Danh sách Blog của Tôi

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

MỘT DẠNG NGHÈO KHÓ TINH TẾ HƠN



 Rev. Ron Rolheiser, OMI


Có những cách bị loại trừ trong đời khác nhau.

 

Đầu năm nay, một trong các anh lớn của tôi qua đời.  Theo mọi tiêu chuẩn, anh đã sống một cuộc đời gương mẫu, chủ yếu sống vì người khác.  Anh chết trong tình yêu thương tha thiết của mọi người quen biết anh.  Cuộc đời anh sống vì gia đình, cho Giáo hội, cho cộng đồng và bạn bè.

 

Khi giảng trong tang lễ của anh, tôi chia sẻ, trong khi anh luôn đem lại nụ cười và sự phúc hậu, nhiều lúc là cả sự hóm hỉnh, nhưng ẩn sâu trong lòng, đôi khi anh phải cố gắng lắm để luôn làm như thế.  Vì sao?  Vì dù anh đã dành trọn cuộc sống trưởng thành để phục vụ người khác, nhưng phần lớn trong đời, anh không có nhiều lựa chọn trong những chuyện đó.  Câu chuyện của anh tôi là thế này.

 

Anh là một trong số anh lớn trong nhà, thuộc gia đình nhập cư đông con thế hệ thứ hai, vật lộn với nghèo đói ở một vùng nông thôn hẻo lánh tại vùng đồng cỏ Canada, nơi không dễ để đi học vào thời đó.  Cho nên, với anh và những người đồng trang lứa, cả nam và nữ, dự tính bình thường là sau khi học xong tiểu học thì nghỉ học và bắt đầu làm việc phụ giúp gia đình.  Thêm nữa, khi anh học xong tiểu học, lúc đó cũng không có trường trung học để anh học tiếp.  Đáng tiếc hơn, có lẽ anh là người có thiên tư và sáng láng nhất nhà.  Không phải anh không muốn tiếp tục học, nhưng vào thời đó, anh làm những gì mà hầu hết những người đồng trang lứa của anh làm, nghỉ học và bắt đầu làm việc, góp hết tiền lương hàng tháng để phụ giúp gia đình.  Anh đã làm thế với tâm hồn vui vẻ, biết rằng đây là điều mình được mong chờ để làm.

 

Suốt thời gian từ lúc bắt đầu đi làm năm 16 tuổi, cho đến khi tiếp quản nông trại của gia đình năm ba mươi mấy tuổi, anh đã làm nông, làm thợ nề, và đủ thứ nghề, từ lái máy xúc cho đến lái xe tải.  Hơn thế nữa, khi bố mẹ chúng tôi qua đời và anh tiếp quản nông trại, anh bị áp lực phải giữ nông trại này để nuôi sống gia đình trong nhiều năm trời.  Đến lúc anh được ra khỏi trách nhiệm này thì cũng đã quá muộn để anh đi học lại.  Những năm trước khi anh nghỉ hưu, anh hăng hái tham gia các chương trình giáo dục và mục vụ giáo dân, giúp anh được hăng hái về cảm xúc và phát triển về tri thức.  Một phần hy sinh của anh là anh chưa hề kết hôn, không phải vì anh thích độc thân, mà vì những chuyện đã ràng buộc anh với bổn phận, làm cho anh không bao giờ có đủ cơ hội để kết hôn.

 

Sau khi chia sẻ câu chuyện của anh trong bài giảng, có vài người đã nói với tôi: Anh tôi cũng thế!  Chị tôi cũng thế!  Bố tôi cũng thế!  Mẹ tôi cũng thế!

 

Từ nhỏ đã thấy người anh của mình như vậy, nên ngày nay, hễ thấy ai làm những công việc phục vụ như nấu ăn trong căn-tin, quét dọn nhà cửa, cắt cỏ, làm thợ nề, làm lao công và những công việc tương tự, tôi thường tự hỏi, họ có giống anh mình không?  Họ có chọn làm công việc này hay họ làm vì hoàn cảnh bắt buộc?  Người này có muốn làm bác sĩ, nhà văn, giáo viên, doanh nhân hay CEO, rồi cuối cùng lại phải làm công việc này vì kinh tế hay vì hoàn cảnh nào đó?  Đừng hiểu lầm ý tôi.  Những công việc đó không có gì là hạ giá hay kém cao quý cả.  Thật sự là làm việc tay chân có lẽ là công việc lương thiện nhất, không như công việc của tôi trong cộng đồng hàn lâm, rất dễ vị kỉ và gần như là không thích đáng.  Làm việc tay chân có một phẩm giá cao quý, như anh tôi đã có.  Tuy nhiên, dù tầm quan trọng và phẩm giá của công việc đó, hạnh phúc của người làm việc đó đôi khi phụ thuộc vào việc họ có lựa chọn hay không, nghĩa là họ làm việc đó vì họ chọn hay là vì những yếu tố khác nhau, như kinh tế gia đình, thân phận nhập cư, thiếu cơ hội, buộc họ phải làm những việc này.

 

Khi thấy những người này trong cuộc sống hằng ngày, tôi cố để ý đến họ và trân trọng việc phục vụ của họ cho chúng ta.  Đôi khi tôi tự nhủ: Đây có thể là anh mình.  Đây có thể là chị mình.  Đây có thể là người thông minh nhất nhà nhưng lại không có cơ hội để làm bác sĩ, nhà văn, y tá, giáo viên hay nhân viên xã hội.  Nếu như Chúa Giêsu đã hứa rằng trong đời sau, sẽ có sự đảo ngược, người đứng cuối sẽ đứng đầu, thì tôi mong là những người này, như anh tôi, người đã bị lấy đi những cơ hội mà chúng ta có được, sẽ hiểu thấu lòng tôi với một tâm tình đồng cảm hơn cả sự thấu hiểu của tôi dành cho họ trong đời này.

 

Suy tư: 

Một trong những lý do để ta đừng quá tự hào về sự tốt lành và tài năng hơn người khác là ta có nhiều cơ hội và nhiều ân điển hơn người khác hoặc tôi chưa rơi vào hoàn cảnh bi đát như người kia... Bởi đó, khi gặp một người kém tài năng, kém danh tiếng, kém xinh đẹp và kém lịch duyệt... hãy có lòng thương cảm hơn là xét đoán và coi thường.

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

CA ĐÊM

 



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Đêm hay ngày, người ấy ngủ hay thức, hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên”.

“Thiên Chúa làm việc trong những tầng sâu, nơi ta không thấycũng không thể kiểm soát!” Von Balthasar.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay tiết lộ, Thiên Chúa làm việc không ngưng nghỉ để Nước Trời lớn lên theo nhịp của Ngài. Con người không thấy, cũng không thể kiểm soát những gì Ngài làm. Có thể nói, Ngài làm ca ngày lẫn ‘ca đêm!’.

Tin Mừng khẳng định một chuyển động đầy sức sống, “Hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên”. Dù chậm, dù âm thầm, nhưng sự sống đang lớn lên theo “nhịp Thiên Chúa” chứ không theo nhịp sốt ruột của con người. Nước Trời không nhảy cóc, dù Thiên Chúa đau đáu xót thương con người và muốn làm những gì có thể ca ngày lẫn ‘ca đêm’ để cứu rỗi họ. Và vì Ngài tôn trọng nhịp trưởng thành của từng linh hồn, nên những khởi đầu của Ngài thường rất nhỏ, nhỏ đến mức chúng ta không thấy nên dễ coi thường. “Cuộc đời là một tiến trình trở thành, một hợp thể của những trạng thái ta phải trải qua!” - Anaïs Nin.

Vậy mà tiến trình ấy không phải lúc nào cũng yên ả. Có những giai đoạn tưởng như tan hoang tựa cánh rừng sau lửa cháy. Không ai mong hoả hoạn, nhưng các nhà chuyên môn vẫn nhận ra rằng, chính dưới lớp tro tàn ấy, đất được làm mới, để những hạt mầm bị vùi sâu có cơ hội bật lên. Cũng thế, trong đời sống thiêng liêng, đôi khi Thiên Chúa cho phép những đổ vỡ xảy ra, không để huỷ diệt, mà để mở đường cho sự hoán cải và đổi mới. Trong những khoảng tối đó, khi con người không hiểu hết, Thiên Chúa vẫn âm thầm làm ‘ca đêm’, chuẩn bị cho một mùa gặt mà con người không bao giờ ngờ tới.

Đó cũng là câu chuyện đáng tiếc của Đavít hôm nay - bài đọc một. Đavít đã phạm một lúc hai tội tày đình. Thế nhưng, như cánh rừng rụi tàn sau biển lửa, một lời thoi thóp tận đáy linh hồn được bật lên, “Lạy Chúa, xin dủ lòng xót thương, vì chúng con đắc tội với Ngài!” - Thánh Vịnh đáp ca - Cũng chính trong lời van ấy, Thiên Chúa - Đấng đang làm ‘ca đêm’ - tỏ lòng xót thương, và Ngài không cho tội lỗi có tiếng nói sau cùng.

Anh Chị em,

Lòng thương xót của Thiên Chúa không chỉ dành cho Đavít, cho nhân loại, cho bạn và tôi, mà còn dành cho chính Con Một Ngài. Suốt sứ vụ công khai, và cả những giờ phút đen tối nhất của Chúa Giêsu, khi mọi sự xem ra đã khép lại, thì chính lúc ấy, Chúa Cha vẫn thường xuyên ban sức mạnh để Người Con đi hết hành trình cứu chuộc. Để chính từ sự kính trọng và tín trung lặng lẽ của Chúa Con, ơn cứu độ trổ sinh cho muôn người. Theo Chúa Kitô, vì thế, không phải là tránh né đêm tối, mà là tin rằng: ngay trong đêm tối, chúng ta vẫn đang được dẫn về phía ánh sáng và sự sống; vì lẽ Thiên Chúa không chỉ làm ca ngày, Ngài túc trực cả ‘ca đêm’. “Nếu Đức Giêsu Kitô không bỏ anh em trong bóng tối của Ngài, bóng tối tột cùng, thì làm sao Ngài lại bỏ anh em bây giờ!” - Tim Keller.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con nôn nóng, cho con biết đợi chờ; khi con sợ tương lai, cho con biết tín thác; khi con ở trong đêm tối, cho con nhớ, Ngài đang dẫn con về phía ánh sáng!”, Amen.

Suy tư: Bài Tin Mừng dường như nói tới hai câu chuyện: hạt giống âm thầm mọc lên và chuyện hạt cải tuy nhỏ nhưng mọc thành cây lớn. Hai câu chuyện lại nói về một chủ đề: Ơn cứu độ Chúa Giê su mang đến sẽ không bao giờ bị phá hủy. Cứ nhìn vào lịch sử Giáo hội, chúng ta sẽ có một minh chứng rõ ràng.

Thời Giáo hội sơ khai, giới cầm quyền tôn giáo ra sức bách hại các tông đồ, ông Gamaliel nói: “Các vị nên cẩn thận về hành động bách hại này, vì nếu đây là việc của Thiên Chúa thì các vị không thể phá hủy, mà còn mang thêm tội”, họ nghe lời ông và sau khi đã đánh đòn các tông đồ - họ cấm không được rao giảng về ông Giê su – rồi thả các ngài về.

Giáo hội Roma bị bách hại khốc liệt cho đến năm 312 thì hoàng đế Constantinope xuất hiện, ông ban hành sắc lệnh Milan thiết lập tự do tôn giáo trên toàn quốc. Giáo hội đã có những vụ bê bối lớn trong thời trung cổ - thần quyền và giáo quyền lẫn lộn, đã xuất hiện nhiều lạc giáo và ly giáo, những Giáo hội non trẻ thường trải qua những thời kỳ bách hại tàn khốc… nhưng rồi có những vị thánh đã xuất hiện và làm tươi sáng lại khuôn mặt Giáo hội. Chúa Ki tô đã đổ máu châu báu của Ngài để thanh tẩy Giáo Hội và Ngài không ngừng chăm sóc cho Hiền thê của mình càng thêm xinh đẹp… thế nên Giáo hội của Chúa sẽ không ngừng lớn lên, với sự cộng tác của các chi thể - là mỗi người chúng ta.

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

SỢ MẤT

 



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi!”.

“Tăng trưởng là bằng chứng duy nhất của sự sống!” - Henry Newman.

Kính thưa Anh Chị em,

Như vậy, “chỉ điều đang lớn mới thật sự sống!. Ý tưởng này được gặp lại qua Lời Chúa hôm nay. Chúa Giêsu cảnh báo, ai ‘sợ mất’ mà giữ, thì “ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi!”.

Chúng ta thường nghĩ đức tin suy yếu vì những thử thách lớn; nhưng Chúa Giêsu cho thấy điều một điều khác: đức tin không lớn vì chúng không được thể hiện! Ánh sáng không tắt vì bóng tối mạnh, mà vì được đặt dưới giường, ‘được che cho an toàn, như niềm tin được giữ trong vùng ít rủi ro nhất. Sợ mất sự yên ổn, nên chúng ta né tránh những chọn lựa phải trả giá; ‘sợ mất các mối quan hệ, nên chúng ta im lặng trước điều cần nói; ‘sợ mất quyền kiểm soát, nên chúng ta chỉ để Chúa bước vào những phần đời đã được dọn sẵn. Đức tin còn đó, nhưng không còn toả lan; vẫn hiện diện, nhưng không còn sinh lực.

Vậy mà sự sống phải tăng trưởng!”; bằng không, nó sẽ lãnh lấy một bản án rất tiềm ẩn - bắt đầu mất! Trong ánh sáng ấy, lời Chúa Giêsu vang lên như một tất yếu, chỉ khi chúng ta dám đem điều mình có ra sống, ra cho, đặt lên cao, thì Thiên Chúa mới có chỗ để ban thêm. Còn khi chúng ta giữ lại vì sợ mất, chính nỗi sợ ấy lại làm chúng ta hoá nghèo, và “Ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi!”Khi bám vào sự an toàn, sự an toàn ấy làm chúng ta chậm bước; bám vào cái đang có, cái đang có ấy khép lại cánh cửa của điều Chúa muốn ban thêm. Và rồi, chúng ta không mất vì bị lấy đi, mà mất vì không dám trao đi. “Điều ta bám chặt vào rốt cuộc trở nên nặng hơn cả điều ta đang mang!” Henri Nouwen.

Tin Mừng hôm nay không mời chúng ta tìm nguy hiểm, nhưng mời chúng ta tin đủ để dám sống điều mình tin. Từ đó, chúng ta có thể cho đi thời gian, sức lực, uy tín, và cả những toan tính rất riêng. Bởi lẽ, trong Nước Trời, không phải ai giữ được nhiều thì sống, mà là ai dám để sự sống lưu chuyển qua mình thì sẽ được đầy hơn; “Ai không đủ can đảm để làm nên lịch sử, sẽ trở thành đối tượng nghèo nàn của lịch sử!” - Alfred Delp. “Vì ai đã có, thì được cho thêm!”.

Anh Chị em,

“Tăng trưởng là bằng chứng duy nhất của sự sống!”Chúa Kitô không cứu chúng ta bằng cách giữ lại sự sống, mà bằng cách làm tăng trưởng nó - hiến trao - sự sống. Ngài không chọn con đường an thân, nhưng con đường tự hiến; không giữ lấy địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng huỷ mình ra không. Trên thập giá, xem ra Ngài mất tất cả, nhưng chính trong sự “mất” ấy, sự sống được mở ra cho muôn người. Can đảm là chìa khoá cho chính sự sống!” - Morgan FreemanNếu Chúa Kitô không ‘sợ mất’ để sự sống toả lan, thì không lạ gì người môn đệ không thể lớn lên nếu cứ tìm cách giữ mình khỏi mọi mất mát!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con giữ lại vì sợ hãi, cho con biết trao đi; khi con khép lòng vì tổn thương, cho con biết mở ra; khi con chùn bước vì mỏi gối, cho con biết đứng lên và đi tới!”, Amen.

Suy tư:

Chúa Giê su nói đến một nghịch lý (sự vô lý): đèn được thắp lên, nhưng lấy thùng đậy lại hoặc để dưới gầm giường vì sợ gió. Điều bình thường là đèn được thắp lên để chiếu sáng, chấp nhận có thể bị gió thổi tắt, và khi đó nó lại được chủ nhà thắp lại. Hình ảnh trên gợi cho chúng ta một cuộc chạy tiếp sức: Cuộc đời mỗi người dù ngắn hay dài, phải gắng sức sống cho có ý nghĩa là lan tỏa ánh sáng Tin Mừng cho xã hội mình đang sống, rồi khi mình nằm xuống sẽ có người khác tiếp tục sứ mạng truyền giáo. Bạn cứ nhìn vào Giáo xứ mình đang sống, những người phục vụ - những người có công lập xứ - ông bà cha mẹ trong gia đình đã khuất hoặc đã già, những người trẻ hơn tiếp tục đảm nhận vài trò và họ được hưởng những công khó tiền nhân để lại. Điều làm nên giá trị của một đời người là đức tin – đức cậy và đức mến họ dành cho Chúa trong từng ngày họ sống và qua những việc họ làm.

Từng ngày sống, mỗi Ki tô hữu được mời gọi vượt lên cơn cám dỗ có tên là ‘tầm thường’: không thờ phượng và không phục vụ. Sách Khải Huyền nêu lên một sự thất vọng của Thiên Chúa: “Ta trách ngươi vì sự hâm hâm dở dở, không nóng mà cũng không lạnh – Ta sẽ ói ngươi ra khỏi miệng Ta. Ta trách ngươi đã đánh mất tình yêu thuở ban đầu”. Mỗi ngày sống, một trang sách mở ra, có hai cuộc chiến thực sự xảy ra: nỗ lực sống tốt hơn một chút và bớt xấu đi một chút. Xin Chúa giúp sức cho con sử dụng tốt thời giờ - cơ hội và ân sủng Chúa ban. Amen                                                               

Thứ Hai, 26 tháng 1, 2026

TÂM HỒN CHÚNG TA MẠNH HƠN NHỮNG THƯƠNG TÍCH

 







Mười năm trước khi qua đời, cha Henri Nouwen đã chịu một cơn trầm cảm gần như đánh gục ngài. Trong thời gian trị liệu, ngài đã viết một quyển sách rất hùng hồn, Tiếng Nói Bên Trong Của Tình Yêu (The Inner Voice of Love), trong đó, ngài khiêm nhượng và thẳng thắn chia sẻ những đấu tranh và nỗ lực của mình để vượt qua căn bệnh trầm cảm. Nhiều lúc, ngài cảm thấy không chịu nổi những nỗi đau và ám ảnh của mình đến mức gần như bị nhận chìm, bị sụp đổ, và những lúc như thế, ngài chỉ biết khóc. Dù cho cuối cùng ngài đã tìm lại được sức mạnh nội tâm và sức bật kiên cường, sẵn sàng trở lại cuộc sống với sinh lực được tân tạo. Khi nói về những gì ngài đã học được trong sự sụp đổ nội tâm và sự phục hồi của mình, ngài đã viết rằng, đến tận cùng, tâm hồn chúng ta mạnh hơn những vết thương của chúng ta.



Đấy là một lời khẳng định từ một chân lý phải gian khổ mới ngộ ra, nhưng liệu nó có luôn đúng? Tâm hồn chúng ta luôn mạnh hơn những vết thương của chúng ta sao? Chúng ta luôn có những nguồn lực trong mình để thắng vượt những thương tích của mình sao?



Có lúc đúng như thế, như trong trường hợp của cha Nouwen, nhưng có lúc lại không, như chúng ta đã chứng kiến nơi cuộc sống tan vỡ của biết bao nhiêu người. Có lúc dường như thương tích mạnh hơn tâm hồn. Tôi có một ví dụ thấm thía của trường hợp này: Trong bài hát Tôi Mơ Có Một Giấc Mơ (I Dreamed a Dream) của vở nhạc kịch lừng danh Những Người Khốn Khổ, có một dòng đầy đau buồn, bi thương, ám ảnh. Câu chuyện trong vở Những Người Khốn Khổ được dựa trên tiểu thuyết cùng tên của văn hào Pháp Victor Hugo, kể một loạt câu chuyện về cách sự nghèo khổ và áp bức có thể làm tan nát cõi lòng, suy sụp sức sống và hủy hoại cuộc đời của người nghèo đến như thế nào. Fantine, một nhân vật trong truyện, một người mẹ đơn thân, bị phụ tình và quả tim tan nát. Cô cũng phải vật lộn để nuôi đứa con gái, vật lộn với công việc và điều kiện làm việc đã dần dần hủy hoại sức khỏe cô, vật lộn với sự quấy rối tình dục từ ông chủ vốn tích tụ dần và dẫn đến chuyện cô bị đuổi việc một cách bất công. Có lúc, mọi chuyện quá sức chịu đựng, cô đã sụp đổ, và trong lúc hấp hối, cô đã hát một bài từ biệt với những lời nói lên rằng tâm hồn chúng ta không phải lúc nào cũng mạnh hơn những thương tích, đôi khi có những cơn bão không thể chống nổi. Đôi khi tâm hồn không thể chống nổi cơn bão và sụp đổ trước sức nặng của những thương tích.



Ai nói đúng, cha Nouwen hay Fantine? Tôi cho là cả hai đều đúng, dựa trên hoàn cảnh, sức khỏe nội tâm và nguồn lực cảm xúc của mỗi người. Như câu ngạn ngữ: Cái gì không giết được ta sẽ làm ta mạnh hơn!



Đúng là thế, với điều kiện nó không giết ta. Đáng buồn thay, có những lúc nó lại giết ta thật. Tôi cho rằng tất cả những ai đang đọc bài này đều đã từng mắt thấy tai nghe một người chúng ta quen biết hay yêu thương đã bị sụp đổ và chết, hoặc tự sát hoặc sụp đổ theo kiểu khác, do cuộc sống tan nát, con tim tan nát, tâm thần tan nát, do một thương tích mạnh hơn tâm hồn của họ.



Do đó, khi nhìn vào hai khẳng định đối lập nhau này, chúng ta cần thêm một sự thật nữa có thể thêm một sự thật có thể bao hàm cả hai. Ơn Chúa, sự tha thứ, và tình yêu thì mạnh hơn những thương tích, sụp đổ, thất bại và cái dường như là tuyệt vọng của chúng ta.



Có lúc, khi đấu tranh, chúng ta có thể tìm được sức mạnh nội tại chôn sâu dưới những thương tích của mình, và nó cho chúng ta có thể vươn lên, vượt qua những thương tích, trở lại với sự lành mạnh, sức mạnh và tinh thần hăng hái nhiệt tình. Tuy nhiên, có lúc những vết thương của chúng ta làm tê liệt tâm hồn và chúng ta không thể nào đến được với sức mạnh ẩn sâu trong lòng mình. Trong đời này, sự tan nát đó có thể bị cảm nhận như là sự sụp đổ tối hậu, một nỗi đau buồn không thể chữa lành, một tuyệt vọng, một cuộc đời vứt đi. Tuy nhiên, bất kỳ lúc nào hoàn cảnh cay đắng và sự mỏng manh tinh thần ập đến cùng lúc, khi nào tâm hồn chúng ta không còn mạnh hơn những thương tích, chúng ta đều có thể nương ẩn nơi một chân lý sâu sắc ơn, một sự an ủi thâm sâu hơn, cụ thể là sức mạnh nơi trái tim Thiên Chúa. Ơn Chúa, sự tha thứ, và tình yêu thì mạnh hơn những thương tích, sụp đổ, thất bại và cái dường như là tuyệt vọng của chúng ta.



Điều khiến đức tin Kitô khác với các tôn giáo khác (cũng như khác với các phúc âm thịnh vượng) chính là Kitô giáo là một tôn giáo của ơn sủng chứ không phải của nỗ lực tự thân (dù cho nó cũng có tầm quan trọng). Là người tín hữu Kitô, chúng ta không cần phải tự cứu rỗi mình, không cần phải tự lực cứu vớt cuộc sống mình. Thật sự là không một ai cần làm thế. Như thánh Phaolô đã nói rõ trong thư gửi tín hữu Rôma, không một ai trong chúng ta tự cứu vớt cuộc sống mình bằng chính sức mình. Điều này cũng đúng khi muốn thắng vượt những thương tích của mình. Tất cả chúng ta đều có những lúc yếu đuối và sụp đổ. Tuy nhiên, chính lúc này đây, chính khi cơn bão đè bẹp chúng ta, khi chúng ta tìm sức mạnh để đương cự cơn bão nhưng rồi chỉ để thấy rằng cơn bão mạnh hơn chúng ta, chính lúc như thế, chúng ta cần tìm tìm sâu hơn nữa và sẽ thấy được rằng trái tim của Thiên Chúa mạnh hơn những vỡ nát của chúng ta.



Rev. Ron Rolheiser, OMI





Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2026

VẺ ĐẸP CỦA LỜI CẦU NGUYỆN

 



 Tác giả: Fr. Jpseph M. Esper - Chuyển ngữ: Lê Minh

Từ: Catholic Exchange

“Cầu nguyện là thiết lập tình bạn với Chúa, bằng cách thường xuyên trò chuyện riêng tư với Ngài, Đấng mà chúng ta biết là yêu thương chúng ta.”  Đây là một trong những câu nói của thánh nữ Têrêsa thành Avila mà tôi yêu thích nhất, một người phụ nữ vô cùng thông thái.

 

Khi còn nhỏ, quan điểm của tôi về cầu nguyện rất cứng nhắc và khuôn mẫu.  Nhờ sự gương mẫu của cha mẹ và các thầy cô giáo Công giáo, tôi thuộc kinh Tin Kính, kinh Kính Mừng, kinh Lạy Cha, kinh Hãy Nhớ, kinh Sáng Danh…  Bạn nói đến kinh nào là tôi biết kinh đó.  Tôi thuộc làu các hình thức cầu nguyện theo cấu trúc như kinh Mân Côi, đàng Thánh Giá và tham dự thánh lễ, nhưng những gì tôi trải qua lại quá an toàn hoặc ít đụng chạm tới những bộn bề của cuộc sống.  Tôi lấp đầy giờ Chầu Thánh Thể bằng lời kinh Mân Côi, Lectio Divina[1]  hoặc các lời nguyện và suy tôn Thánh Thể, rồi sau đó nhanh chóng kết thúc giờ cầu nguyện bằng những lời nguyện cá nhân.  Mặc dù tất cả các phương pháp cầu nguyện này đều tốt lành và hữu ích, nhưng chúng ta nên ưu tiên dành cho Chúa không gian để đáp lại.

 

Không có lời cầu nguyện nào là hoàn hảo cả.  Thực tế thì đôi khi cầu nguyện có thể và trở nên lộn xộn. Giống như trong các mối quan hệ với con người, những cuộc trò chuyện có thể trở nên rối tung khi chúng ta tức giận, sợ hãi hoặc thất vọng về một tình huống hay một người nào đó.  Tôi nghĩ rằng nhiều lần chúng ta cố gắng lảng tránh những cảm xúc này trong cầu nguyện.  Chúng ta nghĩ rằng mình phải thể hiện bản thân tốt nhất, hoàn hảo nhất trước mặt Chúa, nhưng đó không phải điều Ngài mong muốn.  Chúa biết bản chất con người của chúng ta – Ngài dựng nên ra chúng ta – vì vậy chúng ta đừng sợ Ngài quay lưng lại khi chúng ta nói ra những thử thách và đau khổ của mình cho Ngài biết.  Chúa muốn chúng ta thành thật và bày tỏ hết những mỏng giòn, yếu đuối với Ngài, giống như với người bạn thân nhất.  Điều này có nghĩa là, đôi khi chúng ta có thể bước vào cầu nguyện trong cơn giận dữ với Chúa vì một điều gì đó đang diễn ra trong cuộc sống của mình, hãy cứ thế mà cầu nguyện.  Hãy kêu lên với Chúa, khóc với Chúa, và sẵn sàng để Ngài đón nhận trọn vẹn con người bạn.  Chỉ khi chúng ta thực sự chân thành với Chúa trong cầu nguyện thì mối quan hệ giữa ta với Ngài mới có thể phát triển.  Đó là lý do tại sao chúng ta cầu nguyện, đó là để củng cố mối quan hệ với Cha trên trời.

 

Bây giờ, có thể bạn sẽ thắc mắc, điều này thực sự diễn ra như thế nào?  Tôi có thể nói với bạn một điều chắc chắn rằng: việc cầu nguyện của mỗi người mỗi khác, nhưng mục tiêu cuối cùng là đi vào sự hiện diện thánh thiêng của Chúa.  Tôi khuyên bạn mỗi ngày hãy dành riêng một khoảng thời gian để trò chuyện với Chúa.  Đó có thể là 30 phút trong khi đi đến nơi làm việc, 10 phút đầu tiên của buổi sáng hoặc thậm chí 20 phút trước khi đi ngủ; nhưng hãy cố gắng dành riêng khoảng thời gian cụ thể này để cầu nguyện mỗi ngày.  Bạn có thể nghĩ rằng lịch trình của mình quá bận rộn để cầu nguyện hàng ngày, nhưng thưa bạn, ngay cả Chúa Giêsu cũng dành thời gian nghỉ ngơi khỏi việc chữa bệnh, giảng dạy, rao giảng và thực hiện phép lạ để cầu nguyện.  Cách cầu nguyện tốt nhất, đơn giản nhất và hiệu quả nhất là ở một mình với Chúa và nói chuyện với Ngài từ trái tim.  Và tôi có thể hứa rằng khi bạn dành thời gian cho những cuộc trò chuyện này với Chúa, mọi thứ khác sẽ đi đúng hướng.

 

Lời khuyên khác của tôi khi bạn đi sâu hơn vào mối quan hệ với Chúa là hãy phó thác mọi sự trong cuộc sống của bạn cho Ngài.  Giáo lý Hội thánh Công giáo số 2611 nói rằng: “Lời cầu nguyện của đức tin không hệ tại ở chỗ thưa: ‘Lạy Chúa, Lạy Chúa,’ nhưng là sẵn lòng thi hành thánh ý của Chúa Cha.  Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ Người đem vào lời cầu nguyện sự quan tâm cộng tác vào kế hoạch của Thiên Chúa.”  Khi cầu nguyện, chúng ta nên trình bày mọi niềm vui, tạ ơn, thử thách, đau khổ, lo lắng và mối quan tâm, nhưng chúng ta cũng nên sẵn sàng và mong muốn phó thác những điều đó cho Chúa, và tin rằng Ngài có một kế hoạch cho cuộc sống của chúng ta.  Chúa sẽ không bỏ rơi chúng ta bơ vơ hay mãi mãi trong đau khổ vì Ngài là một Thiên Chúa nhân từ; chúng ta phải có lòng tin!  Nếu bạn đang vật lộn với tư tưởng buông bỏ hoàn toàn, tôi khuyên bạn nên đọc Kinh Cầu Tín Thác, làm tuần Cửu nhật Dâng mình cho Chúa Giêsu, hoặc thậm chí chỉ cần chiêm ngắm linh ảnh Lòng Chúa Thương Xót: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa. 

 

Tôi cũng muốn nhân cơ hội này để củng cố sự tốt lành và cần thiết của việc cầu nguyện theo cấu trúc trong cuộc sống của chúng ta.  Tôi không đề nghị bạn từ bỏ Kinh Mân Côi hay Chuỗi Lòng Chúa Thương Xót, bởi vì đây là những công cụ cầu nguyện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự hiện diện của chúng ta nơi Nước Trời.  Tôi muốn lưu ý rằng những công cụ thánh thiện này không phải là mục đích cuối cùng.  Tôi khuyến khích bạn mở lòng cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn lời cầu nguyện của bạn, và đừng để lời cầu nguyện theo cấu trúc trở thành phương tiện duy nhất để chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa.

 

Lời khuyên cuối cùng của tôi là hãy cầu xin những điều lớn lao.  Không có ước muốn nào là quá lớn đối với Chúa, vì vậy hãy cho Ngài biết những nhu cầu của bạn!  Giống như trong bất kỳ mối quan hệ nào đặt tình yêu lên đầu, Chúa là Đấng yêu thương chúng ta luôn mong muốn tuôn đổ hồng ân dồi dào cho mỗi người chúng ta.  Khi cầu nguyện, hãy cho Ngài biết những nhu cầu của bạn!  Xin Chúa ban Thánh Thần của Ngài xuống trên bạn!  Xin Ngài hướng dẫn bạn khi chọn trường đại học, xin việc hoặc tìm kiếm bạn đời.  Hãy cho Chúa biết những ước muốn của bạn và lặng lẽ chờ đợi Ngài trả lời, bởi vì cầu nguyện luôn được cho là cuộc trò chuyện giữa chúng ta và Chúa, giúp tình bạn thiêng liêng triển nở.

 


 

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2026

Ghen tị

 



Câu chuyện ông Đavit thắng trận trở về, các phụ nữ đón mừng: “Vua Sao-lê hạ được hàng ngàn, ông Đavit hàng vạn”. Chỉ một câu hát đơn giản, đúng với thực tế vừa xảy ra, thế mà vua Sao lê đã tìm giết ông Đa vit suốt nhiều năm trời, hết lần này đến lần khác. Khi được chứng kiến sự công chính của ông Đavit thì vua Saolê thức tỉnh về sự hồ đồ của mình, nhưng rồi lòng ghen tị và thù ghét lại nổi lên…sự giằng co này kéo dài mãi cho  đến ngày vua Sao lê băng hà (1 Samuel…).

Thân phận con người là như thế đó: ai trong chúng ta cũng có khuynh hướng đề cao mình và đánh giá xấu về tha nhân, chúng ta thường khổ tâm vì người khác thành công và may mắn hơn mình. Sách Gương Phúc dạy: “Đừng khoe mình lắm của cũng đừng cậy vào thế lực bằng hữu, đừng cậy sức khỏe – đừng khoe sắc đẹp – vì một thoáng bệnh cũng đủ làm tiêu ma hết, đừng nghĩ mình tài giỏi và thánh thiện hơn ai đó, đừng nghĩ rằng ‘mình đáng được mọi người tôn trọng, được công nhận và không ai có quyền xúc phạm’. Hãy biết tạ ơn Chúa, vì “chẳng ai nhận được gì mà không do trời ban” (Ga 3, 27). Hãy ngẫm xem Chúa Giê su đã sống ẩn dật vâng phục cha mẹ suốt 30 năm, cuộc đời rao giảng và cuộc thương khó đầy dẫy những xúc phạm, chối bỏ, khinh bỉ, giết chết… Chúa không mất bình an, chỉ tha thứ vì Ngài chỉ tìm chu toán ý Cha.

Thiên Chúa buồn lòng khi con người nhận những nén bạc mà lại đem chôn vùi đi không chịu sinh lợi như ý Ngài muốn, và Chúa càng buồn lòng hơn khi con người huênh hoang tự đắc và tìm hư danh – thay vì dâng lời cảm tạ Chúa về ơn lành và tài năng Ngài ban. Hãy học nơi Chúa Giê su sự hiền lành và khiêm nhường, sự ẩn danh của Chúa: sau khi chữa lành bệnh Chúa thường dặn đừng nói cho ai biết, và Chúa thường cấm ma quỷ nói ‘Ông là Con Thiên Chúa”.

Lòng ghen tức nổi lên trong lòng ta thường rất đột xuất: khi ai đó được khen, được lưu danh hoặc khi nhắc đến lỗi lầm của người khác. Nguyên do sâu xa là ma quỷ luôn rình mò để cắn xé linh hồn ta, chia rẽ và ghen ghét là con đẻ của ma quỷ. Một lỗi lầm của người thân, mỗi lần được nhắc lại là mỗi lần ta oán ghét và coi thường họ, tại sao vậy? – Thưa, vì lòng kiêu ngạo trong ta nổi dậy, ta chợt nghỉ rằng mình tốt hơn người kia, ta chỉ thấy tội của họ và quên hết điều tốt họ có…. và đó là thành công của ma quỷ. Tốt hơn hết là đừng nói xấu người thứ ba, tội họ làm họ chịu, “phần con hãy theo Thầy” (Ga 21, 22).

Chỉ có ơn Chúa mới giúp ta tiến lên từng chút một, chiến đấu với lòng ghen tị và kiêu ngạo trong ta. Điều quan trọng là không bỏ cuộc, nhưng cậy vào Chúa để bước đi mỗi ngày.

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2026

CHỈ LAU VỎ

 



Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Rượu mới, bầu cũng phải mới!”.

“Kitô giáo không chỉ là chỉnh sửa hành vi bề ngoài; mà là được biến đổi tận cõi lòng!” - Joseph Prince.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cảnh báo, khi chỉ chỉnh sửa hành vi mà không để cõi lòng được biến đổi, chúng ta đang cố đổ rượu mới vào bầu cũ; và rốt cuộc, tất cả ‘chỉ là lau vỏ!’.

Tin Mừng cho thấy vấn đề không nằm ở chuyện ăn chay hay không ăn chay, mà ở thời điểm của ân sủng. Khi Chàng Rể còn đó, sự sống mới hiện diện; và sự sống ấy đòi hỏi một cách sống mới. Vậy mà nhiều khi, chúng ta muốn giữ nguyên nếp cũ, phản ứng cũ, lối yêu cũ - chỉ vá víu thêm vài việc đạo đức để cảm thấy yên tâm. Chúng ta đi lễ đều, đọc kinh đủ, phục vụ không thiếu; nhưng lòng vẫn khép, dễ tự ái, khó tha, ngại đổi. Rượu mới của Thần Khí vẫn được ban, nhưng bầu da thì co cứng; ân sủng bị cầm nhốt, không lên men, chẳng sinh niềm vui. Và như thế, khác nào ‘chỉ lau vỏ?’.

Điều đáng buồn là, chúng ta quen dần với tình trạng đó khi chấp nhận một đời sống thiêng liêng nhạt nhòa, một đức tin không còn háo hức, một mối quan hệ với Chúa không còn làm con tim rung động. Chúng ta tiếp tục điều chỉnh vài hành vi cho “đúng mực”, nhưng không để Chúa chạm tới những vùng sâu luôn cần né tránh: những ích kỷ được bao che, những tổn thương chưa chịu chữa lành, những định kiến đã thành thói quen. Và rốt cuộc, chúng ta quay về đúng điểm xuất phát - bề ngoài thì gọn gàng hơn, nhưng bên trong thì vẫn cũ. “Nguy hiểm lớn nhất trong đời sống thiêng liêng không phải là tội cố ý, mà là sự tự mãn thiêng liêng!” - Thomas Merton.

Chính ở đây, lời ngôn sứ Samuen - bài đọc một - và Thánh Vịnh đáp ca trở nên sắc bén. Thiên Chúa không cần của lễ cho bằng một con tim biết nghe và biết vâng, “Ai sống đời hoàn hảo, Ta cho hưởng ơn cứu độ Chúa Trời!”; nghĩa là không phải thêm nghi thức, mà là một đời sống được uốn lại theo thánh ý Chúa. Khi trái tim không chịu đổi hướng, thì dù hình thức đạo đức có nhiều đến đâu, rượu ân sủng vẫn tiếp tục chảy ra ngoài.

Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay không mời gọi làm nhiều hơn, nhưng trở nên mới hơn. Không phải thêm việc cho Chúa, mà là để Chúa làm lại chính bản thân chúng ta; dám bỏ những “bầu da cũ” - cách nghĩ cũ, cách yêu cũ, cách phản ứng cũ - để ân sủng không còn bị giam giữ và niềm vui cứu độ có chỗ để bùng lên. Và vì muốn cứu sống, đôi khi Thiên Chúa không chỉ đề nghị đổi bầu, mà còn đập vỡ cả chiếc bình chúng ta đang bám víu: những an toàn giả tạo, những sĩ diện thế tục, những “thói thời thượng thiêng liêng”, hay những kế hoạch tưởng là chắc chắn. Khi bình tan tành, không còn gì để mất, cũng là lúc bạn và tôi thôi chống cự, và Thần Khí bắt đầu công trình làm mới từ đổ nát. “Thiên Chúa đập vỡ chúng ta để Ngài có thể làm lại chúng ta!” - Brennan Manning.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giúp con dám buông điều con bám, vỡ điều con nắm giữ, và dám để mình sinh lại trong ân sủng Ngài!”, Amen.

Suy tư:

Các người Phariseu ăn chay rất nhiệm nhặt, người Phật giáo cũng thườn nói tới việc ăn chay… dường như Ki tô giáo không đề cao việc chay tịnh? – Đã có một thời, Ki tô giáo cũng rất đề cao việc ăn chay hãm mình, đánh tội … nhất là trong các dòng khổ tu. Hạnh Thánh An tôn kể rằng: ngài sinh ra trong một gia đình giàu có vào năm 350, năm 20 tuổi cha mẹ mất, chỉ còn lại 2 anh em, ngài gửi em vào một dòng tu nữ và bán hết của cải – phân phát cho người nghèo- rồi sống ẩn dật trong rừng núi và mất lúc 105 tuổi.

Ki tô giáo không coi nhẹ tinh thần hy sinh (chay tịnh), nhưng sự hãm mình được tập chú vào việc tuân phục ý Chúa, sống đức bác ái với tha nhân, hãm dẹp ‘cái tôi’ để sống khiêm nhường, nhịn nhục, tha thứ, trao ban: “Không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu”. Bởi đó, rượu mới của Ki tô giáo là niềm vui trong Chúa Thánh Thần – niềm vui của yêu thương phục vụ- niềm vui của kẻ luôn tìm Thánh ý Chúa.