Danh sách Blog của Tôi

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2017

Lòng dũng cảm




Ai đó đã nói: “Người dũng cảm là người dám làm những việc phải làm và cần làm, bất chấp hậu quả có nguy hại đến mình”. Nói như vậy thì người dũng cảm hành động theo tiếng gọi của lương tâm và của lòng thương xót. Chứng nhân của lòng dũng cảm thì không thể liệt kê hết được và họ thuộc mọi lãnh vực từ xã hội cho đến tôn giáo: các thánh nhân, các nhà khoa học, các nhà đấu tranh cho sự tiến bộ nhân loại, binh lính và kể cả người công nhân bình thường nhất. Người dũng cảm là người sống trung thực với lương tâm của mình và trung thành với những điều cam kết.

Trên sóng truyền hình chúng ta thấy có những người sống quá tốt khi họ cưu mang và giúp đỡ những người nghèo. Nhưng khi đọc những câu chuyện về sự vô cảm và hèn nhát của một tập thể thì lòng ta quặn đau: chuyện nhà độc tài Hitler ở Đức, chuyện một em bé ở TQ bị xe cán 2 lần trên phố, và mới đây chuyện xảy ra với một em bé lớp 2 ở Hà nội bị gãy chân ở sân trường mà không ai biết vì sao? Chuyện xảy ra ngay giữa ban ngày, tại sao lại phải cần đến một hình thức ‘ chứng cứ tập thể’ là phiếu khảo sát? – Nỗi sợ: sợ trách nhiệm, mất tiền và mất quyền.

Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng: “Có thì nói có, không thì nói không, thêm thắt là do ma quỷ”. Chúa còn nói rằng “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì được ích gì”. Điều căn bản nhất của đạo làm người là sự chân thật. Điều bất cập là con cái chúng ta sau khi trải qua 12 năm đào tạo ở nhà trường thì ít nhiều đã học được sự gian lận như một phương thế để tồn tại, trừ ra những đứa dở hơi. Xã hội chúng ta đầy dẫy những kẻ sống không thật: lời nói lật lọng, trộm cắp, ích kỷ và vô tâm.

Tuy nhiên, chung quanh chúng ta vẫn còn biết bao người sống dũng cảm, họ trung thành với những bổn phận hằng ngày, họ chân thật và còn tốt bụng nữa. Mỗi ngày sống ta phải xin Chúa thêm sức mạnh để chiến thắng sự dữ trong giáo xứ mình, dũng cảm làm chứng cho sự thật và chân lý: “liệu khi Con Người đến, có còn thấy niềm tin trên mặt đất này nữa chăng?”. Hãy củng cố mối thân tình với Chúa Giêsu để múc lấy nguồn sức mạnh nơi Ngài, Đấng đến để nói lên sự thật và đã chết để làm chứng cho sự thật.






Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2017

Lột xác




Mỗi năm ít là một lần, mỗi con rắn lột bỏ lớp áo cũ để có một hình hài mới phù hợp với cơ thể đang lớn lên của nó. Hình ảnh con rắn lột xác gợi cho ta một khái niệm: con người cũng phải thay đổi chính mình để cuộc sống phong phú hơn và đẹp hơn về tâm linh.
Người ta thường cậy dựa vào những tiến bộ khoa học để làm thân xác mình thay đổi theo sự mong ước: khuôn mặt, các vòng 1-2-3 hoặc cả tay chân, nhưng lại ngại đối diện với chính mình để thay đổi về lối sống phù hợp với chân thiện mỹ. Nhiều người thường dựa vào câu nói ‘bản tính khó dời’ để rồi không chuyên tâm sửa đổi tính nết của mình cho thanh cao và thánh thiện hơn.

Theo Đức Kitô là chấp nhận từ bỏ chính mình để trở nên giống như Ngài. Muốn vậy, điều tiên quyết là ta phải chiêm ngắm cuộc sống và lời nói của Đức Giêsu. Từ cuộc sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, đến sự tự hạ của Chúa để làm người. Từ cuộc sống khó nghèo nơi hang đá, sống đạm bạc trong suốt 30 năm nơi một làng quê nghèo, cuộc sống rao giảng nay đây mai đó, bị người ta xuyên tạc và bêu xấu, và cuối cùng là sự trần trụi trên thập giá: Chúa yêu tôi và hiến mình vì tôi.

Lời của Chúa nói với tôi những lý luận rất khác với thế gian nầy: phúc cho kẻ sống nghèo, cho kẻ hiền lành, cho kẻ ưu phiền, cho kẻ khát khao sự công chính, cho kẻ biết xót thương người, cho kẻ tác tạo hòa bình và cho kẻ bị bách hại vì sự công chính… vì nước trời là của họ.

Lúc đương thời, người ta đã nói rằng Chúa là kẻ mất trí, là người dại, là kẻ bị quỷ ám…Ngày hôm nay, một xã hội tôn thờ vật chất, tự do cá nhân, sự hưởng thụ thì những kẻ sống theo phúc âm cũng được xem là những kẻ khờ dại. Nhưng chính niềm tin rằng ‘cuộc sống tại thế chỉ là bước chuẩn bị cho cuộc sống mai sau vĩnh cửu’ đã thúc đẩy người Kitô hữu cất bước mỗi ngày theo Đức Giêsu:
Ngài là nguồn sống của họ.
Ngài đang đồng hành bên họ.
Ngài ban cho họ sức mạnh chiến thắng tội lỗi và những nết xấu.
Đừng để tâm hồn mình chai cứng –không chịu thay đổi, vì điều đó làm buồn lòng Chúa.
Mỗi chặng đường mới, mỗi năm mới, hãy có một quyết tâm nhỏ, điều đó làm cho bạn đẹp hơn dưới con mắt Chúa và người thân.

Hãy tìm ra tận căn bệnh chứ đừng chỉ tóm được cái ngọn. Ví dụ nếu tôi có tật hay nói xấu và lên án người khác, gây chia rẽ và bất an cho cộng đoàn, thì căn nguyên của bệnh không nằm ở miệng mà là ở tâm - do lòng kiêu ngạo, nên phải có một quyết tâm luyện tập đức khiêm nhường: nhiều lần trong ngày từ bình minh cho tới lúc chiều tà, tôi sẽ thưa với Chúa ‘Lạy Chúa, con là vật phàm hèn cùng là không trước mặt Chúa’.

Nguyện xin Chúa chúc lành cho thiện chí chúng con trong năm mới nầy. Amen

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2016

Căn bệnh thời đại




Trong lãnh vực y học, khi nói về cụm từ trên, người ta thường hiểu đó là căn bệnh HIV-AIDS hoặc là bệnh ung thư, vừa thịnh hành vừa không có thuốc chữa. Tôi muốn dùng cụm từ trên cho một căn bệnh tâm hồn, đó là bệnh ‘mất cảm thức về tội’.

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 đã từng nói: “Căn bệnh lớn nhất của thời đại chúng ta là mất cảm thức về tội”. Thế nhưng hầu như chúng ta không để ý đến mức độ nguy hiểm của căn bệnh nầy và không có những phương cách đối phó thích hợp. Căn bệnh nầy hoành hành ở phương Tây đã đành mà nay nó đã lây lan sang tận đất nước VN chúng ta, một Giáo hội rất siêng năng đi nhà thờ và nhiều lễ lạy hoành tráng.

Tình trạng ‘ hâm hâm dở dở’ về đời sống đạo ở Tây Phương tương đối dễ hiểu, vì theo các nguồn thông tin cho hay các tín hữu ít đến nhà thờ hằng tuần, họ bị ảnh hưởng nhiều bởi thuyết ‘tương đối về luân lý’: những gì mà đa số công nhận, được quyết định bởi các thùng phiếu và luật pháp thì điều đó là chấp nhận được. Bên cạnh đó, xã hội Tây Phương là một xã hội nặng về hưởng thụ, đề cao tự do cá nhân, nên nhiều thành viên Giáo hội đã sa vào tình trạng ly dị và tái hôn bất hợp pháp. Ở VN chúng ta, hiện tượng thường xảy ra tại một số xứ đạo là tình trạng rước lễ đến 98,98%, và tòa giải tội thì vắng tanh, nếu linh mục có sẵn sàng ngồi tòa thì cũng rất ít người đến, vì người ta quen với việc ‘xưng tội một năm ít là một lần’. Đây không phải là một điều mừng, đừng tưởng đây là một cộng đoàn ‘các thánh sống’, thực ra họ cũng mang những căn bệnh thế kỷ chẳng qua là không chịu đi ‘khám bệnh định kỳ’, nên không biết mình có bệnh: lương tâm vẫn yên ổn, vẫn rước lễ đều đặn. Nhưng kỳ thực, nhiều người trong cộng đoàn vẫn trộm cắp, làm chứng gian, ngồi lê đôi mách, chia rẽ, ích kỷ…

Điều quan trọng là phải có những phương sách để chấn chỉnh sự vô cảm tâm hồn nơi linh mục và giáo dân. Lời sách Khải Huyền: “Ta trách ngươi đã đánh mất tình yêu thuở ban đầu”. Tương quan giữa Giáo hội với Chúa Kitô được sánh ví như tình yêu vợ chồng, phải có sự nồng thắm, tế nhị và nhạy cảm. Người ta thường bảo tâm hồn trẻ em tựa như một tờ giấy trắng, cái gì được viết lên trên đó thì sẽ còn mãi, tốt nhất là cố giữ cho tâm hồn trẻ được trong trắng, đơn sơ và thật thà. Tâm hồn ta cũng vậy, chỉ cần vài năm ‘hâm hâm’ thôi là đã đủ để nó chai lỳ và rất khó để hâm nóng lại. Điều thường xảy ra là các linh mục thường bận rộn với đủ thứ công việc riêng mà coi nhẹ vấn đề ngồi tòa, có vị đã nói với giáo dân rằng ‘ngoài những ngày giờ quy định’ thì đừng ai đến xin xưng tội, thì đến lúc ngài muốn ngồi tòa cũng chẳng có mấy người đến: họ đã khô như ngói cả rồi. Ai cũng nhận mình là kẻ tội lỗi, nhưng muốn kiếm ra tội cụ thể để xưng tội lại là một điều khác: chẳng có tội gì đáng xưng cả! Vấn đề không phải mình đã là thánh sống, nhưng vì lương tâm chai lỳ rồi nên chẳng có gì đáng tội phải xưng cả: tội nặng lâu ngày thành tội nhẹ, tội nhẹ thì chẳng phải xưng. Đúng là một cái vòng luẩn quẩn. Các linh mục phải huấn luyện lại lương tâm cho giáo dân, cầu nguyện cho giáo dân và cổ võ giáo dân đến tòa giải tội để được Chúa Giêsu chữa lành tâm hồn.

Còn nhớ chuyện ngày xưa, các linh mục ít bận rộn chuyện xây cất và chuyện đi đây đi đó, giáo dân sống lơ thơ với chuyện làm ăn, lai rai cả ngày có người lai vãng đến nhà xứ để chuyện trò hoặc xin xưng tội, bất kể sáng trưa chiều tối. Nhưng ngày nay ai cũng bận rộn, giáo dân ai có việc cần mới vào nhà xứ vì sợ phiền các cha, còn chuyện xưng tội thì cấm kỵ rồi: đợi đã, lúc nào rảnh hãy xưng. Và thế là cơ hội ơn thánh đã qua đi. Một người quen sống dơ bẩn thì sẽ không còn thấy khó chịu với sự dơ bẩn là vậy.

Xin Chúa thương xót chúng con. Xin cho chúng con biết chấn chỉnh lại cuộc sống : đừng quá mê mải sự đời mà ngày Chúa đến gọi về với Ngài đến quá bất ngờ. Vì khi cửa tàu Noe đóng lại, lụt hồng thủy ập đến thì tất cả đều mạng vong.

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2016

Tạo vật mới




Khởi đầu mùa vọng, khởi đầu năm phụng vụ mới, mỗi người Kitô hữu được mời gọi tiến về ánh sáng là Chúa Kitô. Thánh Phaolô đưa ra ba tiêu chí phải tránh: Không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, không cãi cọ ghen tương.
Thánh Gioan thì đưa ra những tiêu chí phải tránh khác: đam mê của con mắt, đam mê của xác thịt và lòng kiêu hãnh về của cải. Chúa Giêsu đưa ra rất nhiều lệnh truyền, nhưng tôi thích một câu nói mang tính xã hội của Ngài : “Có thì nói có, không thì nói không, thêm thắt là do ma quỷ”. Còn về người đời thì có quá nhiều câu danh ngôn, nhưng tôi thích một câu rất ngắn: “Hãy sống cho tử tế”: tự trọng, có trách nhiệm về lời nói và hành động của mình, tự chủ và quảng đại.
Hôm nay chúng ta đào sâu hơn một chút về ba tiêu chí phải tránh của Thánh Phaolô:
 -Chè chén say sưa. Tật xấu này đã có từ ngàn xưa và chắc chắn sẽ còn kéo dài mãi. Thượng Đế đã ban cho con người những khoái cảm và những xúc giác đi liền với ngũ quan. Một trong những khoái cảm đó là sự khoái khẩu : ăn uống thấy ngon miệng. Nhưng người ta thường lạm dụng những món quà đó bằng cách kích thích nó quá đáng, bên cạnh đó còn kèm theo sự ích kỷ hưởng thụ mà quên tha nhân. Người ta còn tô vẽ sự chè chén say sưa  như là phong cách của người biết hưởng thụ và của kẻ sành đời. Thật ra sự chè chén say sưa thường đưa con người đến những thói xấu khác như dâm dật, ích kỷ, vô trách nhiệm và mất tư cách, hoang phí thời gian và tiền bạc. Năm 2009, Dmitry Medvedev, tổng thống Nga, đã nói một câu đánh động lương tâm con người: Rượu Vốtca là đại họa của nước Nga, bình quân mỗi người Nga uống 18lít Vôtca/năm. Đất nước VN chúng ta uống bia rượu có tiếng và chính phủ đang tìm cách giảm dần sự chè chén say sưa nầy bằng nhiều cách : truyền thông, phạt nặng các tài xế trong tình trạng có cồn, cai nghiện.
- Chơi bời dâm đãng. Tính dục cũng là một món quà của Thượng Đế giúp con người duy trì nòi giống và diễn tả tình yêu phái tính, nhưng tình dục bị con người làm biến dạng trở thành một tội phạm phổ biến chống lại luật lệ tự nhiên đã được khắc ghi trong lương tâm mỗi người. Trong tuần qua thời sự nóng lên về vụ hàng ngàn bao cao su đã qua sử dụng nổi trắng một số điểm ở hồ Linh Đàm, người ta nói nhiều về cảnh quang môi trường, nhưng khía cạnh khác nổi cộm hơn là vấn đề đạo đức xã hội. Theo sự đồn đoán thì nguồn gốc của số rác này là từ những nhà nghỉ hay khách sạn : những cuộc hưởng lạc bất chính ngoài hôn nhân. Thiên Chúa thấu biết tâm can từng con người và Ngài phải chịu đựng sự sa đọa nầy: Nếu Chúa không thương xót thì chẳng ai còn tồn tại trên đời.

-Sự cãi cọ ghen tương. Hiện tượng nầy trái ngược với giới luật yêu thương mà Chúa đã truyền dạy. Sự chia rẽ là con đẻ của ma quỷ, làm cho tâm hồn con người bất an, huênh hoang tự đắc về bản thân và nuôi dưỡng lòng hận thù. Chúng ta tìm đọc một vài lời khuyên về vấn đề nầy. Thánh Phaolô dạy rằng : Còn những cuộc tranh luận điên rồ, những chuyện gia phả, những vụ cãi cọ, xung đột về Lề Luật, anh hãy tránh xa: những cái đó vô ích và rỗng tuếch (Titô 3,9). Lời Thánh Giacôbê: Thật vậy, ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa (3,16). Sự cãi cọ ghen tương là một minh chứng rằng chúng ta đang sống theo xác thịt, chưa bước theo Thần Khí.


Cuộc đời con người từ khi sinh ra đến lúc nhắm mắt lìa đời xét cho cùng là một quá trình đi tìm chân lý và tìm lẽ sống cho cuộc đời. Điểm cốt lõi của nhân sinh quan là trả lời được câu hỏi ‘có Thiên Chúa hay không và tầm mức hoạt động của Ngài đến đâu trong vũ trụ nầy’. Những người trẻ thường hời hợt với tôn giáo vì chúng bị bạn bè và xã hội nhồi nhét vào não thuyết duy lý và duy vật, trong lúc vốn giáo lý của người trẻ cũng bị hạn chế; càng tiến về lúc xế bóng của cuộc đời người ta lại càng nhận ra: Chúa là cùng đích của cuộc đời, cuộc sống trần thế chỉ có ý nghĩa khi nó là bước chuẩn bị tốt đẹp cho cuộc sống mai sau. Mỗi ngày sống qua đi, mỗi người hãy quyết tâm thuộc trọn về Chúa hơn.

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016

Cái dằm




Thánh Phaolô nói đến một từ ngữ rất hay: cái dằm. “Và để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Xa-tan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại (2Cor 12,7). Người ta đoán là Thánh Phaolô bị một căn bệnh nào đó nơi thân xác hoặc một điều sỉ nhục nào đó phải chịu.
Có một câu chuyện kể về một cô ca sĩ trẻ, mới 30 tuổi mà đã thành công tột bậc... Sau một đêm diễn, mọi người tụ họp lại và khen ngợi cô là người qúa thành công, chồng cô là một người mẫu mực và đứa con cao lớn của cô rất đẹp trai… Cô nghe tất cả và sau đó trả lời mọi người: “Thượng Đế không cho ai quá nhiều, gia đình cô cũng có những nỗi khổ, vì đứa con trai đây bị câm và một đứa khác đang bị nhốt ở nhà vì bệnh tâm thần. Thượng Đế rất công bằng , ngài không cho ai quá ít, cũng không cho ai quá nhiều. Vì thế, đừng nên chỉ nhìn thấy hoặc ngưỡng mộ những thứ người khác có, mà nên nghĩ và trân trọng những thứ bạn đang có, cho dù đó không phải là những vinh quang tột đỉnh” (internet).

Rất nhiều những vị thánh lớn trong Giáo hội là những vị thánh trẻ, ta có thể kể đến Thánh Têrêxa Hài Đồng, Thánh Dominicô Saviô. Rất nhiều nhà bác học để lại những công trình vĩ đại mà tuổi đời cũng rất ngắn. Có lúc ta tự nghĩ Chúa chẳng biết tính toán gì cả, những vị ấy mà sống thọ một chút thì Giáo hội và xã hội được nhờ biết mấy; trong lúc nhiều người sống lây lất mãi trong bệnh tật thì giống như đã ‘lọt sổ’ rồi thì phải. Mà khi đương thời, các Thánh thường trải qua những đêm tối đức tin và bị bỏ vạ cáo gian, đó là những cái dằm để các Ngài khỏi phải hư đi và thêm xinh đẹp. 

Tất cả là một mầu nhiệm của cuộc sống. Chúa ban cho mỗi người những nén bạc khác nhau, với lệnh truyền hãy làm lợi những nén bạc đó: tài năng, thời gian, sức khỏe, tiền bạc, sự an bình. Trong phiên xét xử điển hình ở thế giới mai sau (Mt 25), Chúa không so sánh chỗ ngồi cao thấp, tất cả đều kết bằng một câu: “Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, hãy vào hưởng vui mừng của chủ ngươi”. Hai tiêu chí được đưa ra ở cuộc phán xét là thái độ trung tín với bổn phận và cách đối xử với tha nhân. Cuộc sống của mỗi người đều có những cái dằm tự dưng xảy đến cho bản thân và gia đình. Những nỗi khổ tâm và những gian lao đó được ví như lửa Chúa dùng để trui luyện đức tin của ta nên tinh tuyền. Cụ Phan Bội Châu có câu nói trứ danh: “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Khi gặp những điều khó chịu trong cuộc sống, hãy nghĩ đến ‘cái dằm’, xin Chúa giúp mình khiêm tốn chấp nhận và hãy nghe tiếng Chúa thì thầm: “Ơn Ta đủ cho ngươi”.

Mùa vọng là mùa chờ đợi và cả cuộc sống trần gian là mùa tỉnh thức sẵn sàng cho cuộc gặp gỡ Đức Kitô. Giáo hội luôn tin rằng cuộc trở lại của Chúa Kitô là điều chắc chắn sẽ xảy ra, nhưng vì đời người ngắn ngủi nên việc Chúa Giêsu trở lại đem từng người đi là điều thường xảy ra trước. Thời Giáo hội sơ khai, các tín hữu nghĩ rằng việc Chúa trở lại sắp xảy ra, nên nhiều người ăn không ngồi rồi, không chịu làm việc, và trong những thế kỷ gần đây người ta cứ đồn đoán về ngày tận thế. Chúng ta đừng quan tâm về những tin tức nhảm đó, điều quan trọng là hãy tỉnh thức chờ đón Chúa đến với từng người, vì vào lúc ta không ngờ thì Ngài sẽ đến.

Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2016

VƯƠNG QUỐC GIÊSU




Cách đây 2000 năm, đất nước Do Thái đang chịu sự đô hộ của đế quốc Roma, không có tự do quyết định vận mệnh của mình và phải nộp thuế cho mẫu quốc. Người ta mong chờ đấng cứu thế đến để giải phóng họ khỏi ách nô lệ ngoại bang. Thế mà ‘vua người Do Thái’ lại hiện thân trong một hài nhi bé nhỏ nơi hang bò lừa và một phạm nhân chịu án tử hình thập giá.

Đó là một nghịch lý, và người Do Thái không muốn chấp nhận một vị vua như thế. Khi các đạo sĩ đến Bêlem và đặt câu hỏi: “Vua người Do Thái mới sinh hiện đang ở đâu, chúng tôi đã nhìn thấy ngôi sao của Người xuất  hiện ở phương đông và chúng tôi tìm đến thờ lạy Người ?”. Nghe đến đó thì toàn dân Giêrusalem bối rối, họ tra cứu Kinh Thánh, và vua Hêrôđê đã ra lệnh giết các trẻ ở Bêlem từ 2 tuổi trở xuống. Trên thập giá Đức Giêsu, ông Philatô cho treo tấm bảng ghi rằng: “Giêsu Nagiaret, vua người Do Thái” (INRI). Nhiều người khó chịu về tấm bảng này, đã gặp Philatô xin ông sửa lại tấm bảng rằng ‘người nầy đã xưng mình là vua dân Do Thái’, nhưng quan không chịu.
Các đạo sĩ phương đông và quan Philatô là những người ngoại, nhưng lời họ thốt ra “vua người Do Thái” như một lời tiên tri về một sự thật : Chúa Giêsu là vua của người Do Thái và của vũ trụ. Chúa Giêsu đã thực hiện cách hoàn hảo công trình cứu chuộc, nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời.

Các Kitô hữu không còn nghi ngờ về vương quyền của Chúa Giêsu, nhưng để trở thành những con dân của vương quốc nầy, chấp nhận luận lý của thập giá và của yêu thương thì không dễ tí nào, vì nó trái ngược với luận lý của trần gian nầy:  Các vua chúa trần gian nầy tích góp của cải, quyền lực, hưởng thụ ; nhưng vua Giêsu lại tự hạ trở nên nhỏ bé, nghèo hèn, tha thứ, chờ đợi, nhịn nhục, trần trụi và hiến thân mình vì nhân loại. Trong cuộc sống thường ngày, ta dễ mất niềm tin khi chứng kiến sự độc ác vô đạo, nhất là người đó lại là tín hữu Kitô, hãy cầu xin vua Giêsu thêm niềm tin cho mình. Chúa dạy ta hãy khôn ngoan như con rắn và hiền lành như chim câu. Và Chúa còn nói rõ ràng về cách hành xử của người con cái Chúa : hãy yêu thương kẻ thù; hãy làm điều tốt cho kẻ ghét ta ; chúc lành cho kẻ nguyền rủa ta ; cầu nguyện cho kẻ bạc đãi ta (Lc 6. 27-28). Chúng ta vừa trải qua năm thánh lòng thương xót (merciful), nghe đến  nhàm tai hai chữ ‘thương xót’, vậy hãy dùng từ khác dễ hiểu hơn :  nhân ái, thương người.


Quy luật ứng xử của người con cái Chúa phải là lòng nhân ái, đức yêu thương. Đức yêu thương là dây ràng buộc mọi điều hoàn thiện : không gây gương mù gương xấu, không được nuôi lòng oán thù và coi kẻ khác hơn mình, sống hiền lành và khiêm tốn. Để sống được như thế, Chúa Giêsu mời gọi ta “Hỡi những kẻ lao đao vất vả, hãy đến với Ta và hãy học với Ta vì Ta có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28-29)

Thứ Bảy, 12 tháng 11, 2016

Cầu nguyện




Có một người bạn gửi tin nhắn nhờ tôi giúp họ biết cách cầu nguyện thế nào để họ cảm thấy được sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời. Tôi nghĩ đây là một điều khó, và cố gắng soạn ra vài kiến thức đơn giản để giúp người bạn nầy đi được một vài bước trong đời sống cầu nguyện
 Cầu nguyện là việc thiết yếu của đời sống. Chúa dạy ta phải cầu nguyện luôn kẻo sa chước cám dỗ. Chính Chúa Giêsu đã luôn giữ mối liên lạc với Chúa Cha bằng những giây phút dành riêng cho việc cầu nguyện và ngay cả trong suốt ngày sống.
 Cầu nguyện thế nào. Các môn đệ đã từng xin Chúa Giêsu dạy cho cách cầu nguyện và Chúa đã dạy cách cầu nguyện như kinh Lạy Cha. Nhưng kinh Lạy Cha muốn nói lên ý hướng và tâm tình khi cầu nguyện, chứ không hẳn là Chúa Giêsu bảo cứ đọc đi đọc lại kinh đó trong những giờ cầu nguyện.
 Cầu nguyện là việc làm do Chúa Thánh Linh thúc đẩy. Ngài như gió muốn thổi cách nào tùy ý, nên có thể nói cách cầu nguyện của mỗi người không ai giống ai, và hãy trực tiếp xin Chúa Thánh Thần dạy cho cách cầu nguyện. Chúng ta có đọc sách hay tìm thầy để học cách cầu nguyện thì đó cũng chỉ là tham khảo, rồi mỗi người sẽ tìm được cách phù hợp cho riêng mình. Người VN mình cứ nghĩ cầu nguyện là đọc kinh, đọc càng nhiều kinh thì càng tốt, nhưng nhiều khi miệng đọc mà tâm không suy, đọc xong giờ kinh mà thấy lòng trống vắng.

Thực ra kinh được soạn ra để dùng trong những lần cộng đoàn tụ họp và những kinh đó cũng là một cách tổng hợp giáo lý để giúp mọi người cùng cầu nguyện và cùng tuyên xưng niềm tin vào Chúa, vào các Thánh. Tôi nghĩ chỉ có kinh Mân Côi và kinh Thần Vụ là buộc phải đọc đầy đủ, còn những kinh khác chỉ là một cách giúp tín hữu cầu nguyện chứ không buộc đọc. Một thực trạng là nhiều người trẻ không thích đọc kinh dài dòng, nhưng họ cũng chẳng biết đến cách cầu nguyện phù hợp với tâm hồn mình.
Cầu nguyện là thưa chuyện với Chúa, là việc tiếp xúc của hai tâm hồn, như con nói chuyện với Cha, như hai người bạn gặp nhau, người này nói người kia nghe và kết quả là hai tâm hồn liên kết chặt chẽ với nhau. Chuyện kể rằng có vị Giám Mục nọ đến kinh lý một xứ đạo miền quê, Ngài nghe biết trong giáo xứ có một bà nhà quê rất đạo đức và chuyên chăm cầu nguyện. Vị Giám Mục đến thăm bà và hỏi cho biết sự tình. Bà già đó kể rằng : “con không biết chữ nên không thể cầu nguyện được như các cha, hằng ngày con chỉ biết dùng kinh Lạy Cha để cầu nguyện, nhưng con rất buồn là hầu như con không bao giờ đọc hết kinh được. Cứ mỗi lần đọc được câu ‘Lạy Cha chúng con ở trên trời’ là nước mắt con đã giàn giụa vì mình chỉ là thụ tạo hèn yếu mà lại được gọi Thiên Chúa là cha mình. Đức Giám Mục nghe đến đó thì hiểu được lòng đạo đức sâu xa của bà nên nói với bà là cứ duy trì cách cầu nguyện như thế là đủ rồi.

Để cầu nguyện liên lỷ trong suốt ngày sống là một điều khó, vì ta còn phải làm việc suốt ngày và còn gặp gỡ anh em. Nhưng hãy thánh hóa ngày sống bằng những giờ cầu nguyện cố định trong ngày và dùng những lời nguyện tắt để kết hợp với Chúa khi ta nhớ đến Ngài, thêm vào đó là ta sống tốt giây phút hiện tại với ý hướng ‘luôn tìm kiếm ý Chúa’, sống dưới con mắt Chúa.
Những lời nguyện tắt thông dụng được ví như hơi thở của linh hồn hướng về Chúa (ngợi ca, tạ ơn, phó thác, yêu mến, hiến dâng, xin lỗi) :
Lạy Chúa Giêsu, con yêu mến Chúa.
Lạy Chúa, con phó thác đời con cho Chúa.
Lạy Cha chúng con ở trên trời.
Này con xin đến để thi hành ý Chúa.
Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội.
Nói tóm lại, có thể một câu Kinh Thánh ngắn gọn, lời một bài thánh ca, một câu của một kinh quen thuộc… tự nhiên vụt đến trong lòng với một niềm cảm mến sâu xa. Nhiều khi ta đang lái xe trên đường hay lao động một mình, thì lời một bài hát vụt đến làm hồn cảm mến sốt sắng còn hơn một giờ kinh quen thuộc, đó là hoạt động của Thánh Thần vậy.
Ai đó đã từng nói về niềm tin : “Một là tin tất cả, hai là không tin gì cả”. Người có đức tin vững mạnh thì tin rằng Thiên Chúa hiện hữu và quan phòng mọi sự trong cuộc đời mình, còn kẻ không có đức tin thì cho rằng mọi sự đều tự nhiên. Đức tin được ví như ngọn lửa, hằng ngày phải được nâng niu nuôi dưỡng bằng  nhiều cách : Đọc và suy gẫm Lời Chúa, tìm hiểu thêm giáo lý bằng những sách thiêng liêng, tham dự phụng vụ để lãnh nhận ơn Chúa, cầu nguyện tắt, những giây phút tĩnh tâm trong ngày, lần hạt.