Danh sách Blog của Tôi

Thứ Bảy, 12 tháng 11, 2016

Cầu nguyện




Có một người bạn gửi tin nhắn nhờ tôi giúp họ biết cách cầu nguyện thế nào để họ cảm thấy được sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời. Tôi nghĩ đây là một điều khó, và cố gắng soạn ra vài kiến thức đơn giản để giúp người bạn nầy đi được một vài bước trong đời sống cầu nguyện
 Cầu nguyện là việc thiết yếu của đời sống. Chúa dạy ta phải cầu nguyện luôn kẻo sa chước cám dỗ. Chính Chúa Giêsu đã luôn giữ mối liên lạc với Chúa Cha bằng những giây phút dành riêng cho việc cầu nguyện và ngay cả trong suốt ngày sống.
 Cầu nguyện thế nào. Các môn đệ đã từng xin Chúa Giêsu dạy cho cách cầu nguyện và Chúa đã dạy cách cầu nguyện như kinh Lạy Cha. Nhưng kinh Lạy Cha muốn nói lên ý hướng và tâm tình khi cầu nguyện, chứ không hẳn là Chúa Giêsu bảo cứ đọc đi đọc lại kinh đó trong những giờ cầu nguyện.
 Cầu nguyện là việc làm do Chúa Thánh Linh thúc đẩy. Ngài như gió muốn thổi cách nào tùy ý, nên có thể nói cách cầu nguyện của mỗi người không ai giống ai, và hãy trực tiếp xin Chúa Thánh Thần dạy cho cách cầu nguyện. Chúng ta có đọc sách hay tìm thầy để học cách cầu nguyện thì đó cũng chỉ là tham khảo, rồi mỗi người sẽ tìm được cách phù hợp cho riêng mình. Người VN mình cứ nghĩ cầu nguyện là đọc kinh, đọc càng nhiều kinh thì càng tốt, nhưng nhiều khi miệng đọc mà tâm không suy, đọc xong giờ kinh mà thấy lòng trống vắng.

Thực ra kinh được soạn ra để dùng trong những lần cộng đoàn tụ họp và những kinh đó cũng là một cách tổng hợp giáo lý để giúp mọi người cùng cầu nguyện và cùng tuyên xưng niềm tin vào Chúa, vào các Thánh. Tôi nghĩ chỉ có kinh Mân Côi và kinh Thần Vụ là buộc phải đọc đầy đủ, còn những kinh khác chỉ là một cách giúp tín hữu cầu nguyện chứ không buộc đọc. Một thực trạng là nhiều người trẻ không thích đọc kinh dài dòng, nhưng họ cũng chẳng biết đến cách cầu nguyện phù hợp với tâm hồn mình.
Cầu nguyện là thưa chuyện với Chúa, là việc tiếp xúc của hai tâm hồn, như con nói chuyện với Cha, như hai người bạn gặp nhau, người này nói người kia nghe và kết quả là hai tâm hồn liên kết chặt chẽ với nhau. Chuyện kể rằng có vị Giám Mục nọ đến kinh lý một xứ đạo miền quê, Ngài nghe biết trong giáo xứ có một bà nhà quê rất đạo đức và chuyên chăm cầu nguyện. Vị Giám Mục đến thăm bà và hỏi cho biết sự tình. Bà già đó kể rằng : “con không biết chữ nên không thể cầu nguyện được như các cha, hằng ngày con chỉ biết dùng kinh Lạy Cha để cầu nguyện, nhưng con rất buồn là hầu như con không bao giờ đọc hết kinh được. Cứ mỗi lần đọc được câu ‘Lạy Cha chúng con ở trên trời’ là nước mắt con đã giàn giụa vì mình chỉ là thụ tạo hèn yếu mà lại được gọi Thiên Chúa là cha mình. Đức Giám Mục nghe đến đó thì hiểu được lòng đạo đức sâu xa của bà nên nói với bà là cứ duy trì cách cầu nguyện như thế là đủ rồi.

Để cầu nguyện liên lỷ trong suốt ngày sống là một điều khó, vì ta còn phải làm việc suốt ngày và còn gặp gỡ anh em. Nhưng hãy thánh hóa ngày sống bằng những giờ cầu nguyện cố định trong ngày và dùng những lời nguyện tắt để kết hợp với Chúa khi ta nhớ đến Ngài, thêm vào đó là ta sống tốt giây phút hiện tại với ý hướng ‘luôn tìm kiếm ý Chúa’, sống dưới con mắt Chúa.
Những lời nguyện tắt thông dụng được ví như hơi thở của linh hồn hướng về Chúa (ngợi ca, tạ ơn, phó thác, yêu mến, hiến dâng, xin lỗi) :
Lạy Chúa Giêsu, con yêu mến Chúa.
Lạy Chúa, con phó thác đời con cho Chúa.
Lạy Cha chúng con ở trên trời.
Này con xin đến để thi hành ý Chúa.
Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội.
Nói tóm lại, có thể một câu Kinh Thánh ngắn gọn, lời một bài thánh ca, một câu của một kinh quen thuộc… tự nhiên vụt đến trong lòng với một niềm cảm mến sâu xa. Nhiều khi ta đang lái xe trên đường hay lao động một mình, thì lời một bài hát vụt đến làm hồn cảm mến sốt sắng còn hơn một giờ kinh quen thuộc, đó là hoạt động của Thánh Thần vậy.
Ai đó đã từng nói về niềm tin : “Một là tin tất cả, hai là không tin gì cả”. Người có đức tin vững mạnh thì tin rằng Thiên Chúa hiện hữu và quan phòng mọi sự trong cuộc đời mình, còn kẻ không có đức tin thì cho rằng mọi sự đều tự nhiên. Đức tin được ví như ngọn lửa, hằng ngày phải được nâng niu nuôi dưỡng bằng  nhiều cách : Đọc và suy gẫm Lời Chúa, tìm hiểu thêm giáo lý bằng những sách thiêng liêng, tham dự phụng vụ để lãnh nhận ơn Chúa, cầu nguyện tắt, những giây phút tĩnh tâm trong ngày, lần hạt.

Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2016

Hài hòa





Chuyện kể rằng : Có một vị tu sĩ trẻ xin vào tu trong một ngôi chùa. Sư trụ trì giao cho cậu xây một bức tường trong khuôn viên tu viện. Cậu ta làm việc rất chăm chỉ và cẩn thận, ấy vậy mà vẫn có mấy viên gạch ngay giữa bức tường không được ngay ngắn như ý muốn. Từ đó về sau, khi dẫn khách đi tham quan vãn cảnh chùa, cậu ta tránh không đưa khách đến đó. Và dĩ nhiên đời cậu cũng mất đi một phần hạnh phúc vì bị nỗi ám ảnh dày vò.

Khi ngắm một vườn hoa, nếu không để ý đến tiểu tiết và cách bố trí của nghệ nhân thì ta không thấy vẻ đẹp của vườn hoa ấy, nhưng nếu chỉ để ý đến tiểu tiết mà không để cho cảm xúc được dâng trào vì vẻ đẹp tự nhiên của cảnh vật thì sự thưởng thức cũng chưa trọn vẹn.
Khi ngắm nhìn một cô gái, thưởng thức vẻ đẹp của khuôn mặt và hình dáng, cách phục trang và cư xử thì ta cảm thấy cô gái có một sức thu hút kỳ lạ. Nhưng nếu ta suy nghĩ thêm rằng : ẩn chứa sau nét tươi trẻ, còn có vô số những tư tưởng kỳ lạ và lời nói cũng như hành động không mấy thanh cao tốt đẹp, vô số bệnh tật… thì tự nhiên ta thấy cô gái ấy cũng thường thôi, không còn sức thu hút như lúc nãy.
Khi ta nghĩ về bản thân, nếu dừng lại quá lâu ở những khuyết điểm tinh thần và thể chất thì ta sẽ thấy đời mình thật nặng nề, nhưng nếu ta chỉ nghĩ đến những thắng lợi và ưu điểm mà gạt phăng hết mọi suy nghĩ của tha nhân về ta thì bản thân ta trở nên người lố bịch đến nực cười.
Khi nghĩ về một người bạn, ta thường chỉ nghĩ đến những điều làm phật ý ta mà quên hết cả một quá khứ đầy những tình cảm thân thương mà bạn dành cho ta, và thế là giữa những người bạn đã có những bức tường ngăn cách.

Ai đó đã từng khuyên:
“Muốn sống hạnh phúc, hãy đếm những niềm vui, đừng đếm những nỗi buồn.
Hãy đếm những người bạn, đừng đếm những kẻ thù”. Vì tự nhiên ta dễ chìm trong nỗi buồn và dễ nhìn thấy khuyết điểm tha nhân. Khi mình buồn, hãy phân tích xem vì chuyện gì và đừng để nỗi buồn chán lây lan đến những lãnh vực khác của cuộc sống. Khi mình phẫn nộ (trong suy nghĩ) với anh em, hãy nghĩ lại xem hình như mình đang quá bất công với tha nhân.

Con người cần ánh sáng mặt trời để hoạt động nhưng cũng cần bóng tối của màn đêm để nghỉ ngơi an bình.Cuộc đời và tha nhân quanh ta có vẻ đẹp và bóng tối đan xen tựa lúa và cỏ lùng cùng chung sống mãi cho đến ngày tận thế. Nếu ta cứ mải nhìn vào mặt tối của cuộc sống thì dễ mất đi niềm tin và hy vọng là sức sống để vươn tới tương lai. Nhưng nếu ta chỉ nhìn thấy vẻ hào nhoáng của cuộc đời thì ta sẽ trở nên trò cười cho thiên hạ. Để sống hạnh phúc và vững tin vào Chúa, phải biết nhìn về bản thân, tha nhân và cuộc đời một cách hài hòa : có tốt mà cũng có xấu.

Thứ Tư, 9 tháng 11, 2016

Tại sao Giáo Hội bị ghét ?



Cuộc bầu cử ở Mỹ đã kết thúc và ông Donald Trump đã đắc cử. Điều đáng nói ở đây là cử tri Công Giáo Mỹ rất khó khăn trong cuộc bầu cử 2016 nầy vì cả 2 vị đều bác bỏ những giá trị đạo đức của Giáo hội Công giáo cách này cách khác. Theo thống kê cho biết, kể từ năm 1972 tới nay, ứng cử viên nào được người Công giáo bầu chọn thì đều đắc cử, trừ trường hợp Al Gore (Zenit 9.10.2016). Và theo tin tức VTV cho biết ông Donald Trump đã cưới người vợ thứ 3 từ 2005…

Để hiểu được lý do tại sao Chúa Giêsu và Giáo hội của Ngài ở trần gian luôn bị ghét bỏ và bắt bớ cho đến tận thế, xin trích bài viết của FultonSheen

Tại sao Giáo Hội bị ghét?


Tôi hân hạnh thuộc về một Giáo Hội người ta ghét. Đã hẳn, kẻ nhận biết bản tính thần linh của Giáo Hội thì yêu Giáo Hội.
Nhưng, kẻ tưởng Giáo Hội là lỗi thời, lạc hậu, dị đoan, ma thuật thì ghét Giáo Hội. Kẻ chịu ơn thiêng liêng của Giáo Hội, thì mến Người như Mẹ vậy. Các kẻ khác thì xua đuổi Người, hoặc ít là làm ngơ vậy. Các môn phái chia rẽ nhau về nhiều điều, nhưng hợp nhau trong sự coi Giáo Hội là kẻ thù chung.
Thế gian đối xử với Giáo Hội y hệt như đã đối xử với Đức KiTô. Ngài cũng được yêu mến, nhưng cũng bị ghét bỏ. Không có ai được quí trọng như Ngài, nhưng cũng không có ai bị khinh dể như Ngài.
Ta hãy nói về sự yêu ghét đối với Đức Kitô, rồi sẽ nói về sự yêu ghét đối với Giáo Hội.
Trong cuộc đời Chúa chúng ta, sự yêu và sự ghét đã tỏ lộ cách mãnh liệt, hơn bất cứ trong cuộc đời người nào khác. Ngài báo trước mình sẽ được yêu mến cũng như bị ghét dơ. Ngài nói người ta sẽ thờ phượng Ngài cũng như sẽ khinh dể Ngài. Ngài sẽ được yêu mến nhiệt tình và bị ghét dơ cực độ. Ngài bảo cho biết cuộc song đấu ấy sẽ kéo dài cho đến ngày thế mạt ; người ta sẽ dựng cho Ngài một cây thập giá, nhưng treo trên đó rồi, Ngài sẽ kéo những tấm lòng yêu mến lên với Trái Tim đầy bác ái của Ngài : “Khi nào Tôi bị treo lên, Tôi sẽ kéo mọi sự lên cùng Tôi ”
Ngài bảo người ta sẽ mến Ngài hơn cha mẹ yêu con cái, hơn con cái yêu cha mẹ. Như thế không có nghĩa là cha mẹ thôi yêu con cái, hoặc con cái thôi yêu cha mẹ. Nhưng có nghĩa là họ phải yêu nhau trong Ngài. Ngài không bảo ta phải bớt lòng yêu nhau, nhưng chỉ bảo phải mến Ngài trên hết. Như vậy, chẳng hợp lý sao ? Nào toàn thể chẳng hơn cá phần ? Ngọn lửa chẳng hơn tia sáng ? Vòng tròn chẳng hơn cánh cung ? Đền thờ chẳng hơn cây cột ? Đấng Tạo Hóa chẳng hơn các tạo vật ? Thiên Chúa chẳng đáng mến hơn mọi người sao ?

Hãy đi ngược dòng lịch sử, xem có người nào khi đã chết, còn được người ta yêu mến đến mức tế tự, cầu đảo chăng ? Trong mọi thời đại, Thánh Giá Chúa Giêsu vẫn thấm đầm nước mắt tình yêu… Các thế hệ đã hăm hở chạy đến cùng Cây Thánh Gía, và tuyên xưng như Thánh Phaolô xưa : “ Ai sẽ tách biệt chúng tôi ra khỏi tình yêu Đức Kitô ? Tôi tin rằng dù sự sống hay sự chết, dù Thiên thần, lãnh thần hay quyền thần ; dù tương lai hay sức mạnh ; dù sự cao sâu hay bất cứ sự vật nào, có sức tách biệt chúng tôi ra khỏi tình yêu Đức Giêsu Kitô Chúa chúng tôi ! ”
Điều ấy, Napoléon đã nhận ra, như các bậc vĩ nhân trước ông đã từng chân nhận. Trong cảnh cô đơn tại đảo Hélène, ông suy nghĩ về sự phù du đời mình cũng như đời Vua Louis XIV, khi ông viết “ Đại đế này chết đã từ lâu, quần thần bỏ mặc, có khi còn bị khinh rẻ, nay nằm to vo một mình trong lăng mộ. Ông không còn là chủ tể của họ nữa. Chỉ còn là cái thây trong quan tài. Đó cũng là số phận của tôi. Chẳng bao lâu nữa, sắp tới nơi rồi. Thật xa cách nghìn trùng, giữa số phận khốn khổ của tôi so với Vương Quyền Chúa Giêsu hằng được cao rao, yêu mến, tôn thờ khắp vũ trụ”.
Hoặc bạn có muốn thêm chứng cứ nữa chăng? Thì hãy đặt tay lên ngực mấy người quen rước lễ hằng ngày, tất sẽ thấy ngọn lửa tình yêu Chúa Giê Su nhóm lên tại đó. Hãy đến gõ cửa các Dòng nữ ẩn tu, như Dòng Cát Minh, Dòng Clara, để hỏi : “Tại sao các Chị vào Dòng, có phải vì thất tình chăng?” Lập tức các Chị trả lời : “Không, tôi vào đây không phải vì thất tình. Tôi chưa bao giờ thất bại về tình yêu. Mối tình đầu, cũng là mối tình duy nhất của tôi, đó là lòng kính mến Thiên Chúa, là Chúa của tôi.”
Tưởng không cần thêm chứng cứ nào nữa.

Chính sự khát khao một tình yêu toàn hảo, là cái dẫn ta đến Đấng đã dựng nên ta vì Ngài, và thiếu Ngài ta không thể hạnh phúc được. Ngài đã tìm kiếm trái tim hèn yếu của ta. Khác tất cả các trái tim đã từng sống động, Thánh Tâm Ngài đã được yêu mến trên hết mọi sự, hơn cả sự sống nữa. Ta có thể theo văn hào Pascal mà kết luận: “Chúa Giêsu đã muốn được người ta yêu mến. Ngài đã đạt, vậy Ngài là Thiên Chúa.”
Bây giờ, ta xét mặt khác về cuộc đời Chúa Giêsu: chính sự người ta ghét Ngài cũng minh chứng Ngài là Thiên Chúa.
Ngài nói Ngài sẽ bị thế gian ghét bỏ cho đến ngày tận thế. Thế gian đây, phải hiểu là tinh thần thế tục, mâu thuẫn với tinh thần Phúc Âm.
Hãy nhớ lại các giai đoạn đời sống của Chúa. Ngài vừa sinh ra được bốn mươi ngày, Cụ già đáng kính Simêon đã nói với Đức Mẹ rằng Ngài sẽ là dấu hiệu gây sự chống đối. Điều ấy, Thánh Gioan sẽ diễn tả sau này: “Ngài đã đến trong thế gian, nhưng thế gian không tiếp nhận.” Ngài chưa được hai tuổi, thì quân lính Vua Hêrôđê tuốt gươm hạ sát các Anh Hài vô tội, mà không hạ sát được Ngài. Đến tuổi trưởng thành, trước khi chịu nạn, Ngài nhìn thăm thẳm về những thế hệ tương lai, mà tiên báo là thế gian sẽ ghét Ngài. Mối thù ghét ấy theo sát bản thân Ngài, đến nỗi tất cả những kẻ yêu mến Ngài, cũng sẽ bị thế gian ghét bỏ nữa.
Ngài nói: “Nếu thế gian ghét các con, thì hãy biết rằng, nó đã ghét Thầy trước. Nếu các con thuộc về thế gian thì thế gian đã yêu các con như kẻ thuộc về nó. Nhưng vì các con không thuộc về thế gian, và Thầy đã kéo các con ra khỏi thế gian, nên nó ghét các con. Hãy nhớ lời Thầy bảo các con: đầy tớ không hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, thì cũng sẽ bắt bớ các con….Họ sẽ làm mọi điều ấy vì cớ danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy.”
Vậy, Ngài sẽ bị người ta thù ghét. Thật là một lời tiên tri kỳ dị!

Ngài đã làm gì nên tội chứ?
Ngài hiền hoà, khiêm nhượng hết lòng. Ngài hiến mạng để cứu dộ muôn dân. Phúc Âm của Ngài rao giảng sự thương yêu, đối với cả kẻ thù. Lúc hấp hối, Ngài tuyên bố tha thứ cho những kẻ giết hại Ngài. Người ta đã ghét Ngài vô cớ, như Ngài đã nói trước. Ngài chữa các thương tật, lại bị đả thương. Ngài cho kẻ chết sống lại, lại bị giết chết. Ngài cải ác khuyến thiện,mà lại bị đóng đinh thập giá. Ngài đem sự sống thần linh hoà giải loài người, mà bị kẻ thù hạ sát vũ nhục.
Còn những kẻ yêu mến Ngài, tại sao cũng bị ghét nữa?
Họ phải sống nghèo như Ngài đã sống nghèo.Họ ước ao nên hoàn thiện như Cha trên trời, và khiêm nhượng như Chúa Giêsu, là Đấng đã rửa chân cho họ. Họ vui mừng khi bị bách hại. Họ chúc phúc cho người trù rủa. Lời trù rủa ấy dường như chứng minh cho sự lương hảo của họ. Bùn nhơ kẻ xấu ném họ, dường như lại công nhận họ là người trong sạch.
Một đời sống như thế, một giáo lý như vậy, thật không có gì là đáng ghét.
Vậy phải tìm lý do sự ghét dai dẳng ấy ở nơi khác.

Có kẻ cho Chúa Giêsu là phỉnh gạt, và Phúc Âm là gian dối. Nếu quả như thế, thì chúng tôi đã lầm, và kẻ kia có lý. Nếu sự ghét Chúa là chính đáng, thì nó phải canh tân xứ sở, cải hoá nhân tâm, làm nên những điều vĩ đại. Thành tích mỹ hảo của nó ở đâu? Nó đã giải thoát dân nào khỏi đồi phong bại tục? Nó đã khích lệ , an ủi được bao nhiêu tâm hồn? Đâu là nữ tu bác ái, nữ tu người nghèo của nó? Sự ghét Chúa có sản sinh anh hùng tuẫn nghĩa, thiếu nữ đồng trinh, gia đình hạnh phúc chăng?!!
Có biết bao người chết sầu não, bao linh hồn đói Bánh Trường Sinh, bao linh hồn tội lỗi cầu ơn tha thứ. Sự ghét Chúa có đem lại sự an ủi, nhân ái, an bình chăng?
KHÔNG.
Người ta gán cho Chúa Giêsu sự lừa gạt để ghét Ngài. Nhưng đó chưa phải là cội gốc đâu. Trải qua các thời đại, đã có quá nhiều nhà trí thức nghiên cứu về Đức Kitô và thờ lạy Ngài; nên không thể chấp nhận Ngài là kẻ lường gạt được.
Vậy giải thích sự hiềm khích kia thế nào?
Phải tìm lý do trong một đức tính, mà chỉ một mình Ngài sở đắc. Chưa hề có người nào bị ghét cay ghét đắng cho bằng Chúa Giêsu. Chưa có Vị Giáo Tổ nào báo trước mình sẽ bị ghét, và thực tế đã bị ghét bỏ. Người ta không ghét Đức Phật, Đức Khổng hay Ông Mahômet. Một ít người bị ghét lúc sinh thời như Neron, Hốt Tất Liệt, hay Bismark. Nhưng ngày nay, còn có ai nghĩ đến ghét họ nữa!
Chẳng còn ai đe, xúc phạm mộ Neron. Cũng chẳng còn ai sỉ mạ Bismark nữa. Họ chết là hết bị ghét. Cả Hoàng Đế nước Đức, sau thế chiến thứ nhất, bị nhân dân và thế giới vũ nhục, nay cũng không còn ai ghét nữa.
Sự thù ghét đối với mọi người đã tiêu tan, mà sao đối với Chúa Giêsu vẫn tồn tại? Đâu là lý do?
Vậy, căn nguyên sự ghét là gì?
Đó là những cái ngăn cản thị dục người ta.
Tại sao người ta ghét Neron khi Ông còn sống? Là vì sự phóng dật của Nhà Vua, ngăn cản dân Rôma thiết lập nền công bằng xã hội. Nay sự phóng dật ấy đã nát trong mồ, nên không ai ghét nhà Vua nữa.
Chẳng còn ai ghét, ai khinh Tibère, Domitien, Ivan và Nestorius nữa. Bởi vì không còn ai là những chướng ngại vật.
Nhưng về Chúa Giêsu thì khác hẳn.
Hai mươi thế kỷ đã qua, sự ghét Ngài vẫn chưa nguôi. Lý do: vì Ngài còn là một chướng ngại vật làm cản trở tội lỗi, tính ích kỷ, thuyết vô thần và tinh thần thế tục.
Tinh thần Đức Kitô còn tiếp tục hoạt đông nơi những kẻ mến Ngài.
Ngài phản đối các dân không muốn nhìn nhận Thên Chúa.
Ngài quở trách kẻ ơ hờ bỏ việc cầu nguyện, kẻ tội lỗi không chịu sửa mình.
Ngài là Đấng Thiên Chúa, không chịu xuống khỏi thập giá, để được hoan hô nhất thời.
Ngài là tiếng nói thúc giục những tâm hồn bất an, từ bỏ tinh thần thế tục, để thủ đắc sự tự do của con cái Thiên Chúa.
Đức Kitô còn, thì sự thù ghét Ngài vẫn còn.
Nếu Ngài còn mãi, sống mãi, thì Ngài phải là Thiên Chúa.
Vì thế, môn đệ của Ngài còn bị bách hại, bao lâu tinh thần thế tục chưa bị tiêu trừ.Nhưng khi tinh thần ấy bị tiêu trừ thì chúng ta toàn thắng.
“Trong thế gian, các con sẽ đau khổ, nhưng hãy trông cậy, vì Thầy đã thắng thế gian.”
Đó là lý do Giáo Hội bị người ta ghét.
Chúa chúng ta được yêu mến nồng nhiệt và ghét dơ dữ dội, vì Ngài là Thiên Chúa. Người ta ghét Ngài, là bởi người ta ghét tình yêu tuyệt vời của Thiên Chúa. Giáo Hội là tổ chức thông ban sự sống của Thiên Chúa, nên mới bị thù ghét đến như vậy.
………….
Thời nay, nếu Bạn muốn gặp Chúa Giêsu, xin hãy tìm đến Giáo Hội, và Giáo Hội không chịu thích nghi với thế gian đâu.
Hãy tìm đến Giáo Hội mà thế gian ghét bỏ như nó ghét bỏ Chúa Giêsu. Giáo Hội bị tố cáo là lạc hậu như Chúa Giêsu bị tố cáo là vô học.
Hãy tìm đến Giáo Hội mặc dù Giáo Hôi bị khinh khi, vì giáo dân không có địa vị cao trong xã hội. Như người xưa đã chế nhạo Chúa Giêsu, vì là người Nazaret.
Hãy tìm đến Giáo Hội, mặc dù Giáo Hội bị tố cáo là quỷ ám, cũng như Chúa Giêsu bị tố cáo là đồ đệ của quỷ vương.
Có kẻ cuồng tín, chủ trương phải nhân danh Thiên Chúa mà huỷ Giáo Hội đi; cũng như xưa kẻ đóng đanh Chúa Giêsu tưởng làm như vậy là phụng sự Thiên Chúa.
Thế gian chối bỏ Giáo Hội khi Giáo Hội công bố mình bất khả ngộ, cũng như Philatô chối bỏ Chúa Giêsu, khi Ngài tuyên bố Mình là Chân Lý. Thế gian xua đuổi Giáo Hội như đã xua đuổi Chúa Giêsu. Nhưng Giáo Hội được con cái yêu mến, ngang với Chúa Giêsu, mặc dầu họ rất khác nhau về tư kiến.
Tiếng nói của Giáo Hội là tiếng nói của Đấng Sáng Lập.
Bạn hãy vâng nghe. Rồi Bạn sẽ hiểu; thế gian ghét Giáo Hội, vì Giáo Hội không thuộc về thế gian. Và nếu Giáo Hội không thuộc về thế giới này, thì thuộc về một thế giới khác. Và bởi Giáo Hội thuộc về thế giới khác, thì Giáo Hội được yêu mến vô cùng và cũng bị ghét bỏ vô cùng, như chính Đức Kitô vậy.
Nhưng chỉ có sự gì thuộc về Thiên Chúa, mới được yêu mến vô cùng, hoặc bị ghét bỏ vô cùng.
Vậy phải kết luận: Giáo Hội thuộc về Thiên Chúa, Giáo Hội là cuộc sống Đức Kitô kéo dài trong thế giới. Vì thế, chúng tôi yêu mến Giáo Hội, chúng tôi hy vọng được chết trên cánh tay lành thánh của Giáo Hội./-

Thứ Hai, 7 tháng 11, 2016

Bản lý lịch




Có một lần đi làm thẻ chứng minh nhân dân cho đứa con.Trong bản lý lịch của đứa con, tôi thấy có nhiều điểm bất lợi, nhưng vẫn phải chấp nhận như là định mệnh và vì Danh Chúa: Nguyên quán Nghệ Tĩnh và Thiên Chúa giáo. Còn nhiều điều khác nữa mà mỗi người chúng ta không có quyền lựa chọn khi sinh ra: quốc tịch, gia đình, cha mẹ, anh chị em, mã gen di truyền.


Bản lý lịch của Chúa Giêsu còn thê thảm hơn nữa. Sinh ra trong một chuồng súc vật ngoài đồng và lớn lên trong một gia đình vô danh nghèo nàn, thuộc một dân tộc đang chịu ách nô lệ, và lại còn bị lên án xử tử như một phạm nhân. Lúc đương thời, Ngài cũng làm được nhiều phép lạ, rao giảng giáo lý rất thuyết phục, nhưng nhóm môn đồ thì chẳng có học thức hay địa vị xã hội và đến giờ chết thì mọi người bỏ chạy hết : thất bại và cô đơn… Ấy thế mà từ trong cõi chết, 3 ngày sau Chúa Giêsu đã sống lại để mở ra một con đường sống cho muôn người. Và Chúa Thánh Thần đã được sai đến để đổi mới mặt địa cầu, để xây dựng một Giáo hội mà Chúa Giêsu đã thiết lập được vững vàng đến ngàn thu. Chúa Giêsu đã nói đến 3 định luật giúp ta hiểu mọi hành động của Ngài ở trần gian nầy : định luật “hạt lúa mì có mục nát thì mới sinh nhiều bông hạt”, định luật ‘vâng theo ý Cha’ và định luật ‘Không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người hiến mạng vì bạn hữu”. Đó là sự tự hạ và tự hiến vì yêu thương nhân loại.

Thánh Phaolô có rất nhiều điều ưu việt trong bản lý lịch, nhưng Ngài đã coi mọi sự là thua thiệt trước cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô, vì Chúa ông đành mất mọi sự và coi mọi sự là phân bón. Biến cố ngã ngựa trên đường Damas đã thay đổi hoàn toàn cuộc sống của Phaolô vì ông được Chúa Giêsu biến đổi. Bước ngoặt của cuộc đời Thánh Phaolô được xem như bằng chứng gián tiếp của sự kiện Chúa Phục Sinh, vì nếu không có sự can thiệp của ơn Thánh thì không  ai hiểu nổi cuộc đời ông Phaolô ! Vì sự trở lại của ông không phải là kết quả của suy tư, hối cải hay gặp gỡ một nhà giảng thuyết nào đó, tất cả đã thay đổi chỉ vì một cú ngã ngựa và gặp gỡ Chúa Giêsu mà ông đang bắt bớ. Sau đó, ông Phaolô rút vào sa mạc một thời gian và được Chúa Giêsu trực tiếp mạc khải toàn bộ sứ điệp cứu rỗi.

Với bản tính con người,  ai cũng sợ đau, sợ đói rét thiếu thốn, sợ bị bỏ rơi, không được yêu thương, sợ bệnh và sợ chết. Chúa mời gọi ta đi vào luận lý của tình yêu và của thập giá. “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mỗi ngày mà theo Ta. Không ai có thể theo Ta khi vẫn còn ham lợi danh. Ai liều mạng sống vì Ta sẽ được gấp trăm lần”. Chúa còn dạy thêm: muốn được cứu độ, phải đi qua cửa hẹp bằng việc sống theo những lời dạy của Chúa. Thập giá tự nó là một điều ô nhục, nhưng đã được Chúa Kitô dùng để diễn tả tình yêu, nên đã trở nên ngọn cờ chiến thắng tội lỗi và sự chết.

Các Thánh Tử Đạo VN đã cam lòng chịu chết mà không oán hận, đã lấy tình yêu đáp lại tình yêu, đã khước từ ân lộc vua ban vì xác tín vào sự sống đời sau. Từ 20 thế kỷ nay, trên khắp thế giới, biết bao người đã tận hiến đời mình để đi loan báo Tin Mừng trên những miền xa lạ, biết bao tu sĩ nam nữ từ bỏ cuộc sống dễ dãi bình thường để sống trong các tu viện, biết bao giáo dân âm thầm phục vụ trong các giáo xứ. Ơn Chúa ban đã giúp họ kiên trì trong việc phục vụ Giáo hội và tha nhân cách bền bỉ với lòng hân hoan vì được nên giống Thầy mình. Bí quyết của lòng kiên trì ở đây là việc chiêm ngắm cuộc đời của Chúa Giêsu. Đức Phanxicô nói với ta rằng : người Kitô hữu phải thể hiện niềm vui và niềm hy vọng, vì được là con cái Thiên Chúa, được Chúa yêu thương và đồng hành.

Chỉ có cầu nguyện, chúng ta mới hiểu được con đường tự hạ và tự hiến để nên giống Chúa Giêsu. Điều khó từ bỏ nhất đó là ý riêng mình. Người ta thường khó chịu khi cha xứ có những thay đổi trong giáo xứ, xét cho cùng ta khó chịu vì  phải từ bỏ ý riêng mình và vì lòng kiêu ngạo. Hãy khiêm tốn vâng phục và tạ ơn Chúa vì đã cho cơ hội rèn luyện. Đến một lúc nào đó, khi ta không thể làm điều mình muốn vì bệnh tật và tuổi già, và khi giờ chết đến, ta phải chấp nhận điều ta không muốn cũng chẳng được. Chính vì vậy trong cuộc sống Chúa luôn thánh hóa ta bằng những biến cố cuộc đời, Chúa luôn ban cho ta cơ hội tập từ bỏ ý riêng mình, hãy tạ ơn Ngài khi Ngài ban cơ hội.

Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2016

Có sự sống đời đời hay không ?




Câu hỏi nầy thường gắn liền với một câu hỏi khác mang tầm vóc lớn hơn : “Có Thiên Chúa hay không ? Từ trong thâm tâm mỗi người, Thiên Chúa đã gieo mầm khát khao tìm chân lý, tìm ý nghĩa cuộc đời. Có thể nói rằng đa số người trên thế giới đều tin rằng ‘chết không phải là hết’, nhưng ‘đời sau’ của mỗi tôn giáo lại rất khác nhau. Kitô giáo dựa vào mạc khải của Chúa để tin rằng : đời người chỉ có một kiếp với hai giai đoạn, được chia cắt bởi cái chết thể lý và sau đó là cuộc sống vĩnh cửu viên mãn, có sự thưởng phạt tương xứng với cuộc sống khi ở nơi dương gian: tựa như con bướm sặc sỡ được lột xác từ một con sâu xấu xí. 

Thời Chúa Giêsu, câu hỏi ‘có sự sống đời sau hay không’ đã được đặt ra. Trong sách TĐCV có hai câu chuyện xảy ra với Thánh Phaolô. Chuyện thứ nhất là khi Thánh nhân đến vùng Hilạp, dân chúng ở đó thờ rất nhiều vị thần và có một bàn thờ kính Đấng Vô Danh. Thánh Phaolô nói cho họ biết Đấng Vô Danh đó là Thiên Chúa, đã tạo dựng trời đất, đã sai Con của mình đến trần gian là Đức Giêsu, Đấng đã chịu chết và sống lại để muôn người được sống mãi . Nghe đến chuyện người chết sống lại thì họ bắt đầu la ó và bỏ về, vì họ không tin có sự sống đời sau. Chuyện thứ hai xảy ra lúc Thánh Phaolô bị cầm tù, bị điệu ra trước công nghị Do Thái để xét xử. Thánh nhân biết rõ trong công nghị có phái Sadoc không tin vào sự sống lại và cũng có những người Pharisêu và nhóm Biệt Phái tin vào sự sống lại. Ông Phaolô lên tiếng biện hộ cho mình rằng: Thưa quý vị, tôi là người Do Thái, là một người thuộc nhóm Biệt Phái, tôi bị điệu đến đây cũng vì niềm tin vào sự sống lại. Nghe đến đây thì cử tọa chia làm hai phe và thánh Phaolô được đem về phòng giam để tránh sự nguy hiểm đến tính mạng.

Khi Chúa Giêsu đi rao giảng Tin Mừng, có nhiều người tò mò về chuyện đời sau, họ đặt nhiều câu hỏi để mong tìm được 'đường tắt' để vào nước trời : khi nào thì Nước Thiên Chúa đến, có phải rất ít người được cứu hay chăng, xin sai ông Lazarô về báo tin cho những người kia thay đổi cuộc sống. Chúa Giêsu biết rõ tính toán của loài người, nên Chúa tuyệt đối giữ bí mật về 'chuyện đời sau', Chúa chỉ nói về cách thức để về trời : bước theo Chúa 'là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống". Chúa Giêsu đã chết vì loài người và sự sống lại của Ngài là hoa quả đầu mủa của những kẻ an giấc : "Ai tin vào Ta sẽ không bao giờ phải chết !".
Ngày hôm nay, hầu như ai, kể cả người vô thần cũng tin rằng : chết không phải là hết, con người vẫn tồn tại cách linh thiêng. Tuy vậy niềm tin nầy không đủ mạnh để thúc đẩy người ta điều chỉnh cuộc sống và đi tìm chân lý. Niềm tin Kitô giáo dạy rằng : chết là trở về bên Chúa, chịu phán xét và thưởng phạt. Ngay cả chúng ta đôi khi cũng nói đùa với nhau : “Không biết có sự sống đời sau hay không, vì chẳng ai làm chứng”- Xin thưa rằng, cả pho Kinh Thánh, cả Cựu Ước và nhất là Tân Ước, đều nói về sự sống của linh hồn, đến sự thưởng phạt của Thiên Chúa. Mà Kinh Thánh là lời mạc khải của Thiên Chúa và Lời Chúa thì không thể sai lầm được.
Xin Chúa cho niềm tin của chúng ta được vững vàng, vì chính niềm tin vào sự sống đời sau sẽ giúp chúng ta định hướng đời mình để sống đạo đức và lành thánh, vì biết rằng chúng ta phải trả lẽ về cuộc sống ở trần gian nầy. Chúa là Đấng Nhân Từ, nhưng Chúa cũng là Đấng chí công, Đấng thấu suốt tâm can con người. Nhiều câu chuyện trong Tin Mừng Chúa đã nói rõ là có nhiều người bị từ chối tham dự bàn tiệc nước trời vì họ đối xử không tốt với anh em và vì họ không sống theo lề luật của Chúa.

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2016

CÒN GÌ KHÔNG BUÔNG XUỐNG ĐƯỢC ĐÂY ?


Một nhà doanh nghiệp rất nổi tiếng, cứ cách một đoạn thời gian, ông lại dẫn theo vợ con đến nơi hỏa táng để xem. Có người không hiểu, hỏi ông nguyên do. Ông nói rằng, chỉ cần đến nơi hỏa táng, cái tâm nóng nảy sẽ rất mau chóng an tĩnh lại, thấy danh lợi tiền tài thật nhẹ nhàng.
Ở nơi hỏa táng này, không kể bạn là quan to quý tộc quyền cao chức trọng, uy danh hiển hách hay là một người dân bình thường, nghèo rớt mồng tơi, không ai biết đến, cuối cùng đều sẽ phải đến đây, chung một tư thế, lặng yên nằm xuống, sau đó bị đưa vào bên trong lò hỏa táng đang bốc cháy ngùn ngụt, khi trở ra lần nữa, thì chỉ là một chiếc hộp vuông nho nhỏ được bọc trong tấm vải đỏ.

- Khi đến chẳng mang theo thứ gì, khi đi chỉ như một làn khói. Đời người chính là đơn giản như vậy! Vinh hoa phú quý phút chốc thoáng qua, ân ái tình thù cũng chỉ như cát bụi.
Hôm nay sống trong một thế giới vật chất dục vọng tràn lan, bên cạnh chúng ta là đầy những cám dỗ mê hoặc: quyền lực, địa vị, tiền bạc, mỹ sắc…, hễ không cẩn thận, thì trong tâm sẽ dậy sóng. Nội tâm chúng ta vốn dĩ trong sáng, thuần tịnh, bình lặng sẽ trở nên ngông cuồng, ngạo mạn và tư lợi.

- Khi bạn cảm thấy hiện thực và lý tưởng có sự chênh lệch,
Khi bạn cảm thấy uất ức thương tâm, không có người hiểu bạn,
Khi bạn vì ân oán tình thù mà canh cánh trong lòng,
Khi bạn vì lợi ích được mất mà so đo tính toán,
Khi bạn khom lưng chau mày đối với quyền thế,
Khi bạn vì địa vị cao thấp mà mưu tính hại nhau…,  
sao bạn không đi đến nơi hỏa táng xem thử, đối diện với một nắm tro bụi, bạn còn có gì không buông xuống được đây?
 (Nguồn http://hoangfamily.biz/p29a2520/con-gi-khong-buong-xuong-duoc-day-)

Suy tư :
Tháng 11 hằng năm là tháng dành riêng để cầu nguyện cho các linh hồn nơi chốn luyện hình. Các Giáo xứ thường tổ chức những Thánh lễ nơi nghĩa trang để gần gũi với các phần mộ những người thân yêu đã đi trước, và đó cũng là dịp tốt để nghĩ về sự chết và sự sống đời sau.

Sự chết là định luật tất yếu của mọi người, không có luật trừ. Cuộc đời tuy vắn vỏi, nhưng lại là mầm gieo sự sống vĩnh cửu mai sau. Mỗi người sống mỗi cảnh và chết mỗi cách khác nhau, nhưng chết là một cách để trở thân xác trở thành tro bụi. Và tro bụi này mang nét riêng và hình hài cụ thể, chờ ngày được kết hiệp lại với linh hồn để hưởng phúc trường sinh.
Tôi nghĩ đến hai cái chết trong lịch sử Cứu Độ. Một là cái chết của Thánh Giuse, cha nuôi Chúa Giêsu. Kinh Thánh không nói gì về một câu nói hay về cái chết của Thánh Giuse, người ta cho rằng Ngài đã mất trong khoảng thời thơ ấu của Chúa Giêsu. Thánh Giuse có lẽ chết vì bệnh, có Chúa Giêsu ở đó ...vậy tại sao Chúa không làm phép lạ? Thánh Giuse có chết êm ái hay vật vã vì đau đớn? - Không ai biết được, và điều đó có lẽ không quá quan trọng, nhưng điều chắc chắn là Thánh cả rất bình an như Ngài đã từng chấp nhận ý Chúa định liệu. Và cái chết vĩ đại nhất trong lịch sử cứu độ là cái chết của Chúa Giêsu : cái chết tự nguyện và hiến mạng vì bạn hữu, đánh bại thần chết để mở đường sống lại cho muôn người. Chúa đã dạy: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống”(Ga 11,25).

Như vậy, người khôn ngoan và thành công trên đời này là người tin vào Chúa Giêsu. Cha PM. Cao Huy Hoàng nói : Người thành công nhất là người chết trong Chúa Kitô để được sống lại với Người (chết với tội để bước theo Chúa Kitô trong cuộc sống dương gian, cũng như chết trong tình trạng sẵn sàng của người sạch tội trọng). Đức Phanxicô nói: Nên thánh là ơn gọi dành cho mọi người. Thánh nhân không phải là những người làm được những điều to lớn cho Giáo hội và xã hội mà nhất là những người sống cuộc đời kitô trong đức tin và tình yêu tràn đầy qua cuộc sống đơn sơ và kín ẩn. Sự thánh thiện mà đôi khi không lộ hiện trong các công trình to lớn hay các thành công ngoại thường, nhưng biết sống một cách trung thành mỗi ngày các đòi hỏi của bí tích Rửa Tội. Một sự thánh thiện được làm bằng tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Tình yêu trung tín cho tới chỗ quên chính mình để tận hiến hoàn toàn cho các người khác, như cuộc sống của các bà mẹ, các người cha hy sinh cho gia đình, bằng cách biết sẵn sàng từ bỏ biết bao nhiêu điều, và biết bao dự tính hay các chương trình riêng, mặc dù đó không luôn luôn là điều dễ dàng (Bài giảng ngày 1.11.2016 trong chuyến tông du Thụy Điển).

Tháng cầu cho các linh hồn là dịp tốt để mỗi người nghĩ về sự chết của chính mình, nhờ đó định hướng lại lối sống và cách hành xử của mình. Hãy nghe vài câu nói tuy ngắn gọn nhưng là đúc kết cả một tư duy đầy triết lý sống “ Tôi coi mọi sự là thua thiệt trước cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu, Chúa tôi”. “Thành công lớn nhất trong đời người là nên thánh” (Thánh Phaolô và Thánh Gioan Phaolô 2)

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2016

Trò đùa ?




Ngày 01.11.2106, chương trình TV có đưa lên bản tin nói về việc trong cộng đồng mang lan truyền một tin đồn : “Từ ngày 1.11.2016  đến ngày …. Tại một số địa điểm cụ thể ở Hà Nội một số cô gái trẻ sẽ cho ‘sờ vú’ thoải mái với giá 50.000đ để thu tiền giúp nạn nhân bão lụt”, và cụ thể những con đường nơi ấy đã bị kẹt xe vì có quá nhiều người đến”. Nhưng đây chỉ là tin vịt.
Điều nầy làm ta nhớ lại một nguyên tắc luân lý của Kitô giáo: Mục đích không biện minh cho phương tiện. Ví dụ ta không thể vì thương người nghèo mà lại đi ăn trộm của người giàu, không thể vì thương một cô gái mồ côi nghèo mà hủy bỏ mối dây hôn phối với vợ mình, không thể nghĩ rằng mình nghèo nên đi lấy của cải người khác. Một hành vi tốt và phương tiện cũng phải tốt mới tạo nên một việc nên làm. Nhiều người mua vé số chỉ vì thương người nghèo, nhưng cũng có người lập luận: mình đi … ôm cũng là việc tốt vì giúp người ta.

Tuy chỉ là một trò đùa của một ai đó, nhưng cũng là một phép thử cho lương tâm con người. Tôi nghĩ nhiều người đã xếp sẵn ít là vài trăm nghìn để tận hưởng niềm vui. Thực ra, đã là con người với bản tính mỏng dòn yếu đuối thì ai cũng dễ sa ngã, nên người khôn ngoan phải biết tránh dịp tội : “Tẩu vi thượng sách”. Tránh bạn xấu, tránh những hoàn cảnh ở một mình với người khác phái, phim ảnh nude, khiêu vũ. Ma quỷ dùng thủ đoạn phù hợp với từng người : tiền bạc, danh vọng, nhục dục, kiêu ngạo, thất vọng, hận thù… Hòng lôi kéo các tâm hồn về phe chúng.
Trong tuần vừa qua, các bài đọc thường niên ngày thường, Giáo hội cho chúng ta nghe thư gửi tín hữu Êphêsô, là một tổng hợp về cách ăn nết ở của các thành viên trong gia đình. Thánh Phaolô dạy: “Anh em hãy đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô”. Đúng là những lời thật đẹp và dễ nhớ.

Nhiều gia đình ở miền quê đã xảy ra cảnh ly dị và ly thân (một người bỏ đi đâu đó). Dĩ nhiên là có nhiều lý do, nhưng một trong lý do đáng tiếc là một trong hai người phối ngẫu sa đà theo đuổi đam mê của mình: cờ bạc và đề, nát rượu dẫn đến lè nhè và lười biếng, tinh thần gia trưởng và không tôn trọng tự do người bạn đời.


Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Êphêsô có dạy: “Chồng hãy yêu thương vợ như Đức Kitô đã yêu thương và hiến mình vì Hội Thánh. Vợ hãy phục tùng chồng như phục tùng Chúa. Con cái hãy vâng lời cha mẹ” (Eph 5,21-33). Nhiều người đàn ông thường trích chỉ một câu ưa thích ‘vợ hãy phục tùng chồng’ mà quên mất phần của mình là ‘yêu thương vợ như Đức Kitô đã yêu đến hiến thân mình’.

Ngày nay, người ta kém tinh thần chịu đựng và cam chịu hơn xưa, nên các gia đình xảy ra xung đột nhiều hơn. Một mối liên hệ tình cảm bền vững phải có sự cộng tác từ hai phía. Một gia đình cũng vậy, nó chỉ bền vững khi cả hai người cùng biết tôn trọng tự do của người kia. Muốn vậy mỗi người phải tự trọng và tự hạn chế những tự do quá trớn của mình khi nó gây hại cho hạnh phúc của bạn mình. Ai có lỗi thì phải nhận lỗi và sửa đổi, đó mới là bình đẳng nam nữ. Người đàn ông thường trích câu ‘chồng chúa vợ tôi’ để lấn át vợ trong mọi quyết định và cách hành xử của mình: vợ phải tuân lời mình dù đó là lời ngu ngốc và lệnh truyền bất hợp lý.

Gia đình bền vững đòi hỏi 2 người phối ngẫu bình quyền trong mối quan hệ : mỗi người phải yêu thương tôn trọng người kia, mỗi người phải tự trọng và giảm thiểu những tự do quá trớn, phải biết nghĩ đến niềm vui và nỗi buồn của người bạn đời. Gia đình có một nhiệm vụ quan trọng : chuyển giao niềm tin cho con cái. Niềm tin vào cuộc đời và nhất là niềm tin vào Thiên Chúa. Điều này chỉ có thể thực hiện khi cha mẹ sống tốt với nhau và yêu thương con cái : tình thương của cha mẹ với con cái sẽ giúp con cái hiểu được tình thương của Cha trên trời.