Danh sách Blog của Tôi

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2018

TA ĐÃ THẤY GÌ?



Bài đọc trích thư Ephesô 5,21-33 (Thứ tư tuần 30 TN) mô tả một linh đạo cho đời  sống gia đình, nhưng dường như hơi lạc điệu với suy nghĩ của con người hiện đại. Trong cuộc sống đời thường, chúng ta chứng kiến nhiều người trải qua thảm cảnh gia đình, không bút nào tả xiết.

Thánh Phaolô nói :
Thưa anh em, vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh em hãy tùng phục lẫn nhau.
Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ, cũng giống như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh.
Người làm chồng hãy yêu thương vợ, như chinh Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh.
Vậy người làm chồng hãy yêu vợ như chinh minh, còn vợ thì hãy kinh sợ chồng.

Lời khuyên của Thánh Phaolô tưởng chừng như đơn giản và đẹp như một áng thơ: “chồng hãy yêu thương vợ như Đức Kitô yêu Hội Thánh, vợ hãy kính sợ chồng (tùng phục chồng trong mọi sự)”. Nhưng nếu các gia đinh Kitô hữu sống được những lời trên, thì sẽ có muôn muôn cặp gia đình được phong thánh và có lẽ nhân loại đã trở lại đạo hết mà không cần đến các nhà truyền giáo!
Nhưng thực trạng các gia đình lại khác xa những lời khuyên của Thánh Phaolô. Trong thế giới hiện đại, sự chung thủy trong hôn nhân cũng là một thách thức lớn, đến độ các thiệp cưới bây giờ, người ta rất ngại ghi câu Kinh Thánh: “Điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”, và thay vào câu khác nhẹ nhàng hơn: “Nguyện Chúa chúc phúc cho tình yêu của chúng con, hôm nay và mãi mãi”. 

Tôi đã thấy những người chồng vợ mất sớm, chán chường cuộc sống, thường rơi vào thói nghiện rượu. Tôi đã thấy những người vợ bị chồng đánh cho bầm mặt mũi vì không cung cấp tiền cho mình đánh bạc. Tôi tự hỏi: tại sao họ chấp nhận bị hành hạ mà không kêu cầu luật pháp trừng trị chồng mình? – Có lẽ là vì nghĩ đến con cái và vẫn nuôi hy vọng chồng mình thay đổi. Tôi đã thấy những người chồng bị vợ bỏ để chạy theo một mối tình khác, để lại một gia đình tan tác và những đứa con lạc lõng. Tôi vẫn thường nghĩ: thật là một đại họa cho người bị vợ hay chồng bỏ, một gánh nặng thể lý và tổn thương tâm lý.

Nhìn những cảnh gia đinh tan vỡ, nhiều người đưa ra một kết luận: vợ chồng muốn hòa thuận thì phải biết chịu đựng nhau, vì ai cũng có tật này tật nọ. Còn Thánh Phaolô, chỉ trong một đoạn văn thôi, Ngài đã dùng đến 2 lần chữ ‘kính sợ’: “Vì lòng kính sợ Chúa, vợ chồng hãy tùng phục lẫn nhau; vợ hãy kính sợ chồng”.  Kính sợ thì khác với sợ hãi. Khi nói về nhân đức thờ phượng, Chúa dạy chúng ta phải ‘kính sợ Đức Chúa Trời’ chứ không phải là ‘sợ hãi Ngài’. Sự kính sợ mang yếu tố tự nguyện và tôn kính, còn sợ hãi mang yếu tố bị ép buộc và thụ động. Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta thường dùng bạo lực để dọa nạt nhau và làm cho nhau sợ hãi, ngay cả trong gia đình.

Thánh Phaolô dạy: VÌ LÒNG KÍNH SỢ ĐỨC KITÔ, VỢ CHỒNG HÃY TÙNG PHỤC LẪN NHAU. Thánh nhân không muốn nói đến trật tự và cách vận hành của gia đình mà muốn nói đến  một con đường nên thánh của gia đình Kitô hữu là HÃY SỐNG THEO LỜI DẠY CỦA TIN MỪNG VÀ THEO SỰ THÚC ĐẨY CỦA THẦN KHÍ. Nói cách khác, mỗi người hãy điều chỉnh đời mình để thực hành các nhân đức Kitô giáo như: công bình, bác ái, tha thứ, nhẫn nhục, khiêm tốn, tôn trọng sự thật … thì bỗng dưng gia đinh êm ấm. Còn nếu một trong hai người rơi vào đam mê tội lỗi nào đó như ngoại tình, dối trá, cờ bạc, nghiện ngập, đua đòi … thì làm gì còn sự kính trọng và tuân phục (Submit) lẫn nhau nữa.

Khi chứng kiến sự tan rã của các gia đinh, người ta thường nêu lên những lý do: thời gian tìm hiểu không kỹ và học giáo lý sơ sài, không có kỹ năng sống … nên nảy sinh ‘những bất đồng không thể hàn gắn’. Những chuẩn bị cho các bạn trẻ là rất cần thiết và cũng tránh được nhiều cuộc tình đổ vỡ. Nhưng lý do thực sự gây nên sự đổ vỡ của các gia đình là 'lòng đạo bị sa sút', là do một trong hai người hoặc cả hai người đã biến chất, sống theo lối sống ích kỷ của mình nên gạt phăng người kia ra khỏi vòng tay yêu thương. Lòng kính sợ Chúa được hiểu nôm na là lòng tin, lòng cậy và lòng mến, là việc việc tuân giữ Lời Chúa. Thực ra chẳng ai dò được lòng người, dù có tìm hiểu kỹ bao nhiêu, vì cuộc đời mỗi người là một cuộc hành trình hơn là một thực tại tĩnh để ta chọn lựa. Thử nhìn lại cuộc sống hôn nhân của những bậc cha ông chúng ta ngày xưa: cha mẹ dàn xếp cả, vậy mà cứ sống với nhau đến đầu bạc răng long! Tất cả là vì họ có lòng đạo đức, yêu mến Chúa và yêu tha nhân như chính mình.

Vậy nên, ĐẦU MỐI KHÔN NGOAN LÀ LÒNG KÍNH SỢ ĐỨC CHÚA TRỜI. Vợ chồng hãy khuyến khích nhau sống đạo: đạo trong nhà thờ và đạo trong cuộc đời. Hãy điều chỉnh những khuynh hướng ngoại giáo đang len lỏi vào những câu chuyện được bàn luận trong gia đình và hãy tập cầu  nguyện chung với nhau. Và một điều nữa cũng rất quan trọng là vợ chồng hãy luôn cầu nguyện cho nhau: biết bằng lòng với cuộc sống, biết đón nhận nhau và biết nỗ lực tìm kiếm sự trọn lành.

Thứ Tư, 31 tháng 10, 2018

Mùa thu nói gì?




Trời đã vào cuối thu và đi vào mùa đông (mùa Đông Hà nội được kể từ tháng 11 đến hết tháng 1), trời se lạnh vào buổi sáng và lúc đêm về, trời chỉ hửng nắng ấm vào buổi trưa. Tôi chỉ mượn một vài cảm xúc về thời tiết của mùa thu đất trời để nói về mùa thu cuộc đời mà nhiều người đang trải qua.

Có một câu chuyện kể rằng: Thượng Đế đã sáng tạo nên muôn loài muôn vật và giữa chúng có một sự hỗ tương lẫn nhau. Ngài ban cho con người với 20 năm sống trên đời để vui hưởng cuộc sống. Ngài ban cho con trâu 60 năm để kéo cày giúp con người trồng trọt. Ngài ban cho con khỉ 20 năm để làm trò vui nhộn cho muôn loài và Ngài lại ban cho con chó 30 năm để canh giữ nhà cửa cho loài người. Sau một thời gian ngẫm nghĩ, con trâu xin trả bớt lại 40 năm kéo cày của nó, con khỉ cũng trả lại 10 năm và con chó xin trả lại 20 năm tuổi đời. Và con người thấy 20 năm sống của mình quá ít nên đã xin nhận thêm 40 năm của con trâu, 10 năm của con khỉ và 20 năm của con chó. Thượng Đế đã chấp nhận tất cả, nên ngày nay con người có 20 năm chuẩn bị vào đời, 40 năm để làm nên sự nghiệp, 10 năm để vui đùa với con chau và 20 năm cuối để ngồi trông ra cửa như con chó giữ nhà. Tôi thích nghĩ đời người được chia thành 3 giai đoạn: 20 năm đầu để chuẩn bị vào đời, 40 năm giữa để lập nghiệp và 20 cuối để chuẩn bị về trời.

Tuổi 60 có thể được xem là mùa thu cuộc đời, kiến thức và kinh nghiệm dư tràn nhưng không còn đủ nhiệt tình và sức khỏe để đảm đương những việc lớn. Người ở tuổi này đã cảm nghiệm được hơi lạnh của mùa Đông vĩnh cửu là cái chết, nhất là những lúc gặp vấn đề về sức khỏe và những va chạm cuộc sống, chứng kiến sự phũ phàng của tình người… Đôi lúc nhìn những đám mây lững thững trôi về cuối chân trời, họ như thấy đời mình cũng đang trôi dần về một cõi xa xăm nào đó: trời đất đang qua đi và mọi sự thế gian nầy cũng đang qua đi. Đôi lúc họ nhìn đời một cách nhẹ nhàng hơn, thấy mình không thuộc về nơi chốn này nhiều lắm mà như đang chuẩn bị đi du lịch ở một vùng đất nào đó… và rồi không biết tương lai cuộc đời sẽ ra sao? - Xin phó thác mọi sự vào tay Chúa quan phòng.

Nghĩ về mùa thu cuộc đời không phải là để bi quan và buông xuôi, nhưng hãy học cách chấp nhận nó như một quy luật tự nhiên của cuộc sống. Hãy tự biết mình và hãy sống hết mình. Không còn chỗ cho những huênh hoang tự đắc, những đấu tranh vô bổ, nhưng là biết sống chậm và cho những gì cần thiết: “Matta, con lo lắng nhiều chuyện, chỉ có một chuyện cần thiết thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất”. Người sống qua mùa thu cuộc đời muốn nghỉ ngơi đôi chút, trút bỏ những gánh nặng không cần thiết và những thứ làm cho tâm hồn mình ra nặng nề, dành thời gian để chuẩn bị cho con đường về trời của minh: sửa đổi chính mình, chuyên chăm nguyện cầu và âm thầm làm chứng cho những giá trị Tin Mừng.

Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2018

Xin cho con nhìn thấy Chúa




Thiên Chúa ban cho con người đôi mắt thể lý và đôi mắt tâm hồn.
Nói về nỗi khổ của kẻ thiếu đôi mắt thể lý thì khá dễ hiểu, họ không cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên và khuôn mặt tha nhân quanh mình cho nên họ thường khép kín tâm hồn: không ai hiểu mình và không ai thương mình. Chỉ có ai trải qua cảnh mù lòa mới cảm thông trọn vẹn với kẻ thiếu đi đôi mắt, là cửa sổ tâm hồn.

Nói về sự đui mù tâm linh thì còn khó diễn tả và hiểu thấu hơn. Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa ban cho họ một khát vọng sâu xa như một ánh sáng đủ sức giúp họ tìm về nguồn cội, Chúa ban cho họ luật tự nhiên là những quy luật cơ bản để họ sống xứng đáng là con người. Lời cầu nguyện của Thánh Augustinô đã diễn tả đầy đủ sự thật nầy: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa, nên hồn con mãi khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa”. Nghỉ yên ở đây không phải là R.I.P., nhưng là nhận ra chính Chúa là Chân Thiện Mỹ, là nguyên thủy và là cùng đích của muôn loài, Chúa là căn cội mà mỗi người phải quy chiếu về.. Thánh Augustinô, sau một thời gian dài chạy theo danh vọng và dục vọng, đã được Chúa mở mắt tâm hồn mà nhận ra rằng: “được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì được ích gì”. Và Thánh nhân đã từ bỏ quá khứ để trở nên người phục vụ Chúa Kitô một cách hăng say cho đến cuối cuộc đời.

Xin Chúa mở cho con đôi mắt tâm hồn để con thấy tình yêu Chúa kỳ diệu khắp nơi: nơi vũ trụ, nơi tha nhân và trong cuộc đời mình. Chính những đam mê làm cho đôi mắt tâm linh ra mù tối. Khi giảng dạy ở Nagiaret, Chúa Giêsu đã tuyên bố Ngài đến là để giải thoát cho kẻ bị giam cầm, loan tin mừng cho người nghèo khó, cho người què đi được,  cho người mù được sáng mắt. Tin Mừng chỉ thuật lại Chúa chữa lành đôi mắt thể lý cho vài người, nhưng Chúa đã mở mắt cho nhân loại khi công bố cho họ biết mọi người được ơn cứu độ, là con của Cha trên trời và là anh em với nhau.

Điều đáng buồn là sự mù lòa tâm linh là một ‘gen’ trội có tính lưu truyền rất mãnh liệt: người mù sinh ra người mù đã đành, cỏ lùng còn làm cho lúa chết ngạt hoặc biến chất. Sự mù tối tâm linh còn được sự tiếp tay của hệ thống luật pháp và sự cổ vũ vô trách nhiệm của đám đông mù quáng, gian dối.
Khát vọng sâu xa nơi nội tâm là một tia sáng và sự chiêm ngưỡng kỳ công vũ trụ là một tia sáng khác soi dẫn con người tìm đến Chúa: vũ trụ tốt đẹp nầy không thể tự nhiên mà có, phải có ai đó tạo thành. Chính hai nguồn sáng nầy đã thúc đẩy con người đi tìm chân lý: con người bởi đâu mà có, sống để làm gì, chết đi về đâu???

Còn nói tha nhân là anh em ư? Thật khó mà nhận ra khuôn mặt Chúa nơi những kẻ làm điều ác, dù biết rằng họ được tạo dựng giống hình ảnh Chúa và chính Chúa Giêsu đang hóa thân nơi họ, Chúa cải trang và ẩn thân nơi họ. Khi ai đó khó ưa, thì ta hãy cầu nguyện cho họ và vẫn phải yêu thương họ, vì đó là lệnh truyền của Chúa.

Có một câu chuyện kể rằng: Thiên Chúa muốn chơi trò ‘trốn tìm’ với con người. Để cho trò chơi thêm thú vị, các thiên thần góp ý với Chúa những nơi khó tìm nhất như là trên những đỉnh núi cao và nơi các vực thẳm đại dương, nhưng Chúa bảo: ta sẽ ẩn mình nơi tâm hồn con người là nơi họ không ngờ và họ không màng tìm kiếm. Thế đó, hãy trở về với nội tâm mình nhiều bao nhiêu có thể, ta sẽ gặp được Chúa và Chúa sẽ dạy ta nhiều điều.

Dưới gầm trời nầy, chỉ có Danh Giêsu mang lại ơn cứu độ và giải thoát con người khỏi những đam mê lầm lạc. Mỗi ngày hãy suy gẫm Lời Chúa, là lời có sức phân rẽ tâm hồn, là ‘đèn dọi bước chân con’. Hãy đến gặp Chúa Giêsu trong các bí tích, trong việc cầu nguyện, đọc sách đạo đức, nơi tâm hồn mình… thì chắc chắn Chúa sẽ ban cho ta một đôi mắt tâm hồn trong sáng và không bị lạc lối trên muôn nẻo đường quanh co nơi trần thế.

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2018

VÒNG TUẦN HOÀN CỦA LÒNG NHÂN HẬU


Người ta nói lòng tốt là một vòng tuần hoàn: Khi bạn trao đi lòng tốt, nó sẽ trở về bên bạn. Khi bạn gieo mầm hạt giống thiện lương, nó sẽ kết hoa thơm trái ngọt. Và, câu chuyện dưới đây có lẽ sẽ cho bạn thêm niềm tin vào điều đó.
Liz Woodward là một nhân viên phục vụ trong một cửa hàng thức ăn nhanh phục vụ 24/24h tại New Jersey, Hoa Kỳ. Cô luôn bắt đầu ngày làm việc mỗi ngày lúc 4 giờ sáng, khi trời vẫn còn tờ mờ.
Một ngày nọ, hai nhân viên cứu hỏa với gương mặt mệt mỏi bước vào của hàng nơi Liz đang làm việc và nói bằng giọng khản đặc: “Cô gái, cho chúng tôi hai tách cà phê espresso.” Hai người họ vừa tham gia cứu hỏa cho một vụ cháy lớn. Ngọn lửa trong nhà kho vô cùng dữ dội. Họ đã chiến đấu với nó suốt 12 giờ và cả đêm không hề chợp mắt. Lúc này, họ đang vô cùng kiệt sức và rất cần một ly cà phê để tỉnh táo lại.
Liz chăm chú lắng nghe câu chuyện của hai người lính cứu hỏa Paul và Tom trong khi pha cà phê. Cô rất cảm kích bởi những gì họ đã làm. Cô muốn mời họ hai ly cà phê và chuẩn bị một bữa sáng thật ngon thay cho lời cảm ơn những người hùng thầm lặng. 
Trên mặt sau của hóa đơn, Liz viết: “Tôi đã trả tiền cho bữa ăn sáng ngày hôm nay. Cảm ơn sự đóng góp của các anh. Khi tất cả mọi người đều tìm cách thoát thân, các anh lại không màng tính mạng lao vào ngọn lửa. Bất kể trách nhiệm là gì, các anh là người dũng cảm, mạnh mẽ nhất, cũng là tấm gương tốt nhất cho tất cả mọi người. Cám ơn vì mọi việc các anh đã làm, hãy nghỉ ngơi thật tốt”.
Hai người đàn ông mạnh mẽ bỗng bật khóc sau khi đọc được những lời khích lệ ấm áp từ cô gái trẻ. Họ đã làm công việc này rất nhiều năm, chứng kiến biết bao nỗi đau thương tâm sau mỗi vụ hỏa hoạn, nhưng có lẽ chẳng mấy người có thể hiểu được nỗi nhọc nhằn của những người làm lính cứu hỏa. Sự quan tâm của một cô gái trẻ chưa từng quen biết đã chạm tới trái tim mềm yếu của họ. Liz nhìn hai người đàn ông đang rưng rưng nước mắt, hai người cũng nhìn Liz. Họ dành cho nhau ánh mắt ấm áp và nở nụ cười, cuối cùng vẫy tay từ biệt. 
Sau khi trở về nhà, càng nghĩ về Liz, Tim càng cảm thấy cảm động. Anh đã chia sẻ câu chuyện này trên mạng xã hội, kèm theo lời nhắn gửi tới bạn bè: Hãy tới cửa hàng đầy ấm áp đó. Nếu như gặp được cô gái lương thiện này, hãy trả thêm một ít tiền. Thật bất ngờ, chỉ trong một đêm, lời nhắn nhủ của Tim đã nhận được rất nhiều ủng hộ từ cư dân mạng. Tấm lòng lương thiện của Liz được truyền đi khắp nơi. Nhiều người còn đích thân tới cửa hàng để khen ngợi, ủng hộ với cô gái.
Lúc này, mọi người mới biết về hoàn cảnh của Liz. Trên thực tế, gia đình của Liz không giàu có, thậm chí là khá túng thiếu. Đầu năm 2010, cha cô bị liệt do tổn thương não. Gia đình không đủ khả năng mua một chiếc xe hơi  có hệ thống đưa xe lăn lên xuống, nên người cha bị ốm của cô quanh năm phải nằm trên giường. Còn Liz, cô phải gánh vác toàn bộ công việc gia đình. Hiện tại, cô đang làm 3 công việc bán thời gian suốt ngày đêm.
Sau khi biết được hoàn cảnh của Liz, chàng lính cứu hỏa Tim không thể diễn tả được tâm trạng của mình. Anh đã cùng với một số đồng nghiệp của mình lên kế hoạch giúp đỡ cô gái lương thiện này. Chẳng mấy chốc họ đã tạo ra một trang gây quỹ cộng đồng để mua một chiếc ô tô cho cha của Liz. Ban đầu họ chỉ kỳ vọng quyên góp được 17.000 USD, không ngờ rằng số lượng người tham gia rất lớn và số tiền thu được lên đến 86.000 USD.
Khi Tim tới thăm cha của Liz và trao cho cô số tiền đó. Liz đã ôm chầm lấy anh và bật khóc. Cảnh tượng này cũng khiến cho những người lính cứu hỏa đi cùng phải rơi nước mắt. Có lẽ Liz cũng không ngờ rằng một hành động nhỏ của mình lại nhận được sự báo đáp lớn đến như vậy. 
Được biết, trước khi cha của Liz bị liệt, ông đã làm “nhân viên khắc phục thảm họa” trong nhiều thập kỷ. Trong mỗi thảm họa, dù lớn hay nhỏ, ông đều lao vào hiện trường để hoàn thành công việc của mình mà không màng tính mạng của bản thân. Lòng tốt ấy của ông có lẽ đã truyền cho con gái mình, và rồi cuối cùng lại quay trở về bên cạnh ông.
Vậy nên, người ta mới nói: Lòng tốt là một vòng tuần hoàn. Khi bạn trao đi lòng tốt, nó sẽ trở về bên bạn. Khi bạn gieo mầm hạt giống thiện lương, nó sẽ kết hoa thơm trái ngọt.
(Nguồn: Ephata 819)

Suy tư:
Trong cuộc sống không ai tránh khỏi những chuyện lọc lừa, chơi xấu và lừa dối. Hậu quả của những hành vi đó cũng được sánh ví với những thảm họa của môi trường và của thiên nhiên: phải có sự trợ giúp của Chúa và bạn bè; phải có thời gian để vết thương lành sẹo. Tôi xin chia sẻ một vài tâm tình và suy nghĩ tích cực khi đối diện với những hoàn cảnh đó:
Hãy dũng cảm đối diện với đời, vì vẫn có những người tốt bên cạnh mình, không phải ai cũng xấu. Chính lúc gian nan ta nhận ra con người thật của nhau để có cách hành xử trong tương lai. Đừng nhìn đời và nhìn mọi người với lăng kính màu xám.
Thời gian là thuốc chữa lành vết thương. Hãy biết rằng mọi sự rồi sẽ qua và Chúa luôn đồng hành trợ giúp ta.
Trong mọi hoàn cảnh, hãy xin: Đức Khôn Ngoan hằng ngự bên tòa Chúa đến giúp đỡ và làm lụng với con. Xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ, xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ.
Đây là cơ hội tốt để ta ngẫm nghĩ cảnh phù du của kiếp người, tập từ bỏ ý riêng và bám chặt vào Chúa hơn.
Đừng quá bận tâm đến miệng lưỡi người đời. Hãy giữ cái tâm mình trong sáng: không làm việc thất đức và biết cư xử với nhau bằng lòng thương xót. Hãy biết rằngThiên Chúa nhìn thấu tâm can mỗi người.
Khi đã bước qua chỗ ngoặt, đừng bận tâm đến nó nữa và đừng nói đến những người có những hành động không tốt nữa, kẻo mình lại xao động và nói những lời xúc phạm đến họ. Đừng quá bận tâm đến những chuyện nhỏ nhặt trong cuộc sống, tốt hơn hãy hướng tâm trí mình đến những chuyện cao siêu trên trời, vì NƯỚC TÔI KHÔNG THUỘC THẾ GIAN NẦY.
Khi đã ra khỏi nhà tù mà lòng còn giữ mối hận với những người cai tù thì chính mình còn bị họ giam giữ tâm trí và chưa được tự do. Hãy tha thứ và bỏ qua những chuyện ‘không hay’ trong cuộc sống cho lòng mình thanh thản và tươi vui.


Hãy tin chắc rằng vòng tuần hoàn của lòng nhân hậu cũng xảy đến với mình, một cách nhãn tiền hay vô hình: Thiên Chúa chúc phúc cho kẻ sống yêu thương, nhân hậu và khiêm nhường.

Thứ Năm, 4 tháng 10, 2018

Chuyện ông Giop



Trong Cựu Ước có hai khuôn mặt tiêu biểu cho một niềm tin sắt đá vào Thiên Chúa. Ông Abraham, được gọi là ‘cha của các kẻ tin’ và ông Giop có vẻ gần gũi với cuộc sống từng người chúng ta hơn: ông đã lãnh nhận niềm tin từ tiền nhân, được giáo hóa bởi lề luật, được giàu có và thành đạt như một sự chúc lành của Chúa, thử thách ập đến đưa ông đến tình trạng tột cùng nghèo, bệnh và phân rã gia đình. Bạn bè và vợ lên tiếng oán trách Chúa và chính ông cũng đã một lần lên tiếng nguyền rủa ngày mình được sinh ra.

Chúa đã chất vấn ông: Ngươi có ra lệnh cho mặt trời mọc lên hay lặn xuống được không? Ngươi có đo được đất trời rộng bao nhiêu không? Ngươi có biết ngươi được thành hình trong bụng mẹ ra sao và ngày đời ngươi được bao nhiêu không?- Và ông Giop đã thưa: chớ chi tôi đừng lên tiếng trách móc Chúa, dù chỉ một lần.

Hòa tâm tình của ông Giop, lời TV 138 (câu 1-14) thật tuyệt vời:
Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ, biết cả khi con đứng con ngồi.
Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa, đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét, mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả.
Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời, thì lạy Chúa, Ngài đã am tường hết.
Ngài bao bọc con cả sau lẫn trước, bàn tay của Ngài, Ngài đặt lên con. Kỳ diệu thay, trí thức siêu phàm, quá cao vời, con chẳng sao vươn tới!
Đi mãi đâu cho thoát thần trí Ngài, lẩn nơi nào cho khuất được Thánh Nhan? Con có lên trời, Chúa đang ngự đó, nằm dưới âm ty, vẫn gặp thấy Ngài.
Dù chấp cánh bay từ phía hừng đông xuất hiện, đến ở nơi chân trời góc biển phương tây, tại đó cũng tay Ngài đưa dẫn, cánh tay hùng mạnh giữ lấy con.
Con tự nhủ: ”Ước gì bóng tối bao phủ tôi và ánh sáng quanh tôi thành đêm tối!” Nhưng đối với Ngài, tối tăm chẳng có chi mù mịt, và đêm đen sáng tỏ như ban ngày, bóng tối và ánh sáng cũng như nhau. Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo, dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con. Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng, công trình Ngài xiết bao kỳ diệu!”
 
Câu chuyện ông Giop gợi lên cho chúng ta vài bài học:
Người ta vẫn thường bảo: ăn ngay ở lành, cha mẹ hiền lành để đức cho con. Nhưng có lẽ điều này không luôn luôn đúng, vì đối với Chúa thì phần rỗi linh hồn là quan trọng nhất, còn mọi sự ở trần gian không thực sự quan trọng như chúng ta vẫn tưởng. Sách GLHTCG dạy: Thiên Chúa là Đấng tốt lành và quyền năng tuyệt đối, tư tưởng của Ngài không ai có thể dò thấu, không bao giờ Ngài cho phép sự dữ xảy đến nếu nó không mang lại lợi ích lớn lao cho loài người.

Đau khổ và thử thách không nằm ngoài kế hoạch của Thiên Chúa và không vượt khỏi tầm kiểm soát của Ngài. Thử thách có nghĩa là tìm cách biết bản chất thực sự của một người và trui luyện một người cho xinh đẹp hơn. Theo nghĩa trên thì Thiên Chúa không cần đến sự thử thách vì Ngài am tường tất cả mọi điều, nhưng thử thách lại cần cho con người để họ nên nghĩa thiết và bám chặt hơn vào Thiên Chúa.

Để minh họa cho cuộc đời ông Giop và cuộc đời mỗi người, xin ghi lại câu chuyện đã đọc. Một người kia có giấc mơ kỳ lạ: Ông được đi du lịch với Chúa trên một tấm thảm. Hai người bay lên cao trên bầu trời. Chúa cứ rút dần những cọng thảm: nó thưa dần và xuất hiện một vài lỗ hổng. Vậy mà Chúa cứ tiếp tục rút thêm nữa cho đến khi lỗ hổng quá lớn nên tấm thảm hạ dần và rơi xuống đất. Người đó quá hoảng sợ nên bám chặt vào Chúa và ông hiểu ra rằng Chúa cho con người chịu thử thách đôi chút, bệnh một chút, thất bại và mang tiếng xấu, bị người đời ruồng bỏ… là để con người bám chặt hơn vào Chúa. Nhưng Chúa không thử thách ai quá sức chịu đựng, Chúa là người cha luôn dõi mắt đến từng người để dìu họ bước đi trên con đường trọn lành.

Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.

Thứ Hai, 28 tháng 5, 2018

CÁI TÔI CỦA NGƯỜI VIỆT




PHI LỘ: Le moi est haïssable – cái tôi đáng ghét. Nhưng mấy ai muốn dẹp cái-tôi-đáng-ghét đó, mà còn muốn cho nó vùng lên, trỗi dậy bất cứ lúc nào. Dẹp được “cái tôi” (ego) là có thể sống khiêm nhường – nhân đức nền tảng của tòa nhà nhân đức mà Thiên Chúa yêu quý, và cũng là nhân đức cần thiết để thành nhân và nên thánh.
Tác giả Từ Thức (Đinh Từ Thức) là ký giả báo Ngôn Luận và Chính Luận tại Sàigòn ngày xưa. Nay ông đã cao niên, thế nhưng bộ óc của ông không hề già nua. Đây là một bài viết hay của ông về “cái tôi” của con người, đặc biệt là của người Việt. Xin được giới thiệu với độc giả!
Gặp một người bạn. Trong một giờ, anh ta nói về anh 57 phút, anh đã làm những gì khiến Tây phải le lưỡi. Ba phút còn lại, trước khi chia tay, anh ta mới hỏi: “À, hồi này bạn làm gì, sống chết ra sao?”
Tại sao cái tôi, cái “Ego”’ của người Việt lớn thế? Gặp không biết bao nhiêu người vỗ ngực, tự cho mình là vĩ nhân. Không phải chỉ vỗ ngực, còn trèo lên nóc nhà gào khản cổ: tôi giỏi quá, tôi phục tôi quá, tại sao tôi tài ba đến thế ?
Một lần ngồi nhậu với 5 ông, có cảm tưởng ngồi với 5 giải Nobel Văn Chương. Nói chuyện với một ông bác sĩ trong hẻm, tưởng ông ta đã kiếm ra Pénicilline. Những ông như vậy, nhan nhản. Nói “ông”, vì hầu như đó là một cái bệnh độc quyền của đàn ông. Như ung thư vú là bệnh của đàn bà.
In một hai cuốn sách tào lao tặng bố vợ, nghĩ mình ngồi chung một chiếu với Marcel Proust, Victor Hugo, Beaudelaire, Nguyễn Du. Lập một cái đảng có ba đảng viên, kể cả em gái và mẹ vợ, nghĩ mình là lãnh tụ, ăn nói như lãnh tụ, đi đứng, tắm rửa như lãnh tụ. Viết vài bài lăng nhăng, đầu Ngô mình Sở, nghĩ mình là triết gia, đại trí thức, sẵn sàng dẫn dân tộc đi lên (hay đi xuống). Học gạo được cái bằng (chưa nói tới chuyện mua được cái bằng), nghĩ mình đã kiếm ra điện và nước nóng.
TÔI, TÔI, TÔI
Một ông bạn in một tấm danh thiếp khổ lớn, dầy đặc những chức tước, trong đó có “nhà nghiên cứu”. Những người quen không biết ông ta nghiên cứu cáí gì, lúc nào. Người viết bài này đáng nhận là nhà nghiên cứu hơn, vì thỉnh thoảng vào Google tìm mẹo trị mắc xương cá, hay cách nấu canh hẹ tầu hũ.
Bất cứ người Việt nào cũng là một cái nhà gì đó. Hơn một cái nhà, đó là những lâu đài.
Cũng lạ, cái TÔI to tổ bố ở một xứ như Việt Nam. Việt Nam, xứ người ta nói ảnh hưởng văn hoá Phật giáo, tôn giáo của vô ngã, cái tôi không có. Nơi chịu ảnh hưởng Lão giáo, những người đã ra suối rửa tai khi nghe thiên hạ nhắc tới tên mình. Nơi người Công Giáo hành đạo nhiệt thành, và Công Giáo coi vị tha, nghĩ tới người khác, là đức tính hàng đầu. Khổng giáo? Khổng tử nói: biết, nói là biết; không biết, nói là không biết; thế là biết đấy. Người Việt ta cái gì cũng biết, quên rằng thỉnh thoảng nhận mình không biết là dấu hiệu của sự thông minh.
Không lẽ người Việt không hiểu tôn giáo mình đang theo?
Có ai đã gặp một người Nhật vỗ ngực: tôi, tôi, tôi. Nói chuyện với người Nhật, chưa gì họ đã mang giấy bút ra ghi chép. Làm như những điều bạn nói là khuôn vàng, thước ngọc. Hỏi những người khác, mới biết cái ông ngồi trịnh trọng ghi chép đó là bực thầy.
Nhớ mãi một buổi hội thảo của người Việt. Ông MC nói về mình trước khi giới thiệu diễn giả. Không phải chỉ giới thiệu diễn giả, nhưng tất cả những người ngồi trên bàn cử tọa, chức tước, bắng cấp, tiểu sử, kể cả, nhất là những chi tiết oanh liệt không liên hệ gì tới đề tài thuyết trình. Sau phần giới thiệu những chủ tọa đoàn, tới lượt… những người tham dự. Chúng tôi hân hạnh có sự tham dự của Giáo sư X, tiến sĩ Y, chủ tịch Z. Vì tất cả đều có bằng cấp, chức tước cùng mình, việc giới thiệu tất cả văn võ bá quan kéo dài cả giờ. Mời 14 giờ, bắt đầu 15 giờ 15, giới thiệu xong phải thảo luận vội vàng cho kịp giờ trả phòng. Thảo luận nghĩa là mỗi người lên cầm micro nói các anh láo cả, chỉ có tôi là có lý.
TÔI LÀ CHÂN LÝ
Nước Việt nghèo, chậm tiến, lạc hậu, thua thiên hạ mọi mặt. Đáng lẽ người Việt phải khiêm nhượng, biết người, biết mình. Nhưng không, trong tự điển cá nhân của người Việt không có chữ khiêm tốn. Nhiều lần tôi gân cổ cãi với bạn bè, về nhà nghĩ: không chừng nó có lý. Tại sao không nhìn nhận ngay? Bởi vì cái tôi nó lớn quá. Bênh vực cái tôi trước đã, thực hư tính sau.
Socrate nói càng học càng thấy mình không biết gì. Những nhà khoa học nói khoa học bắt đầu bằng sự hoài nghi. Có hoài nghi mới đặt lại vấn đề, mới học hỏi, tìm tòi. Người Việt ta không bao giờ hoài nghi về cái biết mênh mông, cái tài quán thế, trùm thiên hạ của mình.
Nước Việt sống dưới ách đô hộ của một nhóm mafia, tự phong cho mình toàn quyền sinh sát. Thế kỷ 21 vẫn chưa có quyền suy nghĩ. Viết vài chữ, nói vài câu phải lo có đúng ý người trên hay không. Vẫn khư khư bám vào một chế độ kỳ quái đã bị cả thế giới từ bỏ. Trong hoàn cảnh đó, đáng lẽ không có người Việt nào nên hãnh diện quá đáng, nếu không xấu hổ, vì quả thực không có gì vẻ vang phải cúi đầu để sống. Hay bất lực, nhìn quê hương mình lao xuống vực thẳm.
Ở đâu cũng có những cái tôi, nhưng ở người Việt, nó đạt một tỷ số đáng ngại. Mỗi lần, hiếm hoi, gặp một người đồng hương có khả năng nhưng khiêm tốn, tôi nghĩ bụng: ông nội này mất gốc rồi.
Thảo luận với người Việt rất khó, vì ai cũng nghĩ là mình nắm chân lý trong tay. Nghĩ khác là xúc phạm ông ta, xúc phạm chân lý, bôi nhọ sự thật. Phải căm thù, phải tiêu diệt, phải triệt hạ, phải tố cáo, chụp mũ.
Cái tôi lớn, phải chăng đó là nét đặc thù của một dân tộc đầy tự ti mặc cảm? Trong cái kiêu hãnh lố bịch của người “mang dép râu mà đi vào vũ trụ” của Tố Hữu, có cái tự ti của những người vẫn mang dép râu ở thế kỷ 20, 21.
 Trong y học, égocentrisme là một cái bệnh, pathologie. Và trong 9 trên 10 trường hợp, những người có mặc cảm tự cao, tự đại (complexe de supériorité) là để che đậy tự ti mặc cảm (complexe d’infériorité).
Những người có thực tài rất khiêm nhượng, vì họ không so sánh với người khác. Họ so sánh mình với mình, so sánh mình hôm nay với mình hôm qua, so sánh tác phẩm mới với tác phẩm cũ của chính mình, so sánh thành quả hôm nay với thành quả những năm trước. Và thường thường thất vọng.
Khi một nghệ sĩ thoả mãn với tác phẩm của mình, anh ta hết là nghệ sĩ. Anh ta không tìm tòi nữa, anh ta về hưu. Như một công chức, một tài xế xe đò về hưu.
Image result for Olivier MessiaenKhi một nhà khoa học thỏa mãn với khám phá của mình, anh ta không khám phá nữa. Một lý thuyết gia thoả mãn, anh ta không đọc nữa, không tìm tòi nữa. Chúng ta không có khoa học gia, vì học xong có cái bằng là đủ sướng rồi, treo bằng lên tường ngắm mỗi ngày, tìm kiếm gì nữa?
ĐÈN DẦU VÀ ĐÈN ĐIỆN
Thomas Edison nói nếu hài lòng với đèn dầu, tìm cách cải thiện đèn dầu, sẽ không bao giờ kiếm ra điện.
Người Việt ta dễ thoả mãn quá, dễ kiêu hãnh quá, dễ “tự sướng” quá. Chúng ta hài lòng với ngọn đèn dầu leo lét trong nhà, nghĩ là hải đăng. Hậu quả là cái gì của ta nó cũng nho nhỏ. Cùng lắm là xinh xắn, dễ thương, nhưng đồ sộ, vĩ đại thì không có. Không thể có. Tham vọng nhỏ, thành quả nhỏ.

Mỗi lần nghe, hay coi Jean Marie Le Clézio, Patrick Modiano trong những chương trình văn học trên France Culture, hay trên France 5, ít người nghĩ họ đã chiếm giải Nobel Văn Chương.
Ông là Olivier Messaien, một trong những tác giả nhạc cổ điển lớn nhất của hậu bán thế kỷ 20. Rất nhiều các nhạc sư, nhạc trưởng nổi tiếng ở Âu Châu, như Pierre Boulez, Iannis Xenakis hãnh diện là đệ tử của ông. Tác phẩm opéra “Saint-François d’Assise” của ông được trình diễn trên khắp thế giới, được đón nhận như những tác phẩm của Mozart, Beethoven...
Pablo Picasso khi thành công, được ca tụng ở “période rose” (thời kỳ hồng), nếu thỏa mãn, sẽ không có “période bleue”, thời kỳ xanh. Nếu thoả mãn với “période bleue” (thời kỳ xanh) sẽ không có tranh lập thể, đưa hội họa đi vạn dặm. Một giai thoại: Picasso mời bạn bè ăn tiệm. Cuối bữa ăn, gọi tính tiền. Chủ tiệm nói xin miễn chuyện tiền bạc, được tiếp Picasso là hân hạnh rồi. Pablo vẽ vài nét trên tấm khăn phủ bàn, tặng chủ tiệm. Ông này nói xin maître ký tên. Picasso trả lời: “Tôi chỉ trả bữa cơm, không muốn mua tiệm ăn”.
Nếu Picasso là người Việt, sẽ thấy đời mình đã quá đủ để thoả mãn: vua biết mặt, chúa biết tên, chữ ký đáng ngàn vàng, chỉ việc ngồi hưởng và chiêm ngưỡng dung nhan mình. May mắn cho hội họa, ông ta là người Tây Ban Nha, hỳ hục tìm tòi cho tới chết.
Họ khiêm nhượng, ngập ngừng, do dự, gần như cáo lỗi sắp sửa nói những điều tào lao.
Le Clézio, Nobel 2008, khoanh tay, chăm chú nghe một tác giả vừa chân ướt chân ráo vào nghề, nói về một cuốn sách đầu tay. Modiano, Nobel 2014, tìm chữ một cách khó khăn, ngượng ngập, ít khi chấm dứt một câu, như muốn nói: thôi, bỏ qua đi, những điều tôi muốn nói chẳng có gì đáng nghe. Ông ta thực sự ngạc nhiên không hiểu tại sao có người nghĩ đến mình để trao giải. Ông ta nói có người đọc sách của mình đã là một phép lạ.

NGƯỜI VÀ TA

Những năm đầu ở Pháp, có thời tôi cư ngụ Rue Marcadet, Paris. Bên cạnh là một cặp vợ chồng già, hiền lành, bình dị như một cặp thư ký hay công nhân về hưu. Mỗi lần gặp ở thang máy, bà vồn vã chào, hỏi thăm đủ chuyện. Thỉnh thoảng ông mời vào nhà, uống trà, hỏi chuyện về Phật Giáo mà ông nói đọc nhiều, nhưng có điều không hiểu. Thí dụ ông muốn so sánh khái niệm về Niết Bàn của Phật Giáo với Thiên Đàng của Thiên Chúa Giáo.
Ông là một người Công Giáo thuần thành, nhưng muốn tìm hiểu về những tôn giáo khác.
Tuyệt nhiên không bao giờ ông bà nói về mình. Nếu không coi TV, chắc không bao giờ tôi biết bà là Yvonne Loriot, danh cầm hàng đầu của Pháp, chiếm giải nhất 7 lần khi học ở Conservatoire de Paris, trước khi trở thành một giáo sư âm nhạc có uy tín.
Ông bà sống trong một căn nhà bình dân, ăn uống đơn giản như một cặp vợ chồng nghèo. Tiền bản quyền nhạc đem tặng – một cách kín đáo – các hội từ thiện, hay giúp trùng tu Nhà Thờ Notre Dame de Lorette gần nhà. Những lúc rảnh rỗi, bà theo ông vào rừng, thu thanh để nghiên cứu tiếng chim hót.
Ai biết hai ông bà già, lễ độ, gần như vụng về, đang xếp hàng mua ổ bánh mì, là những nhân vật chiếm chỗ lớn trong bất cứ một tài liệu nào về âm nhạc cổ điển cận đại, tuần trước còn là thượng khách của hoàng gia Thụy Điển.
Khi nào ta có những người như Modiano, Le Clézio, Messaien – chưa nói tới tài năng, chỉ nói tới thái độ khiêm tốn – Việt Nam sẽ là một dân tộc trưởng thành. Trong khi chờ đợi, chúng ta tiếp tục leo lên nóc nhà, gào: “Tại sao tôi tài giỏi quá như vậy?” Khi gào mỏi, leo xuống, đóng áo thụng vái nhau.
Đó cũng là một trò vui, nếu hậu quả không nghiêm trọng. Chúng ta đều đồng ý với nhau là đất nước đang trên bờ vực thẳm, không thể nhẫn tâm khoanh tay nhìn. Nhưng chúng ta không ngồi nổi với nhau. Những cái tôi đụng nhau chan chát, chúng ta ghét nhau hơn ghét kẻ thù. Người Việt nào cũng có lần uất ức vì không được đãi ngộ, đối xử xứng đáng với tài năng lớn lao của mình. Tổ chức nào cũng không sống nổi ba bẩy 21 ngày, cũng phải chia thành hai, thành bốn, tách ra như những tế bào. Bởi vì trong thâm tâm, mỗi người chúng ta nghĩ chỉ có mình mới xứng đáng lãnh đạo.
Không được thỏa mãn, chúng ta phá nhau hơn phá kẻ thù. Cái TÔI nó lớn quá. Lớn hơn cả vận mệnh dân tộc.
TỪ THỨC
(Nguồn Ephata 798)