Danh sách Blog của Tôi

Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2022

Suy đi nghĩ lại trong lòng

 



Mẹ Maria được Thiên Chúa tuyển chọn và Mẹ đã được thánh hiến để trở thành Mẹ Đấng Cứu Thế. Ai cũng thích được tuyển chọn vì việc tuyển chọn thường gắn liền với những đặc ân. Trong bài Tin Mừng Lc 2,41-51, Mẹ không được miễn cho sự không hiểu những kế hoạch của Thiên Chúa đang thực hiện. Mẹ suy đi nghĩ lại trong lòng những lời Chúa truyền và những việc Chúa làm, nhờ đó đức tin nơi Mẹ được lớn lên.

Suy đi nghĩ lại trong lòng là một thói quen tốt, do tập tành mà có. Thói quen này liên quan đến sự thinh lặng nội tâm, đến sự hồi tâm, và là một yếu tố cần thiết cho sự lớn lên của tâm hồn. Con người thời đại thường trốn chạy sự thinh lặng, vì lúc đó họ phải trở về căn nhà nội tâm, phải đối diện với những câu hỏi không dễ trả lời về tội lỗi của mình, về sự sống sau cái chết. Để khỏi phải suy nghĩ, con người thường chọn lối sống ồn ào với giải trí, nghe và đọc bất cứ thứ gì, ăn nhậu hoặc tán phét lâu giờ. Nếu không tập thói quen suy đi nghĩ lại những câu chuyện đang xảy ra trên thế giới và của riêng mình, ta khó nhận ra những dấu vết của Chúa để lại, không hiểu được chương trình Chúa đang thực hiện và ta khó trở thành người sâu sắc trong nhận thức. Rick Warren nói: “Tai họa lớn nhất của lối sống hôm nay là cách suy nghĩ ngắn ngủi. Để có một cuộc sống tốt đẹp nhất, bạn phải giữ một cái nhìn liên lỉ về cõi vĩnh hằng trong tâm trí và phải ấp ủ các giá trị của nó trong tâm hồn".

Nếu chỉ dựa vào lý trí đơn thuần, con người không hiểu thấu nhiều vấn đề của thế giới siêu hình, và nhờ kho tàng mạc khải, ta có thể hiểu thêm một cách tương đối nhiều ‘sự thật’ về Thiên Chúa và về bản thân mình. Về Thiên Chúa: Ngài là Tình Yêu, chính tình yêu là chìa khóa giúp ta hiểu cách hành động của Chúa. Về bản thân ta: Rick Warren viết “Bạn được sinh ra trên cõi đời này là do Thiên Chúa muốn và dự liệu, không có gì là tình cờ và ngẫu nhiên cả. Có thể cha mẹ bạn không tiên liệu việc bạn ra đời, nhưng với Chúa thì có đấy! Người tạo dựng bạn để có thể yêu bạn. Cha mẹ bạn có đúng loại AND mà Thiên Chúa cần để tạo nên bạn”. Một nhà thần học kể lại một sự kiện hy hữu đã xảy ra với ngài: lúc còn nhỏ, ngài và đám bạn nhặt được một trái gì đó rất cứng, ngài chạy về nhà lấy được một con dao để bổ ra xem có gì bên trong; mẹ ngài lấy làm lạ nên chạy theo xem chuyện gì đang xảy ra, thì ra một đám trẻ con với một quả lựu đạn! Sau này, ngài cứ suy nghĩ mãi về biến cố này và hiểu được rằng Chúa cho mình sống là để phục vụ Ngài. Mỗi người chúng ta, nếu biết suy đi nghĩ lại, sẽ thấy những ơn lành Chúa ban cho mình là quá nhiều, có điều là mình thường quên cám ơn Chúa và đáp lại những hồng ân đó bằng một lối sống tốt đẹp hơn, yêu Chúa nhiều hơn.

Cách đây chừng 50 năm, các nhà khoa học rất hăm hở với lý thuyết: có thể có một hành tinh nào đó có sự sống, có con người, hoặc có những điều kiện để con người có thể di cư đến sinh sống. Sau những nghiên cứu và thử nghiệm họ nhận ra rằng: để sự sống có thể tồn tại, một hành tinh nào đó phải có khoảng 200 tiêu chí như trái đất đang có, và họ nhận ra rằng trái đất quá kỳ diệu và có sự an bài lạ lùng để con người sinh sống. Ví dụ: Khoảng cách giữa trái đất và mặt trời, khoảng cách mặt trăng và trái đất, độ lớn của trái đất tương ứng với tầng khí quyển. Một nguyên tắc chính giúp các nhà khoa học dựa vào để nghiên cứu vũ trụ là luôn luôn có một trật tự trong mọi sự. Khi thấy có một hiện tượng nào đó khác với những định luật đã được khám phá, các nhà khoa học tập trung vào nghiên cứu thêm và họ lại khám phá ra những định luật mới, rất trật tự và rất kỳ diệu, và nhiều nhà khoa học đã nhận ra Đấng Tạo Thành nên vũ trụ này. Có lẽ vì không còn hy vọng tìm được một hành tinh có sự sống, trong tỷ tỷ hành tinh trong vũ trụ này, ngày nay chẳng thấy ai nói đến đề tài này nữa. Khi nghe trình thuật Thương Khó của Thánh Gioan, chúng ta nhận ra rằng: Chúa Giê su là Đấng Cứu Thế, chính cuộc Thương Khó của Ngài đã hoàn thành biết bao điều đã được loan báo cả 1000 năm trước!



Mỗi người Kitô hữu, khi lãnh nhận phép rửa tội đều trở nên con cái Thiên Chúa, dòng giống được lựa chọn, nhưng không miễn khỏi những cám dỗ và những mù mờ trong hành trình đức tin. Hãy cầu xin ơn soi sáng, hãy dùng Lời Chúa để suy gẫm và xin Mẹ chuyển cầu để mỗi ngày tâm hồn ta trở nên đền thờ của Chúa và biết hiến dâng thân mình làm của lễ sống động thánh thiện đẹp lòng Thiên Chúa.

 

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2022

Đấng Cứu Độ

 



Ngày kia, một linh mục đang giảng tuần đại phúc; vừa kết thúc, một người lạ đến gặp ngài và nói, “Tôi không thích cách cha nói về thập giá; thay vì nhấn mạnh sự chết của Chúa Giêsu, tốt hơn, cha nên rao giảng về một Chúa Giêsu, người thầy và là một gương mẫu”. Vị linh mục trả lời, “Nếu tôi trình bày Chúa Kitô theo cách đó, anh có sẵn lòng theo Ngài không?”; “Chắc chắn tôi sẽ theo Ngài”, người lạ nói không do dự. “Được”, vị linh mục nói, “Hãy làm bước đầu tiên, Chúa Giêsu không bao giờ phạm tội! Anh có thể khẳng định điều đó cho chính mình không?”. Người đàn ông bối rối và có phần ngạc nhiên, “Sao? Không!”, anh nói, “Tôi tội lỗi”. Vị linh mục trả lời, “Đó, vậy thì nhu cầu lớn nhất của anh là có một Đấng Cứu Độ chứ không phải một gương sáng!”.

Bạn và tôi, chúng ta tin và theo Chúa Giê su trước hết vì Người là Đấng Cứu Độ, và vế sau là chúng ta nhìn vào cách sống của Người để uốn nắn đời ta nên giống như Người. Trong những bài giảng đầu tiên của Thánh Phê rô, được ghi lại trong sách CVTĐ, có những lời rất xác tín về vai trò cứu độ của Chúa Giê su: “Anh em đã giết Đấng khơi nguồn sự sống, nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết : về điều này, chúng tôi xin làm chứng. Vì chưng, ở dưới vòm trời này, không có Danh nào khác mang lại ơn cứu độ”. Có lẽ không ai trong chúng ta nghi ngờ về công trình cứu độ mà Chúa Giê su mang lại, chỉ có điều chúng ta không muốn nghe và nghĩ nhiều về thập giá, vì khó nghe và nặng nề cho cuộc sống, vì đòi buộc ta phải thay đổi đời mình. Ngày xưa, các môn đệ cũng không muốn nghe Chúa báo trước về thập giá: các ông ngủ, các ông không hiểu và không muốn hỏi lại, thật đáng buồn.

Một trong những sinh hoạt đạo đức của Mùa Chay là ngắm 15 sự Thương Khó Chúa Giê su. Đây là một việc đạo đức tốt đẹp đã có từ lâu đời (có lẽ do các cha thừa sai soạn cách đây chừng vài trăm năm), nhưng hình như ngày nay người trẻ và những người có một ít kiến thức về thần học và giáo lý không còn mặn mà với việc đạo đức này. Tôi thường tiếp xúc với các bạn trẻ từ giáo phận Vinh vào Nam để làm kinh tế, họ còn giữ được nếp sống đạo của mình: dù ở xa nhà thờ, thì trong mùa chay, họ tổ chức ngắm nguyện tại rãy, thậm chí còn ngâm nga một vài đoạn trong khi lao động. Những lời ngắm này là một cách cầu nguyện, nâng hồn ta hướng về Chúa Giê su, biết ơn Ngài đã chết vì yêu ta và xin cho mình ơn chừa bỏ tội lỗi.

 

Những người chê việc ngắm thương khó và ít tham dự thường đưa ra vài lý lẽ như sau: nhiều tình tiết không có trong Tin Mừng, từ ngữ cổ hủ quá, dài dòng, ngắm đi ngắm lại cũng chỉ có chừng ấy thứ. Tôi cũng từng có những lập luận như vậy, nên đã chọn vài hình thức khác như: Đọc các trình thuật Thương khó trong 4 sách Tin Mừng, đọc lại các bài suy niệm 14 chặng Thánh Giá…, nhưng rồi cũng không mấy hiệu quả và không giữ được đều đặn. Gần đây đọc được một lời nhắc nhở của Thánh Gioan Thánh Giá: “Đừng bỏ qua một ngày mà không dành nửa giờ, hoặc ít nhất là một khắc, để suy gẫm về cuộc khổ nạn đau buồn của Đấng Cứu Rỗi của bạn. Hãy liên lỉ ghi nhớ những nỗi thống khổ của một tình yêu bị đóng đinh vì bạn!”. Cũng khá lâu rồi, các giáo xứ không có dịp ngắm 14 Đàng Thánh Giá và đọc Kinh Cầu Chịu Nạn. Chúng ta muốn theo một Đức Ki tô mà không có thập giá, nhưng điều đó là không thể, vì Người là Đấng Cứu Độ và Người đã chọn con đường thập giá. Chúa mời gọi: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta”.

 


Đã có một thời, một vài linh mục đã tổ chức ngắm nguyện theo bản văn mới cho hợp thời hơn, đúng Phúc Âm hơn… nhưng không mấy hiệu quả, vì người giáo dân đã quen với bản văn cũ, nên thôi. Tôi thấy bây giờ bản văn đang ngắm có sửa đôi chút cho dễ nghe, rất tốt. Ví dụ: Hỡi Gioan, “Mẹ Thầy là Mẹ con”, thay cho câu “Bà ấy là Mẹ mày”. Còn những tình tiết như cơ binh đánh đòn Chúa là 666 người, đánh mỏi tay và nhiệt tình mà Chúa lại không chết – mà còn ước ao chịu hơn nữa, 72 cái gai thì lọt vào óc… thì đó là những tình tiết thêm vào để cho dễ tưởng nghĩ, và xét cho cùng cũng chẳng trái Phúc Âm và chẳng lạc đạo! Thôi, đừng suy luận và bàn cãi mãi mà làm chi, cứ xét đến giá trị thực tiễn là việc nguyện ngắm bình dân này giúp cho lòng đạo mình tăng tiến là được rồi. Các nhà thần nhiệm họ có thể cầu nguyện cả tiếng đồng hồ mỗi ngày, còn người bình dân thì chọn cách phù hợp với mình là được.

 

Khi một người vừa qua đời, những người đến thăm thường gặp gia chủ và nghe họ kể lại những việc xảy ra trong giai đoạn cuối đời và những lời trăn trối của người thân, có kẻ còn quay video để lưu giữ. Chúng ta không thể so sánh việc đó với những kỷ niệm về cuộc thương khó của Chúa Giê su, vì Ngài là Đấng Cứu Độ nhân loại, Ngài đã chết vì tội tôi: tôi có trách nhiệm trong cái chết của Ngài, tôi được trở thành con cái Thiên Chúa là nhờ Ngài. Còn một điều nữa phải nói đến: giai điệu tình yêu ưa thích sự lặp lại. Lý trí thường tìm cái mới mẻ - hiệu quả, nhưng con tim có lý lẽ riêng của nó, và những hành động yêu thương cùng những lời nói yêu thương không trở nên nhàm chán, dù lặp lại mỗi ngày. Mỗi sáng, Chúa nói với mặt trời ‘hãy lặp lại lần nữa’ và mặt trời hé mọc ở phía Đông; một người mẹ nựng con trên đầu gối ưa thích sự nhún nhẩy của con được lặp lại lần nữa; một đôi vợ chồng mỗi sáng đền nặn kem đánh răng cho nhau; người vợ chuẩn bị cơm nước cho gia đình, người chồng vất vả trên nương rãy, biết bao cử chỉ vợ chồng và con cái chăm sóc nhau trong gia đình… đều là sự lặp lại mỗi ngày trong biết bao năm trời, nhưng mang âm điệu du dương vì là biểu hiện của tình yêu.

 

Chúng ta xác tín răng: Đức tin là hồng ân nhưng không của Chúa ban cho mình, mỗi ngày ta dâng lời tạ ơn Chúa. Nhưng hằng ngày, ta phải luôn cầu xin Chúa ban thêm đức tin cho mình và những người thân thuộc nữa, để ta luôn bám chặt hơn vào Chúa trong mọi hoàn cảnh, nhất là khi gian lao thử thách, biết nhìn lên thập giá Chúa để được thêm sức mạnh vì Chúa đã trải qua đau khổ và Chúa là Đấng Cứu Độ.

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2022

Người phụ nữ hiện đại

 



Có lẽ phong trào đấu tranh cho nữ quyền, cộng với nếp sống văn minh hiện đại đã dẫn đến nhiều suy nghĩ thái quá về tự do và hưởng thụ, đề cao vật chất và đánh mất nhiều giá trị về tinh thần, thỏa mãn ước mơ của chính mình và đánh mất tình nghĩa với những người thân thiết. Ngày nay, nhiều gia đình trẻ nảy sinh những mâu thuẫn lớn từ trong quan niệm sống và nhiều bạn trẻ luôn miệng nói đến ly dị như một giải thoát cho cuộc đời, và theo một bản thống kê gần đây, ở VN có đến 70% các vụ ly hôn là do phụ nữ đứng đơn. Nhiều vấn đề được đặt ra cho những tình cảnh này, nhưng ở đây chúng ta chỉ bàn đến việc định hướng cho cuộc đời và ơn gọi của bậc hôn nhân.

Cách đây hơn 10 năm, có một tác phẩm tu đức nổi tiếng của mục sự Rick Warren được cha Minh Anh dịch sang tiếng Việt là Sống Có Định Hướng. Chỉ xin trích một vài đoạn để nói đến việc định hướng cho cuộc đời. Mục đích đời bạn thì muôn phần cao cả hơn những gì mà cá nhân bạn thành đạt, hơn cả bình an nội tâm và hơn cả hạnh phúc của chính bạn. Mục đích đó muôn phần cao cả hơn gia đình, nghề nghiệp và cả những ước mơ hay những tham vọng cuồng si nhất của bạn. Nếu bạn muốn hiểu tại sao bạn được đặt trên hành tinh này, bạn phải bắt đầu với Thiên Chúa, bạn được sinh ra bởi mục đích của Người và cho mục đích của Người. Nếu bạn đặt khởi điểm từ bản thân mình như: Tôi muốn làm gì, tôi phải làm gì với cuộc đời tôi, đâu là mục tiêu của tôi, đâu là tham vọng của tôi, đâu là ước mơ của tôi, đâu là tương lai của tôi… thì chúng ta sẽ không tìm thấy mục đích đời mình, vì “Chính Thiên Chúa nắm trong tay hồn của mọi sinh vật cũng như hơi thở của tất cả phàm nhân( Giop 12,10).

Còn một điểm nữa phải bàn tới đó là ảo ảnh. Có câu chuyện kể về một tiểu đội lính bộ binh bị lạc đường trong sa mạc, họ sắp chết khát; người dẫn đường vẫn kiên quyết dẫn họ theo lộ trình đang đi, nhưng nhiều người trong họ đã nhìn thấy những dấu hiệu của nước ở hướng khác; cuộc nổi loạn đã xảy ra và người ta giết chết người dẫn đường, để đi về hướng họ thấy nước; nhưng đó chỉ là ảo giác và cả một tiểu đội đã chết khát. Ở vườn Địa đàng, chuyện cũng xảy ra như vậy : ông bà Nguyên tổ cũng bị con rắn mê hoặc về một hạnh phúc giả tạo là ‘được thông biết bằng Thiên Chúa – không còn lệ thuộc vào Ngài’, nếu họ ăn trái mà Chúa đã cấm… và họ đã bị vỡ mộng. Ma quỷ cũng đang rình rập và vẽ ra những ảo mộng về hạnh phúc và tự do cho từng người chúng ta. Có lẽ con người là ‘con vật’ duy nhất biết mơ ước và chính những hy vọng sẽ làm cho đời người nên phong phú; nhưng phải biết phân biệt những soi động nào là của Thần Khí và những xung động của ma quỷ, xúi người ta nghiêng về điều trái. Người ta thường có khuynh hướng đứng núi này trông núi nọ, cứ thèm khát hạnh phúc của người khác và không bằng lòng về những gì mình có. Người độc thân thì mơ hạnh phúc của đôi uyên ương, trong khi đó kẻ có gia đình lại mơ cái tự do của kẻ độc thân, nhưng tu đức dạy rằng: Hãy chọn cho đúng ơn gọi Chúa dành cho mình và kiên trì trong ơn gọi đó, với sự trợ giúp của ơn Thánh.

Trên bình diện tự nhiên, để sống cho ra con người thì không có bậc sống nào là dễ dàng cả;  và trên bình diện ơn sủng thì không có bậc sống nào là ít thập giá hơn. Vấn đề quan trọng là biết bằng lòng với những gì mình có và trung thành với những chọn lựa về bậc sống : khi đã khấn trọn, khi đã lãnh chức phó tế, khi đã có lời thề hứa Hôn Phối. Thật thâm thúy câu  nói của Thánh Kinh: “Không tốt, nếu người chỉ có một mình. Ta sẽ làm cho nó cái gì trợ giúp tương đối với nó”. (Kn 2,18) Sau đó Thiên Chúa đã tạo dựng nên người đàn bà . Điều đó muốn nói với chúng ta rằng cuộc sống mỗi người sẽ không triển nở khi khép lại nơi bản thân mình, nó chỉ trở nên phong phú khi có mối tương giao với người khác. Hiện nay, có nhiều người chọn bậc sống độc thân, không đi tu mà cũng không kết hôn, cả những người này nữa nếu họ có những hoạt động đóng góp và phục vụ tha nhân thì cuộc đời họ rất phong phú, nhưng nếu họ khép lại nơi bản thân thì cuộc đời họ giống như ao nước tù đọng. Nếu một người chọn lối sống cộng đoàn như tu trì hay chọn bậc sống gia đình, nhưng nếu lòng họ chỉ biết vun vén cho bản thân thì hạnh phúc cũng chắp cánh bay xa và họ cũng chỉ luôn sống trong ảo mộng của hạnh phúc và tự do mà thôi. Hãy nghĩ đến mơ ước của Thiên Chúa về cuộc đời mình, hãy nhìn người thân yêu mình như quà tặng hơn là gánh nặng, hãy nghĩ đến họ như những nhân vị để yêu thương hơn là những đồ vật giúp mình thỏa mãn những cơn khát – dùng xong thì vứt bỏ, hãy mở mắt tâm hồn để thấy những cử chỉ đẹp ‘đằng ấy’ làm cho mình và mở lòng để liên tục tha thứ cho nhau, vì Chúa đã tha thứ cho mình quá nhiều.

Đức Phan xi cô hỏi: “Bạn có thường cầu nguyện cho người bạn đời của mình không?”. Cầu nguyện điều gì? – Cầu cho bạn mình được mạnh khỏe, vui vẻ; Xin Chúa chúc phúc cho tình yêu của chúng con hôm nay và mãi mãi; Nguyện cho cả hai chúng con được sống khang an tới tuổi già; Cầu cho người bạn đời và con cái  biết bằng lòng với cuộc sống, với những gì đang có. Một nhà tu đức đã nói: Kinh Lạy Cha là ma trận của kinh nguyện Ki tô giáo, trong mọi hoàn cảnh, bạn có thể đọc Kinh Lạy Cha để cầu nguyện, chắc chắn đây là lời kinh giá trị nhất và được Chúa ưa thích nhất. Hãy cầu nguyện luôn để khỏi sa chước cám dỗ, vì “ai tưởng mình đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã”.

Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2022

Tâm tình ngày Lễ Lá

 



Ngày lễ Lá khởi đầu cho tuần Thánh, kỷ niệm cuộc thương khó và sự phục sinh vinh quang của Con Thiên Chúa làm người, là trọng tâm cho những biến cố cứu độ mà Chúa Giê su đã thực hiện vì yêu thương con người. Để có thêm tâm tình cho tuần Thánh, tôi xin ghi lại vài suy tư về cuộc Thương Khó của Chúa Giê su.

Trước hết, là suy tư của một nhà tu đức. Năm 2004, phim về cuộc khổ nạn của Chúa Giê su được trình chiếu (đạo diễn Mel Gibson), nhiều người khen ngợi, nhưng một số nhà tu đức lại lên tiếng: Các sách Phúc Âm không diễn tả nhiều về những đau đớn thể xác, điều đó muốn nói rằng trọng tâm của cuộc thương khó Chúa Giê su là một thảm kịch tinh thần, là sự từ chối và phản bội của một tình yêu. Điều đáng lưu ý là câu chuyện xảy ra trong một khu vườn, nơi thường dành cho những kẻ đang yêu, là nơi Chúa và các môn đệ trải qua những giây phút hiến dâng mạng sống vì tình yêu, vì sau đó là Chúa bị bắt và cuộc thương khó khởi đầu. Thú thực, tôi cũng không thể xem hết bộ phim này vì thấy quá sức chịu đựng và máu me nhiều quá, dù biết rằng đạo diễn đã nghiên cứu cẩn thận những tình tiết xảy ra được ghi lại trong các sách Tin Mừng và đã nghiên cứu lịch sử thời đó. Chúng ta cần nhìn lên Thập Giá Chúa Ki tô để cảm nghiệm được tình yêu Chúa dành cho mình, tìm thấy sức mạnh vì Chúa Giê su đồng cảm với mình, và ăn năn hối lỗi để đáp đền công ơn cứu độ mà Chúa tặng ban cho mình.

Suy tư 2: Đau khổ của Chúa Giê su có giá trị vô biên vì là của Con Thiên Chúa. Từ khi loài người sa ngã, mức độ sa đọa không ngừng gia tăng và không loại trừ bất cứ một ai trong loài người, nên có thể nói tội xúc phạm đến Thiên Chúa là một gánh nặng quá mức, đến nỗi không một ai trong loài người – dù thánh thiện và có công trạng đến mấy, mà có thể tự cứu mình và cứu được ai khác. Vì thế, Con Thiên Chúa đã làm người để cứu độ nhân loại khỏi án phạt của tội lỗi. Chúa Giê su có hai bản tính là thiên tính và nhân tính, thiên tính là chủ thể chịu trách nhiệm mọi hoạt động của Ngài, nên giá máu cứu độ Ngài đổ ra có một giá trị tuyệt đối. Để so sánh, chúng ta nghĩ đến biết bao người bị tù đày hành hạ oan ức vài chục năm trời, những bệnh nhân trải qua những bệnh tật đau đớn, những người bị chết đói hay bị bạo lực bất công… nhưng giá máu của họ cũng chỉ là hữu hạn, chỉ là một phần đóng góp nhỏ vào Thập Giá Thánh của Chúa Ki tô



Suy tư 3: Không phải là xui xẻo và tình cờ mà vụ án Chúa Giê su đã xảy ra. Từ khi con người sa ngã, Thiên Chúa đã có một chương trình cứu chuộc nhân loại. Chúa đã chuẩn bị một dân riêng, đã liên tục giáo dục họ bằng các biến cố lịch sử và bằng Kinh Thánh để chuẩn bị cho Đấng Messia xuất hiện, và khi đến hồi viên mãn thì Ngôi Hai đã làm người và thực hiện chương trình như Cha đã hoạch định từ trước. Giáo Hội dạy: Đừng quy trách nhiệm cho người Do Thái hay bất cứ nhân vật nào được ghi tên trong các trình thuật thương khó, mỗi người được sinh ra trên trần gian đều là tác giả và tác viên, chính bạn cùng với chúng tôi đã đóng đinh Người và còn đóng đinh Người bằng cách hưởng lạc thú trong các nết xấu và tội lỗi (SGLHTCG 598).

Suy tư 4: Đừng trách Philato, Giu đa, và đặc biệt là ông Phê rô là hèn nhát vì dù đã được cảnh báo trước mà còn chối Thầy đến 3 lần trước đứa đầy tớ gái! Vì dù sao, ông Phê rô đã dũng cảm nên xách gươm ra chém đứt tai một người và sau đó cứ lẽo đẽo theo Thầy vào nơi nguy hiểm, trong lúc các môn đệ khác đã trốn hết, còn ông Gio an thì có quen biết với vị Thượng Tế nên đi lại thoải mái hơn. Từ trước đến nay, chúng ta thường chê trách ông Phê rô là hèn nhát mà quên mất rằng tất cả các môn đệ đã bỏ trốn hết, có lẽ đó là đáp án thường tình của đa số người trong chúng ta. Hãy học nơi ông Phê rô, một tình yêu dũng cảm – không nỡ bỏ rơi Thầy – biết khóc than vì tội mình và sau nầy chính ông đã củng cố đức tin anh em mình, như Lời Thầy gửi gắm.

Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2022

BẢY DI NGÔN TRÊN THÁNH GIÁ

 



 

 

Có hai sứ điệp nổi bật nhất của Chúa Cứu Thế được gởi đến cho loài người.Sứ điệp đầu tiên là Tám Mối Phúc Thật được Chúa công bố trên một sườn núi.Sứ điệp cuối cùng là Bảy Di Ngôn trên Thánh Giá.


Tuần Thánh, chiêm ngắm cuộc thương khó của Chúa, dừng lại nơi Bảy Di Ngôn của Đấng Cứu Thế để nhận thấy Calvê là ngọn núi đầy hấp dẫn, lôi cuốn chúng ta hưởng nếm tình yêu hiến dâng phục vụ.

1. (33) Khi đến nơi gọi là "Ðồi Sọ", họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái. (34) Bấy giờ Ðức Giêsu cầu nguyện rằng: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm". Rồi họ bắt thăm mà chia nhau áo của Người.” (Lc 23,33-34)

2. (42) Rồi anh ta thưa với Ðức Giêsu: "Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!" (43) Và Người nói với anh ta: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Ðàng". (Lc 23,42-43).

3. (33) Vào giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín. (34) Vào giờ thứ chín, Ðức Giêsu kêu lớn tiếng: "Êlôi, Êlôi, lama sabácthani!" Nghĩa là: "Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?"(Mc 15, 33-34).

4. (44) Bấy giờ đã gần tới giờ thứ sáu, thế mà bóng tối bao phủ khắp mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. (45) Mặt trời tối đi. Bức màn trướng trong Ðền Thờ bị xé ngay chính giữa. (46) Ðức Giêsu kêu lớn tiếng: Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha. Nói xong, Người tắt thở.” (Lc 22, 44-46).

5. (25) Ðứng gần thập giá Ðức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của bà thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala. (26) Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Ðức Giêsu nói với thân mẫu rằng: "Thưa Bà, đây là con của Bà".  (27) Rồi Người nói với môn đệ: "Ðây là mẹ của anh". Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình. (Ga 19, 25-27).

6. (28) Sau đó, Ðức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: "Tôi khát!"(Ga 19,28).

7. (29) Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. (30) Nhắp xong, Ðức Giêsu nói: "Thế là đã hoàn tất!" Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.” (Ga 19, 29-30)

1. Lạy Cha, xin tha thứ cho họ vì họ chẳng hiểu biết việc họ làm (Lc 23,34)

Lẽ thường, vào giờ hấp hối, tự đáy lòng con người bộc lộ những lời tha thiết với người thân yêu, người lân cận. Lời đầu tiên của Chúa là xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ bách hại, kết án, lăng nhục, đóng đinh Ngài.

Triết gia Xê-nê-ca kể lại rằng: người bị treo trên thập giá trù ẻo cha mẹ, nguyền rủa ngày sinh tháng đẻ, mắng nhiếc lý hình, thậm chí còn khạc nhổ vào bất cứ ai qua lại đứng ngồi dưới chân cây thập giá.

Nhà hùng biện Si-sê-rô còn cho biết rằng, đôi khi phải cắt lưỡi người bị đóng đinh vào thập giá, để họ thôi buông lời phạm thượng. Bởi thế, dân chúng bồn chồn. Đám lý hình, luật sĩ, biệt phái chờ đợi tiếng la thét, mắng nhiếc, nguyền rủa của người bị đóng đinh đang hấp hối. Nhưng, cũng như loại hương mộc tiết hương thơm ra cho cả chiếc rìu hạ chúng,Thánh Tâm trên cây Tình Thương tự đáy lòng đã thoát toả ra một lời nguyện thầm thỉ đầy êm ái về sự dung thứ và xá tội “Lạy Cha xin tha thứ cho họ, vì họ chẳng hiểu biết việc họ làm”.

Tha thứ, vì họ không biết. Giả mà họ biết tội họ phạm kinh tởm đến đâu khi lên án chết cho Đấng ban sự sống; giả mà họ biết rằng họ đang đổ máu Đức Giêsu dùng để cứu chuộc họ, giả mà họ biết như thế thì đời nào họ lại được tha ?

Giả mà ta biết tội lỗi khủng khiếp dường nào mà cứ phạm tội; giả mà ta biết Chúa yêu ta đến nỗi Nhập Thể Làm Người mà ta vẫn khước từ không chịu đón nhận và tin yêu; giả mà ta thấu hiểu tình yêu tha thứ trong Bí Tích Giải Tội thật là vô biên mà không chịu xưng tội; giả mà ta biết Bí Tích Thánh Thể hàm chứa một sức sống vô song mà cứ khước từ không chịu ăn Mình Thánh và uống Máu Thánh. Giả mà ta biết rõ những điều ấy, ta sẽ bị hư mất.Ta không thấu hiểu lòng lành Thiên Chúa, đó là lý lẽ độc nhất rộng thứ cái tội chưa chịu làm thánh của ta.

Chúa không chấp nhất, nhưng lại tha thứ, thì ta cũng phải tha thứ cho nhau.( x Mt 6,12 ;6,15;18,23-35).

2. Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng (Lc 23,43)

Kẻ tử tội bị đóng đinh bên hữu ngoảnh đầu nhìn sang đọc được tấm bảng: Giêsu Nazareth,Vua dân Do thái.Trong tâm hồn người đạo chích này dậy lên những tâm tình nồng nàn. Một tia sáng từ Thập giá chiếu ra làm rực sáng đức tin của anh nên anh đã dâng lời khẩn cầu: Xin Ngài nhớ đến con khi Ngài về nơi vương quốc. Chính lúc tử thần rình rập bên cạnh, chỉ có một người nhìn biết Chúa Kitô là minh chủ một vương quốc. Chúa đã cứu chữa anh khi phán: Hôm nay, con sẽ ở trên thiên đàng cùng với Ta.

Trước đó đã chẳng có ai được hứa ban như vậy, cho dù là Môisen hay Gioan, Mađalêna hay cả Đức Maria.

Người đạo chích đã gõ cửa, đã cầu xin chỉ có một lần, anh đã dám làm tất cả nên đã được tất cả. Liệu có thể nói được rằng: Người trộm này đến chết vẫn còn hành nghề đạo chích, vì đến lúc chết, còn ăn trộm được thiên đường ?

Lòng từ ái của Chúa đối với người trộm gợi nhớ lời sấm ngôn: Tội lỗi con có thắm như hồng điều, cũng sẽ nên trắng sạch như tuyết, có thẫm như vải đỏ, cũng sẽ mịn mướt như lông chiên.

Ơn dung thứ Chúa ban cho người trộm thống hối càng làm chúng ta hiểu hơn lời Chúa phán:” Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi kẻ tội lỗi …không phải người mạnh khoẻ nhưng người bệnh tật mới cần đến lang y …một người tội lỗi thống hối làm cho cả thiên đường vui mừng hơn là chín mươi chín người công chính không cần phải thống hối.”.

Người trộm biết sám hối ăn năn tiêu biểu cho thế giới dân ngoại tin và tuyên xưng Đức Giêsu là Vua. Miễn là con người biết sám hối,Thiên Chúa luôn bao dung và từ ái.

3 . Thưa Bà, đây là con Bà (Ga 19,26)

Những lời Sứ thần Gabriel nói tại Nazareth : “Kính chào Bà đầy ân phúc” ( Lc 1,28) cũng soi sáng cho khung cảnh Calvê. Biến cố Truyền tin báo hiệu một khởi đầu, Thánh giá đánh giá một kết thúc.Trong cảnh Truyền tin, Mẹ Maria trao ban bản tính loài người cho Con Thiên Chúa trong cung lòng Mẹ; dưới chân Thánh giá, nơi Thánh Gioan, Mẹ đón nhận toàn thể nhân loại vào tâm hồn Mẹ. Là Mẹ Thiên Chúa ngay từ lúc đầu tiên của biến cố nhập thể, Mẹ đã trở thành mẹ của loài người trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời Chúa Giêsu, con Mẹ. Dưới chân Thánh giá, Mẹ đón nhận từ Chúa Giêsu như một lời truyền tin thứ hai : “Hỡi Bà này là con Bà” ( Ga 19,26).

Lời truyền tin thứ nhất do Sứ thần đem đến, lần truyền tin thứ hai lại do chính Chúa phán ra. Lời truyền tin thứ hai long trọng, Đức Giêsu, Ngôi Lời truyền tin cho Mẹ mình, công bố vai trò Đức Maria là Mẹ Nhân Loại, Mẹ Giáo Hội.

Ở gốc cây biết lành biết dữ, Evà đã mất chức làm mẹ loài người.

Ở dưới chân Thánh giá, Đức Mẹ đón nhận chức vị làm Mẹ loài người.

Đức Maria là mẹ Thiên ân vì là mẹ của Tác giả ơn thánh. Các con hãy hoàn toàn tín nhiệm phó thác cho Mẹ ! Hãy chiếu toả rạng ngời vẻ đẹp của Chúa Kitô khi cởi mở đón nhận hơi thở của Thánh Linh.

4. Lạy Thiên Chúa! lạy Thiên Chúa của con ! sao Ngài bỏ rơi con ( Mt 27,46)

Ba Lời Di Ngôn đầu từ thánh giá phán ra được gởi đến các kẻ được Thiên Chúa yêu thương theo thứ tự: kẻ thù địch, kẻ tội lỗi, người lành thánh. Hai lời thứ tư, thứ năm biểu lộ sự đau khổ của Thiên Chúa làm người trên thánh giá. Lời thứ tư biểu lộ sự khốn khổ của con người bị Thiên Chúa phế bỏ. Lời thứ năm nói lên nổi cay cực của Thiên Chúa bị con người chối bỏ.

Ngày Thứ Sáu Chịu Nạn là ngày đen tối nhất trần gian. Bóng tối bao trùm trái đất in mờ Thập Giá Đức Kitô trên nền trời đen thẳm.Mọi sự đều tối tăm mịt mùng! Ngài từ bỏ Mẹ hiền và môn đệ yêu dấu. Thiên Chúa xem ra cũng như từ bỏ Ngài luôn. ”Eli ! Eli ! Lamma sabacthani ! Chúa ơi ! Chúa ơi ! sao Chúa bỏ con ? ! Tiếng kêu than này, trong ngôn ngữ Do thái diễn tả một mầu nhiệm kinh khủng về sự kiện : Thiên Chúa từ bỏ Thiên Chúa. Chúa Con gọi Chúa Cha là Thiên Chúa.Khác hẳn lời cầu ngày nào Ngài dạy : “ Lạy Cha chúng con ở trên trời”. Chúa Cha cũng có vẻ như ngoảnh mặt đi, khi Ngài hứng chịu lấy tội lỗi trần gian. Ngài cam chịu nổi đớn đau bi thống đó vì con người để chúng ta hiểu rằng : Khi con người mất Thiên Chúa thì tình trạng khủng khiếp chừng nào.

5 . Ta Khát ( Ga 19,28)

Đây là lời ngắn nhất trong bảy Di Ngôn, chỉ vỏn vẹn một tiếng Ta khát.Tận đáy tâm hồn Chúa chỉ bật ra một nổi thao thức:Ta Khát .

Hiện tượng khát nước là sự kiện bình thường của một người tử tội đóng đinh thập giá, do việc người đó mất quá nhiều máu trong người. Nhưng ở đây, chắc chắn Gioan không có ý nói tới điều đó mà nói đến nghĩa thiêng liêng. Đức Giêsu khao khát thông truyền hiệu quả cuộc khổ nạn của Người là Ơn cứu độ cho tất cả mọi người và như thế thì lời Kinh thánh mới nên trọn.Ý nghĩa của lời Ta Khát gắn liền với việc “để lời kinh thánh được nên trọn”. Lời Kinh Thánh có thể hiểu là Lời các Tiên tri trong Cựu ước loan báo về sứ mạng Cứu thế của Đấng Messia; Lời Kinh Thánh còn có thể hiểu là chính công việc cứu thế của Đức Giêsu. Vì thế, Đức Giêsu biết rằng sứ mạng cứu thế của Người đã được thi hành trọn vẹn và đầy đủ; kể từ nay bắt đầu giai đoạn mới của lịch sử cứu độ, con người sẽ lãnh nhận hiệu quả do cuộc khổ nạn người đem đến thì Ngài nói : Ta Khát.

Trong Phúc âm Gioan, từ ngữ “khát” thường chỉ nguyện vọng sâu xa của con người khát mong những hồng ân của Thiên Chúa vào thời Đấng Messia “Ai uống nước Ta ban thì đời đời sẽ không còn khát nữa, nước Ta ban sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự sống đời đời” (Ga 4,13); “Ai đến với Ta sẽ không hề đói,và kẻ tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ” ( Ga 6,35); “ Ai khát hãy đến với Ta, ai tin vào ta hãy đến mà uống ! Như kinh thánh đã nói : Tự lòng Ngài sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống” ( Ga 7,37).

Như thế Di Ngôn “Ta Khát” chính là nguyện vọng sâu thẳm của Chúa muốn mọi người lãnh nhận ơn cứu độ mà cuộc khổ nạn Ngài đem đến cho thế gian.

6 . Mọi sự đã hoàn tất ( Ga 19,30)

Mọi sự là sự gì ? thưa là Thánh ý Chúa Cha. Lật trong sách Tin mừng rất nhiều chỗ nói “để ứng nghiệm lời Thiên Chúa, để lời các Ngôn sứ được hoàn tất”.Trong cuộc đời dương thế, Đức Giêsu luôn thực thi Thánh ý. Và giờ đây trong giây phút cuối đời trên thập giá, hình như Đức Giêsu làm bảng tổng kết : mọi sự Chúa Cha đã hoạch định, Ngài đã chu toàn, mọi sự đã hoàn tất từ ngày lọt lòng mẹ tại Bêlem cho đến nghiêng đầu trước khi chết.

Công cuộc cứu độ trần gian đã được thể hiện. Đây là lời Ngài trình lại với Chúa Cha và đây cũng chính là lời loan báo sự chiến thắng của Ngài.Quyền lực bóng tối đã giết được thân xác Ngài,vị vua Messia. Nhưng qua cái chết này, ơn cứu độ được trao ban cho mọi người và giải thoát con người khỏi vòng cương toả của bóng tối, tội lỗi, satan. Đúng như Thánh Gioan đã suy niệm “Sự sáng đã rạng trong tối tăm và tối tăm đã không triệt được ánh sáng’ ( Ga 1,5).

7. Lạy Cha ! con phó thác linh hồn con trong tay Cha ( Lc 23,46)

Lời thứ sáu là lời biệt ly trần gian. Lời thứ bảy là lời khải hoàn thiên quốc.

Chúa Kitô, Đấng từ trời xuống,đã chu toàn nhiệm vụ, hoàn thành cuộc hành trình, nay lại trở về cùng Chúa Cha để tỏ niềm tôn phục Đấng đã phái Ngài đi thực thi công cuộc cứu chuộc thế gian: “Lạy Cha, Con phó thác linh hồn con trong tay Cha”

Ba mươi năm trước, Ngài từ bỏ Nhà Cha để đến một xứ xa lạ là trần gian. Ở đó, Ngài sống cuộc đời tiêu xài không kể mức độ nào cả. Quyền năng và sự khôn ngoan được Ngài phân phát vô số kể. Ân sủng và lòng ái tuất được Ngài chuẩn ban cách quãng đại. Đến giờ sau hết, Ngài còn ban luôn cả bản thể của mình cho kẻ tội lỗi. Và Ngài đã đổ đến giọt máu cuối cùng để làm giá cứu chuộc thế gian.Trên đường về Nhà Cha, từ Thập giá Ngài dâng lên Chúa Cha lời nguyện hoàn hảo nhất ”Lạy Cha, con phó thác linh hồn con trong tay Cha”.

Sau khi đã hạ mình xuống ở giữa những con cái hư mất của nhà Ít-ra-en, Ngài đã phung phí thời giờ của Ngài với những người đau ốm tật nguyền, với những người tội lỗi. Ngay cả với những gái điếm, Ngài cũng hứa cho họ vào Nước của Cha Ngài. Sau khi đã bị đối xử như một tên tham ăn, như một bợm nhậu, như một người bạn của bọn thu thuế và tội lỗi, như một người Sa-ma-ri-a, một người bị quỷ ám, một kẻ phạm thượng; sau khi đã hiến dâng tất cả mọi sự, ngay cả thân xác và máu Ngài; và khi linh hồn Ngài cảm thấy một nỗi buồn sâu xa, hấp hối, phiền sầu; sau khi đã đi tới đáy của sự tuyệt vọng, Ngài muốn mặc lấy nơi mình sự bị bỏ rơi bởi Cha, lìa xa ngưồn Nước Hằng Sống, Ngài đã kêu lên từ Thánh Giá nơi Ngài bị đóng đinh: ”Ta khát”. Ngài đã yên nghỉ trong bụi đất và bóng đêm sự chết. Ngài đã mang lấy tội lỗi của chúng ta, Ngài đã gánh hết những đau thương của chúng ta.

Phó thác linh hồn cho Chúa Cha, thân xác Ngài trao trong tay Đức Mẹ.Từ chén cứu chuộc những giọt máu cuối cùng nhỏ xuống nhuộm đỏ cây thập giá.

Đây cũng là giờ bi thảm nhất của Đức Mẹ.Có nổi đớn đau nào hơn của nổi đớn đau của người Mẹ ôm xác người con yêu dấu? Đức Giêsu sinh ra trong vòng tay mẹ hiền, đến chết vẫn ở trong vòng tay Mẹ từ ái.

Chúa Giêsu đã để lại sứ điệp cuối cùng: Bảy Di Ngôn trên thánh giá.Trong cao điểm mầu nhiệm cứu độ, Chúa đã mạc khải tình yêu hiến tế qua Bảy Di Ngôn do lòng yêu thương. Những lời này vang dội qua mọi thời đại, xuyên qua tâm trí nhân loại, cải hoá và dẫn đưa bao linh hồn về với Chúa.

Calvê nơi hành hình tội nhân giờ đây đã trở thành ngọn núi đầy hấp dẫn lôi cuốn thế giới đến chiêm ngắm và đón nhận tình yêu của Đấng chịu đóng đinh.

 ( Viết theo cuốn:Trên đỉnh cao thập giá của ĐGM Fulton Sheen)

Lm.Giuse Nguyễn Hữu An (Theo Dunglac.org)

 

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2022

NHỤC HÌNH CỦA THẬP GIÁ

 



 

Khi Chúa Giêsu chảy mồ hôi máu ở vườn Giết-sê-ma-ni, Ngài đã xin Chúa Cha cất chén đắng này, chủ yếu Người không chùn bước trước viễn cảnh đau đớn thể xác tàn bạo.  Người chùn bước trước viễn cảnh một kiểu đau đớn cụ thể, mà thông thường đa số sợ hơn là nỗi đau thể xác.  Khi Người hỏi Chúa Cha liệu có nhất thiết phải chết theo cách đó hay không, là Người không ám chỉ đến án tử hình.

 

Hình phạt đóng đinh trên thập giá do người La Mã chế ra có thêm một ý định khác.  Nó ấn định một án tử hình, giết một tội phạm, nhưng ngoài ra nó còn mục đích làm một số điều khác nữa.

 


Hình phạt đóng đinh trên thập giá nhằm gây ra nỗi đau thể xác cùng cực.  Vì vậy, người ta cố tình kéo dài quá trình này trong nhiều giờ đồng hồ và họ tính toán cẩn thận để cường độ đau đớn tăng dần nhưng không làm cho tội phạm bất tỉnh để dịu cơn đau khi bị đóng đinh.  Thực tế, đôi khi họ còn cho tội nhân uống rượu vang có trộn moóc-phin, không phải để làm dịu cơn đau, mà để không ngất xỉu vì quá đau, và như vậy họ phải tiếp tục chịu đựng cơn đau đớn đó lâu hơn.

 

Nhưng hình phạt đóng đinh trên thập giá còn có một ý định khác nữa, thậm chí còn ác độc hơn.  Đó là nhằm sỉ nhục tội nhân.  Ngoài những chuyện khác, tội nhân còn bị lột truồng trước khi bị treo lên thập giá, để bộ phận sinh dục phơi ra trước dân chúng.  Còn nữa, vào giây phút lìa đời, ruột gan của họ sẽ bung ra.  Rõ ràng hình phạt đóng đinh trên thập giá nhằm hạ nhục.

 

Chúng ta xưa nay có xu hướng xem nhẹ khía cạnh này, cả trong giáo huấn lẫn trong nghệ thuật.  Như Jurgens Moltmann nói, chúng ta đã trang trí cây thập giá với toàn hoa hồng, toàn những tấm khăn choàng thẩm mỹ và vô trùng.  Nhưng trường hợp của chúa Giê-su không phải như vậy.  Người bị lột truồng trước công chúng, thân thể người bị hạ nhục trước dân chúng.  Điều đó, bên cạnh những điều khác, là lý do hình phạt đóng đinh trên thập giá đã giáng một đòn chí mạng đối với các môn đệ và là lý do tại sao đa số các môn đệ bỏ Chúa Giêsu và phân tán khắp nơi sau sự kiện Chúa bị đóng đinh trên thập giá.  Đơn giản các môn đệ này không thấy có mối liên hệ nào giữa kiểu hạ nhục này với vinh quang, thần thánh và chiến thắng.

 

Một điểm thú vị là có một tương đồng rõ rệt giữa hình phạt đóng đinh trên thập giá gây ra cho cơ thể và những gì mà bản chất tự nhiên làm đối với cơ thể qua tuổi tác, bệnh ung thư, bệnh mất trí nhớ, AIDS, những căn bệnh như Parkinson, Lou Gehrig, Huntington, và những chứng bệnh khác làm hạ thấp con người trước khi cơ thể chết.  Chúng phơi bày ra trước mắt mọi người những gì dễ tổn thương nhất bên trong con người.  Chúng hạ nhục thân thể.

 

Tại sao vậy?  Đâu là mối liên hệ giữa loại đau đớn này và vinh quang ngày Chuá nhật Phục Sinh?  Tại sao, như Phúc âm nói, “trước hết phải chịu đau đớn mới vào vinh quang?”

 

Bởi vì, điều trớ trêu là, phải chịu bị nhục sâu thẳm nào đó tâm hồn mới có một tầm mức sâu sắc.  Bằng cách nào, và tại sao như vậy?  Không dễ dàng gì để biện giải một cách duy lý, nhưng chúng ta có thể hiểu được điều này thông qua trải nghiệm:

 

Hãy dũng cảm và trung thực tự đặt cho mình câu hỏi này: Những trải nghiệm nào trong cuộc đời đã làm cho tôi thành chín chắn?  Tôi dám nói rằng, trong hầu hết mọi trường hợp, những trải nghiệm làm bạn trở nên sâu sắc sẽ là những sự cố bạn cảm thấy bị nhục khi phải chấp nhận nó, một bất lực mà bạn không tự bảo vệ mình, một phỉ báng mà bạn không thể tự bào chữa, một lệch lạc của cơ thể hay trí óc đã khiến bạn bị tổn thương, một vụ việc tủi hổ từng xảy đến với bạn, hay một lỗi lầm nào đó bạn đã phạm và bị phơi bày ra trước mắt mọi người các mặt yếu của bạn.  Tất cả chúng ta, giống như chúa Giê-su, cách này cách khác, đều đã từng bị treo lên thập giá và bị hạ nhục trước công chúng.  Và bị hạ nhục ở mức độ nào thì chúng ta trở nên sâu sắc chính ở mức độ ấy.

 

Nhưng sự sâu sắc của tâm hồn lại theo nhiều cách khác nhau.  Sự sỉ nhục làm chúng ta sâu sắc, nhưng chúng ta có thể sâu sắc hơn về tính cách, về hiểu biết, về lòng độ lượng, vị tha, hay chúng ta cũng có thể phẫn uất, cay đắng, tìm cách trả thù và sát hại sâu sắc hơn.  Hình phạt đóng đinh trên thập giá của Chúa Giê-su đã làm trái tim của Chúa giãn nở hơn, nhưng giãn nở trong niềm thương cảm, rộng lượng và vị tha.  Không phải ai cũng vậy.  Nhiều trong số những kẻ sát nhân hàng loạt cũng từng chịu sỉ nhục sâu sắc và điều đó cũng làm cho trái tim họ giãn nở ra nhưng trừ một điều là trong trường hợp của họ, sự sỉ nhục đã khiến họ sâu sắc hơn trong nỗi cay đắng, độc ác, và sát nhân.

 

Cách đây vài năm, tôi tham dự một khóa hội thảo hè ở Viện Đại học Notre Dame, nơi cộng đoàn Thánh Giá họp lại để làm lễ phong thánh cho vị sáng lập dòng.  Suy tư về linh đạo của người sáng lập, một thành viên của cộng đoàn Thánh Giá đã đưa ra thách thức này cho cộng đoàn của anh: Nếu anh sống trong bất kỳ một gia đình nào, sau bất kỳ một khoảng thời gian nào, đến một lúc nào đó, gia đình đó sẽ làm anh tổn thương, và làm anh tổn thương sâu sắc.  Nhưng, đây chính là điều quan trọng, cái cách mà anh xử sự với vết thương đó, một cách cay đắng hay với lòng vị tha, nó sẽ quyết định suốt cả phần đời sau đó của anh!

 

Khi bị phạt đóng đinh trên thập giá, Chúa Giê-su bị hạ nhục, bị phỉ báng, bị đối xử tàn nhẫn.  Nỗi đau này đã làm giãn trái tim Người ra một chiều sâu lớn lao.  Nhưng khoảng không gian mới giãn ra đó không chứa nỗi cay đắng và phẫn uất.  Nó chứa đầy lòng thương cảm và vị tha sâu sắc mà chúng ta vẫn chưa thể nào hiểu được trọn vẹn.

 

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 

 

Thứ Tư, 6 tháng 4, 2022

Câu chuyện giáo dục cảm động

 



 Câu chuyện đã xảy ra từ nhiều năm trước. Lúc đó, cô Thompson đang dạy ở trường tiểu học của một thị trấn nhỏ tại Hoa Kỳ. vào ngày khai giảng năm học mới, cô đứng trước những em học sinh lớp 5, nhìn cả lớp và nói cô sẽ yêu thương tất cả các học sinh như nhau. Nhưng thực ra cô biết mình sẽ không làm được điều đó bởi cô đã nhìn thấy cậu học sinh Teddy Stoddard ngồi lù lù ngay bàn đầu. Năm ngoái cô đã từng biết Teddy và thấy cậu bé chơi không đẹp với bạn bè, quần áo thì lôi thôi lếch thếch, còn người ngợm thì lại quá bẩn thỉu. "Teddy trông thật khó ưa".
 

Chẳng những thế, cô Thompson còn dùng cây bút đỏ vạch một chữ thập rõ đậm vào hồ sơ cá nhân của Teddy và ghi chữ F đỏ chói ngay phía ngoài (chữ F là hạng kém). Ở trường này, vào đầu năm học mỗi giáo viên đều phải xem thành tích học tập của từng học sinh trong lớp mình chủ nhiệm.


Cô Thompson đã nhét hồ sơ cá nhân của Teddy đến cuối cùng mới mở ra xem, và cô rất ngạc nhiên về những điều đọc được. Cô giáo chủ nhiệm lớp 1 đã nhận xét Teddy như sau: "Teddy là một đứa trẻ thông minh và luôn vui vẻ. Học giỏi và chăm ngoan... Em là nguồn vui cho người chung quanh". Cô giáo lớp 2 nhận xét: "Teddy là một học sinh xuất sắc, được bạn bè yêu quý nhưng có chút vấn đề vì mẹ em ốm nặng và cuộc sống gia đình thật sự là một cuộc chiến đấu". Giáo viên lớp 3 ghi: "Cái chết của người mẹ đã tác động mạnh đến Teddy. Em đã cố gắng học, nhưng cha em không mấy quan tâm đến con cái và đời sống gia đình sẽ ảnh hưởng đến em nếu em không được giúp đỡ".


Giáo viên chủ nhiệm lớp 4 nhận xét: "Teddy tỏ ra lãnh đạm và không tỏ ra thích thú trong học tập. Em không có nhiều bạn và thỉnh thoảng ngủ gục trong lớp".
 

Đọc đến đây, cô Thompson chợt hiểu ra vấn đề và cảm thấy tự hổ thẹn. Cô còn thấy áy náy hơn khi đến lễ Giáng sinh, tất cả học sinh trong lớp đem tặng cô những món quà gói giấy màu và gắn nơ thật đẹp, ngoại trừ món quà của Teddy. Em đem tặng cô một gói quà bọc vụng về bằng loại giấy gói hàng nâu xỉn mà em tận dụng lại từ loại túi giấy gói hàng của tiệm tạp hóa. Cô Thompson cảm thấy đau lòng khi mở gói quà ấy ra trước mặt cả lớp. Một vài học sinh đã bật cười khi thấy cô giơ lên chiếc vòng giả kim cương cũ đã sút mất vài hột đá và một chai nước hoa chỉ còn lại một ít. Nhưng cô đã dập tắt những tiếng cười nhạo kia khi cô khen chiếc vòng đẹp, đeo nó vào tay và xịt một ít nước hoa trong chai lên cổ tay. Hôm đó Teddy đã nán lại cho đến cuối giờ để nói với cô: "Thưa cô, hôm nay cô thơm như mẹ em ngày xưa". Sau khi đứa bé ra về, cô Thompson đã ngồi khóc cả giờ đồng hồ. Và chính từ hôm đó, ngoài dạy học cô còn lưu tâm chăm sóc cho Teddy hơn trước. Mỗi khi cô đến bàn em để hướng dẫn thêm, tinh thần Teddy dường như phấn chấn hẳn lên. Cô càng động viên em càng tiến bộ nhanh. Vào cuối năm học, Teddy đã trở thành học sinh giỏi nhất lớp. Và trái với phát biểu của mình vào đầu năm học, cô đã không yêu thương mọi học sinh như nhau. Teddy là học trò cưng nhất của cô.
Một năm sau, cô tìm thấy một mẩu giấy nhét qua khe cửa. Teddy viết: "Cô là cô giáo tuyệt vời nhất trong đời em". Sáu năm sau, cô lại nhận được một bức thư ngắn từ Teddy. Cậu cho biết đã tốt nghiệp trung học, đứng hạng ba trong lớp và "Cô vẫn là người thầy tuyệt vời nhất trong đời em". Bốn năm sau, cô lại nhận được một lá thư nữa. Teddy cho biết dù hoàn cảnh rất khó khăn khiến cho cậu có lúc cảm thấy bế tắc, cậu vẫn quyết tốt nghiệp đại học với hạng xuất sắc nhất, nhưng "Cô vẫn luôn là cô giáo tuyệt vời mà em yêu quý nhất trong đời". Rồi bốn năm sau nữa cô nhận được bức thư trong đó Teddy báo tin cho biết cậu đã đậu tiến sĩ và quyết định học thêm lên. "Cô vẫn là người thầy tuyệt nhất của đời em", nhưng lúc này tên cậu đã dài hơn. Bức thư ký tên Theodore F. Stoddard - giáo sư tiến sĩ.


Câu chuyện vẫn chưa kết thúc tại đây. Một bức thư nữa được gửi đến nhà cô Thompson. Teddy kể cậu đã gặp một cô gái và cậu sẽ cưới cô ta. Cậu giải thích vì cha cậu đã mất cách đây vài năm nên cậu mong cô Thompson sẽ đến dự lễ cưới và ngồi ở vị trí vốn thường được dành cho mẹ chú rể. Và bạn thử đoán xem việc gì đã xảy ra? Ngày đó, cô đeo chiếc vòng kim cương giả bị rớt hột mà Teddy đã tặng cô năm xưa, xức thứ nước hoa mà Teddy nói mẹ cậu đã dùng vào kỳ Giáng sinh cuối cùng trước lúc bà mất. Họ ôm nhau mừng rỡ và giáo sư Stoddard thì thầm vào tai cô Thompson: "Cám ơn cô đã tin tưởng em. Cám ơn cô rất nhiều vì đã làm cho em cảm thấy mình quan trọng và cho em niềm tin rằng mình sẽ tiến bộ". Cô Thompson vừa khóc vừa nói nhỏ với cậu: "Teddy, em nói sai rồi. Chính em mới là người đã dạy cô rằng cô có thể sống khác đi. Cô chưa từng biết dạy học cho tới khi cô được gặp em".
Sưu tầm