Danh sách Blog của Tôi

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2019

Tình cha




Có những người rất cảm động khi đọc câu đầu tiên của kinh Lạy Cha: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”. Họ cảm động vì tình cha: một Người Cha quyền năng, chỉ có yêu thương và giàu lòng thương xót. Tình yêu là ‘chìa khóa’ để hiểu những hành động của Chúa và tình yêu khiến con tim Ngài luôn thao thức, bận tâm và luôn bị quấy rầy. Chúa Giêsu dùng hai hình ảnh để nói về sự quấy rầy nầy: người bạn nửa đêm xin bánh và người đàn bà kêu oan với vị quan bất chính… cả hai đều được thỏa lòng chính là vì bị quấy rầy, không vì tình nghĩa!

Như trời cao hơn đất thế nào thì tư tưởng của Thiên Chúa luôn trổi vượt trên suy nghĩ của con người như vậy. Trí khôn nhân loại không bao giờ diễn tả cho đủ và hiểu cho thấu Người Cha trên trời. Chúa Giêsu dùng hai hình ảnh để diễn tả tình cha: Các ngươi là những kẻ ác mà con biết cho con cái điều tốt lành thì Cha trên trời còn tốt hơn bội phần; Cha trên trời là Đấng nhân từ, làm mưa trên kẻ lành người dữ. Thiên Chúa ban ơn không do công trạng nhưng do lòng thương xót; Thiên Chúa ban ơn tràn trề cho từng người, nhưng mỗi người mỗi khác tùy Ngài muốn và tùy sự đón nhận của bàn tay con người.

Người cha trần thế của Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng đã giúp cho thánh nữ tưởng nghĩ đến người Cha trên trời: tốt lành, nhân từ, luôn chăm sóc và yêu thương con cái mình. Tôi luôn nghĩ tưởng về Đức cha cố Giuse Trịnh Chính Trực: một con người bình dị, không nặng lời chỉ trích ai, không la mắng mà để con cái tự suy nghĩ và thay đổi, ở căn phòng bình dị, đi xe cũ kỹ, sẵn sàng chia sẻ những thứ mình có, không nhận con thiêng liêng. Tình cha trần thế này giúp tôi cảm nghiệm được Người Cha trên trời rất nhiều, giúp tôi thay đổi quả tim hiếu chiến và hẹp hòi của mình rất nhiều.


Khi nói về cầu nguyện, các nhà tu đức có vài lời khuyên:

- Hãy tin rằng Chúa đã nhậm lời, dù rằng thường Chúa không ban điều ta xin và lúc ta muốn, vì Chúa có cách của Chúa để ban cho ta điều tốt nhất. Thành quả đầu tiên mà Thánh Têrêxa Hài Đồng cảm nghiệm được là lời cầu xin tha thiết cho người tử tội được ơn trở lại, và từ đó về sau đến hết cuộc đời và cả trên cõi thiên đàng, Ngài không ngừng cầu bầu cho phần rỗi của các tâm hồn. Hãy học gương thánh nữ để cầu xin cho tha nhân quanh ta được các ơn Chúa Thánh Thần: bình an, đạo đức, kính sợ Đức Chúa Trời, mạnh bạo… Chắc chắn Chúa sẽ ban dồi dào ơn Thánh Thần cho họ, vì Chúa đã hứa như vậy (Lc 11,13), dù đôi mắt trần của ta không nhận ra.

- Ta phải trình bày dù Chúa đã biết rõ điều ta xin. Thiên Chúa đối xử với từng tâm hồn y hệt như hai người nam nữ yêu nhau: họ thủ thỉ và tan biến trong nhau. Chúng ta hiểu một chút về mối liên hệ thần bí nầy qua những dòng nhật ký của Thánh Faustina và Têrêxa Hài Đồng.

- Khi ta cầu xin, điều quan trọng không phải là làm cho Chúa biến đổi nhưng chính lòng ta biến đổi, và chính sự đơn sơ phó thác là điều kiện đủ để cho Chúa hành động, vì Chúa luôn tôn trọng tự do của con người. Đừng nghĩ rằng phải sưu tầm những lời kinh thâm thúy, những tư tưởng cao siêu khiến Chúa phải động lòng mà ban ơn. Không phải thế, Chúa ưa thích những tâm hồn đơn sơ, phó thác, bé mọn, trong sạch tâm hồn.



Lạy Chúa, tuy con chỉ là tạo vật hèn mọn và đầy tội lỗi, nhưng xin sử dụng con như ý Chúa muốn. Được cộng tác phần nhỏ bé của mình vào trong kế hoạch cứu độ của Chúa là hạnh phúc của đời con. Xin cho từng ngày sống của con là chuỗi kinh của người con thơ thỏ thẻ với Cha mình, không mệt mỏi nhưng đầy tin tưởng vào tình Cha, để cầu nguyện cho những nhu cầu tha nhân quanh con. Amen

Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2019

Lý tưởng sống


Sống trên đời, mỗi người một hoàn cảnh: giàu nghèo, sướng khổ, khỏe mạnh hay đau yếu, thành công hay thất bại… Do số mệnh cũng có và do mình cũng có. Nhưng có 3 điều chắc chắn đúng: là Chúa kêu mời mỗi người nên hoàn thiện từ trong hoàn cảnh cụ thể đó, Chúa ban ơn đủ cho mỗi người có thể tiến lên phía trước và Chúa ước muốn mọi người hạnh phúc đời này và đời sau.


Dụ ngôn người giàu và ông La-da-rô (Lc 16,19-31) dễ tạo ra một ảo giác rằng đời sau là sự đắp đổi và bù trừ cho đời này: đời này sung sướng thì đời sau ắt sẽ khổ và đời này khổ thì đương nhiên đời sau sẽ sung sướng. Đó chỉ là cái nhìn sơ khởi, nhưng nhìn sâu hơn vào câu chuyện thì ta sẽ có những suy nghĩ khác:

- Có đời sau và sự thưởng phạt. Nhiều người không muốn tin điều này, họ nghĩ một là không có đời sau, hai là phó thác cho Chúa nhân từ định liệu, ba là từ từ rồi tính – sắp chết thì ăn năn tội cách trọn cũng kịp mà. Trong Tin Mừng (sách Thánh, Moisen và các tiên tri), Chúa đã nói rõ ràng về thời khắc cửa đóng lại và sau đó là hạnh phúc hay bất hạnh: dụ ngôn 10 trinh nữ, dụ ngôn lưới cá, dụ ngôn cỏ lùng…

- ‘Người giàu’ có những thử thách của họ khi gắng trở nên người công chính. Chúa Giêsu đã nói người giàu rất khó vào nước trời vì họ thường cậy dựa vào của cải mà quên mất Chúa và họ khó thông cảm với người khác. Chính sự vô cảm và không liên đới với tha nhân là nguyên nhân khiến người phú hộ bị kết án hỏa ngục. Nhà tu đức Jacques Philippe đã nói: “Trong 8 mối phúc thì mối phúc đầu tiên gói gọn các mối phúc khác. Chính nếp sống khó nghèo và sự khó nghèo tâm hồn sẽ giúp người ta sống hiền lành, xót thương, tác tạo hòa bình và chịu bách hại vì Danh Chúa”. Qua mọi thời đại, không thiếu những người giàu đã trở nên môn đệ đích thực của Đức Kitô, có những người được phong thánh, họ đã dùng của cải chóng qua để mua lấy kho tàng trên trời.

-Người nghèo cũng có những thách đố của họ trên con đường theo Đức Kitô. Họ dễ than trách Chúa, lỗi phạm điều răn thứ 7 và ghen ghét anh em. Chính sự túng thiếu làm cho đầu óc họ dễ tham lam của cải và sôi sục ghen tị. Nhưng dĩ nhiên cũng không thiếu người nên thánh trong cảnh nghèo túng của mình, khi họ biết cậy dựa hơn vào Chúa, biết chúc tụng Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, biết bằng lòng với những gì mình có – sau khi đã nỗ lực hết mình. Sự nghèo khó vật chất là cơ hội dẫn họ đến sự nghèo khó thiêng liêng: phận mình là không - để phó thác mọi sự cho Thiên Chúa định liệu, từ nhu cầu vật chất đến nhu cầu thiêng liêng... họ trở nên những người con thơ của Cha trên trời. Có thể nói đa số các vị được phong thánh đều không phải là người sống trên nhung lụa, mà là những người noi gương nếp sống nghèo của Chúa Giêsu: nghèo từ khi sinh ra, đời sống ẩn dật khó nghèo, rao giảng phiêu bạt và chết trần trụi trên thập giá… đó là mầu nhiệm tự hủy của Ngài.



Nhiều người tự hào và tự sướng về sự giàu có và nếp sống hưởng thụ của mình, hãy coi chừng sự phè phỡn của mình làm cho tâm hồn mình trống rỗng và trở nên phản cảm với người nghèo quanh mình. Chúng ta thường tự trấn an mình rằng: ai đó nghèo là do họ không biết làm ăn và không chịu khó… nên họ nghèo là việc của họ, không liên quan gì đến tôi và tôi không phải chịu trách nhiệm. Thánh Phaolô nói với chúng ta: “Anh hãy thi đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp vì đức tin, giành cho được sự sống đời đời”. Thi đấu thì có sự gắng sức và phải vượt qua những đối thủ khác. Dù người đời chạy theo thần tài và ra sức quảng cáo nó, người Kitô hữu được mời gọi mỗi ngày trở nên giống Chúa Kitô hơn trong nếp sống khó nghèo và yêu tha nhân vô vị lợi NHƯ CHÚA ĐÃ THƯƠNG MÌNH.

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2019

Nghèo khó thiêng liêng



Câu chuyện về người cha nhân hậu được Thánh Luca diễn tả có rất nhiều tình tiết đáng để suy niệm. Ở đây, người viết muốn trích dẫn vài ý trong tác phẩm ‘tự do nội tâm’ (bản dịch của cha Minh Anh) để nói về sự nghèo khó thiêng liêng, sự tinh sạch tâm hồn: căn tính con cái Thiên Chúa nơi ta là do lòng thương xót vô biên Chúa ban tặng, hoàn toàn không do công trạng con người. (Câu in đậm là phần được trích).

Một linh mục khi giảng về câu chuyện này đã hỏi giáo dân: ‘Người con hoang đàng, khi trở về, đã thưa với người cha thế nào?”. Câu trả lời : “thưa cha, con đã phạm tội với trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa…”. Cậu định nói câu tiếp theo, nhưng có lẽ người Cha đã đưa tay bịt miệng cậu lại để không thể thốt ra một câu quá sai: “Xin Cha đối xử với con như một người làm công!”. Không bao giờ có chuyện đó. Thiên Chúa đã một lần đón nhận ta làm nghĩa tử, là con cái thì không bao giờ Ngài thất tín. Dù thế nào đi nữa, Thiên Chúa không đối xử với bất cứ ai trong nhân loại như một người tôi tớ, mà như bạn hữu và như con cái trong nhà. Con người quý giá hơn tất cả tổng số những điều tốt lành họ có thể làm được. Họ là con cái Thiên Chúa dù họ làm điều lành hoặc không thể tự làm bất kỳ điều gì. Cha chúng ta trên trời không yêu mến chúng ta vì những điều tốt lành chúng ta làm. Người yêu mến chúng ta vì chúng ta, bởi Người đã nhận chúng ta làm nghĩa tử mãi mãi.

Ở mức độ tâm lý cũng như thiêng liêng, nhu cầu sâu xa nhất của con người là nhu cầu yêu thương: để yêu và được yêu. Hai nhu cầu nền tảng không thể thiếu khác là: nhu cầu chân lý (để yêu chúng ta cần biết); và nhu cầu căn tính (để yêu, chúng ta cần hiện hữu). Chúng ta nhấn mạnh ở đây về nhu cầu căn tính: con người thường hiểu sai về căn tính của mình khi họ cố thể hiện nhu cầu nầy bằng những cách: hiện hữu bằng sở hữu (vật chất hay tinh thần), hiện hữu với hữu hiệu (công việc, thành công). Đúng hơn mỗi người có giá trị và một phẩm giá duy nhất, độc lập với những gì họ có thể làm. Rõ ràng, thật là tuyệt vời khi làm những việc lành như cầu nguyện, ăn chay, dấn thân phục vụ tha nhân, rao giảng Tin Mừng và vân vân. Nhưng sẽ vô cùng hiểm nghèo khi chúng ta đồng hóa chính mình với những việc lành thiêng liêng mà chúng ta có thể làm. Bởi lẽ, căn tính này vẫn chỉ là một căn tính nhân tạo mỏng manh và sẽ sụp đổ vào ngày mà một trong những đức hạnh của chúng ta thất bại hay một tài năng thiêng liêng đặc biệt nào đó bị lấy khỏi chúng ta, một tài năng mà chúng ta dốc toàn lực con người mình vào.

Người con cả đã có sự nhầm lẫn này (hiện hữu với hữu hiệu), dù ở trong nhà, nhưng tấm lòng và cách tính toán của anh thật đáng buồn, vì đã tỏ lộ vai trò của một người làm công. Đó cũng là tâm trạng của nhiều người trong chúng ta: đọc kinh, làm việc lành để được Thiên Chúa trả công ‘được an bình ở đời nầy và thưởng công trên thiên đàng’. Thiên Chúa không dựng nên con người như công cụ phục vụ Ngài, như một người làm công hay một như tên đầy tớ. Thiên Chúa dựng nên bạn, dựng nên tôi để tận hưởng tình thương và sự chăm sóc của một người Cha, ở đời nầy và vĩnh cửu ở đời sau. Thiên Chúa muốn thông chia hạnh phúc với con người như một hữu thể độc đáo và mong chờ sự đáp trả nồng nhiệt của từng tâm hồn như sự đáp trả của người yêu: Chúa và linh hồn trở thành đôi tình nhân. Chúng ta có thể nhận ra điều này khi đọc nhật ký của thánh Têrêxa Hài Đồng hoặc nhật ký của thánh Faustina.

Khi nhầm lẫn căn tính với hữu hiệu, một hậu quả tất yếu khác thường xảy ra là tính kiêu ngạo: chúng ta coi thường tha nhân khi họ không làm được nhiều điều tốt như chúng ta. Và sự thất vọng cũng thường xảy ra, nhất là khi gặp thất bại thiêng liêng hay thất bại trong cuộc sống, thì 'kẻ nhầm lẫn này' sẽ rơi vào vực thẳm thất vọng. Sự khó nghèo thiêng liêng dạy ta rằng: mọi sự lành chúng ta có thể làm là quà tặng nhưng không của Thiên Chúa. "Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh? Nếu đã nhận lãnh, thì tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh ?" (1Cor 4,7). Người con cả đã có cái nhìn kiêu ngạo khi so sánh sự tốt lành của mình so với sự hư hỏng của người em: "Còn thằng con của cha đó..."


Niềm vui của người Kitô hữu đặt nền tảng trên phẩm giá là con cái Chúa, một hồng ân nhưng không Chúa ban. Thiên Chúa yêu từng người chúng ta là do lòng thương xót của Ngài, dường như người tội lỗi lại được ưu tiên hơn. Vậy đừng làm việc lành và sống tốt để ‘đáng’ được Chúa xót thương, những nỗ lực thiêng liêng chỉ là sự đáp trả trước tình yêu và sự chăm sóc đầy tình Cha của Người.

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2019

Tùng phục lẫn nhau


Trong thư Ep (5,21-24), Thánh Phaolô nói đến sự tùng phục lẫn nhau. Sự tùng phục nầy phát xuất từ sự tùng phục thánh ý Chúa. Thiên Chúa đã khôn ngoan xếp đặt tha nhân quanh ta cùng chung sống với nhau, đó là một mầu nhiệm của cuộc sống. Đôi khi ta chán ghét và than trách vì phải chịu đựng người này người nọ, vì chúng ta chỉ hiểu một khía cạnh của vấn đề, mà không nhìn đến nguồn gốc của vấn đề là Thánh ý Chúa muốn như vậy.

Người tu sĩ có 3 lời khấn: khiết tịnh, vâng phục và khó nghèo, nhưng người linh mục chỉ có hai lời khấn là khiết tịnh và vâng phục thôi. Có thể nói rằng người giáo dân sống đời hôn nhân cũng có những lời khấn: khiết tịnh trong hôn nhân và vâng phục lẫn nhau. Người vợ tùng phục chồng thì đã rõ, vì đã có lời Thánh Phaolô nói tới: “vợ hãy phục tùng chồng, vì chồng là đầu của vợ, cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh”. Còn người chồng thì sao? Thánh Phaolô dạy: người làm chồng hãy yêu thương vợ như Đức Kitô yêu Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh. Đã hẳn khi yêu vợ thì phải bỏ ý riêng mình, không tìm thỏa mãn sở thích riêng, nhưng phải nghĩ đến cách làm hài lòng vợ, hy sinh vì vợ… như vậy không phải tùng phục nhau là gì?

Nhiều nhà tu đức đã khám phá ra con đường chắn chắn nhất để có sự bình an tâm hồn và để nên thánh đó là tìm kiếm thánh ý Chúa. Nếu một người thường xuyên tìm kiếm ý Chúa như sự thiện duy nhất trong hành trình nên thánh, họ sẽ nhận ra những sự tùng phục khác trong cuộc sống: bề trên trong cộng đoàn tu trì, cha mẹ và anh chị trong dòng tộc, người phối ngẫu trong hôn nhân, con cái trong gia đình (điều răn thứ tư còn đòi buộc cha mẹ vâng lời con cái trong những điều đem lại thiện ích, vì tiếng nói của con cái phản ảnh ý muốn của Chúa), tha nhân quanh ta cũng buộc ta phải vâng lời khi điều đó mang lại thiện ích cho sự chung sống, và khi ta đón nhận những hoàn cảnh cụ thể xảy đến trong cuộc đời cũng là cách tùng phục ý Chúa.


Một người thường xuyên tùng phục ý Chúa và tùng phục nhau sẽ dễ dàng dâng lời tạ ơn trong mọi hoàn cảnh, vì họ nhận ra tất cả là hồng ân và là quà tặng Thiên Chúa tặng ban cho mình. Trái lại, một người chỉ biết làm theo ý riêng sẽ thường xuyên bất mãn về cuộc sống, vì họ không biết bằng lòng với cuộc sống. Những kẻ vô ơn thường trở nên gánh nặng cho những người chung sống, vì họ xem mình là nhân vật quan trọng (vip), không phải biết ơn ai và vâng lời ai.


Thánh Augustinô có một lời cầu nguyện rất tuyệt vời: “Xin cho con biết Chúa và xin cho con biết con…”. Biết Thiên Chúa là Đấng Tạo dựng nên muôn loài và là Cha nhân lành, biết con là thân mọn hèn. Lời cầu nguyện nầy cần phải được ta lặp lại mỗi ngày, vì càng biết Chúa tốt lành và phận mọn hèn của mình, con người càng hạ mình xuống để tạ ơn Chúa và tùng phục lẫn nhau, biết ơn nhau và đón nhận nhau như những món quà chứ không phải là của nợ. 

Thứ Ba, 6 tháng 8, 2019

Nội đêm nay



Trong bài Tin Mừng CN 18 TN C (Lc 12,13-21) có nói đến 3 từ ngữ làm chúng ta phải giật mình vì sự đột xuất của nó: ‘nội đêm nay’. Không có sự chuẩn bị và lựa chọn, bị động và phải rứt bỏ quá khứ ngay tức khắc để lên đường.

Sự đột xuất đã xảy ra cho người phú hộ trong câu chuyện trong đoạn Tin Mừng hôm nay. Ông ta lên kế hoạch cụ thể cho việc tích trữ của cải và hưởng thụ cuộc đời lâu dài, thế nhưng Chúa có kế hoạch khác là chấm dứt cuộc đời trên trần thế của ông để đưa ông vào cõi ngàn thu. Đó là quyền năng của Chúa và không thụ tạo nào trên trần gian có quyền can thiệp vào kế hoạch của Ngài. Điều đáng tiếc ở đây là kế hoạch của phàm nhân không trùng khớp với ý định của Đấng Càn Khôn. Nhưng dầu sao đây chỉ là câu chuyện ảo.

Chính bản thân tôi đã được cảm nghiệm việc ‘đột xuất bị đưa đi’ như vậy để phần nào cảm nghiệm được câu nói của Chúa Giêsu: “Chính lúc các con không ngờ thì Con Người sẽ đến”. Hôm nọ, tôi vừa bị mất ĐT mà không biết, vừa được lệnh lên đường đi nuôi bệnh nhân ở một bệnh viện chưa bao giờ đặt chân đến: mất hết mọi liên lạc, bỏ lại môi trường sống êm ả và những bận tâm thường ngày, chỉ với một ít hành trang và tiền bạc, chơi vơi trong một khung trời mới với một ước mong mọi sự đều qua đi tốt đẹp với sự che chở của Chúa. Tôi cảm nghiệm rằng sẽ có một ngày mình cũng bị bốc đi khỏi trần gian như thế: cũng bất ngờ, cũng đột xuất và không thể thương lượng về thời gian, tình trạng thế nào thì chấp nhận thế ấy. Sống thế nào thì thác thế ấy là vậy. Nghe bảo rằng ở vương quốc đó chỉ sử dụng một loại tiền công đức, tên gọi của nó là ‘những đồng tiền mình đã cho đi’ khi ở trần gian.


Tôi liên tưởng đến câu chuyện về cuộc đời Thánh Phanxicô Xaviê. Ngay những ngày đầu Dòng Tên mới được thành lập, chỉ có 7 thành viên, cha Phanxicô được lệnh lên đường sang châu Á để truyền giáo, một chuyến ra đi không hẹn ngày trở về. Ngài đến truyền giáo ở Ấn Độ, Nhật Bản và tìm cách vào Trung Hoa, một mình tự xoay xở nơi vùng đất xa lạ về ngôn ngữ và văn hóa. Cha bị đưa đi khỏi môi trường văn hóa của châu Âu, của môi trường danh vọng là giáo sư đại học Paris, để dấn thân vào môi trường lạc hậu về văn hóa, đầy dẫy những mối nguy về bệnh tật và tẩy chay về một tôn giáo xa lạ. Sau hơn 10 năm truyền giáo, cha đã rửa tội cho rất nhiều người và đã chết vì bệnh sốt rét: cô đơn trên một hòn đảo nhìn vào mảnh đất truyền giáo Trung Hoa.

Tôi cũng liên tưởng đến bao nhiêu người trẻ, có những người tràn đầy ước mơ cho tương lai với những mảnh bằng vừa học xong, nhưng rồi bệnh tật và có cả cái chết xảy đến với họ, khiến họ như sợi chỉ bị cắt ngang trong tay người thợ dệt. Mẹ Têrêxa Calcutta có kể một câu chuyện: Có một người nữ tu vừa đi du học về, tràn đầy những dự tính trong hoạt động của dòng, chị bị bệnh nan y, chị hỏi mẹ Têrêxa: “Tại sao vậy hở mẹ?”- “Chúa cần chính bản thân con”.

Thiên Chúa có một kế hoạch cho mỗi cuộc đời, đó là một mầu nhiệm ẩn dấu và con người chi biết phó thác vâng phục – dù mình không hiểu và dù trái ý. Dù bị đem đi khỏi cuộc đời ‘nội đêm nay’ hay có điềm báo trước, thì ai nấy cũng phải chấp nhận mà không được ý kiến. Bởi vậy, Chúa nói với ta: các con hãy sẵn sàng và tỉnh thức, vì lúc các con không ngờ thì Con Người sẽ đến. Và dù thế nào đi nữa, bạn hãy biết rằng: điều xảy ra là điều tốt nhất mà Cha nhân lành đã định liệu cho xảy đến, và trong mọi hoàn cảnh hãy biết cảm tạ và phó thác – như con thơ trong tay mẹ hiền.






Dấu lặng giữa đời thường


Tôi vừa trải qua một thời gian ngắn đi nuôi bệnh nhân, có dịp chứng kiến tấm gương kiên nhẫn của một gia đình ngoại giáo. Xin ghi lại như một chứng từ gương sáng về cuộc sống gia đình.
Ngay giây phút đầu tiên chung sống cùng phòng lưu cấp cứu, mọi sự đều ngỡ ngàng và mọi người đều xa lạ, mọi ánh mắt nhìn nhau như dò hỏi. Tôi nhìn thấy người chồng bị bệnh, người vợ cùng với người con trai đều có khuôn mặt nhỏ thó, rất khó gần. Thế nhưng, càng ngày càng nhận ra nhiều điều tốt nơi họ, cảm giác khó ưa dần biến thành sự cảm phục khi biết hoàn cảnh bệnh tật của người chồng và nỗi vất vả của hai mẹ con đã trải qua.

Sở dĩ cả phòng cấp cứu phải để ý đến gia đình nầy là vì người chồng cứ rên rỉ kêu la vì đau đớn nhiều đêm liền khiến ai nấy phải chịu đựng và khó ngủ về đêm. Hỏi ra mới biết, dù mới ngoài tuổi 50 nhưng người chồng này đã trải qua hơn 10 lần nằm viện vì tai biến, mỗi lần nằm viện đến vài tuần, cả ở Bmt và Saigon, ấy thế mà 2 người con trai và vợ cứ kiên nhẫn chịu khó chăm sóc rất tận tình, vì thế khuôn mặt họ mang dáng vẻ gầy guộc so với vóc dáng cao lớn của họ.


Sự cảm phục đầu tiên là sự chung thủy của người vợ và sự kiên nhẫn của những người con. Nhìn sự nhẫn nại của họ tôi liên tưởng đến sự chung thủy của những người vợ hiền được mô tả trong Kinh Thánh, do sự ràng buộc của bí tích hôn phối: sự gì Thiên Chúa kết hợp, loài người không được phân ly. Nhưng khi biết họ là người ngoại đạo, thì ra đây là tình nghĩa vợ chồng và sự hiếu thảo của con cái. Tôi chợt nghĩ đến biết bao nhiêu gia đình khác, nhất là gia đình trẻ và có cả người Công giáo, thường tan vỡ khi người phối ngẫu không ‘đủ điều kiện cần có’ thì họ ‘bỏ của chạy lấy người’ và họ tự trấn an rằng đây là cách thoát hiểm an toàn, là lẽ đương nhiên của người khôn ngoan.

Sự cảm phục thứ hai: đây là những người sẵn lòng giúp đỡ người khác. Dù phải vất vả đêm ngày để xoa bóp và thoa dịu những cơn đau, hai mẹ con này rất mau mắn chỉ vẽ và ra tay giúp đỡ người khác. Tuy chỉ là những chuyện nhỏ nhặt thôi, nhưng đây cũng là một dấu lặng làm nhiều người phải suy nghĩ, vì trong cuộc sống đời thường người ta thường không quan tâm giúp đỡ nhau nhiều, mạnh ai nấy sống và ‘ai chết mặc ai, miễn là ông có lợi’. Sự giúp đỡ của hai mẹ con chẳng mang tính cầu lợi mà chỉ là là do tình người: thương người như thể thương thân.

Sự thương cảm của những người trong cơn hoạn nạn dẫn đến sự chia sẻ và cảm thông. Chính trong cơn hoạn nạn và ‘không lo lắng về nhiều chuyện’ con người dễ gần gũi nhau, còn khi giàu có chẳng ai cần đến ai nhiều. Khi mới nhập phòng bệnh, mọi người đều lạ lẫm, nhưng dần dà ai nấy tìm hiểu thêm về hoàn cảnh sống của nhau, rồi làm quen nói chuyện và động viên nhau, đến nỗi cảm thấy bịn rịn khi chia tay vì chuyển phòng hay xuất viện.



Chẳng hay ho gì khi phải đến bệnh viện. Nhưng nếu phải sống ở đó và nhất là khi phải nằm viện thì đó cũng là một dấu lặng giữa đời thường, khiến mình điều chỉnh cuộc sống theo chiều hướng tích cực hơn: có những người tuy chỉ sống theo lương tâm và theo luật tự nhiên được Chúa khắc ghi trong tâm hồn họ, nhưng lại là tấm gương phản chiếu khuôn mặt Chúa cho nhiều người; hãy tập quan tâm đến những người thân, bạn bè, anh em đồng đạo và mọi người trong khả năng Chúa ban cho mình, vì đây là cách làm giàu trước mặt Thiên Chúa vậy.

Thứ Năm, 1 tháng 8, 2019

Đứa trẻ hư


Một đứa trẻ hư thường được hiểu là đứa trẻ hay đòi quà bánh, mê chơi games và không biết nghe lời cha mẹ. Nguyên do là đứa trẻ đó ít được người lớn dạy bảo từ nhỏ và thường được nuông chiều quá đáng. Một đứa trẻ hư cần được người lớn thông cảm vì sự hiểu biết cuộc sống còn nhiều hạn chế và nếu được hướng dẫn đúng cách thì nó sẽ có sự tiến bộ trong tương lai.

Tôi muốn dùng hình ảnh một đứa trẻ hư để nói về một tình trạng ấu trĩ tâm lý của những người đã bước qua tuổi trưởng thành từ lâu nhưng dường như họ trẻ mãi mà không già dặn về tâm lý. Đặc điểm thứ nhất là họ nói những điều không nên nói. Người khôn ngoan là người nói điều có ích, đúng lúc và đúng chỗ. Ở đây, đứa trẻ hư hễ mở miệng là thường nói những lời không nên nói và gây khó chịu cho người nghe. Đứa trẻ này xem mình như trung tâm vũ trụ, cần phải được quan tâm chăm sóc. Thánh Giacôbê nói: mỗi người trong anh em hãy mau nghe nhưng chậm nói. Chính những lời ta thốt ra nơi cửa miệng bộc lộ những điều thầm kín nơi tâm hồn: vị tha hay vị kỷ. Người ta thường nói tốt về mình và nói những điều không hay của người khác, đây không phải là thật thà mà là quá đơn sơ và thiếu khôn ngoan.

Đặc điểm thứ hai là không biết bằng lòng với cuộc sống. Một đứa trẻ thường cứ vòi vĩnh hết bánh kẹo đến đồ chơi, không bao giờ biết bằng lòng và không biết thông cảm với điều kiện kinh tế của cha mẹ, không nghĩ đến điều gì khác ngoài việc thỏa mãn nhu cầu của bản thân nó: thêm nữa, thêm nữa.

Đặc điểm thứ ba của một đứa trẻ hư là khép kín và ngại giao tiếp với người khác. Nguyên do sâu xa có lẽ thuộc về lãnh vực tâm lý: không tự tin và không dám mạo hiểm. Có thể đứa trẻ này đã gặp nhiều đau khổ trong một gia đình không bình yên và không có nhiều tình thương của cha mẹ, dẫn đến sự khép kín và dè chừng với mọi người. Người mặc cảm thường có khuôn mặt nghiêm nghị, khó gần và thường nói những lời trách móc và châm chích, làm mếch lòng người khác.

Đặc điểm nữa cũng thường gặp là đứa trẻ này thường phá phách và làm trái những điều được yêu cầu, làm những điều có vẻ rồ dại của đứa trẻ nổi loạn: đua xe, hút chích, rượu… là để gây chú ý của người khác. Khi còn nhỏ, muốn gây sự chú ý, đứa trẻ thường khoe khoang về những thứ nó có và thường khuếch đại lên; nhưng khi qua tuổi lớn, khuynh hướng này thường biến thành hành động làm cho người lớn phải quan tâm và chú ý đến mình, dường như những kẻ có liên quan càng đau khổ thì nó càng sướng và thỏa mãn.


Tuy tôi không phải là nhà tâm lý, chỉ là suy nghĩ của một người đã phần nào từng trải vì tuổi đời, cũng xin đưa ra vài biện pháp. Đừng nguyền rủa đứa trẻ hư này nữa, hãy hiểu tâm lý mặc cảm tự ti của nó và hoàn cảnh đưa nó đến tình trạng này. Hãy nhìn đứa trẻ theo chiều hướng tích cực để giúp nó vượt qua những khó khăn về tâm lý mà chính nó nhiều khi cũng không hiểu được chính mình, vì những vết thương lòng và vì sự hạn chế của tuổi tác. Chỉ có tình thương mới giúp đứa trẻ này lớn lên, còn sự bỏ mặc và giận ghét sẽ làm cho bệnh mặc cảm tự ti của nó tăng thêm mà thôi.