Danh sách Blog của Tôi

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2022

Câu chuyện Hoàng Tử Và Cậu Bé Nghèo





Văn hào Anh Mark Twain cách đây ba thế kỷ, có viết một quyển tiểu thuyết mang tựa đề “Hoàng tử và cậu bé nghèo”. Chuyện kể lại tình bạn của hai cậu bé giống hệt nhau khiến người ta tưởng là sinh đôi. Một trong hai cậu bé tên là Edward, hoàng tử xứ Galles. Còn Tom Canty, người bạn của vị hoàng tử, lại là một cậu bé con nhà nghèo.

Một ngày kia, hai cậu bé có một ý nghĩ ngộ nghĩnh là thay đổi địa vị xã hội. Tom vào thế chỗ của vị hoàng tử Edward trong triều đình, còn Edward thì khoác lên mình mảnh áo rách rưới và bắt đầu cuộc phiêu lưu. Cậu lang thang đầu đường xó chợ bên cạnh những người cùng cực nhất trong xã hội.

Thế nhưng một lúc nào đó, hai cậu bé cũng cảm thấy mệt mỏi với trò chơi đầy phiêu lưu này. Edward mới sực tỉnh về ngôi vị hoàng tử của mình. Trong bộ quần áo rách rưới nhơ bẩn, cậu tìm đủ mọi cách để chứng minh rằng mình là hoàng tử nối ngôi của xứ Galles. Nhưng cảnh sát đã không tin... Thế là hoàng tử Edward đành phải lặng lẽ bước vào tù vì tội giả mạo.

Giữa lúc Tom, cậu bé nghèo, sắp sửa được tấn phong làm vua, thì hoàng tử Edward xuất hiện... Không mấy chốc cậu đã được phục hồi trong ngôi vị hoàng tử của cậu. Chính nhờ kinh nghiệm của những tháng ngày làm người ăn xin, lang thang đầu đường xó chợ với những người cùng khổ, mà Edward đã trở thành một vị vua đạo đức và giàu lòng thương người.

Cũng giống như câu chuyện trên đây, Thiên Chúa đã đến giữa loài người để hoán đổi vị thế với chúng ta. Ngài mặc lấy thân xác nghèo hèn của chúng ta để chúng ta được mang lấy tước phẩm được làm con Chúa. Nhờ ân sủng của Ngài, Ngài chia sẻ với chúng ta sự sống thần linh và đón nhận trong thân xác Ngài tất cả những hệ lụy của kiếp sống khổ đau của con người.

Mang lấy trong thân xác Ngài khổ đau của nhân loại, Chúa Giêsu đã tự đồng hóa mình với từng người, nhất là những người khổ đau. Ðồng hóa mình với những người đau khổ, Chúa Giêsu vạch ra cho chúng ta con đường để gặp gỡ Ngài: Ngài hiện diện trong những đau khổ, trong kẻ bé mọn nhất. Tiếp rước những người đó chính là tiếp rước Ngài.

Thiên Ðàng là một gặp gỡ triền miên với Chúa, nhưng cuộc gặp gỡ này chỉ được chuẩn bị bằng những gặp gỡ của chúng ta với tha nhân, chúng ta sẽ gặp được Chúa. Chúng ta khước từ tha nhân, chúng ta cũng khước từ chính Chúa.

Tha nhân là Bí Tích của Thiên Chúa. Chính trong tha nhân mà chúng ta phải nhận ra và yêu mến Chúa.

Nơi bàn thờ, vị linh mục đọc lại lời của Chúa Giêsu: này là Mình Ta, này là Máu Ta... Khi chỉ cho chúng ta mỗi một con người, có lẽ Chúa Giêsu cũng sẽ nói: “Này là Mình Ta...”.

Thánh lễ là một cuộc gặp gỡ với Chúa. Cuộc gặp gỡ này chỉ có ý nghĩa và giá trị nếu trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cũng biết nhận ra Chúa trong từng cuộc gặp gỡ với tha nhân... Xin Chúa thêm Ðức Tin để chúng ta có thể nhận ra Chúa Giêsu trong tha nhân, nhất là những người cùng khổ, bé mọn trong xã hội.

Mối tình tri kỷ

 



Ngày 30.4 lại đến một lần nữa, cũng là dịp tốt để suy nghĩ về mối tương quan của người Công giáo với tổ quốc.

Văn học Việt Nam có kể lại câu chuyện rất thú vị về tình bạn:

Lưu Bình là công tử nhà giàu có, cha mẹ mất đi để lại nhiều gia sản, suốt ngày rượu chè. Thấy Dương Lễ là người thật thà, chăm học, nhà lại nghèo. Cả hai kết tình huynh đệ, Lưu Bình nuôi cho Dương Lễ ăn học thi đỗ trạng nguyên. Về sau, Lưu Bình  ‘tàn gia bại sản’ tìm gặp Dương Lễ. Dương Lễ bảo người hầu đem cho Lưu Bình một chén cơm hẩm với một quả cà thiu. Lưu Bình phẫn uất ra đi… Trong khi đó, Dương Lễ ngầm sai Châu Long là vợ của  mình trả nghĩa cho Lưu Bình. Vì vậy mà Châu Long tìm gặp Lưu Bình, đính ước với Lưu Bình, nhưng ước hẹn là không thi đỗ thì không động phòng. Ngày vinh quy bái tổ về làng, không thấy Châu Long đâu, nhưng vì mối hận trong lòng, Lưu Bình tìm gặp Dương Lễ. Tại dinh đường của Dương Lễ, Lưu bình hiểu ra sự việc, tình bạn trở lại thắm thiết như xưa. Trong buổi tiệc hàn huyên của Lưu Bình và Dương Lễ có chén cơm hẩm và quả cà thiu nhắc lại câu chuyện ngày nào.




 Giáo hội Việt Nam (Dương Lễ), trong khi trung thành với Thiên Chúa thì đồng thời cũng tìm mọi cách để cho người bạn ‘dân tộc’ cũng tìm được hạnh phúc - sự thăng tiến về nhân bản, thịnh vượng và niềm tin…

 

Bức thư chung 1980 của HĐGM Việt Nam đã đánh dấu một bước ngoặt trong hành trình của Giáo hội với đất nước sau ngày thống nhất:  đồng hành cùng dân tộc, sống tốt đời đẹp đạo. Thư chung viết: “Là Hội Thánh trong lòng dân tộc Việt Nam, chúng ta quyết tâm gắn bó với vận mạng quê hương, noi theo truyền thống dân tộc hoà mình vào cuộc sống hiện tại của đất nước. Công đồng dạy rằng “Hội Thánh phải đồng tiến với toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ một số phận trần gian với thế giới” (MV 40,2). Vậy chúng ta phải đồng hành với dân tộc mình, cùng chia sẻ một cộng đồng sinh mạng với dân tộc mình, vì quê hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con của Người, đất nước này là lòng mẹ cưu mang chúng ta trong quá trình thực hiện ơn gọi làm con Thiên Chúa, dân tộc này là cộng đồng mà Chúa trao cho chúng ta để phục vụ với tính cách vừa là công dân vừa là thành phần Dân Chúa”.

            Xã hội trần thế nào cũng có những bất công, oan ức và thối nát cần phải chỉnh sửa để cho đồng bào được hạnh phúc hơn. Nhưng người ‘con Chúa’ có nhiệm vụ đến mức độ nào là khôn ngoan và đến mức nào thì không bị cáo buộc là ‘vô tâm – hèn nhát- đồng lõa’ với những bất toàn của xã hội trần thế? HĐGMVN luôn bị nhiều người phê phán là có một thái độ ‘im lặng’ dễ sợ trước những bất công của xã hội – nhằm đổi lại sự yên ổn và dễ dãi: một thái độ thỏa hiệp, làm ngơ trước những đau khổ và bất công của đồng bào mình… Trước những cáo buộc như thế, bản thân tôi cũng thấy hoang mang và một chút nào đó hổ thẹn: vì ‘im lặng là đồng lõa’; và sự dấn thân - phục vụ của chúng ta dường như chỉ nằm trong lý thuyết và ‘siêu thực’ với đồng bào mình? Thực tế thì HĐGMVN đã nhiều lần lên tiếng  bằng văn bản kiến nghị về quyền tư hữu, cho phép các tôn giáo được đóng góp phần của mình vào sự nghiệp giáo dục, y tế và điều hành các cơ sở từ thiện... nhưng sự chấp nhận của chính quyền xem ra còn hạn chế.

            Nhưng chúng ta cũng phải nhìn lại gương sáng của Thầy chí Thánh Giêsu để có học bài học của Ngài: cả đời Ngài luôn bị dân chúng ‘ép’ phải làm chính trị! Biết bao lần họ định tôn Ngài làm vua, dân Do Thái luôn tưởng rằng Đấng Messia là vị lãnh tụ sẽ cứu họ thoát khỏi sự đô hộ của đế quốc Roma. Vậy mà, Chúa sống âm thầm 30 năm, đi giảng 3 năm thì chỉ nói đến những mầu nhiệm nước trời và điều kiện để đạt ơn cứu rỗi, Chúa bị bắt và giết mà chẳng muốn ai dùng ‘gươm giáo’ để bảo vệ cả. Chúa còn bảo Phêrô: “Hãy xỏ gươm vào vỏ, ai dùng gươm sẽ bị chết vì gươm”. Có lần những người Biệt Phái và những người Saducêô cài bẫy Ngài, họ đưa ra câu hỏi: “Có nên nộp thuế cho Cêsar không?”; và Chúa đã đưa ra một nguyên tắc vàng: “Của Cêsar hãy trả cho Cêsar, của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa”. Người giáo dân được mời gọi tham gia chính trị như là một đòi buộc của đức bác ái, còn giáo sĩ thì không được tham gia đảng phái chính trị, nhưng thực tế lại thường ngược lại! Và một điều cũng thường xảy ra là người bạn Lưu Bình oán ghét Dương Lễ  đến độ phải bức bách và giết hại, vì bóng tối thường không thích ánh sáng. Câu nói của Chúa với ông Philato đáng cho ta suy gẫm: Tôi là vua, nhưng nước tôi không thuộc về thế gian này

           Quê hương Việt Nam là một môi trường cụ thể để ta hành đạo và sống Đức Tin, quê hương đó có những người anh em xa gần để tôi thể hiện đức yêu thương, quê hương đó có những điều thuận lợi và không thuận lợi cho tôi sống đạo và tôi có nhiệm vụ góp phần xây dựng. Nhưng xét cho cùng xã hội nhân sự nào cũng chỉ là như chiếc áo ta khoác vào mình, nó không quan trọng cho bằng cái ‘hình hài thân xác’ của ta. Điều quan trọng hơn ta phải tìm kiếm là phần rỗi đời đời cho ta và anh em: “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người”.



Thư chung 1980 viết:  “Sự gắn bó hoà mình này đưa tới những nhiệm vụ cụ thể mà chúng ta có thể tóm lại trong hai điểm chính:

 - Tích cực góp phần cùng đồng bào cả nước bảo vệ và xây dựng tổ quốc.

 - Xây dựng trong Hội Thánh một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc. Chúng tôi xin dựa vào Công đồng để nói với anh chị em giáo dân rằng: Ơn gọi của anh chị em là nên thánh giữa đời bằng cách sống Phúc Âm của Chúa Kitô trong các phận sự trần thế (GH 31; MV 43). Nhờ anh chị em, Giáo Hội hiện diện ngay trong xã hội và góp phần xây dựng đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc. Nghĩa vụ cao cả của anh chị em là sống làm người tín hữu trung thành của Hội Thánh Chúa Kitô và làm người công dân tốt của tổ quốc”...Như vậy, dù sống trong xã hội nào thì nhiệm vụ của người Kitô hữu cũng là 'men trong bột' để giúp đồng loại mình đạt được ơn cứu rỗi.

            Dương Lễ là một người bạn tri kỷ và hành động ‘thấu tình đạt lý’, nhưng có lúc cũng phải mang tiếng là vô ơn – dù trong thâm tâm và trong hành động đã đành chấp nhận để vợ  mình hy sinh giúp đỡ bạn cho đến thành đạt. Quả thật, mặc chiếc áo nào cho hợp người – hợp cảnh, phục vụ quê hương đồng bào thế nào mà vẫn không đánh mất căn tính của mình…luôn là những vấn đề đòi ta phải tư duy và thao thức mỗi ngày.

 

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

 

Một người 4 vợ

 Sưu tầm

 


Một thương nhân giàu có có 4 bà vợ. Ông yêu người vợ thứ tư nhất, ông tự hào về người vợ thứ ba, ông tìm đến người vợ thứ hai như một người bạn tâm tình nhưng hầu như chẳng bao giờ chú ý đến người vợ thứ nhất…

 

Ông nâng niu chiều chuộng, coi người vợ thứ tư như một món đồ trang sức quý, luôn mua sắm cho bà ta những bộ đồ sang trọng đắt tiền.

 

Ông cũng rất yêu người vợ thứ ba. Ông tự hào về người vợ này và luôn muốn “khoe” vợ với bạn bè. Tuy nhiên, trong ông luôn thường trực nỗi lo sợ bà bỏ đi với người đàn ông khác.

 

Ông cũng yêu người vợ thứ hai. Ông coi bà như người bạn tâm tình, người giúp ông vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Bất cứ khi nào gặp khúc mắc, ông đều tìm đến bà.

 

Người vợ thứ nhất lại là người rất chân thành, chung thuỷ, luôn kề vai sát cánh bên ông lo toan chu đáo chuyện gia đình. Tuy nhiên, ông lại không yêu bà vợ thứ nhất. Mặc dù bà rất yêu ông, ông hầu như chẳng bao giờ chú ý đến bà.

 

Một ngày, ông ngã bệnh. Ông tự biết rằng mình sắp từ giã cõi trần. Ông nghĩ về cuộc sống giàu sang xa hoa và tự nhủ: “Hiện mình có 4 bà vợ. Nhưng khi mình chết, lại chỉ có một mình. Thật cô đơn làm sao!”.

 

Ông ta hỏi bà vợ thứ tư: “Tôi yêu mình nhất, luôn dành cho mình sự quan tâm đặc biệt và những điều tốt đẹp nhất. Tôi chẳng còn sống được bao lâu nữa, liệu khi tôi chết, mình có nguyện đi theo tôi không?”.

 

“Không đâu” – Bà vợ thứ tư đáp lại và bước đi. Câu trả lời như một nhát dao cứa vào tim ông.

 

 Ông hỏi người vợ thứ ba: “Tôi yêu bà nhiều lắm, tôi sắp chết rồi, bà có nguyện theo tôi không?”.

 

“Không, cuộc sống vẫn đang đẹp mà. Sau khi ông chết, tôi sẽ tái hôn”. Trái tim ông run lên đau đớn.

 

Sau đó, ông hỏi người vợ thứ hai: “Bất cứ khi nào gặp vấn đề khó khăn rắc rối gì tôi cũng đều tìm đến bà. Bây giờ tôi xin bà hãy kề vai sát cánh cùng tôi lần cuối cùng. Khi tôi chết, bà có nguyện đi theo tôi không?”.

 

Bà vợ thứ hai trả lời: “Xin lỗi, lúc này tôi không thể giúp ông được. Nếu có, tôi chỉ đưa linh cữu ông ra mộ thôi”.

 

Người vợ thứ hai – người bạn tâm tình thân thiết thủy chung của ta cũng chỉ khóc khi ta chết, đưa ta ra đến mộ rồi quay đầu.

 

Ông nghe câu trả lời mà như sét đánh ngang tai. Ông thực sự quá đau đớn vì người mà ông nghĩ có thể tin tưởng nhất cũng bỏ rơi ông.

 

Bỗng có một giọng nói cất lên: “Tôi sẽ đi cùng ông, đi đến bất cứ nơi nào ông tới”. Ông dáo dác tìm kiếm chủ nhân của giọng nói và nhận ra đó chính là người vợ thứ nhất, người mà chẳng mấy khi ông để ý tới.

 

Trông bà gầy và xanh xao quá. Rưng rưng xúc động, ông nói: “Đáng lẽ ra trước đây tôi phải chăm sóc bà nhiều hơn nữa”. Chỉ có duy nhất người vợ cả, người thường bị ta bỏ mặc, lãng quên khi sống… là kiên quyết đi theo, yêu thương ta cả cuộc đời.

 

Mỗi chúng ta ai cũng có 4 bà vợ.

  • Bà vợ thứ tư chính là thân thể của chúng ta. Cho dù ta có chăm chút, trau chuốt đến mấy, rồi nó cũng rời bỏ ta khi ta chết.
  • Còn bà vợ thứ ba? Đó chính là của cải, địa vị. Khi chúng ta chết, chúng sẵn sàng đi theo người khác.
  • Bà vợ thứ hai chính là gia đình và bạn bè. Cho dù có thân thiết đến mức độ nào, khi ta chết, họ cũng chỉ khóc đưa ta ra mộ mà thôi.
  • Bà vợ thứ nhất chính là tâm hồn ta, thường bị lãng quên khi ta chạy theo tiền tài, địa vị, danh vọng, của cải, nhưng nó sẽ theo ta suốt cuộc đời.

Tốt hơn hết là nuôi dưỡng tâm hồn ngay từ bây giờ, vì đó là “người” thân tín nhất bên ta. Đừng để phải hối hận vì đã lãng quên nó.

 

Thứ Hai, 25 tháng 4, 2022

Tôi làm truyền thông

 



(Ngày 25/4 hằng năm là lễ kính Thánh Macco, Thánh sử và là Quan Thầy của Ban Truyền Thông Vinh Hương, Xin ghi lại vài lưu niệm đạo đức về công tác truyền thông).

Rao truyền Tin Mừng cho muôn dân là một lệnh truyền của Chúa Giê su và cũng là một đòi hỏi của ơn gọi làm Ki tô hữu. Việc rao giảng này được thực hiện bằng nhiều cách như: cầu nguyện cho việc truyền giáo, rao giảng Lời Chúa, trao đổi chuyện trò, dùng các phương tiện kỹ thuật hiện đại như truyền thanh – truyền hình-web…Ở khuôn khổ bài viết này, chúng ta chỉ nói đến vài tâm tình để hiểu nỗi lòng của những nhà truyền thông Công giáo, cụ thể trong lãnh vực web.

Vì đời tằm phải nhả tơ. Phải thừa nhận rằng viết lách là một việc khó, khó vì việc sắp chữ đã đành mà nội dung truyền đạt còn khó hơn, vì người ta không thể cho đi cái mình không có và điều viết ra cũng phải mới lạ một chút. Cha cố Phaolo khi nói về trang Web Vinh Hương đã dùng hình ảnh mỗi cộng tác viên là một ‘bà bếp’, thật dễ hiểu là bà bếp phải chuẩn bị nguyên vật liệu, phải xào nấu, thêm gia vị… thế là mâm cơm gia đình có những món ăn ngon và rất khác nhau. Trong hình ảnh ví von này đã nói lên quá trình thâu nạp kiến thức đạo đời, suy tư cầu nguyện, bỏ thời giờ viết ra giấy những cảm nghiệm của riêng mình, và dĩ nhiên cũng có sự vui mừng khi nhìn thấy thành quả của công việc. Nhiều người rất muốn viết những cảm xúc trong lòng nhưng cứ hẹn mãi đến lúc nào đó thuận tiện! Thật ra, nhiều người ngại viết vì sợ phơi ruột mình cho người khác xem và vì sợ lòi cái dốt của mình. Chẳng ai hoàn hảo cả và chẳng ai giỏi cả về chữ lẫn kiến thức cả, tất cả chỉ là nỗ lực và chỉ muốn làm vui lòng Chúa thôi: Chúa ban cho ai đó khả năng để viết lách thì người đó làm vui lòng Ngài khi viết lách, nhưng hãy luôn xin Chúa giữ gìn mình trong sự khiêm tốn, kẻo luống công vô ích.

Thu nhập và lợi ích. Có lần tôi gặp chị Thược (Rip), vừa là nhà truyền thông giáo phận BMT vừa viết cả báo đời, báo đời thì có thù lao; tôi hỏi chị ấy: thù lao của những bài báo có nhiều không? – Chị ta mỉm cười: “Có ai giàu nhờ viết báo đâu!”. Điều này rất đúng, nhất là với những nhà truyền thông Công giáo. Việc chăm sóc các trang Web Giáo phận hay Giáo xứ, nhìn bề ngoài thì rất hấp dẫn, nhưng với năm tháng thì đây là một gánh nặng thực sự, nên khó tìm người cộng tác là vậy. Có anh bạn làm việc ở trang Web gpbanmethuot, gia cảnh thì nghèo, vậy mà cứ phải đi đây đi đó suốt – có những chuyến đi xa và có ngày phải đi 3-4 lễ để ghi hình và viết bài. Nói vậy để chúng ta có sự cảm thông, nhưng đừng sợ, vì chính Chúa sẽ lo liệu cho ta khi ta lo cho công việc nhà Chúa. Chỉ sợ tâm mình không sáng thôi: khi tôi làm việc để tìm kiếm tiếng khen của người đời, thì họ đã trả công trọn vẹn cho tôi rồi. Ai đó có nói: khi bạn trình bày cho người khác một vấn đề gì đó thì bạn đã sắp xếp đầu óc bạn nên rõ ràng hơn, chính người viết lách được hưởng lợi trước hết.



Công việc của Thần Khí. Bạn đừng tưởng chỉ có các tác giả Sách Thánh được Chúa Thánh Thần soi sáng – gọi là được linh hứng, mà cả chúng ta khi đọc Kinh Thánh, khi  cố gắng truyền đạt những cảm nghiệm Tin Mừng, khi làm bất cứ việc gì … đều được Chúa Thánh Thần soi sáng. Bới vậy, mỗi ngày khi thức giấc, khi khởi sự một công việc, khi muốn cầu nguyện cho ai đó, khi muốn viết lách…chúng ta đều kêu cầu ơn soi sáng cho biết việc phải làm và xin Chúa giúp mình hoàn thành. Việc viết lách trên Web chỉ có hiệu quả cho người viết và cho người đọc khi có sự tác động của Chúa Thánh Thần, tự bản thân người viết trên Web cũng có nhiều hạn chế và cũng chẳng có kinh nghiệm nhiều về những cuộc gặp gỡ với Đấng Vô Hình, nhưng với chút nỗ lực của mình - cộng với sự soi sáng của Chúa Thánh Thần - cùng với tác động của Ngài nơi người đọc, sẽ nảy sinh những hoa trái Chúa muốn. Có lẽ nhà truyền thông Công giáo nào cũng phải nhận ra sự thật này: chỉ khi mình khiêm tốn thì Chúa mới soi sáng và đổ ơn xuống, vì Thần Khí được ví như gió muốn thổi đâu thì thổi.

Trong Phật giáo, việc Đức Phật tìm được con đường giác ngộ được biểu hiện bằng việc ngài dùng ngón tay để chỉ mặt trăng, nhưng chúng sinh không chỉ nhìn về mặt trăng mà còn nhìn về ngón tay của người chỉ nữa. Đó cũng là một hình ảnh cho một nhà truyền thông Công Giáo: Điều chúng ta viết ra sẽ được người khác đối chiếu với cuộc sống của chính tác giả. Người viết không phải là thầy dạy mà cùng là học trò như những người đọc, họ cùng có chung một người Thầy là Đức Kitô và dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, vì lý do đó đôi khi nhiều người viết thường dùng danh xưng ‘bạn’ với độc giả, cho dù tuổi tác có chênh lệch thì chúng ta vẫn là những người bạn đồng hành trên con đường nên thánh và trên hành trình dương gian. Một câu chuyện khác nói về một nhà truyền giáo ở Ấn Độ: vị truyền giáo nỗ lực rao giảng Tin Mừng trong một thời gian khá dài, nhưng xem chừng kết quả rất khiêm tốn;một tín đồ Ấn giáo mới nói với nhà truyền giáo: “Ông sẽ không thuyết phục được ai, nếu ông không trở nên một ‘linh sư’ như các linh sư trong Ấn giáo, linh sư là người chỉ vẽ một cách cụ thể cách bước đi trên con đường trọn lành. Nhà truyền thông cho giới bình dân thì đừng nói nhiều về lý thuyết thần học, trích hết các tông huấn và giáo luật, mà tốt hơn nên nói về những đề tài mà chỉ có những người ‘ở giữa quần chúng’ mới cảm nghiệm được, nhưng biết hướng những câu chuyện đời thường đó về điều tốt lành và phù hợp với Phúc Âm.



Cơ thể con người sống được là nhờ hai phách của tim và phổi: thu máu dơ về lọc – phát máu lành để nuôi; hít khí lành vào - thải khí dơ ra. Đó cũng là những phách của công tác truyền thông: biết ra đi lượm lặt tin tức, sàng lọc và nghiền ngẫm, để rồi truyền đi những sứ điệp nâng đỡ đức tin của anh em mình. Chúa khen người quản lý khôn ngoan biết lợi dụng những thứ cũ và mới trong kho của mình: nhà truyền thông giỏi biết lợi dụng tin tức thời sự trong nước và quốc tế, biết nạp vào trí mình những kiến thức giáo lý và thời sự Giáo Hội, biết thanh luyện con tim mình khỏi những tham sân si và những bận tâm vô bổ, và nhất là biết củng cố mối liên lạc thân tình với Chúa Giê su… có vậy mới nói ra điều Chúa muốn, mới trở thành cây viết chì dễ bảo.

 

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2022

Không thấy mà tin

 



Chúng ta thường quen với ‘8 mối phúc’, nhưng qua câu nói của Chúa Giê su với ông Toma - đã nói đến mối phúc thứ 9 là “Phúc cho ai không thấy mà tin”. Nếu đọc kỹ 4 sách Tin Mừng, chúng ta nhận ra 2 điều về sự kiện Chúa Phục Sinh: điều thứ nhất là các sách Tin Mừng chỉ ghi vừa đủ để ta tin, điều thứ hai là Chúa Giê su không có lời dạy nào ngoài lời nhắc lại “Đấng Ki tô phải chịu đau khổ mới vào vinh quang”, Ngài cũng chỉ hiện ra với số người hạn chế và cũng ít lần trong 40 ngày, tại sao thế - trong lúc sứ điệp Phục Sinh lại rất quan trọng và cơn khát cháy bỏng của Ngài là mọi người được ơn đức tin để được cứu độ?

Thưa là để ta được hưởng mối phúc thứ 9 này đây! Thiên Chúa là Đấng kín ẩn, không ai thấy Ngài mà chỉ thấy những ‘dấu vết’ Ngài để lại trên vũ trụ này, tựa như nhìn dấu chân còn in lại trên cát thì ta biết chắc rằng có một người vừa đi qua trên bãi biển. Thiên Chúa lại là Đấng tự hủy, nên cách hành động của Ngài thật khó nhận ra, ngay cả những người đương thời với Chúa từ lúc Ngôi Lời được sinh ra cho đến khi Ngài ra giảng dạy và chịu chết, họ cũng không giải quyết được câu hỏi ‘Đức Giê su là ai?”. Thiên Chúa là Tình yêu, một tình yêu tế nhị, cao thượng, tuyệt đối khôn ngoan, nên Ngài không muốn ép buộc con người tin – vì thế Ngài đã chọn con đường kín ẩn và tự hủy, cả trong mầu nhiệm Phục Sinh. Xin trích một đoạn trong bài giảng của Lm Trần Ngà:

Cách xử sự của Tôma cũng là cách xử sự thông thường của nhiều người. Người ta chỉ chấp nhận là có thật những gì mà người ta có thể xem bằng mắt, bắt bằng tay, những gì cân, đo, đong, đếm... được. Còn những gì người ta không thấy, bị xem như là không có. Khi tôi hỏi bạn bè: Tại sao bạn không tin Thiên Chúa, không tin có linh hồn, không tin có sự sống đời sau? Họ trả lời thật đơn giản: Có thấy đâu mà tin!

 

Thế nhưng, có nhiều điều chúng ta không thấy nhưng chúng ta vẫn phải nhận là chúng hiện hữu. Người ta không thể nhìn thấy tình mẫu tử nơi người mẹ, không nhìn thấy ý chí kiên cường nơi bậc anh hùng, không nhìn thấy trí khôn tuyệt vời của nhà khoa học (bởi vì tình yêu, ý chí, trí tuệ... là những thực tại vô hình, không màu sắc, không trọng lượng, không khối lượng)... nhưng không ai dám phủ nhận rằng những thực tại nầy không có.

 

Với đôi mắt trần nầy, tầm nhìn của người ta rất hạn hẹp, như ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung”. Với đôi mắt trần nầy, chúng ta chỉ nhận thấy một ít sự vật phù du mà thôi. Còn những điều quan trọng, những điều chính yếu thì không thể nhận thấy. Nhà văn Saint-Exupéry đã khám phá ra điều nầy, ông viết: "L'essentiel est invisible pour les yeux" (Thực tại thiết yếu thì mắt trần không thấy được). Do đó, nhân loại cần đến những con mắt khác, những con mắt thứ ba để nhận thức những thực tại cao siêu. Con mắt nầy giúp người ta nhìn xa, nhìn rộng, nhìn sâu, nhìn thấy điều thiết yếu, nhìn thấy chân lý...

 

Con mắt thứ ba của các nhà vi trùng học là ống kính hiển vi. Nhờ con mắt nầy, nhà nghiên cứu có thể nhìn thấy vi trùng và những siêu vi cực nhỏ... Con mắt thứ ba của các nhà thiên văn là ống kính thiên văn, nhờ đó các nhà khoa học có thể thấy được những ngôi sao cách mặt đất đến mười tỉ năm ánh sáng... Con mắt thứ ba của các nhà quân sự là màn ảnh ra-đa, là vệ tinh quan sát... Chúng giúp các nhà quân sự nắm rõ địa hình cũng như các bí mật quân sự của đối phương nhằm đạt tới chiến thắng.Trong Phật giáo, con mắt thứ ba của nhà tu hành đạt đạo là huệ nhãn, giúp người ta thấy được những thực tại tâm linh siêu hình. Đối với Đức Giêsu, con mắt thứ ba mà Ngài mong muốn các môn đệ Ngài phải có là Đức Tin. Nhờ Con Mắt Đức Tin,” nhân loại có thể nhận ra Thiên Chúa là Cha yêu thương, nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ, nhận ra mình có hồn thiêng bất tử, biết mình có cuộc sống mai sau, có thiên đàng hoả ngục...

 


Chúng ta nhận ra rằng: cách hành động của Chúa Giê su Phục Sinh rất giống với cách Thiên Chúa hành động trong lịch sử cứu độ. Ông Abraham, ông Noe và Mẹ Maria được Thiên Chúa mời gọi đi vào một con đường chưa từng biết, chưa có ai để làm gương, nhưng cả ba Đấng đều có một điểm chung là ‘tin cậy hoàn toàn và vâng lời tuyệt đối’ với Thiên Chúa, các vị trở nên ‘’gương mẫu của kẻ tin’ vì đã kiên trì bước đi – dù không thấy gì phía trước, ngoài lời hứa của Chúa. Thiên Chúa cũng luôn xử sự với từng người chúng ta như vậy, rất kín ẩn và bí mật, Ngài cũng rất thường để linh hồn rơi vào ‘đêm tối thiêng liêng’, nếm trái đắng của thất bại, chịu sự hiểu lầm của người đời… để họ bám chặt hơn vào Ngài và chỉ biết tin cậy vào Ngài

Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2022

Trở lại như xưa

 


            

Những ngày cuối tháng 4.2022, dịch bệnh có vẻ ổn định, một vài đám cưới đã được tổ chức, tiệc tùng linh đình, có người nói: “mọi sự đã trở lại như xưa, là một điều mừng”. Thế nhưng, nhìn về khía cạnh luân lý, chúng ta mong rằng cuộc sống phải khác xưa, có nhiều điều cần phải thay đổi - những điều mà ta đã nhận ra trong thời gian dịch bệnh. Vì nếu ta không thay đổi, không trở nên khác với những người không tin đạo, ta không thể làm chứng cho Chúa Phục Sinh.

 

Dịch bệnh đã phơi bày nhân loại như một thân thể đáng thương vì thiếu tình liên đới, tình người. Khi dịch bệnh tạm ổn, người người có cơ hội tham dự phụng vụ và một vài sinh hoạt xã hội, ta nhìn anh em với sự trìu mến và trân trọng, ta muốn gặp gỡ nhau - bù lại cho những tháng ngày bị cô lập. Dịch bệnh cũng đã phơi bày cho nhân loại thấy điều mong manh của phận người để họ biết nhìn đến cùng đích của đời người, rũ bớt tham sân si là những cái trở nên vô nghĩa khi người người nhiễm bệnh – nhiều xác chết, nhiều biến chứng hậu covit, nhiều trẻ em trở nên mồ côi vì mất hết người thân. Dịch bệnh cũng cho ta thấy những hình ảnh đẹp của tình liên đới, sự dũng cảm của đội ngũ nhân viên y tế, sự cứu trợ, các tình nguyện viên; dĩ nhiên cũng không thiếu những kẻ lợi dụng dịch bệnh để trục lợi – biểu hiện của cỏ lùng trong ruộng lúa.

 

Dịch bệnh là một điều không may và chúng ta đã tha thiết cầu xin Thiên Chúa cho dịch bệnh qua đi.Tuy vậy, với con mắt đức tin, ta có thể nhận ra rằng Chúa cho phép dịch bệnh xảy ra và Chúa muốn ta tận dụng cơ hội này để chắt lọc cuộc sống, điều chỉnh lại cách sống của mình cho tốt đẹp hơn. Ai đó đã nói: “Không ai tắm hai lần trong một dòng sông”, vì mỗi giây phút, dòng sông đã thay đổi và chính bản thân người tắm cũng thay đổi: thể lý, tâm sinh lý và tâm linh. Tuy ta sống trong một căn nhà, khung cảnh và người nhà vẫn vậy, nhưng mỗi ngày sống mở ra một trang sách mới, mỗi khắc giây hiện tại là quà tặng (present), ngày hôm nay khác hẳn hôm qua và không giống ngày mai. Người khôn ngoan thì biết nhìn lại cuộc sống mỗi ngày để điều chỉnh nếp sống ngày mai hoàn hảo hơn và đẹp lòng Chúa hơn.

Tôi không mơ mình có thể thay đổi được xã hội cũng như Giáo hội, tôi chỉ dám mong ước mình thay đổi được đôi điều về bản thân mình: cách nhìn cuộc đời, tâm tính, những thói quen đạo đức. Chính lúc tôi thay đổi nên tốt hơn một chút thì gia đình và xã hội sẽ thay đổi, đúng như lệnh truyền của Chúa: Các con là muối, là men và là ánh sáng cho đời. Nếu để ý một chút, chúng ta dễ nhận ra rằng: “Ăn năn hối cải, thay đổi cuộc sống cho phù hợp với Tin Mừng” cũng là một sứ điệp lớn của Kito giáo. Nhiều lần Chúa Giê su nói đến sự hối cải: Ta đến để kêu gọi người tội lỗi ăn năn hối cải; Triều thần thiên quốc sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải; Khốn cho các ngươi là những kẻ được chứng kiến nhiều phép lạ xảy ra, mà không ăn năn hối cải; Sứ điệp đầu tiên của Chúa Giê su là 'Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng; Sứ điệp cuối cùng của Ngài là 'Ta khát': khát ở đây là khát tình yêu, là ước mong cháy bỏng mọi người đón nhận ơn cứu độ Ngài mang đến.



Một nhà tu đức nói: Sống ở đời, không ai được hưởng  ‘hòa âm trọn vẹn”. Điều này muốn nói: chúng ta không sống tốt cho đủ với những người chung quanh, kể cả người thân thuộc. Điều quan trọng cho cuộc sống trần gian là nỗ lực trở nên trọn lành hơn, yêu Chúa tha thiết hơn và sống bác ái với anh em hơn. Về đức bác ái, có một lệnh truyền đáng phải suy nghĩ : “Điều con không muốn kẻ khác làm cho mình thì mình đừng làm cho người khác”. Chúng ta không vui khi người khác làm ô nhiễm môi trường vì khói và rác, khi người khác mời đám cưới quá rộng, khi người khác nói xấu mình, khi người khác không cười với mình… Hãy thay đổi mọi sự từ chính mình và bạn sẽ thay đổi xã hội một chút, phần còn lại thì phải thích nghi thôi.

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

Chúa Phục Sinh

 



Có lẽ không một Ki tô hữu nào mà lại không tin rằng Chúa đã phục sinh, vì nếu Chúa không phục sinh thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết, như lời Thánh Phaolo nói. Nhưng điều quan trọng là ta phải sống niềm tin đó như thế nào, vì quả thật thế gian sẽ dùng mọi cách để thử thách xem điều đó có thật hay không.

Nói về Chúa Phục Sinh, có hai điều phải bàn tới, thứ nhất là gặp gỡ Đấng Phục Sinh và thứ hai là làm chứng cho Ngài. Theo các Tin Mừng khác thì các môn đệ còn tụ họp ở căn phòng tiệc ly một thời gian khá lâu rồi mới di chuyển về Galilee để chứng kiến Chúa lên trời, nhưng trình thuật của Tin Mừng Mattheu lại nhấn mạnh đến sứ điệp ‘Chúa hẹn gặp các môn đệ ở Galilee’. Galilee là vùng buôn bán thương mại sầm uất, pha tạp nhiều sắc dân, tiếp giáp với vùng Samaria và miền thập tỉnh của dân ngoại. Điều này nhắc nhở cho ta rằng: để gặp gỡ Chúa Phục Sinh, chúng ta phải ra khỏi nhà mình và mở lòng mình – gặp gỡ tha nhân, chính lúc đó Chúa Phục Sinh tỏ mình cho chúng ta. Ưu tiên phải gặp gỡ ai?- Những người thân trong gia đình là những người sống bên cạnh ta, nhưng ta có hiểu tâm tư và nguyện vọng của họ không; những người đau bệnh và bất hạnh trong cuộc sống, đang cần một lời động viên và một cuộc gặp thể hiện tình liên đới; những người ta không mấy thiện cảm và đang có mối bất đồng nào đó. Hãy đi ra khỏi nhà mình, hãy đưa một bàn tay mình ra và hãy nở một nụ cười với nhau, ta sẽ thấy ẩn hiện đâu đó khuôn mặt của Đấng Phục Sinh, vì Ngài đang sống giữa chúng ta – có điều là Ngài cải trang nên ta khó nhận ra Ngài.

Đức Phanxico mời gọi chúng ta phải thể hiện niềm vui Tin Mừng, không phải là đeo mặt nạ với niềm vui giả tạo rằng mình đang hạnh phúc, nhưng với niềm hạnh phúc vì mình được yêu thương, có Chúa là người Cha tốt lành, Chúa đồng hành và cứu ta khỏi cái chết của tội; niềm vui của kẻ biết rõ về số phận mình, cả hiện tại và tương lai. Cũng thế, chúng ta thể hiện niềm tin vào Chúa Phục Sinh bằng niềm vui sống, chính niềm vui sẽ lôi cuốn kẻ khác tìm được Chúa, chứ không phải là lời rao giảng bằng lý thuyết của những người mang vẻ mặt ‘đưa đám và của chiều thứ Sáu tử nạn’. Đức Bê nê dic tô 16 nói: Giáo hội phát triển không nhờ sự cải đạo, nhưng bởi sự hấp dẫn.

Có câu chuyện kể về một nữ tù nhân trong một trại giam, vào ngày lễ Phục sinh, đã hô lớn tiếng: “Chúa đã phục sinh! Chúa đã phục sinh”. Tiếng hô vang của cô đã làm bừng tỉnh nhiều tù nhân, là một niềm hy vọng đầy sức sống đã lóe sáng ở nơi đầy tủi nhuc này, là một sự dũng cảm trong một trại giam rất hà khắc với những biểu hiện của tôn giáo. Sau một lát im lặng nặng nề trôi qua, những người quản giáo xuất hiện, họ túm lấy cô gái – kẻ đã hô điều ‘nhảm nhí’ và lôi đi. Cô biến mất trong 2 ngày, sau đó được trả về trong tình trạng rất tệ, có điều lạ là khuôn mặt cô vẫn tươi tỉnh, cô mỉm cười nói: “Em đã làm chứng cho Chúa Phục Sinh”.

Đừng chờ những cơ hội đặc biệt để tuyên xưng niềm tin vào Chúa Phục Sinh, vì đa số chúng ta chỉ có những cơ hội bình thường để làm chứng cho niềm tin của mình. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nói với chúng ta: “Ở nguồn gốc của việcm một Kitô hữu không phải là một lựa chọn luân lý hay một ý tưởng cao cả, nhưng là một cuộc gặp gỡ với một biến cố, một người, là điều mang đến cho cuộc sống một chân trời mới và một hướng đi quyết định”. Nếu theo đạo chỉ là một lý tưởng sống hoàn hảo, nó sẽ bị chao đảo bởi muôn vàn thách đố, sự lo âu sẽ vùi dập ta bất cứ lúc nào. Thế nhưng, Đức Giê su Phục Sinh là một con người thực sự, vì Ngài không còn lệ thuộc vào không gian và thời gian – thế nên Ngài có thể luôn ở bên cạnh tôi và yêu thương tôi. Với niềm xác tín rằng ‘mình không cô đơn và mình được yêu thương, chúng ta mới luôn có được niềm vui, ngay cả trong gian lao thử thách của cuộc sống.



Nếu nói rằng Chúa đã phục sinh, chúng ta dễ cho rằng đây là một điều đã xảy ra trong quá khứ cách đây hơn 2000 năm, nhưng đúng hơn chúng ta phải hiểu thêm rằng Chúa Phục Sinh đang hiện diện bên cạnh tôi và cư ngụ ngay trong lòng tôi: Ngài đang đồng hành với từng người chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Rick Warren nói: “Nụ cười của Thiên Chúa là mục đích cuộc đời bạn, nên nhiệm vụ quan trọng nhất của đời bạn là khám phá cách làm Thiên Chúa vui lòng”. Không phải Chúa chỉ vui lòng khi bạn vào nhà thờ đọc kinh, cầu nguyện, giảng dạy… mà ngay cả những việc như ăn ngủ, nhìn ngắm, làm việc, vui đùa …cũng làm vui lòng Chúa khi bạn sống dưới con mắt Ngài và sống trong tâm tình ngợi khen.

Chúa Giê su Phục sinh luôn chủ động trong các lần gặp gỡ các môn đệ, Ngài chữa lành những vết thương lòng nơi họ, ban cho họ sự bình an của Chúa, và rồi ban sức mạnh Thánh Thần để họ lên đường loan báo Tin Mừng. Chính Chúa chủ động tìm kiếm từng người chúng ta để yêu ta thật nhiều, như cánh tay giang rộng trên Thập Giá đã diễn tả, để rồi Ngài thúc đẩy chúng ta sống trọn vẹn từng ngày Chúa ban tặng, trong ước vọng mãnh liệt là làm vui lòng Chúa trong mọi sự.