Danh sách Blog của Tôi

Thứ Ba, 13 tháng 9, 2016

Hãy mỉm cười với nhau




Ngày 10 tháng 12 năm 1979, trong diễn văn đọc trước khi nhận giải Nobel Hòa Bình, Mẹ Têrêxa kể: “Một lần kia, có 14 giáo sư đại học từ Hoa Kỳ đến thăm nhà bác ái của chúng tôi ở Calcutta. Sau khi thăm, một người nói với tôi: xin Mẹ nói cho chúng tôi một điều thôi để chúng tôi có thể nhớ mãi. Tôi nói với họ: Hãy mỉm cười với nhau, hãy dành thời giờ cho nhau trong gia đình. Ðó cũng là điều tôi muốn nói với quý vị hôm nay”. 


“Hãy mỉm cười với nhau, hãy dành thời giờ cho nhau trong gia đình” là một sứ điệp mang lại nhiều điều tích cực trong cuộc sống. Trong thế giới người lớn, con người thường mang mặt nạ trong các quan hệ giữa người với người, khác với trẻ em vì chúng thường chóng giận và mau quên. Người lớn thường giả vờ thân tình vui vẻ nhưng trong lòng lại dự tính mưu hại người và lợi dụng nhau. Người lớn thường ‘đóng mặt ngầu’ với nhau để che đậy một nỗi sợ: sợ người kia lấn lướt và coi thường mình. Bạn thử nghĩ xem những người sống trong một khu xóm hay một làng quê với nhau, vậy mà mỗi lần hai người nào đó gặp nhau chỉ nhìn nhau vô cảm, không hé nổi một nụ cười thì họ giống loài vật hay loài người hơn? Có người lập luận: kẻ kia phải chào mình trước, vì nó nhỏ tuổi hơn hoặc vì lần trước mình chào nó mà nó cứ khinh người! Thôi, hãy bỏ qua nhưng chi tiết nhỏ đó đi, vì nó làm cho đời ta tủn mủn và mất vui. Mỗi lần gặp nhau, hãy cười với nhau và gật đầu chào nhau dù người kia có là con cháu mình và đang có ‘vấn đề’ với mình, vì như vậy đời mình sẽ vui hơn và người kia chắc chắn hạnh phúc hơn. Bạn hãy thử đi, hãy mỉm cười và chào người anh em trước đi, cuộc gặp gỡ sẽ dễ chịu hơn hình ảnh hai con chó gầm gừ khi đi qua nhau.

Hãy dành thời giờ cho nhau trong gia đình. Con người thời đại tất bật với công việc và sở thích riêng, đến nỗi không còn thời giờ để nghe nhau và hiểu nhau. Đó là một thực tế cuộc sống, nhưng ẩn chứa bên trong nhiều điều hơn là việc thiếu thời giờ. Có thể kể đến tâm lý quan trọng hóa bản thân, quá chú trọng đến các phương tiện truyền thông hoặc tâm lý mệt mỏi, kỹ năng giao tiếp... Khi một người đang nói khá chi tiết một vấn đề nào đó thì bị người kia chặn đầu bằng một câu kiểu như đáp số tất yếu, làm người nói cụt hứng và im luôn. Khi một người đang kể một câu chuyện thì người khác lại cắt ngang bằng một câu hỏi vu vơ hay một câu chuyện khác. Khi một người đang nói chuyện thì người kia mắt cứ dán chặt vào một thiết bị công nghệ nào đó. .. Những kiểu nói chuyện như vậy sẽ làm cho người ‘phát ngôn’ uất ức và mặc cảm, lâu dần sẽ dẫn đến stress và tự kỷ. Hãy tử tế để lắng nghe người kia nói chuyện, đó là một đòi hỏi của đức bác ái và của cảm thông. Hơn đâu hết, trong gia đình mọi người phải biết dành thời giờ lắng nghe nhau khi người kia muốn nói, vì gia đình là trường học yêu thương: cho đi và đón nhận.

Thời đại hôm nay người ta thường nói tới ‘kỹ năng sống’. Tôi chưa được trải qua những khóa học chuyên biệt, chỉ xin nói tới một vài điều góp nhặt đó đây, vì thấy có một vài điều liên quan đến điều Mẹ Têrêxa nói hôm nay.
-Nói tới kỹ năng sống, người ta nghĩ tới việc cởi mở tấm lòng để gặp gỡ mọi người, trái ngược với thái độ khép kín trong giao tiếp và về nhận thức. Ngôn ngữ của Mẹ Têrêxa là biết mỉm cười với nhau và lắng nghe nhau.
-Bằng lòng với những gì mình có. Sau khi đã nỗ lực thì biết bằng lòng với chính mình. Người hạnh phúc không phải là người có những gì mình muốn nhưng là biết bằng lòng với những gì mình có.
-Sống tốt giây phút hiện tại. Hãy sử dụng thời giờ hợp lý giữa công việc và nghỉ ngơi, dành cho mình và cho người, giữa lo lắng cuộc sống và nhu cầu tâm linh. Tiết kiệm thời gian và lời nói.
-Hãy là chính mình. Muốn sống an vui tự tại, phải biết giá trị con người mình, biết học hỏi người nhưng không so sánh nhiều và không gắng sức nên giống ai đó.
-Đón nhận người khác như họ là. Biết đứng về phía bên kia để nhìn vấn đề để có một sự cảm thông cần thiết khi đối thoại và xử lý các tình huống cuộc sống. Chậm bất bình và rất mực khoan dung, vì có khi ta chưa thấu hiểu những ý tốt của người kia. Phê phán và lên án là điều Chúa dạy không nên làm.
-Quyết tâm tiến lên phía trước qua từng ngày sống: nhân bản, tâm linh. Những ý hướng tích cực sẽ giúp ta hưng phấn về tâm lý và sức khỏe.

Chúc bạn luôn mỉm cười, ca hát nho nhỏ, bắt tay, chúc mừng và lắng nghe nhau: trong gia đình và nơi làm việc.

Thứ Hai, 12 tháng 9, 2016

CÁC THIÊN THẦN TRÊN TRỜI VUI MỪNG



Tin Mừng Luca 15,1-32 nói với chúng ta về lòng khoan dung nhân hậu của Thiên Chúa đối với các tội nhân. Khi người tội lỗi ăn năn sám hối thì các thiên thần vui mừng. Sám hối trở về là công việc xảy ra hằng ngày để trở nên hoàn thiện và nhân từ hơn theo gương Cha trên trời và theo khuôn mẫu của Chúa Giêsu đã dạy và đã sống. Người ta thường nghĩ việc ăn năn sám hối là việc chỉ xảy ra một vài lần trong mỗi cuộc đời và chỉ dành cho những tội nhân khét tiếng. Chúng ta có thể kể đến việc ăn năn sám hối của vua Đavit hay của ông Saolê (Phaolô). Đó là những cuộc trở về nổi tiếng, nhưng nơi đa số chúng ta thì chỉ có những thay đổi nhẹ nhàng để trở nên tốt hơn mỗi ngày. Có thể kể đến những tư tưởng hiền lành và khiêm nhường đã làm cho tâm hồn ta nên dễ thương và an bình hơn, một lời góp ý mang tính đạo lý quanh mâm cơm gia đình về những vấn đề cuộc sống đã làm cho hạt giống Tin Mừng nảy sinh trong các thành viên, một lời động viên ai đó làm cho họ ấm lòng, một việc bác ái nhỏ giữa đời thường.

Hãy là sứ giả hòa bình thay vì người gieo rắc hoang mang bất hòa trong môi trường mình sống. Cũng một con người Phêrô, lúc thì được Chúa khen là người có phúc vì biết nói phù hợp chân lý nhưng có lúc lại bị Chúa mắng là satan khi nói lời làm người khác hoang mang và đi lệch đường lối Chúa. Vua Đavit đã phạm tội tày đình là ngoại tình và giết người, nhưng ông chỉ nhận ra tội mình khi tiên tri Nathan nói cho biết. Bài trích sách Xuất Hành 32,7-14 nói về việc ông Mô-sê đã dùng lời nói để làm cho khuôn mặt Đức Chúa dịu lại và tha phạt cho dân Do Thái. Cha Anthony de Melo kể câu chuyện rằng: Các đệ tử tìm đến Minh Sư để học đạo, ai cũng muốn bắt chước lối sống của nhà hiền triết. Nhưng nhà hiền triết lên tiếng “nếu các đệ tử muốn nên giống như Ta thì đó là một điều tủi hổ cho cả hai”. “Vậy người ta cần minh sư để làm gì?” các đệ tử vội hỏi. Minh sư trả lời: “nước muốn được đun sôi thì cần đến cái ấm làm trung gian với ngọn lửa. Tôi chỉ là người trung gian vậy". Mỗi người hãy nâng đỡ gánh nặng của nhau bằng những lời tốt lành hơn là lời gây hoang mang và mang tính bạo lực, hãy là người trung gian giúp người khác tìm được chân lý và nhất là hãy cầu nguyện cho nhau được vững mạnh trong niềm tin vào Chúa.

Mỗi người là một tạo vật kỳ diệu trong chương trình của Chúa. Chúa mời gọi ta nên hoàn thiện theo cách thế của riêng mình, khuôn mẫu tuyệt hảo là chính Chúa Giêsu. Đừng cố nên giống một thánh nhân hay vĩ nhân nào đó, vì ta sẽ dễ thất vọng khi nhận ra những khiếm khuyết của họ và lãng phí chính ước mơ của Chúa về ta.

Đức Phanxicô nói: "Thiên Chúa không bao giờ ngừng muốn những điều tốt đẹp cho ta, ngay cả khi ta phạm tội". Đây là một điều dễ chấp nhận khi cuộc đời êm trôi, nhưng khi mang những căn bệnh nan y hay khi bị chà đạp tàn nhẫn, có những người đã mất đức tin vì thấy Thiên Chúa mãi im lặng trong lúc nạn nhân cứ quằn quại với những câu hỏi: tại sao tôi phải chịu đau khổ, đau khổ nầy lợi ích cho ai. Thánh Phêrô dạy: Những người khỏe mạnh hãy nâng đỡ tinh thần những kẻ đau yếu. Những lý lẽ của ta không thể cắt nghĩa đầy đủ về đau khổ người bệnh đang trải qua, nhưng hãy động viên người bệnh kết hợp đau đớn mình với thập giá Đức Kitô để mưu ích cho Giáo Hội, hãy nhìn lên Thập giá Đức Kitô để múc lấy nguồn sức mạnh và hãy biết rằng Chúa Giêsu đang đồng hành với họ từng giây phút.

Bài Tin Mừng Lc 15,1-32 còn nói lên một điều cũng rất khó hiểu về lòng thương xót của Chúa, đó là Ngài tôn trọng tự do của con người. Thiên Chúa luôn mong muốn điều tốt lành cho mọi người, thế nhưng Ngài chỉ biết đứng ngoài cửa và gõ, nếu ai mở cửa tâm hồn thì Ngài mới bước vào đời họ được. Đó là một điều khó hiểu đối với đầu óc chúng ta, vì Chúa là Đấng Tạo Dựng và con người chỉ là loài thụ tạo, chỉ là hạt bụi trong tay người thợ gốm. Bởi vậy hãy tạo thật nhiều niềm vui cho triều thần thiên quốc bằng những tâm tình con thảo với Chúa: tin tưởng, hiến dâng, xin lỗi và tạ ơn.

Thứ Năm, 26 tháng 5, 2016

THUYẾT CỬA SỔ VỠ (BROKEN WINDOW)





Trong cuốn sách The tipping point của Malcolm Gladwell, ông đã dẫn chứng: trong khoảng thời gian từ 1960-1990, tỉ lệ tội phạm diễn ra ở hệ thống xe điện ngầm của New York rất cao mặc dù lúc đó New York đã là một thủ đô tài chính của thế giới.
Mỗi năm, tại thành phố này có đến hơn 650.000 vụ tội phạm và giết người nghiêm trọng. Từ duy nhất có thể mô tả chính xác tình trạng của các nhà ga, trên những con tàu điện ngầm lúc đó là hỗn loạn. Những nhà ga ánh sáng lờ mờ, bủa vây bốn phía là bóng tối và những bức tường ẩm ướt, bị sơn vẽ chằng chịt. Những chiếc xe dơ dáy, sàn xe đầy rác rưởi, vách và trần dày đặc hình sơn, vẽ và thường về trễ. Nạn nhũng nhiễu hành khách từ những kẻ ăn mày và trộm cắp vặt cũng hết sức phổ biến. Đã từng có thời điểm tại các khu lân cận quanh New York như Brownville và đông New York, các con phố thường trở nên u ám khi bóng chiều chạng vạng.
Lúc đó dọc vỉa hè hai bên, dân lao động không còn ai đi lại, lũ trẻ con không dám đạp xe trên đường, các cụ già cũng vắng bóng trên những bậc lên xuống hay ghế đá trong công viên. Những phi vụ buôn bán ma túy, những vụ thanh toán băng đảng diễn ra nhan nhản khắp mọi ngóc ngách của Brooklyn khiến hầu hết dân chúng vì sự an toàn của mình đều ở hết trong nhà khi màn đêm buông xuống. Bộ phận cảnh sát làm việc ở Brooklyn trong khoảng những năm 1980 và đầu 1990 thừa nhận rằng vào thời điểm đó, khi trời vừa tắt nắng là máy bộ đàm của họ liên tục réo lên những đoạn trao đổi báo cáo giữa cảnh sát tuần tra với nhân viên trực tổng đài về đủ loại bạo lực xã hội, tội phạm nguy hiểm vốn đã quá quen thuộc.
Không ai giải quyết nổi tình trạng này.


HAI CON NGƯỜI, HAI “CHUYỆN NHỎ BÉ”
Thế rồi, hai thanh tra cảnh sát là David Gunn và William Bratton được phái đến để làm trong sạch hệ thống tàu điện ngầm của New York, vốn là huyết mạch giao thông của gần 97% người dân thành phố. Chỉ sau một vài năm, tình hình tội phạm ở New York đã tụt giảm nhanh xuống 65%. Hai “chuyện nhỏ bé” là xóa sạch những hình sơn vẽ và đưa nhân viên cảnh sát mặc thường phục có mặt tại các nhà ga… đã làm thay đổi bộ mặt và nét văn hóa của New York.
Trong cuốn sách của mình, Malcolm Gladwell viết rằng lúc bấy giờ có nhiều luật sư làm việc trong khu vực vận tải ngầm đề nghị Gunn không nên quá để ý đến những hình sơn vẽ trên tường, mà nên tập trung vào những vấn đề lớn hơn như các hành vi tội phạm và độ an toàn trên mỗi chuyến xe. Lời khuyên này có vẻ khá hợp lý.
Quan tâm đến những hình sơn vẽ graffiti trong thời điểm toàn bộ hệ thống đã rệu rã, sắp sụp đổ dường như cũng vô ích như cố cọ chùi tất cả bàn ghế trên con tàu Titanic lúc nó đang tiến về tảng băng trôi.
Thế nhưng, Gunn vẫn kiên quyết bảo vệ quan điểm của mình. Những hình sơn vẽ đó mới là dấu hiệu cho sự sụp đổ của cả hệ thống. Gunn phân tích: khi quyết định xây dựng lại tổ chức cũng như tinh thần làm việc trong hệ thống, anh buộc phải giành chiến thắng trong cuộc chiến chống lại những hình sơn vẽ bẩn thỉu. Nếu anh thất bại thì tất cả những cải tổ trong hệ thống và những biến chuyển vật chất kia sẽ không thể diễn ra được. Gunn soạn ra một cơ cấu quản lý mới và một loạt mục tiêu cụ thể, chính xác, trong đó có điều luật ngăn chặn những can thiệp hậu kỳ, tức là khi chiếc xe đã được phục hồi thì cần phải đảm bảo nó không bị phá hoại thêm lần nữa.
Gunn nói: “Chúng tôi có một gara ở Harlem tại đường 135 nơi đoàn xe đỗ qua đêm. Đêm đầu tiên, bao giờ bọn trẻ cũng tới sơn sườn xe thành màu trắng. Rồi tối hôm tiếp theo, khi phần sơn hôm trước đã khô chúng đến vẽ phác họa. Cuối cùng, đến tối thứ ba, chúng đến tô màu. Đó gọi là công việc trong ba ngày. Chúng tôi biết bọn trẻ đang làm thế lên một trong những chiếc xe “nhem nhuốc”, và những gì chúng tôi làm là chờ cho chúng hoàn thành xong bức họa của mình, sau đấy dùng ống lăn sơn trùm lên tất cả. Bọn nhóc khóc mếu nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục. Đó là một thông điệp cho bọn nhóc: nếu các cậu muốn mất tới ba đêm để làm bẩn một chiếc xe, điều đó cũng được thôi. Nhưng không bao giờ những hình ảnh đó được thấy ánh bình minh đâu”.

Cũng trong thời gian đó, Bratton được mời về làm đội trưởng đội cảnh sát an ninh nhà ga. Trước tình trạng những hành vi phạm tội nghiêm trọng trên toàn bộ hệ thống giao thông ngầm luôn ở mức cao, đáng báo động, Bratton quyết định ra đòn với nạn trốn lậu vé bởi đó “cũng là một dấu hiệu, một hiện tượng nhỏ lẻ của sự vô tổ chức có thể dẫn đến những vụ phạm tội với mức độ nghiêm trọng hơn rất nhiều”.
Theo ước tính, mỗi ngày có đến 170.000 người đi lậu vé trên các tuyến vận tải ngầm. Một phần trong số đó là bọn trẻ vì chúng có thể dễ dàng nhảy qua cổng quay. Số khác thì chỉ cần cúi thấp xuống và rướn người qua phía dưới cổng quay là qua được. Và khi có một, hai hoặc ba người thực hiện được các khóe trốn lậu vé, những hành khách khác – những người có thể không bao giờ nghĩ tới việc vi phạm luật lệ – cũng sẽ hùa theo và viện cớ rằng nếu những người khác không phải trả tiền vé, họ cũng sẽ không trả. Chính vì thế vấn đề phát sinh lên theo cấp số nhân, và càng trở nên nghiêm trọng hơn trước thực tế không dễ gì dẹp bỏ được nạn lậu vé.
Vì số tiền phạt đối với mỗi trường hợp lậu vé chỉ là 1,25 đôla nên các nhân viên cảnh sát nhà ga cho rằng không cần thiết phải tốn thời gian bắt bớ những vụ vi phạm như vậy, đặc biệt khi có nhiều loại tội phạm nghiêm trọng khác đang xảy ra trên sân ga cũng như trên các tuyến tàu.
Ban đêm, Bratton thường lang thang đi tuần khắp các hệ thống giao thông ngầm trong thành phố. Đầu tiên ông chọn ra những nhà ga mà nạn trốn vé là vấn đề trầm trọng nhất, rồi cử mười nhân viên an ninh mặc thường phục ở mỗi khu cổng xoay. Những nhân viên an ninh này sẽ giữ những kẻ trốn lậu vé, từng người từng người một, còng tay và bắt tất cả đứng tập trung tại phòng chờ cho đến khi họ “tóm được đủ số”.
Việc làm này nhằm cảnh báo hành khách rằng lực lượng an ninh nhà ga đang có những biện pháp xử lý kiên quyết với những kẻ trốn vé. Trước đây, các nhân viên an ninh chỉ làm qua loa, lấy lệ với loại vi phạm này bởi vì tính từ lúc bắt giữ, áp giải đến phòng thường trực, khai điền vào giấy tờ cần thiết, rồi lại chờ cho đến khi những giấy tờ này được thông qua cũng phải mất cả một ngày – tất cả chỉ cho một tội nhỏ chỉ đáng phạt một cái bạt tai cảnh cáo. Bratton còn nhất quyết tiến hành việc khám xét những người bị bắt giữ. Và gần như cứ bảy người bị khám xét sẽ có một người đang có lệnh bắt giữ do phạm tội từ trước đó, trong 20 người sẽ có một người mang theo một loại vũ khí nào đó.
Bratton viết lại: “Không bao lâu sau, những hành khách có ý đồ xấu đã khôn ngoan hơn, họ không mang theo vũ khí bên mình nữa và bắt đầu trả tiền vé đầy đủ.
THUYẾT CỬA SỔ VỠ
Giải thích những thay đổi tích cực này, cảnh sát New York hẳn sẽ nói rằng đó là do chính sách của thành phố được cải thiện đáng kể. Những nhà phạm tội học thì quy cho sự thuyên giảm của các hoạt động buôn bán ma túy và tình trạng già đi của dân số. Còn các nhà kinh tế học lại khẳng định rằng đó chính là nhờ những cải cách từng bước của nền kinh tế thành phố trong suốt thập niên 1990.
Ba luận điểm trên là những lời giải thích phổ biến đối với sự tăng giảm của các vấn đề xã hội. Thế nhưng, chúng không giải thích được lý do tại sao tội phạm ở thành phố New York lại giảm nhanh và mạnh hơn bất kỳ nơi nào khác trên lãnh thổ nước Mỹ và tại sao nó lại chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn đến vậy. Malcolm Gladwell đặt vấn đề: “Nói cho cùng, tội phạm ở thành phố New York không giảm từ từ vì nguyên nhân điều kiện sống của người dân được cải thiện từng bước. Nó giảm rất mạnh. Làm sao sự thay đổi của một nhóm chỉ số kinh tế và xã hội lại có thể khiến tỉ lệ tội phạm giết người giảm xuống 2/3 chỉ trong năm năm? Vậy rõ ràng còn có một nhân tố khác nữa đã tham gia đẩy lùi nạn dịch này”.
“Nhân tố khác” ấy, được đặt tên là “Thuyết cửa sổ vỡ”. Lý thuyết này do hai nhà tội phạm học James Q. Willson và George Kelling đưa ra.
Hai ông cho rằng tội phạm là hệ quả tất yếu của sự mất trật tự, vô tổ chức. Nếu một chiếc cửa sổ bị phá hỏng, vỡ vụn mà cứ để vậy không sửa chữa thì những người đi ngang qua sẽ kết luận rằng không ai quan tâm và không ai chịu trách nhiệm trước hiện trạng này. Rồi không lâu sau, nhiều cánh cửa sổ khác sẽ bị đập vỡ, dần dà ý thức về sự vô chủ, hỗn loạn sẽ lan rộng, truyền tải đi dấu hiệu về những gì đang diễn ra. Cũng theo hai ông, trong một thành phố, những vấn đề tương đối nhỏ như sơn vẽ lên tường, gây mất trật tự công cộng và kiểu ăn xin “đểu” đều là những chuyện tương tự như những cánh cửa sổ vỡ, những “tấm vé qua cửa” cho ngày càng nhiều tội ác nghiêm trọng.

Malcolm Gladwell trong The tipping point đã viết: “Đừng nên xem nhẹ những chuyện nhỏ. Chúng có thể tạo nên những biến đổi to lớn”.
Nếu có thể tạo nên những thay đổi cho một thành phố thì “những chuyện nhỏ bé” cũng có thể tạo nên những thay đổi cho một đất nước.
Cuộc sống được tạo thành từ “những chuyện nhỏ bé”. Sự lớn lao sẽ diễn ra nếu ta biết làm những việc nhỏ với một suy nghĩ lớn.
Với cuốn sách The tipping point, năm 2005 Malcolm Gladwell đã được tạp chí Time bình chọn là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất trên thế giới. Và cuốn sách của ông đã làm thay đổi cách tư duy của rất nhiều người trên thế giới.

Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2016

Tôi có một ước mơ




Tôi mơ rằng nhiều người có tinh thần cầu nguyện trong cuộc sống, cầu nguyện chung với nhau trong một ý nguyện. Chừng 5 người lập thành một ‘nhóm cầu nguyện’, đầu tiên là nhóm cơ bản, sau đó các thành viên sẽ mở thêm nhóm thứ cấp nếu có nhiều tâm hồn cùng ao ước cầu nguyện chung với nhau. Việc làm thật đơn giản: mỗi sáng nhóm trưởng sẽ nhắn tin cho các thành viên để rồi trong ngày sống, thỉnh thoảng họ nhớ cầu nguyện cho nhau theo ý nguyện chung đó.

Việc nầy thật tốt đẹp, vì Chúa Giêsu đã hứa Ngài sẽ ban ơn xuống khi có nhiều người cùng hiệp ý cầu nguyện, và cũng để đáp lời mời gọi của Giáo Hội dạy các con cái phải biết dùng những phương tiện kỹ thuật hiện đại để làm việc truyền giáo và dọn cho nhau những bữa tiệc thiên đàng. Ý nguyện được gửi qua tin nhắn điện thoại cho các thành viên vào mỗi buổi sáng sẽ là nguồn động viên lớn cho các người thân đang trải qua gian nan cuộc sống. Tôi đã lập được một nhóm cơ bản và xin đăng tải những ‘câu nói hay’ đã góp nhặt được.

Trong tay Chúa, con xin phó thác hồn con.
Thầy đây, đừng sợ.
Bình an cho anh em.
Thiên Chúa đã làm người và ở giữa chúng ta.
Này Ta ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.
Có Chúa ở cùng tôi, tôi chẳng sợ gì.
Cha các con biết rõ các con cần gì.
Thân trần truồng tôi sinh ra từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó trần truồng. Xin chúc tụng Chúa.
Hãy nhớ mình là bụi tro.
Ta đã yêu con bằng mối tình muôn thuở.
Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài.
Dù cha mẹ bỏ con, Ta chẳng quên con bao giờ.
Chúa khắc tên con trong lòng bàn tay Chúa.
Thiên Chúa là Tình Yêu.
Hãy nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.
Hãy có tâm tình con thơ để được Chúa thương yêu.
Kìa, Thầy ở đó và Thầy gọi em.
Này Ta đứng ngoài cửa và gõ cửa. Hãy mở cửa lòng cho vua Tình Yêu ngự đến.
Các con là bạn hữu của Thầy.
Nguyện ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Chúa là gia nghiệp đời con.
Chúa là nguồn hạnh phúc của con.
Thầy ở đâu, các con cũng ở đó với Thầy.
Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban cho họ người Con Một.
Chúa Giêsu yêu loài người đến tột cùng.
Chúa Giêsu đã mặc lấy phận người và chết trên thập giá.
Này con xin đến để thi hành ý Cha.
Can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian.
Mọi đau khổ ta chịu không sánh tầy một chút vinh quang quê trời.
Quê hương chúng ta ở trên trời.
Tôi đã thấy một trời mới đất mới.
Nguồn trợ lực tôi bởi Đức Chúa.
Hãy ký thác đường đời cho Chúa và Ngài sẽ ra tay.
Hồn con mong đợi Chúa, hơn người lính gác mong đợi hừng đông.
Nguyện xin Đức Khôn Ngoan đến và trợ lực con.
Xin chỉ cho con đường đi của Chúa và dạy bảo con nước bước Ngài.
Nào ai am tường tâm tư của Chúa, nào ai biết đường lối của Ngài.

Xin xót thương con, lạy Chúa, vì bên Ngài con đang ẩn náu.
Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin xót thương con.
Từ vực thẳm, con kêu lên cùng Chúa.
Xin khoan hồng thương con, lạy Chúa, xóa tội con theo lượng hải hà.
Lạy Chúa Giêsu, con yêu mến Chúa.
Ngài đến để phục vụ và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi muôn người.
Hồn con khát Chúa trời hằng sống.
Bao giờ con được đến vào bệ kiến tôn nhan.
Tôi biết tôi đã tin vào ai.
Chúa vẽ nét thẳng trên những đường cong.
Trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ.
Tình thương Chúa, đời đời con ca ngợi.
Chúa có một kế hoạch cho mỗi cuộc đời.
Người gọi đến với mình những kẻ Ngài muốn.
Chúa yêu ai thì ban cho họ nên giống Ngài.
Lạy Chúa Chúa muốn con làm gì.
Lạy Chúa con, là tất cả của con.
Lạy Chúa con, lòng thương xót của con.
Lạy Chúa. Chúa biết mọi sự Chúa biết con yêu Chúa.
Hãy dâng những đau đớn vì bệnh tật để cầu cho Giáo hội và các tội nhân.
Chính Chúa đang nâng đỡ tâm hôn tôi.
Chỉ có tình yêu là đáng kể thôi.
Thời gian bệnh là cơ hội hồi tâm và gần Chúa hơn.
Phải sống ơn gọi của mình trong niềm vui.
Chúa làm người để liên đới và cảm thông với mọi người.
Thầy đây, đừng sợ.
Ơn Ta đủ cho con.
Hồn con hướng về Chúa.
Chúa Giêsu Kitô, xin thương xót con.
Lạy Đấng Tình Quân con tôn thờ, con nay thuộc về Chúa.
Chúa Giêsu là tất cả đối với tôi.
Ngay cả giữa khổ đau, Thiên Chúa vẫn đồng hành với ta.
Không có gì tách tôi ra khỏi tình yêu của ĐKT.
Trong mọi thử thách, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến ta.
Cùng đi theo Chúa, sướng vui chan hòa.
Ví như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả chỉ là uổng công.
Xin mở cho con đôi mắt để con thấy tình yêu Chúa khắp nơi.
Cuộc sống ở trần gian là kiếp lữ khách.
Chúng ta chỉ có một chỗ ở vĩnh cửu là quê trời.
Quê trời nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người.

Không có ai bị loại trừ khỏi lòng thương xót của Thiên Chúa.
Thiên Chúa luôn đi bước trước để tìm kiếm con người.
Hãy công bố những việc kỳ diệu Chúa đã làm cho ta.
Những lời tạ ơn của ta không thêm gì cho Chúa, nhưng sinh ích cho ta.
Mỗi người đều được mời gọi gặp gỡ Chúa như Phu Quân của cuộc đời mình.
Hãy dành chỗ cho Chúa Giêsu trong cùng thẳm con tim của chúng ta.
Xin cho chúng ta ngày càng say mê Chúa Giêsu hơn, vị Phu Quân của chúng ta.
Chúa thương yêu ta với tình yêu của một người mẹ, trao ban tất cả và luôn chăm sóc.
Tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa” (1 Cr 15,10).
Tự nguồn sung mãn của Chúa, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” (Ga 1,16)
“Anh em Đã lãnh nhận nhưng không thì phải cho đi nhưng không” (Mt 10,8)
Đừng đưa ra giải pháp cho một vấn đề khó khăn nếu tiên vàn chưa cầu nguyện và suy nghĩ.
"Nguyện xin Chúa chúc lành và gìn giữ anh em!
Chính Thiên Chúa là Đấng luôn đi tìm chúng ta. Và cũng chính Thiên Chúa đến gặp chúng ta
Cảm nhận mình cần được xót thương, là một điều kiện cần thiết để đón nhận lòng thương xót.
Con Thiên Chúa đã làm người để con người trở thành con cái Thiên Chúa.
Thiên Chúa yêu thương chúng ta với tình yêu nhưng không và vô hạn.
Thập giá Chúa Kitô là bằng chứng tột đỉnh tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta.
“Thiên Chúa đã không tạo dựng nên Ađam vì Ngài cần đến con người, nhưng để có ai đó mà ban các ơn phúc”.
Dung mạo lòng thương xót của Chúa Cha chính là Đức Kitô Giêsu.
Nơi Đức Giêsu Nazareth, lòng thương xót đã trở nên sống động, hữu hình, và đạt đến tột đỉnh.
Lòng thương xót luôn lớn hơn tội lỗi.
không ai có thể đặt giới hạn cho tình yêu tha thứ của Thiên Chúa.
Chúng ta được kêu gọi để sống lòng thương xót, vì lòng thương xót đã được ban cho chúng ta trước.
Chúa dạy chúng ta đừng phán xét cũng đừng lên án, biết tha thứ và sẵn sàng cho đi.
Thánh Gioan Thánh Giá: "Vào lúc cuối đời, chúng ta sẽ chịu phán xét về tình yêu"
“Đối với Thiên Chúa, nén giận thì dễ hơn là rút lại lòng thương xót“.
Lòng thương xót Chúa tồn tại đến muôn đời.
Ngài giận trong giây lát nhưng thương yêu suốt cả đời.
Thiên Chúa không bao giờ biết mệt khi tha thứ, chính chúng ta là kẻ cảm thấy mệt mỏi khi cầu xin lòng thương xót của Người.
Chúa biết con cần Chúa.
"Nếu con nhận ra hồng ân của Thiên Chúa!"
Xin cho con quả tim của Chúa luôn quảng đại và tha thứ.
Xin cho con đừng khép lại nơi chính mình
Tôi có là gì cũng là nhờ ơn Thiên Chúa (1 Cor 15,10)
Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta (1Cor 15,3).
Xin cho con biết lắng nghe và phân biệt phải trái.
Hãy vào nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi một chút.
Xin cho con được khôn ngoan và biết xét đoán.
Xin Chúa hãy phán vì con đang lắng nghe.
Xin CTT ngự đến và biến đổi lòng con.
Thầy ban bình an của Thầy cho các con.
Thiên Chúa có thể hành động cách tốt đẹp từ sự dữ
Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích lợi cho những ai yêu mến Ngài (Rm 8,28)
Chỉ có toàn bộ đức tin Kitô giáo mới có thể trả lời cho câu hỏi tại sao có sự dữ?
Thiên Chúa quan phòng chăm sóc mọi sự cách cụ thể và trực tiếp.
Niềm vui của Chúa là thành trì bảo vệ anh em.
Hãy cầu nguyện luôn kẻo sa chước cám dỗ.
Một mình Chúa là đủ.
Trong bàn tay của Đấng yêu tôi hơn cả chính tôi yêu tôi, trái tim tôi được no thỏa sự an bình.
Thầy không để các con mồ côi.
Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế
Chúa về trời mở ra một viễn tượng tương lai tốt đẹp
Anh em hãy đi khắp thế gian loan báo Tin Mừng
Hãy ở lại trong Thầy vì không có Thầy anh em không làm gì được
Sự thánh thiện Kitô giáo cốt ở lòng tín thác để vâng theo ý Chúa.
Lạy Cha, xin tha cho họ
Thiên Chúa lượng định đau khổ theo mức cần thiết cho chúng ta
Thiên Chúa không bao giờ thua lòng quảng đại của con người
Có Chúa là đủ
Thầy về trời để dọn chỗ cho anh em
Người bảo gì, hãy cứ làm theo
Hãy đến với Ta hỡi những người lao nhọc.

Vậy nhé, nếu bạn có hứng khởi lập nhóm cầu nguyện của riêng mình, hãy khởi động ngay đi. Có nhiều điều kỳ diệu sẽ xảy ra, dù trước đây ta không dám mơ và không ngờ, vì Chúa Thánh Thần vẫn không ngừng hoạt động trong Giáo hội và trong các tâm hồn.

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2016

Vấn nạn





Bạn thử đặt mình vào tình trạng của một người đang tìm hiểu đạo Công Giáo để gia nhập đạo vì một lý do nào đó, bạn sẽ có một cái nhìn từ bên ngoài về đạo. Chắc hẳn có nhiều dấu chấm hỏi, nhưng tôi nghĩ rằng những câu hỏi sau đây sẽ được đặt ra.

Kitô giáo thờ lạy thập giá Đức Kitô như điều chính yếu và thường nói đến đau khổ và tử đạo, thật không hấp dẫn tí nào. – Đúng là việc tử nạn và phục sinh của Đức Kitô là điều then chốt trong đạo Kitô. Một Kitô hữu hoạt động truyền giáo và hoạt động bác ái dù tốt đến đâu mà không chấp nhận thập giá thì đó là Kitô hữu giả hiệu. Lý do đơn giản là vì Đức Kitô đã dùng thập giá để cứu độ nhân loại, Ngài nói : “Ai muốn theo Ta, hãy vác thập giá mình mà theo Ta”. Đừng tưởng rằng Chúa Cha vui sướng khi thấy Chúa Con đau đớn tột cùng trên thập giá và cũng đừng nghĩ rằng Chúa vui sướng khi chứng kiến con cái mình trải qua những gian lao vất vả (kiểu như những thị dân Roma thời Nerô vui sướng nhìn những cuộc hành hình các Kitô hữu ở hí trường Coloseum). Thập giá Đức Kitô chỉ có giá trị cứu chuộc vì có tình yêu dâng hiến trong đó và thập giá của người Kitô hữu chỉ có giá trị khi kết hiệp với lễ dâng của Chúa Giêsu, được hiến dâng trong niềm yêu mến và phó thác : chính Chúa Giêsu hiện diện cùng vác với họ. Bao lâu còn ở trần gian, chúng ta chỉ hiểu phần nào về vấn đề thập giá Đức Kitô và thập giá của chính mình : tại sao có đau khổ trên thế giới. Mọi sự sẽ trở nên minh bạch sau khi bước qua bức màn sự chết, vì ‘bí mật’ cũng là điều Thiên Chúa muốn để niềm tin của ta có cơ hội triển nở.

Nhiều người không theo đạo vì thấy giáo lý Kitô quá cứng nhắc, không uyển chuyển và dường như không theo kip đà tiến của nhân loại. Luân lý Kitô giáo kềm hãm tự do, đề cao hy sinh và chịu đựng dường như duy trì một xã hội lạc hậu, cam chịu. cấm phá thai, ngoại tình ly dị, đề cao sự sống. - Luật pháp con người luôn thay đổi cho phù hợp với thời đại, nhưng Giáo hội buộc phải trung thành với luật Tin Mừng, cho dù phải hy sinh mạng sống : “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người phàm”. Người đời dạy ta phải tích góp của cải vì nó đảm bảo cho cuộc sống, nhưng Chúa dạy ta cho đi, đừng tích trữ và hãy lo tìm kiếm sự công chính, vì trần gian chỉ là quán trọ. Lịch sử cho thấy những thời kỳ mà Giáo hội trung thành với Tin Mừng thì phát triển mạnh, còn những thời kỳ nào Giáo hội sống xa hoa, giảm nhẹ những giá trị Tin Mừng, nặng nề với cơ cấu tổ chức, lẫn lộn thần quyền và thế quyền thì đó là những giai đoạn sa lầy.

Đạo Kitô dạy rằng có Chúa là Đấng dựng nên vũ trụ, Ngài là Alpha và Omega, Ngài là Đấng Tự Hữu và Ngài điều khiển muôn loài, Ngài phân biệt kẻ lành người dữ ngay bây giờ và sau khi họ chết… Những điều đó con người có thể chấp nhận được mà không đòi kiểm chứng, vì người ta vẫn tin vào thuyết nhân quả để ăn ngay ở lành. Nhưng ở trung tâm đạo chúng ta lại xuất hiện nhân vật Đức Kitô : Con Thiên Chúa làm người, Ngài hiện diện trong các bí tích để ban ơn thánh nhất là trong hai bí tích Thánh Thể và Hòa Giải, Ngài hiện diện trong tha nhân để ta có cơ hội gặp Ngài. -Thời Chúa Giêsu, Ngài bị chế giễu khi nói về vấn đề ‘Thịt Ta thật là của ăn và Máu Ta thật là của uống’, Ngài bị kết án khi xác nhận mình là Con Thiên Chúa, các môn đệ bị chế giễu khi rao giảng về vấn đề Đức Giêsu đã sống lại. Đức Kitô luôn đặt câu hỏi “Các con bảo Thầy là ai ?”. Có những Kitô hữu biết Đức Kitô từ khi lọt lòng mẹ, nhưng có rất nhiều người biết Đức Giêsu chỉ sau một lần gặp gỡ nào đó, vì Ngài luôn có đó và Ngài luôn tìm cơ hội gặp gỡ con người. Ông Phaolô đã gặp Đức Kitô khi ông đang hăng say bắt bớ các Kitô hữu, cố giáo sư Trần Duy Nhiên đã gặp Đức Giêsu trong một giờ chầu Thánh Thể, và tất cả đã biến đổi. Đức tin là một ơn ban ‘nhưng không’, bởi vậy nếu chưa tin vào Đức Kitô, bạn hãy thưa với Ngài : “Lạy Chúa Giêsu, nếu có Ngài thì xin cho con biết Ngài”.

Có quá nhiều Kitô hữu sống không ra gì, cũng trộm cắp, gian dâm, hống hách, rượu chè be bét, cũng ly dị, cũng phá thai.- Giáo hội có đặc tính là thánh thiện vì có Đức Kitô là Thánh, Giáo hội quản lý những phương tiện giúp mọi người nên thánh và Giáo hội có mục đích dưa dẫn mọi người nên thánh, nhưng Giáo hội cũng bao gồm những tội nhân. Giáo hội mang đặc tính là công giáo là dành cho mọi người, ai cũng có quyền gia nhập Giáo hội và Giáo hội không bao giờ loại trừ một ai với lý do là vì họ tội lỗi. Chúa Giêsu đến trần gian để tìm kiếm những con chiên lạc hơn là cứu vớt những người công chính, vì Thiên Chúa là lòng xót thương (mercy). Bởi đó, bao lâu còn sống ở trần gian, ta phải chấp nhận tình trạng lúa và cỏ lùng cùng mọc chung, vì đó là ý muốn nhiệm mầu của Chúa.  

Đức tin không phải là một đích đến để ta đạt được vào ngày chịu phép Rửa tội, nhưng là một hành trình để ta chọn lựa mỗi ngày. Hằng ngày có những Kitô hữu vẫn đổ máu khi họ chọn trung thành với Đức Kitô, và hằng ngày mỗi Kitô hữu vẫn chịu nhiều thách đố để trung thành với niềm tin của mình để sống trung thực, trao ban, trách nhiệm, chung thủy và phục vụ. Bạn có thể nhìn thấy hình ảnh Đức Kitô qua con người linh mục, các tu sĩ, các người giáo dân rất bình thường nhưng có cuộc sống gương mẫu trong các xóm đạo… đó là những vị thánh trong đời thường mà Chúa dùng để nâng đỡ niềm tin của ta. Hãy tạ ơn Chúa vì lòng xót thương của Ngài và mỗi người hãy tìm cách nâng đỡ niềm tin của anh em mình.

Thứ Năm, 21 tháng 4, 2016

Lòng thương xót Chúa




Thiên Chúa ban cho con người trí khôn để hiểu phần nào về Ngài và những dấu vết của Ngài trong thiên nhiên. Nhưng với trí khôn hạn hẹp của mình, con người không thể hiểu rõ về bản chất và hành động của Thiên Chúa. Điều đó chỉ đạt được khi con người được diễm phúc diện đối diện với Chúa và được ơn hiểu rõ những điều kỳ diệu Chúa đã thể hiện cho mình và cho nhân loại.

Thánh Phaolô đã nhiều lần suy tưởng về lòng thương xót Chúa: “Ôi thẳm sâu thay sự giàu có khôn lường của Thiên Chúa. Những phán quyết của Ngài làm sao đo lường được”. Trong thánh ca Philip: “Đức Giêsu, vốn dĩ là Thiên Chúa, đã tự hủy mặc lấy thân phận con người, đã hạ mình chịu chết trên thập giá”.
Đức Phanxicô có diễn tả tình thương của Chúa bằng những lời rất khéo : không phải Thiên Chúa có lòng thương xót mà Ngài chính là Lòng Thương Xót. Lòng thương xót đã thôi thúc Chúa đến gặp gỡ và đồng phận với ta là kẻ tội lỗi, tha thứ không mệt mỏi, chăm sóc và nuôi dưỡng như chủ chăn, không những Chúa vác gánh nặng đời ta và gánh nặng tội lỗi mà còn âu yếm ta má kề má như mẹ hiền âu yếm con thơ.

Trong danh từ nhà đạo, ta thường dùng chữ ‘nhưng không’ (gratuit), đối với nhiều người họ nghĩ đó là chữ ‘nhưng mà’ (mais). Đúng là chỉ Thiên Chúa mới có tình yêu ‘nhưng không’ dành cho loài người, yêu thương mà không đòi điều kiện và cũng không mong đáp trả chỉ vì Ngài là Tình Yêu. Cha Cantalamessa có một suy tư rất hay về tình yêu Thiên Chúa : chỉ có Ba Ngôi Thiên Chúa mới có tình yêu (love) mà không có yếu tố thương xót (mercy), Ngôi Cha cần phải yêu thương Ngôi Hai và Ngôi Ba để được chính là Chúa Cha, và các Ngôi khác cũng như vậy. Đối với con người thì hoàn toàn khác, Thiên Chúa ban ân sủng và thể hiện lòng thương xót. Vì tình yêu đó bị xúc phạm, lòng thương xót của Chúa trở thành lòng khoan dung tha thứ và mang màu sắc đau khổ (suffering).
Xin kể ra một vài chuyện để thấy rằng lòng dạ con người khó đạt đến mức độ ‘nhưng không’: Những nước nghèo thường nhận được những gói viện trợ nhân đạo để bồi thường hoặc để phát triển. Những gói viện trợ nầy thường không kèm theo điều kiện và không phải hoàn trả. Nhưng thực ra những gói viện trợ nầy cũng không phải là ‘nhưng không’, nó mang những hình thức vụ lợi một cách tinh vi : hoàn trả vật đã lấy trước, để rửa tiền, để ra oai, để người kia phụ thuộc mình cách nào đó, để tránh những mối họa lớn hơn (y tế, khủng bố). Cuộc sống dạy ta rằng ; “Có qua có lại mới toại lòng nhau”. Chân lý nầy ăn rễ sâu nơi ta để ta biết cư xử cho khôn khéo với người đồng loại, để ta đừng quên những ơn huệ nhận từ người khác và để đề phòng khi có người muốn kết thân với ta. Con người thời nay quá thực dụng đến nỗi khi họ xin ta điều gì, họ thường để lộ ra một con ‘át bài’ nào đó để làm áp lực : nếu ta không cho thì họ sẽ ra tay. Sự chặn đầu đó làm buồn lòng ta vì lòng thương ‘nhưng không’ của ta bị chặn đứng ngay trước mặt. Thiên Chúa hẳn cũng rất buồn lòng và phì cười khi con người đo lòng thương xót của Ngài bằng tấm lòng hạn hẹp. Câu chuyện người bạn khắc nghiệt đã nói lên sự bất bình đẳng đó : Thiên Chúa tha cho người đầy tớ mắc nợ 10.000 nén vàng, vậy mà anh ta lại tống ngục người bạn chỉ mắc nợ 100 quan tiền (Mt 18,21-35). Ngay cả những người làm việc ‘không lương’ trong một giáo xứ, hỏi rằng có mấy người có lòng yêu mến Chúa thật sự, nghĩa là “Phục vụ không đòi đền đáp, phục vụ ân nghĩa không chờ” ? – Hiếm lắm, 100 người may ra có 01 người, kẻ nầy không nóng nẩy và không huênh hoang, vì họ biết rằng họ đang làm việc cho Chúa và làm mọi sự vì lòng yêu mến Chúa.

Một trong những điều mà hằng ngày ta phải cầu xin là xin Chúa mở mắt tâm hồn để thấy tình yêu kỳ diệu của Chúa luôn thể hiện trong đời mình, cả lúc an vui và nhất là trong ưu sầu. Tiếp đó là xin cho mình biết tri ân tình Chúa để luôn cảm tạ và đền đáp tình thương nhưng không Chúa đã ban cho mình. Vì có hiểu được tình Chúa, đời ta mới an vui và trọn niềm phó thác.

Thứ Hai, 18 tháng 4, 2016

Bình an cho các con




Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu đã nhiều lần nói với các môn đệ: “Thầy đây, đừng sợ. Bình an cho các con”. Thế nhưng nỗi sợ vẫn luôn hiện diện trong cuộc sống mãi cho đến ngày hôm nay. Nhiều khi ta cảm thấy không có sự bình an Chúa ban vì thấy nó không ăn nhập gì với cuộc sống, và dường như lời Chúa hứa chỉ là liều thuốc an thần cho những cảnh đời đầy bất trắc.
Trong thời gian gần đây, ngày ngày truyền hình liên tục đưa tin về đủ loại thực phẩm bẩn nguy cơ gây ung thư. Những tin tức về thời tiết Elnino làm cho những cánh đồng lúa và cảnh khô hạn của đủ loại cây trồng dẫn đến kiệt quệ về kinh tế. Tin tức về nạn khủng bố và giết hại các Kitô hữu ở Trung Đông và Phi Châu dẫn đến thảm cảnh tị nạn ở Âu Châu. Tình hình kháng thuốc kháng sinh có thể dẫn đến những đại dịch chết người. Theo một Thống kê cho biết tại VN mỗi năm có khoảng 200.000 người mắc mới căn bệnh ung thư và một nửa số đó bị tử vong. Hằng ngày những chuyện buồn trên bủa vây ta và làm cho lòng ta không bừng lên được niềm vui và an bình, dù rằng Chúa Giêsu đã phục sinh!
Khi nói về truyền thông, có người phân làm hai loại: vòng tròn lo ngại và vòng tròn điều khiển. Thứ tin tức ta nghe hằng ngày từ truyền hình, báo chí và chuyện trò thường thuộc vòng tròn lo ngại: tình hình kinh tế một quốc gia, thời tiết, đời sống tình dục của những người nổi tiếng, thiên tai, chiến tranh, khủng bố, suy nghĩ của người khác về ta. Còn loại thông tin thuộc vòng tròn điều khiển thường không nhiều, đó là tìm ra mối tương quan và ảnh hưởng của loại thông tin trên tới cuộc sống và tìm ra hướng giải quyết. Những người giỏi binh pháp như Khổng Minh là người biết thâu nạp thông tin, sàng lọc và xử lý chúng để đưa ra những kết luận có lợi cho chủ mình. Người Kitô hữu cũng được mời gọi xử lý những thông tin hằng ngày dưới ánh sáng Lời Chúa để hiểu được tiếng thì thầm yêu thương Chúa liên tục gửi đến cho mình và nhân loại, nhờ vậy họ luôn có sự bình an và là sứ giả của bình an, thay vì chỉ là người đưa tin thất thiệt và vô ích.

Khi đối diện với những chuyện bế tắc của đất nước (quản lý, môi trường, y tế, giáo dục, kinh tế) hay những khó khăn trong gia đình (bệnh tật, quan hệ các thành viên, việc làm), ta thường có ao ước được sống ở một vùng trời khác nhờ một cơ hội nào đó, một thái độ khác là buông xuôi. Nhưng tốt hơn hết vẫn là biết chấp nhận, vì rằng cuộc sống ở đâu cũng có cái khó của nó: cũng có bấp bênh may rủi, cũng phải nỗ lực để vui sống và thăng tiến bản thân, cũng phải chọn lựa mỗi ngày mình tin vào ai và điều gì là quan trọng trong cuộc sống. Đức Phanxicô mời gọi chúng ta hãy thôi đặt những khó khăn cuộc sống mình là trung tâm nhưng trọng tâm cuộc sống của ta phải là chính Đức Giêsu phục sinh, chỉ có Ngài mới mang lại cho tâm hồn ta sự bình an. Sự bình an ở đây không phải là vắng bóng xung đột và mọi khó khăn cuộc sống nhưng là sự bình an Chúa phục sinh ban tặng, nó hiện diện ngay trong nhưng gian nan thử thách cuộc sống mà vẫn làm cho niềm hy vọng trổ bông vì  được hưởng sự tha thứ của Thiên Chúa, được lắng nghe và được yêu thương, được Chúa đồng hành và yêu thương mãi mãi.

“Hãy đến với Ta, hỡi những ai lao nhọc, Ta sẽ bổ sức cho các con”. Chúa không hứa với kẻ theo đạo là tránh được hiểm nguy đau khổ, mà Ngài hứa thêm sức cho ta, đồng hành và chia sẻ gánh nặng cuộc sống ta. Vậy đó, hãy trở nên dũng cảm để sống tốt cuộc sống nầy trong niềm tin tưởng rằng tình thương Chúa bền vững muôn đời, không những Ngài vác gánh nặng tội lỗi và cuộc đời tôi trên vai mà Chúa còn kề má âu yếm với tôi trong cảnh đời gian truân nầy, đó mới là niềm hạnh phúc lớn lao. Hãy vui luôn, vì Chúa đã phục sinh, Alleluiah.