dạy: “Người mẹ nào cũng có trái tim Bồ Tát. Mẹ con hành Bồ Tát đạo ngay trong gia đình trước khi mở rộng ra trong cuộc sống với mọi người. Con hãy hãnh diện có bà mẹ như thế! Con sẽ không cảm thấy hối hận ray rứt nữa nếu con biết đi theo hướng đi của mẹ con, biết xả bỏ cái tôi vị kỷ để lo cho người chung quanh.” Tôi sụp xuống đảnh lễ người đã chỉ cho tôi tháo mở cái gút dây kết mối ân hận trong tôi.

 

Tôi trở về Texas với sự bình yên và tâm nguyện cao cả… Nhưng khi mùa Vu Lan về, cầm hoa trắng trên tay, tôi không thể ngăn được những giọt lệ hồng phát xuất từ trái tim tôi… Than ôi! Khi tôi biết nghĩ tới mẹ, biết giá trị của trái tim bồ tát, biết thương mẹ thì bà đã không còn nữa trên đời…

 

Diêu Nga

Mẹ tôi

 Sưu tầm




 

Suốt thời thơ ấu và cả khi lớn lên, lúc nào tôi cũng ghét mẹ tôi. Lý do chính có lẽ vì bà chỉ có một con mắt. Bà là đầu đề để bạn bè trong lớp chế giễu, châm chọc tôi.

 

Mẹ tôi làm nghề nấu ăn để nuôi tôi ăn học. Một lần bà đến trường để kiếm tôi làm tôi phát ngượng. Sao bà lại có thể làm như thế với tôi? Tôi lơ bà đi, ném cho bà một cái nhìn đầy căm ghét rồi chạy biến. Ngày hôm sau, một trong những đứa bạn học trong lớp la lên:

 

-         Ê, tao thấy rồi. Mẹ mày chỉ có một mắt!

 

Tôi xấu hổ chỉ muốn chôn mình xuống đất. Tôi chỉ muốn bà biến mất khỏi cuộc đời tôi. Ngày hôm đó đi học về tôi nói thẳng với bà:

 

-         Mẹ chỉ muốn biến con thành trò cười!

 

Mẹ tôi không nói gì. Còn tôi, tôi chẳng để ý gì đến những lời nói đó, vì lúc ấy lòng tôi tràn đầy giận dữ. Tôi chẳng để ý gì đến cảm xúc của mẹ. Tôi chỉ muốn thoát ra khỏi nhà, không còn liên hệ gì với mẹ tôi. Vì thế tôi cố gắng học hành thật chăm chỉ, và sau cùng, tôi có được một học bổng để đi học ở Singapore.

 

Sau đó, tôi lập gia đình, mua nhà và có mấy đứa con. Vợ tôi là con nhà gia thế, tôi giấu nàng về bà mẹ của mình, chỉ nói mình mồ côi từ nhỏ. Tôi hài lòng với cuộc sống, với vợ con và những tiện nghi vật chất tôi có được ở Singapore. Tôi mua cho mẹ một căn nhà nhỏ, thỉnh thoảng lén vợ gởi một ít tiền về biếu bà, tự nhủ thế là đầy đủ bổn phận. Tôi buộc mẹ không được liên hệ gì với tôi.

 

Một ngày kia, mẹ bất chợt đến thăm. Nhiều năm rồi bà không gặp tôi, thậm chí bà cũng chưa bao giờ nhìn thấy các cháu. Khi thấy một bà già trông có vẻ lam lũ đứng trước cửa, mấy đứa con tôi có đứa cười nhạo, có đứa hoảng sợ. Tôi vừa giận vừa lo vợ tôi biết chuyên, hét lên:

 

-         Sao bà dám đến đây làm con tôi sợ thế? Đi khỏi đây ngay!

 

Mẹ tôi chỉ nhỏ nhẹ trả lời

 

-         Ồ, xin lỗi, tôi nhầm địa chỉ!


Và lặng lẽ quay đi. Tôi không thèm liên lạc với bà trong suốt một thời gian dài. Hồi nhỏ, mẹ đã làm con bị chúng bạn trêu chọc nhục nhã, bây giờ mẹ còn định phá hỏng cuộc sống đang có của con hay sao?

 

Một hôm, nhận được một lá thư mời họp mặt của trường cũ gởi đến tận nhà, tôi nói dối vợ là phải đi công tác. Sau buổi họp mặt, tôi ghé qua căn nhà của mẹ, vì tò mò hơn là muốn thăm mẹ. Mấy người hàng xóm nói rằng mẹ tôi đã mất vài ngày trước đó và do không có thân nhân, sở an sinh xã hội đã lo mai táng chu đáo.

 

Tôi không nhỏ được lấy một giọt nước mắt. Họ trao lại cho tôi một lá thư mẹ để lại cho tôi:

 

-         Con yêu quý, lúc nào mẹ cũng nghĩ đến con. Mẹ xin lỗi về việc đã dám qua Singapore bất ngờ và làm cho các cháu phải sợ hãi. Mẹ rất vui khi nghe nói con sắp về trường tham dự buổi họp mặt, nhưng mẹ sợ mẹ không bước nổi ra khỏi giường để đến đó nhìn con. Mẹ ân hận vì đã làm con xấu hổ với bạn bè trong suốt thời gian con đi học ở đây.

 

Con biết không, hồi con còn nhỏ xíu, con bị tai nạn và hỏng mất một bên mắt. Mẹ không thể ngồi yên nhìn con lớn lên mà chỉ có một mắt, nên mẹ đã cho con con mắt của mẹ. Mẹ đã bán tất cả những gì mẹ có để bác sĩ có thể thay mắt cho con, nhưng chưa bao giờ mẹ hối hận về việc đó. Mẹ rất hãnh diện vì con đã nên người, và mẹ kiêu hãnh vì những gì mẹ đã làm được cho con. Con đã nhìn thấy cả một thế giới mới, bằng con mắt của mẹ, thay cho mẹ.

 

Mẹ yêu con lắm,

 

Mẹ..."

 



Thứ Năm, 5 tháng 5, 2022

Thư của một người mẹ



Sưu tầm


 

Thưa quý bạn, đây là câu chuyện có thật - chuyện nội bộ gia đình - gói ghém trong một bức thư. Người viết là bà Nguyễn Thị Vân, nhà ở Khu tập thể Tân Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Bà không phải là một nhà văn, chưa từng viết văn nhưng bức thư viết rất có trình độ, có lẽ phần vì bà đã từng đi tu nghiệp ở nước ngoài về (danh từ ngoài Bắc hồi đó gọi là "thực tập sinh"), phần vì nó phát xuất từ tâm hồn và những tình cảm riêng tư của bà nên dễ được thông cảm.

 

Các con yêu thương của mẹ!



Mẹ viết cho các con những dòng chữ trong bức thư này khi sức khỏe của mẹ đã bình phục, ngày mai mẹ đã có thể xuất viện và trở về nhà (mặc dầu mẹ chẳng biết nhà của mình ở đâu và hình như mẹ chưa bao giờ có nổi một chốn gọi là căn  nhà đúng nghĩa). 

Hai mươi ngày nằm trong Bệnh viện Tai-Mũi-Họng mổ polyp mũi, dẫu căn bệnh không nguy hiểm nhưng đó là lần đầu tiên mẹ ốm nặng nhất trong đời, lần đầu tiên mẹ nằm liệt sau hậu phẫu trên giường bệnh và mọi việc phải nhờ đến người khác giúp đỡ.


Tất nhiên, cảm giác đó qua nhanh thôi vì vài ngày sau mẹ đã dậy được và tự lo cho mình mà không còn phải phiền lụy đến ai. Hai mươi ngày, tất cả những bệnh nhân nằm gần giường mẹ, vợ chồng tíu tít chăm sóc hỏi han, chỉ có mẹ là thui thủi một mình, nằm ngoảnh mặt vào tường khóc thầm mỗi khi chung quanh mẹ người ta đến thăm nuôi, hỏi han nhau.


Mẹ đã khóc suốt hai mươi ngày qua, ai cũng cám cảnh cho mẹ, mổ mà không có bất kỳ ai chăm sóc. Mọi người đoán mẹ sống cô độc, không có chồng, không có con, nên không ai nỡ hỏi sâu vào đời riêng của mẹ, sợ mẹ chạnh lòng mà sầu não, nên chỉ lặng lẽ sẻ chia, lúc thì tấm bánh, lúc thì lưng cơm. Họ đâu biết rằng mẹ cũng có hai đứa con trai, một đứa con gái, có con dâu, con rể, có các cháu nội, cháu ngoại, đủ nếp đủ tẻ.


Mẹ không trách các con đâu (vì mẹ đã quen chịu đựng mọi bất hạnh một mình, huống chi là việc đau ốm tí ti này). Tự mẹ đã không báo tin cho các con biết, và các con cũng không hỏi han, không bất ngờ khi mẹ vắng bặt mấy chục ngày không có tin tức, cũng như các con không bao giờ biết mẹ ở đâu, làm gì trong nhiều năm nay. Các con đã quen với sự hiện diện của mẹ trong cuộc đời các con, tự nhiên như thể mẹ đã sinh ra các con thì phải nuôi các con. Các con đâu biết rằng ngoài bổn phận ra, mẹ yêu thương các con vô bờ, và hiển nhiên, mẹ phải hy sinh tất cả cho các con. Tình yêu của mẹ là tình yêu vô điều kiện, các con mặc nhiên thụ hưởng mà không cần biết mẹ đã và đang sống ra sao.  

Những ngày nằm viện, khi tiếp xúc với không gian bệnh tật quanh mình, khi mơ hồ tự cảm thấy cuộc đời của mình sau này, dù đã bước vào tuổi 60, con cháu đầy đàn mà bị cô đơn hiu quạnh, mẹ cũng thấy sợ con đường phía trước. Mẹ sợ một ngày nào đó, vì tuổi già hay vì một lý do nào đó, mẹ nằm xuống mà không kịp nhắn các con tới cho mẹ được nhìn thấy lần cuối, rồi mẹ im lìm, chìm xuống, sâu vào giấc ngủ ngàn thu mà không được gặp những giọt máu của mẹ. Mẹ sợ!


Cái cảm giác đó theo đuổi mẹ, day dứt trong lòng mẹ và khuyên nhủ mẹ phải viết bức thư này cho các con. Nó như là lời cuối, mẹ muốn hồi ức lại tất cả đời mẹ, để các con dù trong xô bồ cuộc sống, trong bon chen miếng cơm manh áo, các con cũng nhớ lấy quá khứ mà mấy mẹ con mình đã từng trải qua, từ đó sống cho phải đạo làm người.          



Các con yêu thương của mẹ!


Sự đổ vỡ giữa bố và mẹ khiến các con phải mất đi một gia đình hạnh phúc, không hoàn toàn là lỗi ở bố. Mẹ tự nhận một phần trách nhiệm về mình, đó là mẹ đã quá tin bố, đã có tham vọng đổi đời, đồng ý để bố đi xa. Bố mẹ đã từng rất yêu nhau, đã từng có những ngày tháng vô cùng hạnh phúc. Ngày mẹ về làm vợ bố, mẹ là thực tập sinh vừa ở nước ngoài về, còn bố là thợ sửa chữa ô-tô bậc 3. Bố và mẹ đã có một quá khứ chung lưng đấu cật để lo cho cuộc sống chung, tuy nghèo khó về vật chất nhưng rất giàu về tình cảm.


Có mấy ai đã bền bỉ được như bố? Trong những ngày nghỉ, đạp xe đạp 90km đến với tình yêu. Đúng thế, bố đã đạp xe 90km trong hai năm ròng để đến với mẹ. 

Bố mẹ cưới nhau, thuê nhà để ở. Thời điểm năm 1975, Hà Nội vừa qua khỏi chiến tranh, cuộc sống khó khăn trăm bề. Nhà ông bà nội đẻ ra bố có 5 người con, cùng thuê căn nhà 14 mét vuông chật chội để tá túc. Bố và mẹ đã ở với nhau, lần lượt các con ra đời. Hai đứa con trai, một đứa con gái của mẹ như con gà con vịt, lũn cũn lớn lên trong tình yêu của bố mẹ. Cuộc sống gia đình mình gói gọn trong đồng lương công nhân eo hẹp nhưng đầm ấm, chưa một ngày bố mẹ nói nặng với nhau, hay có lời cãi vã cho dù đã có với nhau 3 mặt con. Cứ mỗi sáng, trước khi đi làm, bố lại xòe tay ra và bảo: "Vợ ơi, cho chồng xin 5 xu đi tàu điện đến nhà máy". Nghe bố xin mẹ như vậy, các con cười um lên, cả nhà mình cùng cười.


Ôi, viết đến đây mẹ lại khóc vì nhớ và thèm lắm những tiếng cười của cái thời nghèo đồng tiền nhưng rất giàu đạo nghĩa đó.


Thế rồi các con ngày một lớn lên, đồng lương công nhân của bố mẹ thời bao cấp không đủ để nuôi các con. Cuộc sống vô cùng khó khăn, cơ cực. Và, cũng từ sự khó khăn, cơ cực đó, mẹ nhận ra rằng gia đình nhà bố cư xử với nhau và cư xử với bố mẹ thật quá đáng buồn.


Vì bố mẹ là người nghèo nhất trong số các con của ông bà, nên ngày cưới cô B, chỉ cách có một đoạn phố mà bà nội không thèm gọi bố về ăn cỗ. Hay ngày cưới chú P, bà nội cũng "quên" bố là anh trai của chú ấy. Cuộc sống của đại gia đình nhà bố mới đáng buồn làm sao! Chỉ khi vợ chồng chú P có chuyện bỏ nhau, bà nội mới bảo bố và mẹ đi thương lượng với người ta để xin trả con gái người ta lại cho gia đình họ.   


Những đêm bố mẹ phải chở nhau đi đến 2-3 giờ sáng mới về, ba anh em con ôm nhau nằm ngủ ở nơi xó chợ Nguyễn Công Trứ. Bố mẹ về, thấy các con ngủ mà nước mắt còn đọng trên má, mẹ thấy buồn cho cách cư xử của bên nhà ông bà nội biết bao!    


Năm 1980, do làm ăn không trôi chảy, bố mẹ phải đưa các con về ở nhờ nhà bà nội. Chưa đầy một tháng, bà nội và cô B đuổi các con ra khỏi nhà. Mẹ cắn môi cố ghìm tiếng khóc để đến đưa các con đi.


Năm 1981, bà ngoại mất, mẹ và bố lo ma chay cho bà, không chuẩn bị gì cho các con ăn. Bà trẻ H. đến chơi nhà bà nội, gửi cho ba anh em một cái bánh chưng. Con cho chiếc bánh vào trong vạt áo, đem về nhà để ăn với hai em. Bà nội trông thấy, đuổi theo, vừa đuổi vừa la: "Bắt hộ tôi cái thằng ăn cắp!" Mẹ nhớ, ba tiếng "thằng ăn cắp" đã ám ảnh đời đứa con trai 7 tuổi của mẹ, đã gieo mối hận vào trong lòng con, để sau này, có lúc con đã sa chân lỡ bước mà đi ăn cắp thật. Cả trong chuyện con sa chân, mẹ cũng có lỗi một phần. Lỗi là mẹ đã không bảo bọc được các con, không lo được cho các con trọn vẹn như những gia đình khác có bố có mẹ.


Ông nội rất tốt nhưng mất sớm, bà nội đã cư xử vô cùng cay nghiệt khi chia nắm tro hài cốt của ông thành năm phần, một phần cho bà và 4 phần cho 4 đứa con, ai có tiền đóng góp lo tang lễ thì lấy về thờ phụng. Bố mẹ đã không được giữ phần tro vì hồi đó, bố và mẹ không có tiền để góp làm đám tang cho ông nội, phải nợ. Số tiền bố mẹ nợ bà nội năm 1981 là 400 đồng. Cũng vì số nợ này mà bà nội đã không cho lấy hộp tro của ông nội để đem về bày trên bàn thờ nhà mình. Cũng chỉ vì bố mẹ sống nghèo khổ, không thăm hỏi chu đáo được ông bà và các cô chú, cho nên khi bố bị bệnh, phải đưa vào bệnh viện cấp cứu, bà nội và các cô chú không ai tới thăm bố hay hỏi han bố được lấy một lời.


Những ngày đó, mẹ nước mắt lưng tròng, đưa các con chạy vạy gửi bên ngoại, gửi nơi nọ nơi kia để chăm sóc bố trong bệnh viện. Ngày đó, các con dẫu thơ dại cũng đã cảm thấy sự phũ phàng và cay nghiệt trong đối nhân xử thế của dòng họ N. sinh ra bố của các con. Trong dòng họ N., mẹ phải đau xót mà thú nhận rằng, chữ Tình bao giờ cũng được đặt sau chữ Tiền với bao câu chuyện mẹ con mình đã từng chứng kiến và vô cùng thương tổn.


Những ngày các con còn nhỏ, cùng nhau đi học ở trường Đoàn Kết gần nhà bà nội. Giờ ra chơi, ba anh em hay dắt nhau vào nhà bà nội xin nước uống. Bà đến bảo với mẹ, bà chỉ cho phép các con được vào uống một lần, lúc đi học cũng được, lúc tan học cũng được, nhưng chỉ một lần thôi, đừng có đi đá bóng rồi kéo nhau vào mà uống nước, bà không nấu được. Nhớ lấy mà bảo nhau. Và thế là các con không bao giờ dám vào nhà bà nội xin nước uống nữa. Khát, mấy anh em dắt nhau ra vòi nước công cộng ở ngã ba mà uống.


Các con chớ nghĩ mẹ hận bà nội, hận bố các con, hận dòng họ Ngô mà kể lại những chuyện cũ. Bây giờ mẹ già rồi, người già hay nghĩ về quá khứ, mẹ nhắc lại tất cả chỉ với một mong muốn các con hãy sống cho tốt, đừng giẫm vào vết xe đổ của dòng họ mà gieo vào đời con cái của mình những hệ lụy về sau.


Cũng vì nghèo, vì quá cực khổ cho nên khi cơn lốc xuất khẩu lao động tràn vào đời sống thị dân Hà Nội, bố mẹ đã bàn nhau để bố ra đi kiếm tiền, những mong cải tạo kinh tế gia đình. Mẹ biết mình đã mụ mị đầu óc với tham vọng muốn đổi đời nên đồng ý để bố ra đi. Mẹ đâu có ngờ "canh bạc cuộc đời" của mẹ lại lành ít dữ nhiều, bởi ngày ấy, trong xã hội truyền khẩu câu ca dao: "Có vợ mà cho đi Tây. Như xe không khóa để ngay Bờ Hồ". Có chồng mà cho đi Tây thì cũng thế thôi, không khác.   

Các con yêu thương của mẹ!


Khi để bố ra đi làm kinh tế, mẹ có ngờ đâu đó là canh bạc mà mẹ thua cháy túi. Mẹ mất chồng, các con mất cha. Nhưng sự mất mát ấy đâu chỉ đơn thuần là các con không còn được nhìn thấy bố, không được bố chăm sóc nữa. Nếu chỉ vậy thôi thì đau đớn đến mấy mẹ cũng chịu đựng được. Nhưng cái mẹ không gồng mình nổi, đó là hệ lụy của ngày hôm nay, nói như ngôn ngữ xã hội thì đó là di chứng của sự thoái hóa đạo đức. Nó như một cơn lũ tràn vào tâm hồn của ba đứa con mẹ đã rút ruột đẻ ra, nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhân cách của các con sau này, khi mà bố các con trở về.


Để bố đi sang nước ngoài lao động, mẹ có ngờ đâu là bố đã nhất quyết bỏ mẹ con mình để ở lại lập thân, lập nghiệp nơi xứ người. Những ngày mới sang bên ấy, công bằng mà nói, thỉnh thoảng bố có viết thư về cho mẹ và các con. Những bức thư ấy mấy mẹ con mình cứ chong đèn đọc cho nhau nghe mỗi tối trong nỗi nhớ bố da diết. Đọc xong thư bố, mấy mẹ con mình lúc nào cũng buồn và thương bố nhiều hơn, vì trong thư bố luôn than phiền rằng làm ăn khó khăn, vất vả, kiếm được đồng tiền nhọc nhằn lắm. Lúc ấy con người của bố chưa thay đổi, bố vẫn thuộc về mấy mẹ con mình.


Kỳ phép đầu tiên sau mấy năm bôn ba kiếm ăn nơi xứ người là năm 1990, bố đã trở về với mẹ con mình. Khoảng thời gian nghỉ phép ngắn ngủi thôi, nhưng mẹ con mình đã rất hạnh phúc. Nhưng sau lần ra đi đó, bố không bao giờ trở về nữa. Ở bên kia, bố viết thư về bảo mẹ ly dị giả, bố cưới vợ giả thì mới được phép nhập cư. Mẹ không đồng ý, mẹ bảo xuất khẩu lao động, hết thời hạn rồi về, đâu cần phải nhập cư ở vĩnh viễn bên ấy. Thế là bố quyết định thật sự chia tay với mẹ vào năm 1997. Vậy là mẹ mất chồng, các con mất bố. Nỗi đau này một phần là lỗi của mẹ. Tại sao mẹ đã không đủ sức níu giữ được bố cho các con?


Nhưng sự mất mát ấy đâu chỉ đơn thuần là các con không còn được nhìn thấy bố, không được bố chăm sóc nữa? Sự thật, cái mà mẹ kinh hoàng là các con đã bị đồng tiền làm cho mờ mắt, không còn biết tới lương tri. Các con có nhớ không? Sự kiện đầu tiên, khi con lớn vay của em trai con 800 ngàn đồng nhưng cứ khất lần không trả. Đến lúc em trai con đòi nợ, con đã vác dao chém em không chút do dự. May mà em con chạy được, nếu không, đứa chết hoặc bị thương, đứa sẽ ở tù.


Con trai nhỏ của mẹ ơi, sau kỳ đó, con hóa lêu lổng, đi theo đám bạn hư đốn, mặc cho mẹ dạy dỗ có, van nài có, nghiêm khắc có, và đổ cả nước mắt nữa. Nhưng con vẫn bỏ ngoài tai. Rồi một trong hai con trai của mẹ đi ăn trộm xe đạp của bạn, bị bắt và bị kết án 8 tháng tù giam. Từ đấy mẹ biết mẹ đã bất lực không dạy nổi các con, để các con rơi vào vòng xoáy cuộc đời.


Chưa hết, khi bố muốn mẹ ly hôn, tòa bắt bố phải bồi thường cho 3 đứa con của mẹ mỗi đứa 20 triệu đồng (vì cái lỗi đã sinh ra các con mà không nuôi các con). Hai đứa con trai của mẹ chung nhau đem số tiền đó đi buôn áo da Trung Quốc. Vì các con chưa có kinh nghiệm nên thua lỗ gần hết, việc chia chác số tiền còn lại không đồng đều, con đã thẳng tay bóp cổ em trai con suýt chết trong nhà trọ. Biết chuyện này, mẹ đã khóc và cầu nguyện sao cho các con biết thương yêu nhau, đừng gây thêm nữa những chuyện đau lòng, nồi da xáo thịt.


Nhưng mẹ chẳng thể làm được gì khác khi bố con trở về. Những cách hành xử của bố, thái độ sống và trách nhiệm sống của bố đã ảnh hưởng quá sâu vào tâm lý các con. Mặc dầu không yêu thương bố, biết rằng bố tệ bạc với mẹ, nhưng các con vẫn quấn quít lấy bố, chỉ đơn giản là bởi bố có tiền và các con thì lúc nào cũng rất cần tiền. Muốn có được tiền của bố, các con đã nhắm mắt làm ngơ trước những điều chướng tai gai mắt. Khi bố đưa những người tình trẻ của bố về nhà, các con xum xoe, nịnh bợ, mặc dầu các con thừa biết nhân thân của những người mà bố cặp kè là như thế nào. Một công nhân hạng 3, dù bây giờ có tiền cũng khó bắt cặp được với những người trí thức. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, bố chỉ bắt cặp được với những cô gái kiếm tiền mà thôi. Khi mẹ nói với các con là phải biết phân biệt người tốt với người xấu thì các con cười trừ: "Thà chiều chuộng mà moi được tiền của ông ấy còn hơn để ông ấy đút cho họ hết". Các con nói thế nào thì làm như thế, nhắm mắt khi thấy bố cặp với các cô ca-ve, các cô gái gọi, ngủ cả với cô bé giúp việc đến trông nom bà nội ốm liệt giường mà bố hứa hẹn là sẽ cho tiền.


Mẹ biết vì hèn nên mẹ đã không lo nổi cho các con có một mái ấm gia đình hạnh phúc, không lo cho các con được bằng chúng bằng bạn dù đã cố gắng, làm việc đến bật móng tay để các con có chút chữ nghĩa, không phải thất học, không phải thiếu ăn kể cả những ngày không có bố.


Các con đã rất ngoan, đã hiểu đạo lý làm người cho đến ngày bố các con trở về và lần đầu tiên các con biết đến đồng tiền của bố. Nỗi khổ tâm của mẹ theo năm tháng lại càng nặng nề hơn bởi những sự thay đổi của các con. Dẫu mẹ cố gắng đến mấy cũng không thay đổi được sự suy nghĩ của các con. Nguy hại hơn, từ khi bị đồng tiền chi phối, tình cảm của các con đối với mẹ hầu như không còn chỗ neo đậu nữa.


Các con dồn hết tình cảm cho vợ con các con, đến mức không biết đến mẹ. Điều này làm mẹ đau lòng. Mẹ buồn lắm, mẹ tự biết mình là một người mẹ cô đơn, bất hạnh. Mẹ đã luôn tự lực để sống, và bây giờ, khi các con đã trưởng thành, có gia đình riêng, mẹ lại càng phải tự mình bương chải để không làm phiền đến các con. Mẹ đi làm ôsin, giúp việc cho các gia đình ở Hà Nội. Thỉnh thoảng, nhớ con nhớ cháu, mẹ lại về thăm. Nhưng lần thăm nào mẹ cũng đắng lòng. Mẹ về, con dâu lớn bưng mâm cơm lên, ngồi chưa nóng chỗ đã than thở: "Dạo này vật giá đắt đỏ quá, chết đói đến nơi mất!" Mẹ bưng bát cơm mà nước mắt nghẹn trong cổ họng. Buồn, buồn lắm các con ạ, bởi vậy nên mẹ ít khi về. Nếu về, mẹ thường ghé qua siêu thị mua ít thức ăn để bữa cơm, mẹ con đỡ căng thẳng.


Dịp 2-9 vừa rồi, mẹ về, buổi chiều, các con đang chuẩn bị, vợ chồng con cái dắt nhau đi chơi. Con nói với mẹ: "Bà muốn ăn gì thì tự túc đi mua nhé! Ông nội với cô bồ mới của ông ấy mời tụi con đi ăn lễ quốc khánh". Mẹ đã chua chát đi lang thang trong đêm Hà Nội, cho đến tận gần sáng rồi mới trở về nhà chủ. Mẹ sốt li bì. Sốt nhưng vẫn phải làm việc cho chủ. Sốt rồi lại khỏi. Mẹ đâu có bỏ được các con, các cháu. Lâu không về thăm, mẹ nhớ lắm, biết nhục nhưng phải về.


Lần mới đây, khi về thăm, con dâu nhỏ của mẹ đã hồn nhiên nói trong bữa ăn: "Ông nội đang chuẩn bị cưới vợ. Ông nội đám cưới xong, bao giờ đến phiên bà nội?" Mẹ hỏi lại: "Sao con lại hỏi như thế?" Con dâu thật thà đáp: "Mẹ không về ở với tụi con thì chắc phải có ông nào đó chứ chẳng lẽ từ bao lâu nay mẹ sống một mình?" Ôi, cả các con dâu lẫn con trai đều không biết mẹ sống ở đâu và làm nghề gì để sống. Các con không cần biết mẹ tồn tại ra sao, cũng không hề biết hằng ngày mẹ vẫn đi giúp việc, bế cháu thuê và giặt giũ cơm nước cho các nhà chủ để sinh sống. Các con không bao giờ hiểu được rằng mẹ sợ nhất là Tết. Một năm Tết chỉ đến có một lần, và ngày Tết ai cũng phải trở về nhà, về với nguồn cội mà mẹ thì chẳng có nơi chốn nào để về. Ban ngày mẹ có thể đi lang thang, nhưng ngày rồi cũng hết, và đêm xuống, mẹ suy sụp vì mẹ chẳng biết đi về đâu. Mẹ thường phải tìm cách nói dối với hàng xóm thế nọ thế kia.


Các con đâu biết rằng kể từ ngày bố bỏ mẹ ra đi, mẹ sợ đàn ông. Và 24 năm qua mẹ sống mà không có một người đàn ông nào trong đời. Không phải mẹ không khao khát có một bờ vai để nương tựa, có một người đàn ông để khỏa lấp khát khao đàn bà. Nhưng mẹ sợ lắm, mẹ đã bị tổn thương vì bố con, và mẹ sợ đàn ông, sợ hôn nhân. Lòng mẹ đã vĩnh viễn khép lại, chỉ còn chỗ cho các con mà thôi. Nhưng trong lòng các con mẹ cũng sợ không có chỗ cho mẹ. Đó là điều mẹ đau đớn nhất.   

        
Mẹ lấy chồng 37 năm thì 37 năm phải ở nhà thuê. Trước thì ở nhà thuê cùng với ông bà nội của các con. Khi ông bà nội nhận tiền thương lượng và trả nhà cho chủ, mấy mẹ con mình trở thành những kẻ vô gia cư, và mẹ vô gia cư cho đến tận ngày hôm nay. Mẹ không buồn vì việc cả đời mẹ phải đi thuê mướn nhà để ở, mà mẹ thực sự buồn đau bởi sự thuê mướn ngay trong chính tâm hồn các con.


Con trai thứ hai của mẹ có nhớ, mẹ đã điếng người khi mới đây con nhờ làm ăn tích góp, cộng với sự giúp đỡ của bên vợ, đã mua được căn nhà tập thể. Con mượn chủ cũ hộ khẩu để tách hộ và chuyển hộ. Con chỉ tách một mình con về nơi ở mới, còn mẹ và anh trai, em gái con thì vợ chồng con tuyên bố: "Mặc kệ chứ, tình cảm là tình cảm, còn tiền bạc thì phải rõ ràng". Thế đấy, còn gì chua chát đối với mẹ hơn nữa không? Suốt 37 năm qua kể từ khi mẹ bước chân đi lấy chồng, mẹ con mình đã ở nhà thuê, vô gia cư, bây giờ sắp gần đất xa trời mẹ vẫn phải tiếp tục kiếp sống vô gia cư, bởi vì con sợ mẹ và anh trai, em gái con chiếm mất nhà nên không cho nhập hộ khẩu. Con đã nói với mẹ như thế này: "Nếu mọi người thực sự thiếu thốn, con có thể cho mỗi tháng 100.000 đồng hay 200.000 đồng, chứ đòi hỏi nghĩa vụ, trách nhiệm thì không có đâu".


Những lời nói của con đã cứa đứt lòng mẹ, bởi vậy khi đột ngột ốm, phải vào Bệnh viện Tai-Mũi-Họng để mổ, mẹ đã không báo tin cho các con biết. Mẹ nằm một mình ở viện, 20 ngày không có ai săn sóc. Cho đến khi lớp Thực tập sinh ngày trước của mẹ họp mặt, mẹ không đi được và nhờ bạn báo là ốm, các cô chú ấy đã gọi về cho các con, hỏi mẹ nằm ở bệnh viện nào để cả lớp đến thăm. Các con hoàn toàn không biết. Đã từ lâu rồi các con có thói quen không để ý đến mẹ, cứ khi nào mẹ về thì biết mẹ về mà thôi. Từ thói quen đó, mẹ sống ở đâu, sống ra sao, khỏe mạnh hay đau ốm, các con coi đó là việc riêng của mẹ, không cần phải bận tâm.


Các con yêu thương của mẹ!


Sau vụ mổ vừa rồi, mẹ biết sức mẹ đã kém, không thể đi ở nhờ nơi này nơi kia được nữa, cũng khó mà tự làm việc để nuôi sống bản thân. Hiện tại, mẹ đã về ở cùng với con trai thứ hai của mẹ. Nhân ngày lễ Vu Lan - 15 tháng 7 âm lịch - đọc báo, coi ti-vi, mẹ thấy người ta nói nhiều về đạo hiếu của con cái đối với cha mẹ. Mẹ buồn, nước mắt ứa ra, mẹ lẩn thẩn ngồi viết bức thư dài này cho các con, mà cũng chẳng biết viết để làm gì. Các con đều đã trưởng thành, đã có gia đình riêng, một bức thư dù dài thì cũng làm sao mà thay đổi được các con. Thôi thì đành gửi cho tòa báo vậy, không biết họ có đăng hay không. Bao nhiêu phiền muộn mẹ trút cả vào đây, mong gióng lên một tiếng nói đối với những ai chưa biết yêu thương cha mẹ, còn để cha mẹ phải rơi lệ vì mình.


Các con yêu thương của mẹ ơi!

Chúng ta ai cũng muốn kết thúc cuộc sống một cách có hậu. Mẹ cũng khao khát điều đó và mẹ đã chuẩn bị cho mình một kết thúc hậu hĩnh nhất, ý nghĩa nhất, là khi nào mẹ mất, mẹ xin hiến xác mình cho khoa học, cho những ai cần đến sự giúp đỡ của mẹ. Tận sâu trong trái tim mẹ, còn sống hay đã chết, mẹ luôn cầu nguyện cho các con của mẹ được sống hạnh phúc, sung sướng và bình an.



Mùa Vu Lan buồn 2009
Mẹ của các con, NTV

Tình Mẹ

 




 Sưu tầm

"Cánh cửa không bao giờ khóa", đó là tựa đề của câu chuyện có thật mà văn sĩ Robert Stain đã kể lại.

Câu chuyện xảy ra tại nước Scotland về Cristout một cô gái quê trẻ. Cô ta cảm thấy chán chường trong cuộc sống gia đình nề nếp. Cô đến thưa với cha mẹ:

- Con không muốn tin ông trời của cha mẹ. Con quyết định ra đi khỏi nhà.

Thế là cô bỏ nhà ra đi. Tuy nhiên, chẳng bao lâu cô bị người ta chê cười và ruồng bỏ vì không tìm được việc làm, cô đã phải làm nghề đứng lề đường bán thân nuôi miệng. Thời gian trôi qua, cha cô đã qua đời trong sự buồn chán và xấu hổ vì đứa con gái hư đốn của mình. Mẹ cô ngày một già nua. Còn cô thì mỗi ngày một sa đọa trong lối sống hư đốn của mình.

Sau đó bà mẹ cũng bặt tin con. Rồi tin đồn về cuộc sống xấu xa của con gái. Bà đã đi tìm con khắp thành phố. Bà đến từng nhóm cứu trợ với lời thỉnh cầu:

- Làm ơn cho tôi treo tấm hình này.

Ðó là tấm hình của bà đang mỉm cười kèm theo dòng chữ: "Mẹ vẫn mãi yêu con. Mẹ mãi chờ con. Về nhà với mẹ đi con, con gái của mẹ".

Vài tháng sau đó, một ngày nọ cô gái đến chỗ một toán cứu trợ nhận bữa ăn tối. Cô chẳng màng chi đến những lời khuyên răn của những người hữu trách. Lơ đễnh nhìn tờ thông báo cô chợt nhận ra tấm hình của mẹ cô với hàng chữ đầy thương mến như nài van cô hãy trở về với bà, cô vội đứng lên xem rõ bức ảnh và cô bật khóc.

Khi trời đã nhá nhem tối, cô quyết định trở về nhà nơi cô đã ra đi từ lâu. Về tới nhà thì trời cũng vừa hửng sáng. Cô sợ hãi khép mình bên cánh cửa và băn khoăn không biết phải nói lời nào với mẹ. Nhưng rồi cô quyết định khẽ gõ cửa, cô nhận ra cánh cửa chỉ khép lại chứ chưa khóa. Cô nghĩ chắc có trộm vào nhà. Lo lắng, cô chạy vội tới giường ngủ của mẹ và thấy bà vẫn đang ngủ yên. Cô đánh thức mẹ và thưa:

- Mẹ ơi, con đã về.

Bà vùng chỗi dậy như không tin ở mắt mình. Nước mắt lăn dài trên gò má đã hom hem của bà, bà vội ôm chầm lấy cô con gái như sợ cô sẽ vuột mất. Cô gái cố bình tĩnh nói với mẹ:

- Mẹ ơi, con lo quá, cánh cửa không khóa, nên con tưởng ăn trộm đã mở cửa để lẻn vào nhà mình.

Bà mẹ dịu dàng nói:

- Không phải vậy đâu con. Từ ngày con đi thì cánh cửa nhà mình chẳng bao giờ khóa cả.

* * *



Thế giới có biết bao những bài hát, lời thơ, những câu ca dao, câu hò câu ví, những câu chuyện nói về tình mẹ. Và đối với người Việt Nam chúng ta thì tình mẹ càng thể hiện cách đậm đà và khắng khít hơn, bởi tình mẹ bao giờ cũng tinh tuyền, vô vị lợi, diễn tả gần hết tình yêu tinh ròng của Thiên Chúa. Nhận ra tình thương của người mẹ đã sinh ra chúng ta, chúng ta cũng được mời gọi để sống quảng đại và yêu thương hơn. Có nghĩa là tâm hồn chúng ta luôn rộng mở để đón nhận người khác như cánh cửa phòng sẽ không bao giờ đóng để đón chờ người con hoang trở về.

Bài văn lạ của học trò nghèo gây “sốc” với giáo viên trường Ams

 



 

*Dưới đây là bài văn của Hiếu đã gây “sốc” với giáo viên trường THPT Hà Nội - Amsterdam. Đề bài văn nghị luận cô giao là “Nêu quan điểm của anh (chị) về vai trò của đồng tiền trong cuộc sống”

Chủ Nhật, 06/11/2011

Thư gửi mẹ.

Mẹ thân yêu của con !

“Trời ơi là trời ! Anh ăn đi cho tôi nhờ, đừng có nhịn ăn sáng nữa. Đừng có dở hơi đi tiết kiệm mấy đồng bạc lẻ thế, anh tưởng rằng thiếu tiền như thế thì tôi chết à ?”. Đó là những “điệp khúc” mẹ cất lên hàng ngày dạo gần đây vì con quyết định nhịn ăn sáng đi học để tiết kiệm chút tiền cho mẹ, cho gia đình. Có lúc mẹ còn gắt lên, hỏi con “Sao cứ phải đắn đo khổ sở về tiền đến thế nhỉ ?” .

Mẹ ơi, những lúc ấy mẹ đang giận nên con không dám cãi lại. Nhưng giờ đây con muốn được bày tỏ lòng mình rằng tại sao con lại có những suy nghĩ, hành động kì lạ như vậy. Vâng, tất cả là vì tiền. Chỉ đến tận bây giờ con mới nhận ra cả một quãng thời gian dài trước đó con đã non nớt, ngây thơ biết chừng nào khi nghĩ về tiền. Cách đây 8 năm bệnh viện đã chuẩn đoán mẹ bị suy thận mãn tính độ 4 (độ cao nhất về suy thận). 8 năm rồi nhà ta đã sống trong túng thiếu bần hàn, vì bố mẹ không kiếm được nhiều tiền lại phải dành tiền cho mẹ đi chạy thận. Nhưng bố mẹ vẫn cho con tất cả những gì có thể, và cậu bé học trò như con cứ vô tư đâu biết lo gì.

Hồi học tiểu học, tiền bạc đối với con là một cái gì đó rất nhỏ, nó là những tờ giấy với đủ màu có thể dùng để mua cái bánh, cái kẹo, gói xôi hay cái bánh mì … Con đâu có ngờ tiền chính là yếu tố quyết định sinh mạng mẹ mình, là thứ bố mẹ phải hàng ngày chắt bóp và bao người thân gom góp lại để trả cho từng ca lọc máu cho mẹ tại bệnh viện Bạch Mai, là thứ càng làm mẹ thêm đau đầu suy nghĩ khi mẹ buộc phải nghỉ việc làm vì điều kiện sức khỏe không cho phép.

Rồi đến khi con học lớp 8, mẹ càng ngày càng yếu và mệt, phải tăng từ 2 lên 3 lần lọc máu/ tuần. Những chỗ chích ven tay của mẹ sưng to như hai quả trứng gà, nhiều hôm máu thấm ướt đẫm cả tấm băng gạc. Do ảnh hưởng từ suy thận mà mẹ còn bị thêm viêm phổi và suy tim. Rồi ông lại bị ốm nặng, bố phải nghỉ việc ở nhà trông ông, nhà mình vì thế càng trở nên túng quẫn, mà càng túng thì càng khổ hơn. Tờ một trăm ngàn hồi ấy là một thứ gì đó xa xỉ với nhà mình. Cũng từ dạo ấy, đầu óc non nớt của con mới dần vỡ lẽ ra rằng tiền bạc chính là mồ hôi, nước mắt, là máu (theo đúng nghĩa đen của nó, vì có tiền mới được chạy thận lọc máu mà) và bao nỗi niềm trăn trở lo lắng của bố và mẹ.

Hôm trước con có hỏi quan điểm của mẹ về tiền bạc thế nào để con có thêm ý viết bài làm văn nghị luận cô giao. Mẹ hơi ngạc nhiên vì câu hỏi đường đột ấy. Rồi mẹ chỉ trả lời với 3 từ gọn lỏn “Mẹ ghét tiền”. Nếu con còn thơ dại như ngày nào, hay như một người ngoài nào khác thì chắc con đã ngạc nhiên lắm. Nhưng giờ đây con cũng đồng ý với mẹ : con cũng ghét tiền. Bởi vì nó mà mẹ phải mệt mỏi rã rời sau mỗi lần đi chạy thận. Mẹ chạy thận 3 lần mỗi tuần, trước đây bố đưa đón mẹ bằng xe đạp nhưng rồi mẹ bảo đi thế khổ cả hai người mà còn phải chờ đợi mất ngày mất buổi của bố nữa nên mẹ chuyển sang đi xe ôm. Nhưng đi xe ôm mất mỗi ngày mấy chục, tốn tiền mà lại chẳng kiếm đâu ra, mẹ quyết định đi xe buýt. Mỗi khi về nhà, mẹ thở hổn hển, mẹ lăn ra giường lịm đi không nói được câu gì. Con và bố cũng biết là lúc ấy không nên hỏi chuyện mà nên để yên cho mẹ nghỉ ngơi. Tám năm rồi, tám năm chứng kiến cảnh ấy nhưng con vẫn chưa bao giờ có thể quen được. Con chỉ biết đứng từ xa nhìn mẹ, và nghiến răng ước “giá như có dăm chục ngàn cho mẹ đi xe ôm thì đâu đến nỗi !”.

Con bỗng ghét, thù đồng tiền. Con bỗng nhớ hồi trước, khi mẹ vẫn nằm trong viện. Ba người bệnh chen chúc chung nhau một chiếc giường nhỏ trong căn phòng bệnh ngột ngạt và quá tải của bệnh viện Bạch Mai. Con đã ngây thơ hỏi mẹ “Sao mẹ không vào phòng bên kia, ở đấy mỗi người một giường thoải mái lại có quạt chạy vù vù, có tivi nữa ?”. Mẹ chỉ nói khẽ “cha tổ anh. Đấy là phòng dịch vụ con ạ”. Con lúc ấy chẳng hiểu gì. Nhưng rồi con cũng vỡ lẽ ra rằng đó là phòng mà chỉ những ai rủng rỉnh tiền thì mới được vào mà thôi. Còn như mẹ thì không được. Con căm nghét đồng tiền vì thế.

Con còn sợ đồng tiền nữa. Mẹ hiểu con không ? Con sợ nó vì sợ mất mẹ. Mẹ đã phải bốn lần đi cấp cứu rồi. Những người suy thận lâu có nguy cơ tử vong cao vì huyết áp dễ tăng, máu dồn vào dễ làm tắc ống khí quản và gây tắc thở. Mẹ thừa biết điều này. Nhiều người bạn mẹ quen trong “xóm chạy thận” đã phải chịu những cái kết bi thảm như thế. Nhiều đêm con bỗng choàng tỉnh dậy, mồ hôi đầm đìa mà lạnh toát sống lưng bởi vừa trải qua một cơn ác mộng tồi tệ …

Con sợ mẹ lại phải đi cấp cứu, và sợ nhỡ nhà mình không đủ tiền để nộp viện phí thì con sẽ mất đi người thân yêu nhất trong cuộc đời này. Mỗi buổi mẹ đi chạy thận là mỗi buổi cả bố và con đều phấp phỏng, bồn chồn, lo lắng. Mẹ về muộn là lòng con nóng như lửa đốt, còn bố thì cứ đi đi lại lại và luôn hỏi “bao giờ mẹ mày mới về?”. Với con cơ hội là 50/50, hoặc là mẹ chạy thận an toàn và về nhà, hoặc là …

Con lo sợ hơn khi đọc báo thấy bảo có người không đủ tiền trả phần ít ỏi chỉ là 5% bảo hiểm y tế, tiền thuốc men mà phải về quê “tự điều trị”. Với những bệnh nhân phải chạy thận, như thế đồng nghĩa là nhận bản án tử hình, không còn đường sống. Con bỗng hoảng sợ tự hỏi nếu không còn BHYT nữa thì sao? Và nếu ông mất thì sao? Chi tiêu hàng ngày nhà mình giờ đây phần nhiều trông chờ vào tiền lương hưu của ông, mà ông thì đã già quá rồi …

Mẹ ơi, tiền quan trọng đến thế nào với gia đình mình thì chắc mẹ hiểu rõ hơn con. Cứ nghĩ đến tiền là con lại nhớ đến những đêm bố mất ngủ đến rạc cả người, nhớ đến những vết chích ven sưng to như quả trứng gà của mẹ, nhớ đến cả thìa đường pha cốc nước nóng con mang cho mẹ để mẹ uống bồi bổ mỗi tối. Mẹ chắt chiu đến mức sữa ông thọ rẻ tiền mà cũng không mua để tự bồi dưỡng sức khỏe cho mình.



Con sợ tiền mà lại muốn có tiền. Con ghét tiền mà lại quý tiền nữa mẹ ạ. Con quý tiền và tôn trọng tiền bởi con luôn biết ơn những người hảo tâm đã giúp nhà mình. Từ những nhà sư tốt bụng mời mẹ đến chùa vào cuối tuần, những cô bác ở Hội chữ thập đỏ quyên góp tiền giúp mẹ và gia đình mình. Và cả những người bạn xung quanh con, dù chưa giúp gì được về vật chất, tiền bạc nhưng luôn quan tâm hỏi thăm sức khỏe của mẹ… Nhờ họ mà con cảm thấy ấm lòng hơn, vững tin hơn.

Con cảm thấy bất lực ghê gớm và rất cắn rứt lương tâm khi mẹ không đồng ý với các kế hoạch của con. Đã có lúc con đòi đi lao động, đi làm gia sư hay đi bán bánh mì “tam giác” như mấy anh sinh viên con quen để kiếm tiền giúp mẹ nhưng mẹ cứ gạt phăng đi. Mẹ cứ một mực “tống” con đến trường và bảo mẹ chỉ cần con học giỏi thôi, con giỏi thì mẹ sẽ khỏe.

Vâng, con xin nghe lời mẹ. Con vẫn đến trường. Con sẽ cố gắng học thật giỏi để mẹ và bố vui lòng. Nhưng mẹ hãy để con giúp mẹ, con đã nghĩ kĩ rồi, không làm gì thêm được thì con sẽ nhịn ăn sáng để tiết kiệm tiền. Không bán bánh mì được thì con sẽ ăn cơm với muối vừng. Mẹ đừng lo mẹ ạ, mẹ hãy an tâm chạy chữa và chăm sóc cho bản thân mình. Hãy để con được chia sẻ sự túng thiếu tiền bạc cùng bố mẹ. Vậy con khẩn thiết xin mẹ đừng cằn nhằn la mắng con khi con nhịn ăn sáng. Mẹ đừng cấm đoán con khi con đi lấy chầy, cối để giã lạc vừng. Dù con đã sút 8 cân so với năm ngoái nhưng con tin rằng với sự thấu hiểu lẫn nhau giữa những người trong gia đình thì nhà ta vẫn có thể sống yên ổn để đồng tiền không thể đóng vai trò cốt yếu trong việc quyết định hạnh phúc nữa.

Đứa con ngốc nghếch của mẹ

Nguyễn Trung Hiếu

Vũ Quốc Lịch 
(Giáo viên trường THPT chuyên Hà Nội Amsterdam)

8 lời nói dối trong đời người mẹ

 



 

Sưu tầm. Hướng đến ngày của mẹ mừng vào chúa nhật thứ 2 của tháng 5



Thuở nhỏ, gia đình cậu bé rất nghèo, tới bữa, chẳng mấy khi có đủ cơm ăn, mẹ liền lấy cơm ở trong chén mình chia đều cho các con. Mẹ bảo: Các con, ăn nhanh đi, mẹ không đói!——>Mẹ nói câu nói dối đầu tiên!

Khi cậu bé lớn dần lên, người mẹ tảo tần lại tranh thủ những ngày nghỉ cuối tuần, đến những vùng đầm hồ ven đô bắt cá về cho con ăn cho đủ chất. Cá rất tươi, canh cá cũng rất ngon. Khi các con ăn thịt cá, mẹ lại ngồi một bên nhằn đầu cá. Lấy lưỡi mà liếm những mảnh thịt sót lại trên đầu cá. Cậu bé xót xa, liền gắp miếng cá trong bát mình sang bát mẹ, Mẹ không ăn, lại dùng đũa gắp trả miếng cá về bát cậu bé. Mẹ bảo: Con trai, con ăn đi, mẹ không thích ăn cá.——> Mẹ nói câu nói dối thứ hai.

Lên cấp 2, để nộp đủ tiền học phí cho cậu bé và anh chị, Vừa làm thợ may, mẹ vừa đến Hợp tác xã nhận vỏ hộp diêm về nhà ngồi cặm cụi mà dán vào mỗi tối, để kiếm thêm chút tiền chi tiêu cho gia đình. Một buổi tối mùa đông, nửa đêm cậu bé tỉnh giấc. Thấy mẹ vẫn còng lưng dán vỏ bao diêm bên cạnh chiếc đèn dầu. Cậu bé nói: Mẹ à, mẹ đi ngủ thôi, sáng ngày mai mẹ còn phải đi làm nữa mà. Mẹ cười nhẹ: Con trai, đi ngủ đi. Mẹ không buồn ngủ!——> Mẹ lại lần thứ ba nói dối

Ngày thi vào trung học, mẹ xin nghỉ làm, Ngày nào cũng đứng ở cổng trường thi, làm chỗ dựa tinh thần cho cậu bé đi thi. Đúng vào mùa hạ, trời nắng khét tóc. Người mẹ nhẫn nại đứng dưới cái nắng hè gay gắt chờ con suốt mấy tiếng đồng hồ. Tiếng chuông hết giờ đã vang lên. Mẹ nghiêng người đưa cho cậu bé bình trà đã được pha sẵn, dỗ dành cậu bé uống, bình trà nồng đượm, tình mẹ còn nồng đượm hơn. Nhìn thấy bờ môi khô nẻ và khuôn mặt lấp lánh mồ hôi của mẹ, cậu bé liền đưa bình trà trong tay mời mẹ uống. Mẹ bảo: Con uống nhanh lên con. Mẹ không khát! ——>Mẹ nói dối lần thứ tư

Sau khi Cha lâm bệnh qua đời, Mẹ vừa làm Mẹ vừa làm Cha. Vất vả với chút thu nhập ít ỏi từ nghề may vá. Ngậm đắng nuốt cay nuôi con ăn học, cái khổ không lời nào kể xiết. Có chú Lý ngồi sửa đồng hồ dưới chân cây cột điện đầu ngõ biết chuyện, việc lớn việc nhỏ chú đều tìm cách qua giúp một tay. Từ chuyển than, gánh nước, giúp ít tiền cho gia đình cậu bé tội nghiệp. Con người chứ đâu phải cây cỏ, lâu rồi cũng sinh tình cảm. Hàng xóm láng giềng biết chuyện đều khuyên mẹ tái giá, việc gì phải một mình chịu khổ thế. Nhưng qua nhiều năm mẹ vẫn thủ thân như ngọc, kiên quyết không đi bước nữa. Mọi người có khuyên mẹ kiên quyết không nghe. Mẹ bảo: Mẹ không yêu chú ấy. ——>Mẹ nói dối lần thứ 5



Sau khi cậu bé và các anh chị cậu tốt nghiệp đại học đi làm. Mẹ nghỉ hưu rồi nhưng vẫn tiếp tục làm những việc lặt vặt ở chợ để duy trì cuộc sống. Các con biết chuyện thường xuyên gửi tiền về để phụng dưỡng mẹ. Mẹ kiên quyết không nhận, tất cả tiền con gửi về mẹ đều gửi trả. Mẹ bảo: Mẹ có tiền mà! ——>Mẹ nói dối lần thứ 6

Cậu bé ở lại trường dạy 2 năm, sau đó thi đỗ học bổng học thạc sỹ ở một trường đại học danh tiếng của Mỹ. Sau khi tốt nghiệp cậu ở lại làm việc tại một công ty nghiên cứu máy móc. Sống ở Mỹ một thời gian, khi đã có chút điều kiện. Cậu bé muốn đưa mẹ qua Mỹ sống để phụng dưỡng mẹ tốt hơn. Nhưng lại bị mẹ từ chối. Mẹ bảo: Mẹ không quen! ——>Mẹ nói dối lần thứ bảy.

Nhiều năm trôi qua, mẹ lâm trọng bệnh, phải vào viện điều trị. Khi con trai đáp máy bay từ nơi xa xôi về thăm mẹ, mẹ già đi nhiều và yếu quá rồi. Nhìn mẹ bị bệnh tật dày vò đến chết đi sống lại, thấy con trai đau đớn vì thương xót mẹ. Mẹ lại bảo: Con trai, đừng khóc, mẹ không đau đâu. ——> Đấy là lần nói dối cuối cùng của mẹ