(Sưu tầm. Nguồn: Tgp Saigon)
1.
ĐÔI
DÒNG TIỂU SỬ
Cha Maximilianô Kolbe sinh tại Zdusnka Wola, nước Balan, ngày
8-1-1894. Năm 1907, nhập học tại chủng viện dòng Phanxicô, được gởi qua học ở
Roma. Ngày 28-04-1918, thụ phong linh mục. Là một tông đồ nhiệt thành về lòng
sùng kính thánh mẫu Maria, Cha Kolbe đã tích cực cổ võ lòng tôn sùng ấy đặc
biệt bằng báo chí (Nguyệt
san “Người hiệp sĩ của Đức Mẹ Vô Nhiễm”) phát hành một lần tới một triệu số năm
1938) và bằng một trung
tâm thánh mẫu. Năm 1930, cha qua Nhật và thành lập một trung tâm tương
tự. Năm 1936, cha trở về Balan.
Ngày 1-9-1939, quân đội Đức của Hitler tấn công Balan, mở đầu
cho cuộc thế giới chiến tranh thứ II. Mười ngày sau, mật vụ Đức bắt giam cha Maximilianô Kolbe
gần ba tháng. Được trả tự do, cha trở lại đời sống hoạt động tông đồ cho đến
ngày 17-2-1941, thì bị bắt lại. Và lần này cha bị giam ở trại tập trung
Auschwitz, nơi đã từng tiêu diệt 6 triệu người Do Thái và vô số những người
khác trong các phòng hơi ngạt. Cha Kolbe cũng chết tại đó.
30 năm sau, ngày 17-10-1971 tại thánh đường Phêrô, Đức Giáo
hoàng Phaolô VI đã long trọng phong cha lên hàng chân phước. Tại buổi
lễ này người ta thấy có sự hiện diện của cụ Giasowniczek, người mà trước kia
cha Maximilianô Kolbe đã chết thay cho.
Rồi ngày 10-10-1982 Đức Gioan Phaolô II đã phong Ngài lên bậc hiển
thánh.
2.
CHỨNG
NHÂN ANH DŨNG
“Hôm ấy là ngày 30/7/1941, trong nhà giam số 14 tại trại tập
trung Auschwitz, nơi mấy tháng trước đó, một nhóm tù nhân vừa được dẫn tới,
trong đó có cha Maximilianô Kolbe, tu sĩ dòng Phanxicô Balan. Hôm ấy thiếu mất
một tù nhân. Các tử tù biết rằng cứ một tù nhân đào thoát là hai mươi tù cùng
trại phải nhịn ăn cho đến chết. Đêm ấy không ai trong khu nhà giam chợp mắt
được. Mọi người đều sợ hãi, mặc dù nhiều lúc họ vẫn mong chờ cái chết đến để
giải thoát họ. Chết dưới làn đạn, có
lẽ còn chịu được, nhưng chết đói chết khát thật là một cái chết kinh sợ nhất.
Từ căn nhà hành hình, phát ra những tiếng la rú rùng rợn. Đêm ấy, cha Kolbe lo
an ủi đồng bạn và giải tội cho những ai cần.
Sáng hôm sau khi điểm danh, tên cai ngục đã báo tin người
ta đã không tìm lại được kẻ đào thoát. Cả trại 14 đứng im như trời trồng và hồi
hộp chờ án lệnh. Viên cai ngục dừng lại trước hàng những tù nhân và tuyên bố:
“Mười đứa trong tụi bay sẽ chết thay nó. Lần sau sẽ là 20 đứa”. Tuyên bố xong
hắn ta chậm rãi đi ngang qua hàng đầu, có vẻ suy nghĩ, rồi nói : “Tên này...
tên này... tên này. Tất cả 10 người. 10 người bị tử hình”. Lúc đó một trong số
những người ấy kêu lên: “Ôi vợ tôi, các con tôi!”. Những người còn đứng trong
hàng ngũ thở ra nhẹ nhõm.
Nhưng rồi một chuyện bất ngờ xảy ra: Có một người tù
không thuộc nhóm những người bị chỉ định, mạnh dạn bước ra khỏi đám người đang
xếp hàng im lặng trong sợ hãi, nhìn thẳng vào người cai ngục. Tên này kinh ngạc
lùi lại một chút rồi hô to: “Đứng lại!”
Cha Maximilianô Kolbe dừng lại trước mặt y. Thế rồi một
cuộc đối thoại chưa từng nghe đã diễn ra. Một cuộc đối thoại điên khùng mà
những người sống sót đã kể lại thật chính xác:
- Xin ông cho phép tôi được chết thay cho một trong những người
bị lên án này!
Viên cai tù kinh ngạc nhìn cha.
- Anh là ai ?
- Là một linh
mục công giáo.
- Anh muốn chết thế cho ai?
- Người này. Cha Kolbe chỉ vào người vừa mới la khóc.
- Tại sao?
- Bởi vì đời tôi không còn giúp ích gì mấy. Trong khi ông này
còn có gia đình.
Viên cai trại suy nghĩ, rồi đưa tay ra hiệu đồng ý. Cha Kolbe
nhập bọn với đám tử tội.
Một phút im lặng. Không ai hiểu rõ sự việc vừa xảy ra.
Các tù nhân bị lột hết quần áo, nhốt vào một căn hầm. Kể từ giây
phút đó, người tù không còn gì để ăn và điều kinh khủng là không có gì để uống nữa.
Trước kia căn nhà hầm này luôn vang lên những tiếng kêu la thảm
thiết. Thật là một địa ngục nhỏ. Nhưng lần này có cái gì đã thay đổi. Mấy người
lính Đức quốc xã rất đỗi ngạc nhiên. Đám tử tù cầu nguyện và ca hát. Vẫn có
tiếng rên rỉ, nhưng không còn là những tiếng kêu tuyệt vọng nữa.
Ngày thứ 12, tức ngày 14-08-1941 cửa phòng giam đói được mở ra.
Mọi người đều đã chết, trừ một mình cha Kolbe, với đôi mắt vẫn sáng dù thân
mình tàn rũ. Cha ngồi giữa đất, đầu tựa vào tường, thân mình ngay thẳng và
khuôn mặt rạng rỡ. Viên cai ngục bắt ngài đưa tay ra và chích cho một mũi thuốc
độc ân huệ. Vị linh mục chết ngay. Họ đưa xe đến xúc xác ngài và các bạn tù đem
đi. Như bao nhiêu người khác, xác cha bị hoả thiêu trong lò và nắm tro tàn bị
ném tung trong gió bốn phương.
3.
THAY
CHO LỜI KẾT
Đây là lời của Đức thánh Cha Phaolô VI
“Lịch sử sẽ không thể quên được trang sử ghê tởm này (của thời
Đức quốc xã) nhưng giữa sự kinh hãi, người ta vẫn không thể không nhận ra những
tia sáng tố giác bóng tối và đồng thời lướt thắng bóng tối. Một trong những tia
sáng ấy, và có lẽ là tia sáng rực rỡ hơn hết, được ban cho chúng ta trong khuôn
mặt tiều tụy và bình thản của cha M. Kolbe, vị anh hùng luôn bám chắc vào một
niềm hy vọng nghịch lý nhưng có suy nghĩ. Tên tuổi Ngài mãi mãi lớn lao và sẽ
nhắc nhở cho ta thấy rằng giữa những con người khốn khổ, vẫn có thể tồn tại
những năng lực và giá trị luân lý phong phú biết bao!” (Bài giảng của Đức
Phaolô VI…)
LỜI BÌNH
Thánh Tê rê xa Hài Đồng và Thánh Maximilianô
Kolbe rất được yêu mến vì linh đạo của các Ngài rất gần gũi với đời thường của
mọi Ki tô hữu, dù ở bậc sống nào. Cuộc tử đạo của Thánh Maximilianô Kolbe rất
giống với cái chết của Chúa Giê su: tự nguyện, tha thứ, hy sinh tính mạng vì bạn
hữu: tử đạo vì lòng mến.Trong một xã hội đề cao vật chất và hưởng thụ vẫn có những bông sen nở ra,
tươi sáng và không tanh mùi bùn, có điều là bạn còn nhận ra nét đẹp của lòng
cao thượng nữa hay không? – Đó là những hy sinh âm thầm của người bạn đời vẫn
ngày ngày chu toàn bổn phận với tình yêu mến, đó là những người chọn con đường
tận hiến, đó là các người đảm nhận những công việc trong giáo xứ… Sự hy sinh của
họ đã âm thầm kích thích lòng quảng đại nơi người khác, vì việc tốt có khuynh
hướng lan truyền.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét