Trong những ngày cuối năm phụng vụ,
các bài đọc năm lẻ được trích từ sách Ma ca bê – kể lại cơn bách hại của thời Cựu
Ước – rất giống với bất cứ cơn bách hại của mọi thời: kẻ cầm quyền đưa ra những
vị thần buộc mọi dân thờ lạy, họ phải bỏ tập tục riêng, ai nghe theo thì được sống
– được ân thưởng phú quý và trở thành bạn hữu thế gian, ai không nghe thì mất mạng,
mất tài sản.
Vị thần dân ngoại (ngẫu tượng) có
thể là nhà vua (thiên tử), có thể là tượng vàng bạc do tay người nặn đúc, có thể
là lạc thú – danh vọng – của cải – thuyết tương đối. Có nhiều người tôn vinh -
chạy theo, và buộc mỗi người phải đưa ra chọn lựa: hoặc trung thành với lề luật
Chúa thì phải đối diện với sự bách hại; hoặc chọn một cuộc sống phất phơ trước
gió để hưởng sự an nhàn. Sách Ma ca bê kể ra nhiều mẫu gương tử đạo rất sâu sắc
đáng ta suy gẫm. Năm 145 triều đại vua An ti ô kô (Hy lạp) ra lệnh lập bàn thờ ở
Giê ru sa lem và hủy bỏ mọi tập tục để trở thành một dân tộc duy nhất trong
vương quốc. Ông Ê lê a za được truyền phải ăn thịt heo (bị cấm ăn theo lề luật),
ông vui vẻ chấp nhận cái chết vì lòng kính sợ Chúa – là Đấng thấu suốt mọi bí ẩn
và nắm giữ vận mạng mỗi người và ông xác tín rằng luật Thánh là do Chúa lập ra. Một
bà mẹ chứng kiến cái chết của 7 người con trai trong một ngày, bà khích lệ các
con đừng sợ người đời, nhưng hãy kính sợ Chúa là Đấng dựng nên trời đất – là Đấng
sắp đặt các phần của cơ thể và hãy trung thành với lề luật Moi sen để được về với
Chúa. Ông Mat tit gia là người giàu có và là bậc vị vọng đã từ chối tế thần dân
ngoại, ông kêu gọi những ai trung thành với lề luật Chúa thì đi lên núi theo
ông, họ bỏ lại tất cả tài sản và rút vào hoang địa. Anh em Ma ca bê đã đứng lên
hủy bỏ bàn thờ nhà vua và tẩy uế đền thờ.
Gần chúng ta hơn là câu chuyện của
Thomas More. Ông làm lớn trong triều đính nước Anh. Vua Henry VIII muốn
hủy bỏ hôn nhân với Boley nhưng Tòa Thánh không chấp nhận, vua làm áp lực để mọi
người đồng thuận. ông Thomas More đã bị giết vì trung thành với luật lệ của
Giáo hội, ông bị xử tử vì tội phản quốc năm 1535. Giáo hội Công giáo đã
phong thánh cho ông vào năm 1935, và năm 2000, ông được tuyên bố là thánh bổn mạng
của các chính khách và chính trị gia. Chúa Giê su nói rõ lý do các Ki tô hữu bị
giết là vì họ không thuộc về thế gian, còn mọi lý do mà thế gian dựng lên chỉ
là vu cáo – đừng bận tâm. Chúa Giê su cũng bị vu cáo là người dại – là tướng quỷ
- là quân tội lỗi – lộng ngôn là kẻ nổi loạn… nhưng lý do thực sự là ‘Chúa hiến
dâng mạng sống để chuộc tội cho thiên hạ.
Những bài đọc trong sách Ma ca bê thật phù hợp
sống trong tuần lễ mừng kính CTTĐVN. Có hơn 130.000 người bị chết vì trung
thành với lề luật Chúa trong khoảng 350 năm bách hại. Đọc lại bài giảng của ĐHY
Fx. Nguyễn Văn Thuận năm 2000 cho giáo triều Roma, ta biết: bên nội của ngài bị
phân sáp (tịch thu tài sản và giao cho các gia đình bên lương canh gác để dần mất
đức tin, bên ngoại của ngài – vào năm 1885- giáo dân toàn giáo xứ bị thiêu sống
trong nhà thờ, ông ngoại sống sót vì đang du học ở Malasya.
Ngày 19.6.1988 là ngày trọng đại của Giáo hội
Việt Nam, 117 được Giáo hội hoàn vũ biết đến với tên gọi Thánh Anre Dũng lạc và
các bạn tử đạo. Thánh Anre là ai? Thánh
Anrê TRẦN AN DŨNG-LẠC, Linh Mục (1795-1839)
Sinh ra trong một gia đình ngoại giáo ở Bắc Ninh năm 1795, Trần An Dũng theo
cha mẹ vào Kẻ Chợ, nay là Hà Nội. Tại đây vì nhà nghèo, cậu được gửi gấm cho một
thày giảng nuôi nấng dạy dỗ và rửa tội với tên thánh là Anrê. Ít lâu sau, cậu
Dũng xin vào chủng viện Vĩnh Trị, ở với cha chính Lan. Ngay từ đó, cậu Dũng lại
siêng năng cần mẫn, có khiếu về thơ phú và giao tiếp với mọi người cách lịch
thiệp hòa nhã. Có người nói rằng cậu chỉ đọc qua một đoạn sách hai lần là đã
thuộc lòng.
Sau 10 năm làm thày giảng và 3 năm thần học, ngày 15-3-1823, thày Dũng được
lãnh chức linh mục (cùng với lớp thánh Ngân và Nghi), rồi được bổ nhiệm làm phó
xứ Đồng Chuối giúp cha Khiết. Sau đó về giúp cha Thi ba năm ở xứ Đoài, rồi lại
giúp cha Thuyết ở Sơn Miêng. Cuối cùng, khi làm chánh xứ Kẻ Đầm thì bị bắt. Suốt
cuộc đời linh mục, cha Dũng sống nhiệm nhặt.
Ngoài những ngày ăn chay theo luật của Giáo Hội, cha còn giữ chay suốt Mùa Chay,
và nhiều khi cả các ngày thứ sáu, thứ bảy quanh năm. Thường xuyên cha chỉ dùng
những thức ăn đơn giản. Cha Dũng hết mình với nhiệm vụ chủ chăn, chẳng khi nào
thấy cha ngại ngùng việc gì. Cha có lòng ưu ái đặc biệt với người nghèo. Có được
của cải gì, cha chia sẻ cho họ hầu hết.
Khi lệnh bách hại của vua Minh Mạng trở nên gay gắt qua chiếu chỉ toàn quốc
ngày 6-1-1833, cha phải ẩn náu tại các nhà bổn đạo, sau trốn lên Kẻ Roi và lập
nhà xứ ở đó. Một hôm, cha dâng lễ vừa xong thì quân lính ập tới, cha liền cởi
áo lễ và ngồi lẫn trong tín hữu. Lính bắt cha như một trong 30 giáo hữu hôm đó,
vì quan quân không biết cha là linh mục. Ông Tổng Thìn bỏ ra 6 nén bạc, nhận
cha là thân nhân đi dự lễ để chuộc về. Từ đấy cha đổi tên là Lạc.
Lần thứ hai cha bị bắt khi đến Kẻ Sông xưng tội với cha Thi theo thói quen hàng
tháng. Lý trưởng Pháp bắt được hai linh mục và mặc cả với giáo hữu phải chuộc với
giá 200 quan. Các tín hữu gom góp được 100 quan nên viên lý trưởng chỉ tha cha
Lạc. Thế nhưng ngay trên đường về, vì gặp mưa gió, thuyền cha phải ghé vào bờ.
Căn nhà cha đang trú lại đang bị quân lính khám xét. Thế là cha bị bắt lần thứ
ba và bị giải lên huyện Bình Lục cùng với cha Thi.
Một lần nữa, giáo hữu cùng Đức Cha Retord Liêu tìm cách chuộc hai cha về, nhưng
lần này cha Lạc thấy ý Chúa đã định cho mình, ngài nhắn về với Đức Cha câu chuyện
thánh Phêrô hai lần thoát khỏi ngục, đến lần thứ ba, Chúa Giêsu đã yêu cầu ở lại
tử đạo tại Roma, và xin các tín hữu đừng lo liệu tiền chuộc làm chi nữa.
Xin CTTĐVN cầu bầu cho chúng con
là con cháu biết noi gương các Ngài mà trung thành với lề luật Chúa, dù phải
thiệt thòi và phải bước qua cửa hẹp để mai sau cũng được hưởng phúc vinh quê trời.
Amen


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét